1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình triển khai “Chương trình hành động thực hiện Định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010”

65 66 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 744,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện thắng lợi Định hướng nêu trên, ngày 02 tháng 5 năm 2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã có Văn bản số 301/TCTK-VP đề ra “Chương trình hành động thực hiện Định hướng phá

Trang 1

Kết quả triển khai “Chương trình hành động thực hiện Định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010” những năm vừa qua, nhiệm vụ còn lại năm 2009-2010

và một số khuyến nghị

TS Trần Kim Đồng

Chuyên gia trong nước, Dự án 00040722

“Hỗ trợ giám sát phát triển kinh tế-xã hội”

Hà Nội, tháng 12 năm 2008

Trang 2

I-BỐI CẢNH

Ngày 21 tháng 10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 141/2002/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu “Thống kê Việt Nam đổi mới cả về nội dung và hình thức, nhằm cung cấp kịp thời thông tin thống kê kinh tế-xã hội đầy đủ về nội dung, toàn diện về phạm vi, tin cậy về chất lượng, phục vụ tốt nhất yêu cầu của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; đáp ứng ngày càng đầy đủ, thuận lợi nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của các đối tượng khác, đưa thống kê Việt Nam đạt trình độ thống kê tiên tiến của các nước trong khu vực và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tích cực vào việc thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước”

Để thực hiện thắng lợi Định hướng nêu trên, ngày 02 tháng 5 năm 2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã có Văn bản số 301/TCTK-VP đề ra

“Chương trình hành động thực hiện Định hướng phát triển thống kê Việt

Nam đến năm 2010” với 7 chương trình lớn như sau:

(1) Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống kê;

(2) Chương trình hoàn thiện hệ thống các sản phẩm thống kê và xây dựng chính sách phổ biến thông tin thống kê;

(3) Chương trình cải tiến, hoàn thiện phương pháp thống kê và hệ thống thu thập số liệu thống kê;

(4) Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Thống kê;

(5) Chương trình củng cố tổ chức và phát triển nguồn lực cho công tác thống kê;

(6) Chương trình tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật cho công tác thống kê; (7) Chương trình tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê

Quá trình triển khai thực hiện 7 chương trình nêu trên đến nay đã qua 6 năm, trong đó có một số Chương trình đã kết thúc thời gian thực hiện nên cần và có thể tiến hành đánh giá, rà soát tình hình và kết quả triển khai trong những năm vừa qua Đối với những Chương trình có thời gian thực hiện đã kết thúc như Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống

Trang 3

kê với thời gian thực hiện 3 năm (2003-2005); Chương trình hoàn thiện hệ thống các sản phẩm thống kê và xây dựng chính sách phổ biến thông tin thống kê với thời gian thực hiện 5 năm (2003-2007) sẽ tiến hành đối chiếu kết quả thực hiện với những nội dung đã đề ra để chỉ rõ những việc đã hoàn thành và những việc không hoàn thành Đối với các Chương trình còn lại do thời gian thực hiện tới năm 2010 nên sẽ tập trung đánh giá mức độ hoàn thành và xác định nhiệm vụ còn lại trong những năm 2009-2010 để có kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện

Việc đánh giá và rà soát kết quả thực hiện các Chương trình hành động theo yêu cầu đặt ra ở trên gặp trở ngại lớn do Tổng cục Thống kê nói chung và các đơn vị chủ trì từng Chương trình nói riêng không tiến hành sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện theo định kỳ 6 tháng và hàng năm như kế hoạch đề ra nên kết quả thực hiện không được cập nhật đầy đủ Thêm vào đó, có Chương trình như Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Thống kê khi xây dựng giao cho Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương (nay là Trung tâm Tin học Thống kê) chủ trì; nhưng trong quá trình cơ cấu lại tổ chức và bố trí lại chức năng nhiệm vụ, phần việc này lại thuộc Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê nên việc đánh giá kết quả thực hiện trong những năm vừa qua càng khó khăn Để khắc phục một phần khó khăn về thiếu tư liệu đánh giá, chúng tôi đã tranh thủ ý kiến của các đơn vị được phân công chủ trì các Chương trình như: Vụ Tổ chức Cán bộ, Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê, Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Kế hoạch Tài chính và Trung tâm Tin học Thống kê Ngoài ra, chúng tôi cũng đã dựa vào Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành Thống kê và của cơ quan Tổng cục Thống kê cũng như các nguồn thông tin khác để có thêm tư liệu hình thành Báo cáo đánh giá này

Mặc dù nỗ lực như vậy nhưng có thể Báo cáo đánh giá của chúng tôi vẫn chưa phản ánh được đầy đủ kết quả đạt được và những hạn chế của việc triển khai thực hiện các Chương trình hành động trong những năm 2003-2008 vừa qua Với nhận thức như vậy chúng tôi rất mong các đơn vị, nhất là các đơn vị được phân công chủ trì các Chương trình bổ sung thêm thông tin để Báo cáo bảo đảm tính khách quan và toàn diện hơn, không chỉ phản ánh được kết quả triển khai thực hiện các Chương trình trong những năm vừa qua, mà còn là căn cứ để xác định nhiệm vụ còn lại trong những năm 2009-2010 và đề ra những lĩnh vực cần ưu tiên để xây dựng “Định hướng phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020”

Trang 4

II- TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH

1-Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống kê

A-Tóm tắt Chương trình

(1) Mục đích: Tạo môi trường pháp lý đầy đủ, hiệu lực hơn cho công tác thống kê (2) Thời gian thực hiện: 2003-2005

(3) Nội dung cơ bản:

- Hoàn thiện Dự án Luật Thống kê trình Quốc hội ban hành;

- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thống kê trình Chính phủ ban hành kịp thời, đồng bộ với Luật Thống kê;

- Xây dựng chương trình phổ biến các văn bản pháp luật về thống kê; triển khai thực hiện và tiến hành kiểm tra, thanh tra theo kế hoạch hàng năm nhằm đảm bảo các văn bản này được thực hiện nghiêm minh

(4) Đơn vị chủ trì: Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê và Ban Soạn thảo Luật

a) Nội dung thứ nhất: Hoàn thiện Dự án Luật Thống kê trình Quốc hội ban hành

Thực hiện Nghị quyết số 19/1998/QH 10 ngày 02/12/1998 của Quốc hội Khóa X về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội Khóa X và Nghị quyết số 76/1999/NQ-UBTWQH ngày 23/3/1999 của Ủy ban Thường vụ

Trang 5

Quốc hội về việc triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Tổng cục Thống kê phối hợp với các Bộ, ngành soạn thảo Dự án Luật Thống kê thay thế các quy định về thống kê trong Pháp lệnh Kế toán và Thống

kê ban hành năm 1988

Để phục vụ công tác soạn thảo, Tổng cục Thống kê đã tiến hành tổng kết

13 năm (1988 – 2001) thực hiện công tác thống kê theo tinh thần và những quy định trong Pháp lệnh Kế toán và Thống kê; đồng thời tổ chức nghiên cứu Luật Thống kê của 15 nước (Trung Quốc, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malayxia, Inđônêxia, Singapor, Nga, Thụy Điển, Hà Lan, Ba Lan, Đức, Pháp, Australia, Canada) và Luật mẫu về Thống kê do Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc soạn thảo cho các nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường tham khảo Tổng cục Thống kê cũng đã thành lập Ban soạn thảo Dự án Luật Thống kê do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê làm Trưởng ban, có sự tham gia của lãnh đạo Bộ Tư pháp, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Quốc hội và một số Bộ, ngành khác

Qua nhiều lần dự thảo với sự đóng góp ý kiến của các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan, tại phiên họp tháng 9 năm 2001 Chính phủ đã thảo luận và thông qua Dự thảo Luật, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến Trên cơ sở tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Dự thảo Luật tiếp tục được hoàn thiện và trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa

XI, tháng 12 năm 2002 Tại Kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội đã cho ý kiến phải tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật, tập trung vào một số nội dung sau: Tên, phạm vi điều chỉnh của Luật; nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê; các hành vi bị nghiêm cấm; việc ứng dụng khoa học-công nghệ vào hoạt động thống kê; hệ thống tổ chức thống kê nhà nước và vị trí, vai trò của thống kê xã/phường/thị trấn; cơ quan quản lý nhà nước về thống kê

Để hoàn thiện Dự thảo Luật Thống kê trình Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XI năm 2003 như nội dung thứ nhất của Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống kê đề ra, Ban soạn thảo Luật đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; phối hợp chặt chẽ với Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, Thường trực Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội

và các cơ quan hữu quan khẩn trương chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo Luật

Trang 6

Nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; sự quyết tâm cao của lãnh đạo Tổng cục Thống kê và Ban soạn thảo Luật; sự hỗ trợ, phối hợp có hiệu quả của các cơ quan hữu quan nên Luật Thống kê đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003, được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 13/L/CTN ngày 26/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004

Văn bản pháp quy quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động thống kê từ mức chỉ là một phần trong Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ban hành năm 1988, đến nay đã có được một Luật điều chỉnh riêng là một bước tiến quan trọng Điều này không chỉ nâng cao môi trường pháp lý cho công tác thống kê, mà còn thể hiện sự quan tâm và đánh giá cao của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội đối với vai trò

và vị trí của ngành Thống kê trong sự nghiệp đổi mới của đất nước Như vậy, nội dung thứ nhất của Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống kê đã hoàn thành đúng thời hạn đã đề ra

b) Nội dung thứ hai: Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thống kê trình Chính phủ ban hành

Ngay trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật Thống kê, lãnh đạo Tổng cục Thống kê và Ban soạn thảo Luật đã phối hợp với các cơ quan hữu quan dự thảo một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thống kê trình Chính phủ ban hành kịp thời, đồng bộ với Luật Thống kê Nhờ tinh thần chủ động như vậy nên chỉ sau gần 8 tháng kể từ ngày Luật Thống kê được Quốc hội thông qua và sau hơn một tháng kể từ ngày Luật Thống kê có hiệu lực thi hành, ngày 13/02/2004, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 40/2004/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê Nghị định này gồm 26 điều, quy định chi tiết về đối tượng cung cấp thông tin thống kê; hệ thống chỉ tiêu thống kê; bảng phân loại thống kê; chế độ báo cáo thống kê, điều tra thống kê; công bố và sử dụng thông tin thống kê; ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động thống kê

và tổ chức thống kê

Một văn bản quan trọng khác được xây dựng và ban hành góp phần đưa Luật Thống kê sớm phát huy trong hoạt động thực tiễn, đó là Nghị định số 14/2005/NĐ-CP ngày 04/02/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê Nghị định này được ban hành dựa trên 3 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Thống kê Nghị định gồm 6 chương với 39 điều, quy định hành vi được coi là vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê;

Trang 7

đồng thời quy định hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt các vi phạm này

Nghị định 40/2004/NĐ-CP và Nghị định 14/2005/NĐ-CP của Chính phủ nêu trên cùng với những văn bản khác được các cấp có thẩm quyền ban hành sau khi Quốc hội thông qua Luật Thống kê nhằm trực tiếp hướng dẫn hoặc góp phần hướng dẫn thi hành Luật Thống kê cho thấy trong những năm 2003-2005 ngành Thống kê đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai thực hiện nội dung thứ hai của Chương trình hoàn thiện và tăng cường môi trường pháp lý cho công tác thống

kê và do vậy đã hoàn thành được mục tiêu đề ra cho nội dung này

c) Nội dung thứ ba: Xây dựng chương trình phổ biến các văn bản pháp luật về thống kê; triển khai thực hiện và tiến hành kiểm tra, thanh tra theo kế hoạch hàng năm nhằm đảm bảo các văn bản này được thực hiện nghiêm minh

Ngay sau khi Luật Thống kê và các văn bản liên quan được ban hành, Tổng cục Thống kê đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến với nhiều hình thức đa dạng, phong phú và

có hiệu quả Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã thành lập Ban tuyên truyền

và phổ biến Luật Thống kê và phổ biến Nghị định số 40/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê Ngoài việc viết bài đăng báo, tạp chí, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương, Ban tuyên truyền và phổ biến Luật Thống kê còn phân công các thành viên đến các cơ quan Bộ, ngành và địa phương tổ chức các buổi trình bày nội dung cơ bản của Luật Thống kê và các văn bản có liên quan

Dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục Thống kê, Ban tuyên truyền và phổ biến Luật Thống kê đã phối hợp với các Vụ và các đơn vị khác của Tổng cục Thống kê biên soạn 99 câu hỏi-đáp về Luật Thống kê Luật Thống kê, Nghị định

số 40/2004/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê và 99 câu hỏi-đáp về Luật Thống kê cùng với những văn bản khác về thống kê đã được Tổng cục Thống kê tập hợp biên soạn thành cuốn sách “Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành”, xuất bản tháng 02/2004 với số lượng phát hành trên 6 nghìn cuốn, phổ biến tới nhiều đối tượng trong nước và quốc tế Để phổ biến Luật Thống kê ra nước ngoài và tới các đối tượng quốc tế khác, Ban tuyên truyền và phổ biến Luật Thống kê đã phối hợp với Vụ Hợp tác

Trang 8

Quốc tế biên dịch Luật Thống kê ra tiếng Anh và cung cấp trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về Luật Thống kê của Việt Nam nói riêng và hợp tác về thống kê với Việt Nam nói chung

Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động phổ biến, tuyên truyền về Luật Thống kê và Nghị định 40/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thống kê, Tổng cục Thống kê còn phối hợp với thống kê Bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị khác tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thanh tra nghiệp vụ, trong đó tập trung thanh tra việc chấp hành chế độ báo cáo và điều tra thống kê Từ năm

2004 đến nay, Ban Thanh tra Tổng cục Thống kê đã phối hợp với Thanh tra của các Cục Thống kê địa phương và thống kê Bộ, ngành tiến hành khoảng 2 nghìn cuộc thanh tra nghiệp vụ Qua thanh tra đã kịp thời phát hiện, nhắc nhở, uốn nắn, thậm chí còn kiên quyết xử phạt những trường hợp vi phạm nghiêm trọng những vấn đề nghiệp

vụ chuyên môn đã được Luật Thống kê và các văn bản khác về thống kê đã quy định

Những hoạt động nêu trên cho thấy trong những năm 2003- 2005 ngành Thống kê đã xây dựng được chương trình cụ thể, thiết thực và khả thi, góp phần đưa Luật Thống kê nhanh chóng đi vào cuộc sống Tuy nhiên, các hoạt động này những năm về sau và nhất là những năm gần đây tiến hành chưa thường xuyên Hoạt động kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật Thống kê và các văn bản pháp quy có liên quan như trong nội dung thứ 3 đề ra là tiến hành theo kế hoạch hàng năm, nhìn chung không có chương trình thực hiện riêng, chủ yếu lồng ghép trong việc triển khai thực hiện Nghị định số 14/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê và các hoạt động khác

Trong chương trình công tác thống kê năm 2006 đề ra nhiệm vụ sơ kết 2 năm thực hiện Luật Thống kê, nhưng không thực hiện được Do việc tuyên truyền, phổ biến, giám sát, đánh giá việc thực hiện Luật Thống kê và các văn bản có liên quan không liên tục nên nhận thức về Luật Thống kê trong cộng đồng nói chung và trong cán bộ, công chức thống kê nói riêng vẫn còn hạn chế Không ít cán bộ, công chức ngay trong ngành Thống kê đến nay vẫn chưa nắm chắc nội dung của Luật Thống kê Luật Thống kê có hiệu lực thi hành từ 1/1/2004 nhưng tình trạng chưa chấp hành nghiêm túc các quy định pháp quy về điều tra thống kê, báo cáo thống kê, công bố và sử dụng thông tin thống kê vẫn còn diễn ra khá phổ biến

Trang 9

2-Chương trình hoàn thiện hệ thống sản phẩm thống kê và xây dựng chính sách phổ biến thông tin thống kê

A-Tóm tắt chương trình

(1) Mục đích:

- Phát triển các sản phẩm và dịch vụ thống kê theo hướng đa dạng hoá, đồng bộ hoá và tin học hoá;

- Xây dựng và ban hành chính sách phổ biến thông tin thống kê

(2) Thời gian thực hiện: 2003-2007

(3)Nội dung cơ bản:

- Hoàn thiện và chuẩn hoá hệ thống các sản phẩm thống kê, bao gồm: Báo cáo kinh tế-xã hội hàng tháng; niên giám thống kê; các sản phẩm công bố kết quả các cuộc tổng điều tra và điều tra thống kê; các sản phẩm số liệu thống kê nhiều năm; các sản phẩm phân tích và dự báo thống kê; tạp chí và các bản tin thống kê;

- Tăng cường công tác phổ biến thông tin thống kê, trong đó chú trọng tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa ngành Thống kê với các đối tượng sử dụng thông tin thống kê; đa dạng hoá hình thức phổ biến thông tin thống kê;

- Xây dựng cơ chế, chính sách phổ biến và sử dụng thông tin thống kê đảm bảo thông tin thống kê được phổ biến kịp thời, rộng rãi, minh bạch và bình đẳng giữa các đối tượng dùng tin;

- Nâng cao năng lực phổ biến thông tin thống kê với hai giải pháp chủ yếu: Hình thành cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia và xây dựng, áp dụng cơ chế dịch vụ thông tin thống kê

(4)Đơn vị chủ trì: Vụ Thống kê Tổng hợp

(5)Đơn vị phối hợp:

- Các Vụ nghiệp vụ, Văn phòng cơ quan Tổng cục Thống kê, Tạp chí Con số và sự kiện, Nhà Xuất bản Thống kê; các đơn vị khác thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê;

- Các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các Bộ, ngành

Trang 10

(1) Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm

Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm (sau đây gọi tắt là báo cáo hàng tháng) là một trong những sản phẩm thông tin truyền thống và quan trọng nhất của Tổng cục Thống kê Báo cáo này được tiến hành định kỳ hàng tháng với kết cấu gồm phần số liệu và phần lời văn, phản ánh diễn biến tình hình kinh tế-xã hội của đất nước theo tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng

và cả năm Số liệu của tháng báo cáo là số liệu chính thức 15 ngày đầu tháng và ước tính số liệu thực hiện những ngày còn lại của tháng báo cáo Báo cáo do Vụ Thống kê Tổng hợp xử lý và biên soạn trên cơ sở các báo cáo của các Vụ thống

kê chuyên ngành của Tổng cục Thống kê; báo cáo của các Bộ, ngành và báo cáo của các Cục Thống kê địa phương Thông thường báo cáo hoàn thành vào ngày

25 hàng tháng và cung cấp cho các đối tượng sử dụng chủ yếu dưới dạng tài liệu

in sẵn, mỗi tháng khoảng 500 bản

Để nâng cao chất lượng báo cáo tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng, trong những năm 2003-2007 Tổng cục Thống kê đã không ngừng hoàn thiện và tăng cường khâu thu thập thông tin đầu vào, thể hiện cụ thể như sau:

- Một là, cùng với việc bổ sung, cải tiến chế độ báo cáo thống kê tổng hợp của các Cục Thống kê và thống kê các Bộ, ngành, Tổng cục Thống kê còn tăng cường các cuộc điều tra mẫu hàng tháng về sản xuất công nghiệp,

Trang 11

xây dựng, thương mại và dịch vụ; đồng thời chú trọng khai thác tài liệu từ các hồ sơ đăng ký hành chính như số liệu xuất nhập cảnh, số liệu xuất nhập khẩu hàng hoá tổng hợp từ các tờ khai hải quan; số liệu về phát triển dịch vụ viễn thông qua các hợp đồng lắp đặt thuê bao điện thoại cố định, thuê bao internet; số liệu khai giảng năm học của ngành Giáo dục đào tạo;

số liệu tai nạn giao thông của Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia; số liệu thiệt hại về thiên tai của Uỷ ban phòng chống thiên tai

- Hai là, trong nhiều trường hợp, việc thu thập thông tin còn được tiến hành bằng một số phương pháp và hình thức khác, trong đó có việc tham gia các cuộc giao ban, đánh giá tình hình của các Bộ, ngành, Tổng công ty

91 và đặc biệt là vào các tháng cuối quý những năm trước đây còn mời các Bộ, ngành và một số Cục Thống kê địa phương đến phản ánh tình hình kinh tế-xã hội thuộc Bộ, ngành hoặc thuộc địa phương quản lý

Nhờ những nỗ lực như trên nên mặc dù kinh tế-xã hội trong những năm vừa qua diễn biến phức tạp, nhưng Báo cáo hàng tháng của Tổng cục Thống kê vẫn phản ánh kịp thời và tương đối sát thực trạng và xu hướng phát triển của tình hình kinh tế-xã hội của đất nước bằng số liệu thống kê định lượng, có tính thuyết phục cao Báo cáo này ngày càng được các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế tin cậy sự dụng Từ tháng 7/2003, Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Tổng cục Thống kê đã trở thành một trong những tài liệu chính thức của các

kỳ họp thường kỳ hàng tháng của Chính phủ

Sự cải tiến và hoàn thiện Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Tổng cục Thống kê đặt ra yêu cầu, đồng thời cũng cung cấp thêm kinh nghiệm để nâng cao chất lượng Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của các Cục Thống kê Trong những năm 2002 trở về trước, hàng năm các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ gửi về Tổng cục Thống kê 4 báo cáo tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn vào các tháng cuối quý nhưng từ năm 2003 đến nay đã quy định Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng của các Cục Thống kê không chỉ gửi tới cấp

ủy, chính quyền, các cơ quan tổng hợp và các đối tượng khác trên địa bàn, mà tất cả các tháng đều phải gửi Tổng cục Thống kê để bổ sung thêm thông tin cho Báo cáo chung của Tổng cục Thống kê và qua đó, Tổng cục Thống kê có cơ sở xem xét, đánh giá và giúp đỡ các Cục Thống kê cải tiến, hoàn thiện Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của địa phương Để giám sát và đánh giá kết quả nâng cao chất

Trang 12

lượng Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của các Cục Thống kê, Tổng cục Thống

kê đã đề ra nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp giao kế hoạch hàng năm và chấm điểm thi đua kết quả thực hiện

Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra trong chương trình hành động thì Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Tổng cục Thống kê cũng như các Cục Thống kê vẫn chưa có tiến bộ rõ về mặt chất lượng nội dung và hình thức thể hiện

-Về nội dung, chương trình hành động đề ra mục tiêu “bổ sung các chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh đồng bộ diễn biến tình hình kinh tế-xã hội”, nhưng so với trước năm 2003 thì số lượng chỉ tiêu chủ yếu hầu như không tăng hơn Trong các Báo cáo phần lớn vẫn là các chỉ tiêu kinh tế; chỉ tiêu xã hội và môi trường còn nghèo nàn Nhóm các chỉ tiêu chủ yếu trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm của cả nước cũng như của từng địa phương nhìn chung chưa được thu thập, tổng hợp và phản ánh đầy đủ, nhất là trong Báo cáo cuối năm Đáng chú ý là, tình trạng khác biệt về số liệu giữa Báo cáo của các Cục Thống kê và Báo cáo của một

số Bộ, ngành với Báo cáo của Tổng cục Thống kê chậm được khắc phục, thậm chí còn có xu hướng ngày càng doãng ra

- Về hình thức thể hiện, mà cụ thể là cách viết Báo cáo chủ yếu vẫn là mô

tả tình hình, diễn giải số liệu, chưa đi sâu phân tích nguyên nhân, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp Chưa sử dụng nhiều các phương pháp phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô, trong đó có phương pháp phân tích và dự báo theo mô hình đang được thống kê nhiều nước sử dụng phổ biến và có hiệu quả

(2) Niên giám thống kê

Niên giám thống kê cũng là sản phẩm truyền thống và quan trọng của ngành Thống kê Do vậy, Tổng cục Thống kê đã duy trì phát hành hai loại niên giám thống kê: Niên giám thống kê tóm tắt phát hành vào tháng 3 và Niên giám thống kê đầy đủ phát hành vào tháng 6 hàng năm Năm 2003 và 2004 Tổng cục Thống kê đã tiến hành nghiên cứu, chuẩn hoá market Niên giám thống kê đầy đủ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin và phù hợp với chuẩn mực quốc tế Kết quả nghiên cứu, chuẩn hoá đã từng bước được vận dụng trong quá trình biên soạn niên giám thống kê những năm vừa qua

Ngoài việc bố trí lại kết cấu cho hợp lý hơn, Niên giám thống kê đầy đủ của Tổng cục Thống kê còn bổ sung thêm phần “Doanh nghiệp” với 24 biểu;

Trang 13

trong một số phần như “Tài khoản quốc gia” bổ sung thêm một số chỉ tiêu về thu chi ngân sách nhà nước; phần “Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản” bổ sung thêm các chỉ tiêu về hợp tác xã và trang trại; phần “Số liệu thống kê nước ngoài” bổ sung thêm số liệu của Việt Nam để tiện so sánh, đối chiếu Từ năm 2005, niên giám thống kê đầy đủ và tóm tắt của Tổng cục Thống kê đã thay đổi cách bố trí và trình bày bìa đẹp hơn và sáng sủa hơn

Niên giám thống kê đầy đủ của hầu hết các Cục Thống kê địa phương cũng có những cải tiến và hoàn thiện về nội dung, hình thức và thời gian phát hành Nhiều Cục Thống kê còn biên soạn Niên giám tóm tắt, được các đối tượng sử dụng rất hoan nghênh Thống kê một số Bộ, ngành duy trì được việc biên soạn Niên giám thống kê chuyên ngành như: Niên giám thống kê y tế của

Bộ Y tế; Niên giám thống kê giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Niên giám thống kê văn hoá thông tin của Bộ Văn hoá Thông tin trước đây (nay là

Bộ Văn hoá, Thông tin và Du lịch)

Tuy nhiên, việc chuẩn hoá và hoàn thiện Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê cũng như Niên giám thống kê của các Cục Thống kê địa phương

và Niên giám thống kê các Bộ, ngành còn nhiều việc chưa làm được, cụ thể là:

- Niên giám thống kê đầy đủ của Tổng cục Thống kê tuy đã xây dựng và chuẩn hoá được market theo chuẩn mực quốc tế nhưng chưa áp dụng được đầy

đủ vì thiếu cơ sở số liệu tổng hợp đưa vào hệ thống biểu đã xây dựng Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc chuẩn hóa market Niên giám chưa đi liền với xây dựng kế hoạch, lộ trình và phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp số liệu

- Nguyên tắc bảo đảm số liệu Niên giám thống kê địa phương và Niên giám thống kê Bộ, ngành không mâu thuẫn với số liệu trong Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê tuy đã triển khai nhiều biện pháp nhưng vẫn chưa khắc phục được Tình trạng mâu thuẫn số liệu vẫn tiếp tục diễn ra

- Chương trình hành động đã đề ra cho các Vụ Thống kê chuyên ngành xúc tiến biên soạn và phát hành Niên giám thống kê chuyên ngành nhằm chi tiết hoá và bổ sung các số liệu thống kê chuyên ngành trong Niên giám thống kê tổng hợp, nhưng đến nay chưa có đơn vị nào thực hiện được

Trang 14

(3) Sản phẩm công bố kết quả các cuộc điều tra

Trong những năm vừa qua, ngành Thống kê nói chung và Tổng cục Thống kê nói riêng tiến hành nhiều cuộc điều tra, nhất là tổng điều tra và những cuộc điều tra có quy mô lớn nên sản phẩm thông tin này ngày một nhiều hơn, trong đó có những sản phẩm chủ yếu sau: Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006; kết quả tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007; kết quả điều tra doanh nghiệp hàng năm; kết quả điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hàng năm; kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch hàng năm; kết quả điều tra biến động dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình hàng năm; kết quả điều tra di cư năm 2004; kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004; kết quả điều tra vị thành niên năm 2005

Các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thống kê các

Bộ, ngành cũng đã đẩy mạnh biên soạn các sản phẩm thông tin công bố kết quả điều tra tiến hành trên địa phương mình, ngành mình Đơn cử, Bộ Nội vụ đã phổ biến tương đối rộng rãi kết quả điều tra cán bộ, công chức và viên chức năm 2005;

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố kết quả tổng kiểm kê đất năm 2006 Ngoài việc thường xuyên công bố kết quả những cuộc điều tra do Tổng cục Thống kê tiến hành trên địa phương, các Cục Thống kê còn công bố kết quả các cuộc điều tra do Cục Thống kê phối hợp với các Sở, ban, ngành của địa phương hoặc phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện trên địa bàn

Bên cạnh những tiến bộ như trên, việc công bố kết quả các cuộc điều tra thống kê trong những năm vừa qua vẫn còn có những hạn chế và bất cập, đó là:

- Trong chương trình hành động đề ra phải rút ngắn khoảng cách giữa thời gian điều tra tới khi công bố kết quả điều tra, nhưng nhìn chung chưa có sự chuyển biến rõ rệt Những cuộc điều tra quy mô lớn và nhất là tổng điều tra thường phải sau một hoặc hai năm mới công bố được kết quả chính thức

- Các sản phẩm công bố chủ yếu là những thông tin đã tổng hợp, người sử dụng thông tin còn rất khó khăn trong việc tiếp cận với cơ sở dữ liệu ban đầu hay còn gọi là dữ liệu thô

- Các sản phẩm công bố thường chỉ có phần số liệu, ít khi có các bản lời văn phân tích, đánh giá tương xứng với khối lượng lớn số liệu đã thu thập, xử lý

và tổng hợp được

Trang 15

(4) Các sản phẩm số liệu thống kê nhiều năm

Mục tiêu đề ra trong chương trình hành động cho các sản phẩm thông tin này là biên soạn theo chu kỳ 5 năm với các dãy số liệu đảm bảo tính so sánh về thời gian, không gian và có nhiều chỉ tiêu mang tính phân tích Thực hiện mục tiêu này, trong những năm 2003-2007 trên phạm vi Tổng cục Thống kê cũng như các Cục Thống kê địa phương và thống kê các Bộ, ngành đã chú ý phát triển các

ấn phẩm và sản phẩm thông tin điện tử theo hướng đa dạng hoá

Riêng Tổng cục Thống kê đã phát hành được một số ấn phẩm số liệu nhiều năm quan trọng như: Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển 1986-2005; Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000-2006; Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX; Số liệu thống kê tài khoản quốc gia 1995-2002; Công nghiệp Việt Nam trong những năm đổi mới 1986-2005; Số liệu chi phí trung gian ngành công nghiệp trong những năm 2000-2003; Số liệu thống kê giá 20 năm đổi mới; Xuất nhập khẩu hàng hoá 2001-2005; Số liệu thống kê xã hội những năm đầu thế kỷ XXI; Tư liệu kinh tế-xã hội các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương

Hạn chế lớn nhất của loại sản phẩm này là chưa xây dựng được kế hoạch tổng thể biên soạn và phát hành để giao cho các đơn vị thực hiện Những sản phẩm biên soạn nêu trên chủ yếu là từng đơn vị đề xuất và thực hiện Một tồn tại rất lớn khác đang đặt ra như đã nêu ở trên là số liệu công bố trong các sản phẩm của các Cục Thống kê và thống kê các Bộ, ngành trong nhiều trường hợp không thống nhất với số liệu công bố của Tổng cục Thống kê; thậm chí ngay trong một chuyên ngành, một đơn vị cũng có sự sai khác về số liệu giữa các lần xuất bản, làm cho các đối tượng dùng tin bị động, lúng túng khi sử dụng và giảm lòng tin đối với số liệu của ngành Thống kê công bố

(5) Các sản phẩm phân tích và dự báo thống kê

Trong những năm 2003-2007 ngành Thống kê đã biên soạn được một số sản phẩm thông tin thuộc loại này Dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục Thống kê, Vụ Thống kê Tổng hợp đã phối hợp với các Vụ nghiệp vụ và với các đơn vị khác biên soạn cuốn Kinh tế-xã hội 3 năm 2001-2003; Kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 Vụ Dân số và Lao động cũng có những sản phẩm phân tích chuyên khảo về dân số; Vụ Xã hội và Môi trường ngoài báo cáo phân tích mức sống dân cư còn có báo cáo phân tích “Những cuộc đời trẻ thơ”; Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng phân tích về thực trạng doanh nghiệp Ngoài các sản

Trang 16

phẩm phân tích và dự báo do các Vụ và các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê thực hiện, những năm vừa qua đã có bước phát triển mới về việc biên soạn và phát hành các sản phẩm này ở các Cục Thống kê địa phương Hầu hết các Cục Thống kê đều có các sản phẩm phân tích thống kê 5 năm 2001-2005 hoặc phân tích tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn qua 20 năm đổi mới (1986-2005) Một số Cục Thống kê phía Nam còn tiến hành phân tích thực trạng kinh tế-xã hội của địa phương sau 30 năm giải phóng và thống nhất đất nước (1975-2005)

Tuy nhiên đây vẫn là khâu yếu và chưa có sự cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng các sản phẩm Các sản phẩm phân tích chủ yếu mới tập trung đánh giá thực trạng tình hình, chưa sử dụng các công cụ dự báo để chỉ ra

xu hướng phát triển của tình hình trong ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trong những năm vừa qua chưa xây dựng được kế hoạch biên soạn các sản phẩm phân tích và dự báo cho từng chuyên ngành, lĩnh vực theo định kỳ hoặc chu kỳ xác định nên hoạt động này không được bố trí các nguồn lực và các điều kiện khác để thực hiện Đây là công việc phức tạp, nếu không chỉ đạo sát sao và không tạo các điều kiện cần thiết để triển khai thì rất khó thực hiện được mục tiêu đề ra

(6) Tạp chí và các bản tin thống kê

Tổng cục Thống kê đã duy trì biên soạn và phát hành tạp chí “Con số và Sự kiện” mỗi tháng 1 kỳ; Thông tin “Chỉ số giá cả hôm nay” mỗi tháng 2 kỳ; Tờ gấp số liệu tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm Ngoài ra, từ năm 2005 còn biên soạn và xuất bản “Bản tin thông tin thống kê” mỗi tháng 2 kỳ và ra thông cáo báo chí về tình hình kinh tế-xã hội của cả nước hàng tháng Tuy nhiên, các sản phẩm thông tin này chưa được cải tiến nhiều về nội dung và hình thức, số lượng phát hành còn hạn chế Đến nay các sản phẩm thông tin này vẫn chưa được biên soạn theo tiếng nước ngoài để cung cấp cho các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính quốc tế và các đối tượng là người nước ngoài khác

b) Nội dung thứ 2: Tăng cường công tác phổ biến thông tin thống kê

Công tác phổ biến thông tin thống kê trong những năm vừa qua nhìn chung được tăng cường cả trên phạm vi Tổng cục Thống kê cũng như ở các cục Thống kê và thống kê các Bộ, ngành Do vậy đối tượng thông tin đã được mở rộng hơn, lượng thông tin phổ biến tới các đối tượng cũng nhiều hơn Thông tin thống kê thu thập, xử lý và tổng hợp được không chỉ đáp ứng yêu cầu của lãnh

Trang 17

Sở dĩ đạt được kết quả trên là do các đơn vị trong ngành Thống kê đã triển khai tốt mục tiêu đa dạng hóa hình thức phổ biến thông tin thống kê mà chương trình hành động đã đề ra, bao gồm: Họp báo; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng; phát hành các ấn phẩm; sử dụng các phương tiện điện tử chứa thông tin thống kê; tổ chức thư viện, phòng đọc; giới thiệu sản phẩm thông tin thống kê tại các cửa hàng sách và sử dụng các phương tiện truyền đưa thông tin khác như điện thoại, fax, email

Ngoài việc phổ biến dưới hình thức in và phát hành ấn phẩm theo cách làm truyền thống, những năm gần đây các sản phẩm thông tin như báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng tháng, niên giám thống kê hàng năm, kết quả các cuộc điều tra, các sản phẩm phân tích thống kê còn được in và phát hành qua đĩa CD- ROOM hoặc đưa lên website và internet Các hoạt động phổ biến thông tin thống

kê khác như họp báo công bố số liệu 6 tháng và cả năm, in và phát hành tờ gấp

số liệu hàng quí, ra thông cáo báo chí tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng tiếp tục được duy trì Hàng năm Tổng cục Thống kê đều xuất bản và phát hành cuốn

“Giới thiệu một số sản phẩm thông tin chủ yếu” phục vụ các đối tượng dùng tin tra cứu để thu thập thông tin thống kê

Đáng chú ý là ngày 03/9/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê Theo Nghị định này, Tổng cục Thống kê được thành lập thêm một số đơn vị, trong đó có Trung tâm Tư liệu Thống kê Ngày 22/6/2004 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cũng đã ban hành Quyết định số 403/QĐ-TCTK quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Trung tâm Tư liệu Thống kê với tư cách là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Tổng cục Thống kê, có chức năng tập hợp, lưu giữ, quản lý các tư liệu thống kê

đã được công bố; phổ biến thông tin thống kê này đến các đối tượng dùng tin theo cơ chế phù hợp; là đầu mối thực hiện dịch vụ thống kê theo quy định của pháp luật và quy chế của Tổng cục Thống kê

Trung tâm Tư liệu Thống kê được thành lập đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường phổ biến thông tin thống kê của Tổng cục Thống kê cũng như của các Cục Thống kê và của thống kê các Bộ, ngành Trong thời gian vừa qua

Trang 18

Trung tâm này đã tiến hành một số hoạt động thu thập, hệ thống hóa, cập nhật, lưu giữ và quản lý các tư liệu thống kê đã được ngành Thống kê công bố để cung cấp cho các đối tượng sử dụng Trung tâm cũng đã xây dựng được Thư viện tư liệu thống kê, trong đó nhiều thông tin đã được cài đặt trong máy vi tính để người dùng tin có thể tra cứu tại chỗ Ngoài ra, Trung tâm còn xây dựng Trang thông tin điện tử thống kê (website) và đưa vào hoạt động từ tháng 10/2004

Hoạt động phổ biến thông tin trong thời gian vừa qua tuy đã được đẩy mạnh, nhưng vẫn chưa tương xứng với vị trí như nó cần phải có Một số hoạt động cần tiến hành như tổ chức hội nghị khách hàng/người dùng tin; điều tra nhu cầu thông tin là những hoạt động có vai trò lớn trong việc tăng cường mối quan

hệ chặt chẽ giữa ngành thống kê với các đối tượng sử dụng thông tin thống kê nhưng chậm được triển khai Trong chương trình hành động đề ra từ năm 2003 hàng năm phải tiến hành điều tra nhu cầu thông tin thống kê, nhưng năm 2006 mới tổ chức điều tra thí điểm và năm 2008 mới chính thức triển khai

c) Nội dung thứ ba: Xây dựng cơ chế, chính sách phổ biến và sử dụng thông tin thống kê

Chương trình hành động đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng cơ chế, chính sách phổ biến và sử dụng thông tin thống kê rõ ràng và minh bạch theo 4 nguyên tắc cơ bản: (i) Phải tạo lập được mối liên hệ thường xuyên và tác động qua lại giữa ngành Thống kê với các đối tượng sử dụng thông tin thống kê; (ii) Đảm bảo cho các thông tin thống kê được phổ biến một cách kịp thời, rộng rãi, minh bạch

và bình đẳng giữa các đối tượng dùng tin; (iii) Hình thức phổ biến thông tin phải được đa dạng hóa và phù hợp với từng loại thông tin, chu kỳ phổ biến, điều kiện

kỹ thuật công nghệ và đối tượng dùng tin; (iv) Đảm bảo nguyên tắc bí mật quốc gia và bí mật thông tin cá nhân theo Luật thống kê quy định

Triển khai kế hoạch này, năm 2003 và 2004, Vụ Thống kê Tổng hợp đã tiếp tục hoàn thiện dự thảo Chính sách phổ biến thông tin được biên soạn từ những năm 1998-2000 trong khuôn khổ hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) Tuy nhiên, hoạt động này những năm sau đó đã không được đưa vào kế hoạch công tác hàng năm của Tổng cục Thống kê nên đến nay Chính sách phổ biến thông tin vẫn không được tiếp tục nghiên cứu xây dựng và

do vậy chưa được ban hành

Trang 19

d) Nội dung thứ tư: Nâng cao năng lực phổ biến thông tin thống kê

Trong chương trình hành động, hoạt động này được tiến hành bằng hai hoạt động quan trọng:

- Hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, đáp ứng công tác quản lý nhà nước của các Bộ ngành, địa phương, phục vụ yêu cầu khai thác thông tin thống kê theo nhiều hình thức khác nhau (tại chỗ, qua mạng tin học diện rộng, internet, email, fax…);

- Áp dụng cơ chế dịch vụ thống kê, thu phí cung cấp các thông tin thống

kê, các sản phẩm thống kê đối với các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin thống kê cho mục đích sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động sinh lời khác

Để triển khai hoạt động thứ nhất, trong Quyết định 402/QĐ-TCTK ban hành ngày 14/8/2004, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã giao cho vụ Thống kê Tổng hợp “Xây dựng, cập nhật, quản lý nội dung cơ sở dữ liệu quốc gia về thống kê kinh tế-xã hội”; năm 2006 đã cử đoàn khảo sát tại cơ quan thống kê Hàn Quốc học hỏi kinh nghiệm về lĩnh vực này Ngoài các công việc khởi động đã nêu trên thì hoạt động thứ nhất không tiến hành thêm công việc nào khác Do đó cơ sở dữ liệu quốc gia thống kê kinh tế-xã hội đến nay vẫn chưa được hình thành, thậm chí chưa có kế hoạch cụ thể về thời gian hình thành

Hoạt động thứ hai được giao cho Trung tâm Tư liệu Thống kê thực hiện Trong thời gian vừa qua, Trung tâm này đã tiến hành một số công việc nghiên cứu như: Khảo sát hoạt động dịch vụ thống kê tại Philipin năm 2004; năm 2005 triển khai đề tài khoa học “Nghiên cứu xác định nội dung và hình thức phổ biến thông tin thống kê của Trung tâm Tư liệu Thống kê”, trong đó có đề cập đến cơ chế dịch

vụ thông tin thống kê; năm 2006 triển khai đề tài khoa học “Nghiên cứu nội dung

và cơ chế tổ chức hoạt động dịch vụ thống kê” Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Trung tâm Tư liệu Thống kê đang xây dựng Quy chế dịch vụ thông tin thống kê trình Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Dự thảo Quy chế này đang lấy ý kiến đóng góp của các Vụ, Viện, các Cục Thống kê và các đơn vị khác trong Tổng cục Thống kê, khả năng này sẽ được hoàn thiện và ban hành trong những tháng tới

Trang 20

3-Chương trình cải tiến, hoàn thiện phương pháp thống kê và

hệ thống thu thập số liệu thống kê

A-Tóm tắt chương trình

(1)Mục đích: Cải tiến, hoàn thiện phương pháp tính các chỉ tiêu trong các chế

độ báo cáo thống kê, điều tra thống kê cho phù hợp với thực tiễn và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở nâng cao chất lượng thông tin thống

kê, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê

(2) Thời gian thực hiện:

- Năm 2003-2004 hoàn thiện toàn bộ việc ban hành các hệ thống chỉ tiêu, các chế độ báo cáo và sửa đổi chương trình điều tra thống kê;

- Năm 2005-2010 tiếp tục chỉnh lý cho phù hợp với những thay đổi của thực tiễn và chuẩn quốc tế

(3)Nội dung cơ bản:

- Cải tiến và hoàn thiện phương pháp thống kê, bao gồm: Hoàn thiện

hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội; mở rộng áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia; chuẩn hóa hệ thống các bảng phân loại, danh mục, chú trọng xây dựng các bảng cân đối quan trọng;

- Hoàn thiện hệ thống thu thập số liệu thống kê, bao gồm: Xây dựng hệ thống đăng ký các thông tin cơ bản; xây dựng hệ thống thông tin về sử dụng đất đai; cải tiến chế độ báo cáo thống kê; tổ chức hợp lý các cuộc tổng điều tra, điều tra định kỳ và điều tra hàng năm; tăng cường sử dụng các nguồn số liệu sẵn có như tài liệu kế toán, tài liệu của hệ thống thuế, tài liệu đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng nhằm góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê, góp phần tiết kiệm kinh phí điều tra thu thập

(4)Đơn vị chủ trì: Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê

(5)Đơn vị phối hợp:

- Các Vụ, Viện, Trung tâm Tin học Thống kê và các đơn vị khác thuộc

cơ quan Tổng cục Thống kê;

- Các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các Bộ, ngành

Trang 21

B-Tình hình thực hiện

a) Nội dung thứ nhất: Cải tiến và hoàn thiện phương pháp thống kê

(1) Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội

Trong chương trình hành động, việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội được xác định là cần phải tiến hành theo hướng đồng bộ, phản ánh được yêu cầu cơ bản về thông tin của các đối tượng sử dụng, đủ để so sánh với hệ thống chỉ tiêu thống kê của các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó chú trọng các chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp, bao gồm: Các chỉ tiêu tài khoản quốc gia, tài chính công, ngân hàng, thị trường chứng khoán, bảo hiểm, chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số giới Phương pháp tính các chỉ tiêu phải được cải tiến phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và theo chuẩn mực quốc

tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập và so sánh quốc tế

Thực hiện mục tiêu này, năm 2003-2005 Tổng cục Thống kê đã phối hợp với các Bộ, ngành và tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế nghiên cứu xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Ngày 24/11/2005 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 305/2005/QĐ-TTg ban hành Hệ thống chỉ tiêu này với 274 chỉ tiêu thuộc 24 nhóm, trong đó có nhiều chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp Một số Bộ, ngành cũng đã nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành áp dụng cho các đơn vị trong ngành như Ủy ban Quốc gia Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây (nay là Tổng cục Dân số); Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ngân hàng Nhà nước…

Trong hoạt động này còn một số công việc lớn đã triển khai nhưng chưa hoàn thành dứt điểm, đó là:

- Việc chuẩn hóa khái niệm, phương pháp tính và nguồn số liệu của 274 chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia tuy nỗ lực cao nhưng đến nay vẫn chưa ban hành được để áp dụng thống nhất Mặt khác, lộ trình thực hiện Hệ thống chỉ tiêu này cũng chưa xây dựng nên chưa xác định rõ được đến thời điểm nào thì Tổng cục Thống kê công bố được đầy đủ các thông tin trong Hệ thống chỉ tiêu đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã cũng như

hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành của nhiều Bộ, ngành cũng chưa được

Trang 22

hoàn thiện phù hợp với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, hình thành hệ thống các chỉ tiêu thống kê thống nhất

(2) Mở rộng áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia

Nhiệm vụ này đặt ra là phải mở rộng áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia theo phương pháp luận của thống kê Liên hợp quốc; đồng thời tổ chức lại thống

kê chuyên ngành cho phù hợp với yêu cầu biên soạn hệ thống tài khoản quốc gia

Theo định hướng nêu trên, từ năm 2003 đến nay, thống kê tài khoản quốc gia đã triển khai một số hoạt động quan trọng như: Sau 2 năm nghiên cứu và áp dụng thí điểm, ngày 30/7/2007, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 840/TCTK-TKQG chính thức áp dụng Hệ thống chỉ số giá thay thế bảng giá so sánh năm 1994 trong tính toán các chỉ tiêu tổng hợp theo giá so sánh Việc nghiên cứu tính chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp tháng thay thế chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện đưa vào áp dụng chính thức

Tuy nhiên, hoạt động này còn có nhiều việc triển khai chậm, trong đó có những việc rất quan trọng như: Nghiên cứu áp dụng phương pháp sử dụng để tính toán tổng sản phẩm trong nước theo quý; hoàn thiện phương pháp tính toán các chỉ tiêu tài khoản quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ và theo khu vực thể chế; hướng dẫn sử dụng Hệ thống chỉ số giá thay thế bảng giá so sánh 1994

(3) Chuẩn hóa hệ thống các bảng phân loại, danh mục

Triển khai nhiệm vụ này, từ năm 2003 đến nay hàng năm đều cập nhật và công bố Danh mục hành chính theo 4 cấp để thống nhật sử dụng Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007 (VSIC 2007) đã sửa đổi phù hợp hơn với thực tế của Việt Nam và phiên bản mới của Liên hợp quốc nên đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/1/2007 Theo đó, Bộ trưởng Bộ

Kế hoạch và Đầu tư đã có Quyết định số 337/QĐ-BKHĐT ngày 10/4/2007 hướng dẫn áp dụng VSIC 2007 Ngoài ra, trong những năm vừa qua cũng đã rà soát, sửa đổi và xây dựng mới một số bảng danh mục như: Danh mục dân tộc, danh mục tôn giáo, bảng phân loại dịch vụ cán cân thanh toán quốc tế mở rộng (EBOPS) và một

số bảng danh mục khác Hiện nay đang biên soạn lại Danh mục giáo dục đào tạo theo Luật giáo dục mới; xây dựng Danh mục nghề nghiệp phục vụ Tổng điều tra dân

số và nhà ở 1/4/2009 và Danh mục sản phẩm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành

Trang 23

Hạn chế trong hoạt động này là chưa đưa ra được hệ thống các bảng danh mục, phân loại cần phải có để đề ra chương trình, kế hoạch và lộ trình tổng thể triển khai xây dựng và hoàn thiện đồng bộ hệ thống các bảng danh mục và phân loại này đáp ứng yêu cầu phát triển công tác thống kê Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

(4) Xây dựng các bảng cân đối quan trọng

Chương trình hành động đề ra là phải từng bước xây dựng các bảng cân đối như: Cân đối tổng sản phẩm trong nước; cân đối năng lượng và các bảng cân đối những sản phẩm quan trọng khác Thực hiện chủ trương này, trong những năm vừa qua đã tiếp tục tính toán chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước hàng năm theo phương pháp sử dụng, trên cơ sở đó hình thành bản cân đối tích lũy-tiêu dùng Ngoài ra còn tính toán một số bảng cân đối khác như: Bảng cân đối liên ngành (Input-Ouput Table-I/O Table); Bảng cân đối cán cân thanh toán quốc tế…

Tuy nhiên vẫn còn nhiều bảng cân đối quan trọng chưa được tiến hành thường xuyên hoặc chưa tiến hành như: Bảng cân đối lao động xã hội; Bảng cân đối năng lượng; Bảng cân đối lương thực và các bảng cân đối sản phẩm chủ yếu khác của nền kinh tế Việc triển khai xây dựng các bảng cân đối nhìn chung đạt kết quả thấp và đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác phân tích và dự báo của ngành Thống kê phát triển chậm

b) Nội dung thứ hai: Hoàn thiện hệ thống thu thập số liệu thống kê

(1) Xây dựng hệ thống đăng ký các thông tin cơ bản

Trong Chương trình hành động đề ra 3 công việc chính: (i) tổ chức đăng

ký thông tin doanh nghiệp và các đơn vị cơ sở; (ii) xây dựng hệ thống thông tin đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và cơ sở dữ liệu dân cư; (iii) xây dựng hệ thống thông tin sử dụng đất đai Nhìn chung các công việc này đều đã được triển khai nhưng kết quả đạt được còn rất khiêm tốn

Trên cơ sở kết quả của các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm; tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002 và 2007, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) và Cục Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cập nhật các dữ liệu về doanh nghiệp và các đơn vị sản xuất kinh doanh Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây (nay là Tổng cục Dân số) cũng đã phối hợp với Tổng cục Thống kê; Bộ Tư pháp và Bộ Công an

Trang 24

khai thác dữ liệu Tổng điều tra dân số và thu thập các thông tin đăng ký sinh, tử,

đi, đến phục vụ công tác quản lý chuyên ngành Bộ Tài nguyên và Môi trường bước đầu cũng đã xây dựng được cơ sở dữ liệu sử dụng đất đai trên cơ sở thông tin thu thập được qua tổng kiểm kê đất năm 2006 và điều tra biến động sử dụng đất hàng năm

Mặc dù đã nỗ lực như trên, nhưng việc cập nhật dữ liệu của các hệ thống này chưa được tiến hành thường xuyên và đến nay trong 3 hệ thống nêu trên chưa hệ thống nào hoàn thiện Do vậy, các hệ thống dữ liệu này hiện nay chủ yếu mới sử dụng trong phạm vi nội bộ; sự chia sẻ giữa các Bộ, ngành và cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế khai thác còn rất hạn chế

(2) Cải tiến chế độ báo cáo

Nhiệm vụ đề ra là cải tiến Chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp; Chế độ báo cáo áp dụng đối với các đơn vị cơ sở thực hiện chế độ ghi chép hành chính

và Chế độ báo cáo áp dụng với các Bộ, ngành Triển khai nhiệm vụ này, trong những năm qua đã đạt một số kết quả như sau:

Tổng cục Thống kê đã cải tiến, hoàn thiện và ban hành được một số chế

độ báo cáo định kỳ về doanh nghiệp nhà nước; lao động và thu thập; hoạt động xuất nhập khẩu Ngoài ra, các Vụ chức năng của Tổng cục Thống kê còn phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cải tiến Chế độ báo cáo định kỳ

và Chế độ ghi chép ban đầu về công tác cai nghiện phục hồi; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị trực thuộc Ngân hàng và các tổ chức tín dụng Nhà nước; phối hợp với

Bộ Nội vụ xây dựng Chế độ báo cáo thống kê công tác văn thư, lưu trữ; phối hợp với Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây (nay là Tổng cục Dân số) cải tiến Chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê chuyên ngành dân số, gia đình

và trẻ em; phối hợp với Bộ Công an và Bộ đội biên phòng xây dựng Chế độ báo cáo xuất nhập cảnh; phối hợp với Tổng cục Hải quan hoàn thiện Chế độ báo cáo xuất nhập khẩu hàng hóa…

Ngoài ra, trong những năm vừa qua còn cải tiến, hoàn thiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp định kỳ cho các chuyên ngành: Tài khoản quốc gia; nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp; đầu tư và xây dựng; thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch, lữ hành và dịch vụ; vận tải, bốc xếp và dịch vụ vận tải; bưu chính viễn thông; giáo dục, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế; thiếu đói

Trang 25

trong nông dân Trên cơ sở các chế độ báo cáo cải tiến này đã xây dựng Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành và đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 111/2008/QĐ-TTg ngày 15/8/2008

Mặc dù đạt được kết quả như trên, nhưng việc cải tiến chế độ báo cáo tiến hành còn chậm và chưa đồng bộ Một số chế độ báo cáo đến nay không còn phù hợp nhưng chưa được bổ sung thay thế, trong đó có Chế độ báo cáo áp dụng cho các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Chế độ báo cáo của doanh nghiệp ban hành từ năm 2002 cũng chưa được cải tiến Các tổ chức kinh

tế lớn như Tập đoàn, Tổng công ty mẹ-con, Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài đến nay cũng chưa có chế báo cáo thống kê áp dụng riêng

(3) Tổ chức các cuộc điều tra

Chương trình hành động là phải xây dựng được Chương trình điều tra thống kê quốc gia có sự phân công hợp lý giữa Tổng cục Thống kê với các Bộ, ngành và bố trí hợp lý về chu kỳ điều tra và tổng điều tra Theo hướng này, sau nhiều năm xây dựng, bổ sung hoàn thiện, Chương trình điều tra thống kê quốc gia với trên 40 cuộc điều tra và tổng cuộc điều tra đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 144/2008/QĐ-TTg ngày 29/10/2008 Như vậy, nhiệm vụ này tuy tiến hành chậm nhưng đến nay đã hoàn thành

(4) Tăng cường sử dụng các nguồn số liệu sẵn có

Việc thu thập thông tin thống kê thường được tiến hành theo 3 hình thức: (i) Điều tra thống kê; (ii) Báo cáo thống kê; (iii) Khai thác các hồ sơ đăng ký hành chính Do vậy, Chương trình hành động đã đề ra nhiệm vụ tăng cường sử dụng các nguồn số liệu sẵn có là rất phù hợp với thực tế nước ta và thông lệ quốc tế Thực hiện chủ trương này, ngành Thống kê đã tiến hành xây dựng các hệ thống đăng ký thông tin cơ bản và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chế độ báo cáo thống kê

Bộ, ngành theo hướng khai thác có hiệu quả số liệu từ các hồ sơ đăng ký hành chính Tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu và triển khai đúng mức nên việc sử dụng các nguồn số liệu sẵn có nhìn chung chưa được tăng cường như mục tiêu đề ra Đáng chú ý là cho đến nay không ít cán bộ, công chức trong ngành Thống kê thường chú trọng thu thập thông tin qua báo cáo thống kê

và điều tra thống kê, chưa nhận thức đầy đủ được vị trí và vai trò quan trọng của việc thu thập thông tin theo hình thức khai thác các hồ sơ đăng ký hành chính

Trang 26

4- Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong

A-Tóm tắt chương trình

(1)Mục đích: Nâng cao năng lực công tác thống kê thông qua việc ứng

dụng thành tựu công nghệ thông tin nhằm phục vụ kịp thời, thuận tiện,

có chất lượng các yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê

(2) Thời gian thực hiện: 2003-2010

(3) Nội dung cơ bản:

- Tăng cường hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho hoạt động thống kê, tiến tới tin học hóa công tác thống kê trong ngành Thống kê;

- Phát triển các phần mềm ứng dụng cho các chuyên ngành nhằm tự động hóa các khâu xử lý, tính toán, phân tích thống kê;

- Xây dựng hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia về thống kê kinh tế-xã hội;

- Hoàn thiện và phát triển Trang web thống kê để kết nối internet;

- Xây dựng và củng cố Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương và khu vực

(4) Đơn vị chủ trì: Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương (nay là

Trung tâm Tin học Thống kê)

(5) Đơn vị phối hợp:

- Vụ Kế hoạch Tài chính, Văn phòng và các Vụ nghiệp vụ thuộc

cơ quan Tổng cục Thống kê;

- Các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các đơn vị khác trong ngành Thống kê

Trang 27

(1) Tăng cường năng lực các mạng máy tính nội bộ của Tổng cục Thống kê

Trên cơ sở sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, sự hỗ trợ từ các dự

án nước ngoài (Sida, Adetef, UNDP, UNFPA…) và các nguồn vốn khác, năng lực các mạng máy tính nội bộ của Tổng cục Thống kê đã được tăng cường đáng kể

Tại thời điểm cuối tháng 9/2008, hệ thống mạng tin học của Tổng cục Thống kê có 153 máy chủ và trên 4,9 nghìn máy trạm, trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê có 400 máy trạm; các Cục Thống kê có trên 4,2 nghìn máy trạm; còn lại là các máy trạm của các Trung tâm Tin học và của 2 trường nghiệp vụ Nếu trừ số máy hỏng thì hiện nay mức trang bị máy của Tổng cục Thống kê đạt bình quân 0,7 máy /1 cán bộ, công chức, trong đó, ở cơ quan Tổng cục Thống kê mỗi cán bộ, công chức đã có đủ 1 máy trạm Hầu hết mỗi Cục Thống kê đều có 1-2 máy chủ và đã trang bị được cho mỗi phòng nghiệp vụ 2-3 máy trạm Một số Cục Thống kê đã tranh thủ được các nguồn đầu từ khác, nâng mức trang bị gần đạt 1 máy trạm/1 cán bộ, công chức

Tuy nhiên, việc tăng cường năng lực các mạng máy tính chủ yếu mới thực hiện được trên phạm vi cơ quan Tổng cục Thống kê và cơ quan Cục Thống kê

Kế hoạch trang bị đủ máy tính, máy in, modem cho các Phòng Thống kê cấp huyện đề ra trong Chương trình hành động còn phải nỗ lực cao hơn nữa thì mới thực hiện được Đáng chú ý là, phần lớn số máy Phòng Thống kê cấp huyện được trang bị hiện nay là những máy thế hệ cũ, tốc độ chậm và tỷ lệ hỏng cao, không đủ chất lượng áp dụng các phần mềm xử lý các bài toán nghiệp vụ Do cơ

sở hạ tầng như vậy nên mục tiêu tiến tới tin học hoá công tác thống kê trong toàn ngành Thống kê còn hết sức khó khăn và đây vẫn còn là mục tiêu phải phấn đấu quyết liệt hơn thì mới đạt được kết quả mong đợi

(2) Hoàn thiện mạng tin học diện rộng

Trong những năm vừa qua, mạng tin học diện rộng của Tổng cục Thống

kê đã có bước phát triển mới Đến nay đã có 62/63 Cục Thống kê lắp đặt mạng nội bộ (mạng LAN) Tất cả các mạng LAN của các Cục Thống kê đều đã kết nối với mạng của Tổng cục Thống kê, trong đó 42 Cục Thống kê đã lắp đặt đường truyền tốc độ cao ADSL Trung tâm tích hợp dữ liệu của Tổng cục Thống kê đã được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2005, có đường kết nối 2 MBb với tổng đài của Cục Bưu điện Trung ương Hệ thống thư tín điện tử cũng đã được xác lập với 2 500 hộp thư cá nhân của cán bộ, công chức cơ quan Tổng cục

Trang 28

Thống kê và các Cục Thống kê Nhiều cán bộ, công chức đã lập hòm thư điện tử riêng để truyền đưa dữ liệu và báo cáo

Hạn chế của hoạt động này là chủ trương kết nối máy tính của các Phòng Thống kê cấp huyện với mạng máy tính của Cục Thống kê cấp tỉnh và mạng máy tính của cơ quan Tổng cục Thống kê để trao đổi thông tin trong Ngành qua mạng diện rộng chưa thực hiện được Máy tính của nhiều Phòng Thống kê cấp huyện hiện nay chưa kết nối được với mạng máy tính của Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê Đặc biệt là, Cục Thống kê Bà Rịa-Vũng Tàu không những chưa kết nối mạng nội bộ với máy tính của các Phòng Thống kê cấp huyện trên địa bàn,

mà còn chưa kết nối với mạng của Tổng cục Thống kê

(3) Tăng cường năng lực công nghệ thông tin của các Bộ, ngành

Ý thức được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay, nhiều Bộ, ngành đã tăng cường đầu tư nâng cao năng lực công nghệ thông tin cho thống kê Bộ, ngành như Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước; Văn phòng Chính phủ; Viện Kiểm soát Nhân dân tối cao; Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… Một số Bộ, ngành đã xây dựng được mạng thông tin nội bộ, phục

vụ công tác quản lý nhà nước theo chuyên ngành Tuy nhiên, trong những năm vừa qua Tổng cục Thống kê chưa thực hiện được vai trò của mình trong việc phối hợp hoặc hỗ trợ kỹ thuật, phương tiện, đào tạo nguồn nhân lực góp phần tăng cường năng lực công nghệ thông tin cho thống kê Bộ, ngành Việc kết nối mạng thông tin diện rộng giữa các Bộ, ngành với Tổng cục Thống kê để chia sẻ thông tin đến nay cũng chưa có tiến bộ đáng kể

(4) Kết nối máy tính của các doanh nghiệp lớn với mạng máy tính của Tổng cục Thống kê

Mục tiêu là tiến hành kết nối máy tính của các doanh nghiệp lớn với mạng máy tính của Tổng cục Thống kê nhằm trao đổi thông tin một cách thường xuyên và nhanh chóng, phục vụ công tác thu thập, tổng hợp thông tin của Tổng cục Thống kê; đồng thời giúp cho các doanh nghiệp có thêm thông tin chi tiết để hoạch định chiến lược, kế hoạch kinh doanh phù hợp với thị trường Kế hoạch đặt ra là, bước đầu thí điểm kết nối với một số doanh nghiệp, trước hết là Tổng công ty Nhà nước và sau đó, mở rộng diện kết nối ra tất cả các doanh nghiệp quy mô

Trang 29

lớn Đây là một chủ trương đúng và rất quan trọng, nhưng đến nay hầu như chưa được triển khai, kể cả triển khai thí điểm

(5) Từng bước áp dụng các phương pháp hiện đại trong nhập và lưu giữ thông tin thống kê

Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ này trong những năm vừa qua chưa quyết liệt nên kết quả đạt được cũng rất hạn chế Có lẽ kết quả quan trọng nhất của hoạt động mới dừng ở mức thí điểm thử nghiệm áp dụng công nghệ nhận dạng ký tự thông minh (scanning) cho một số cuộc điều tra như: Điều tra biến động dân số và nguồn lao động năm 2006 của Bắc Ninh; Điều tra biến động dân số và nguồn lao động năm 2007 của Bắc Ninh và Bắc Giang; Điều tra lao động việc làm năm 2007 của 21 tỉnh, thành phố; Điều tra biến động dân

số và nguồn lao động và kế hoạch hóa gia đình năm 2008 của 33 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Điều tra thí điểm và điều tra tổng duyệt chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 Trên cơ sở thành công mà các cuộc điều tra thí điểm và thử nghiệm này Tổng cục Thống kê đã trình Chính phủ cho phép chính thức áp dụng công nghệ nhận dạng ký tự thông minh vào tổng hợp kết quả Tổng điều tra dân số và nhà nhà ở 1/4/2009 và sau đó có thể mở rộng áp dụng cho một số cuộc điều tra khác Việc thu thập số liệu điều tra bằng các bảng hỏi điện tử (điều tra không dùng giấy) đã đặt ra nhưng chưa triển khai thực hiện Trong công tác lưu giữ thông tin thống kê, kho dữ liệu (data warehouse) cũng chưa được xây đựng hoàn chỉnh nên Trung tâm tích hợp dữ liệu chưa phát huy được đầy đủ vai trò tích cực

b) Nội dung thứ hai: Phát triển các phần mềm ứng dụng cho các chuyên ngành

Bên cạnh việc thống nhất sử dụng các phần mềm hệ thống có bản quyền, Tổng cục Thống kê cũng đã chú trọng phát triển và hoàn thiện các phần mềm xử

lý, tổng hợp thông tin của một số lĩnh vực thống kê chuyên ngành như: Phần mềm thống kê tài khoản quốc gia; phần mềm thống kê nông nghiệp; phần mềm tính chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp hàng tháng; phần mềm thống kê xây dựng hàng quý; phần mềm tính chỉ số giá hàng tháng; phần mềm xử lý các cuộc điều tra mức sống dân cư, lao động, việc làm và các cuộc điều tra khác của Tổng cục Thống kê; phần mềm quản lý nhân sự; phần mềm phục vụ công tác thanh tra; phần mềm theo dõi và chấm điểm thi đua Về năng lực phát triển phần

Trang 30

mềm, ngoài 3 Trung tâm tin học và các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thống

kê, hiện nay đã có 26/63 Cục Thống kê có khả năng tự phát triển các phần mềm ứng dụng Tuy nhiên, việc phát triển các phần mềm nêu trên chủ yếu tập trung ở các phần mềm xử lý và tổng hợp số liệu, chưa có nhiều phần mềm cho các cơ sở

dữ liệu và nhất là phần mềm phân tích, dự báo thống kê

c) Nội dung thứ ba: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế-xã hội

Trong những năm vừa qua ngành Thống kê nói chung và Tổng cục Thống

kê nói riêng đã triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu vi mô và vĩ mô trên cơ sở

sử dụng số liệu ban đầu từ các phiếu điều tra và số liệu đã tổng hợp của các cuộc điều tra, tổng điều tra như: Điều tra biến động dân số và nguồn lao động hàng năm; điều tra hộ gia đình năm 2004 và 2006; điều tra doanh nghiệp hàng năm; điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hàng năm; tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006; tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007 và cơ sở dữ liệu của các cuộc điều tra khác

Tuy nhiên đây vẫn là khâu yếu của ngành Thống kê Hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Thống kê Cơ sở dữ liệu ban đầu/dữ liệu thô xây dựng từ phiếu điều tra, tờ khai hoặc phiếu đăng ký của các lĩnh vực tuy đã tiến hành xây dựng nhưng hầu như chưa có cơ sở dữ liệu ban đầu nào hoàn thiện Có cơ sở dữ liệu quyết tâm xây dựng và đã đầu tư đáng kể nhưng chưa phát huy tác dụng tích cực như cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp

Cơ sở dữ liệu vĩ mô quan trọng như cơ sở dữ liệu quốc gia về thống kê kinh

tế-xã hội tổng hợp, bao gồm chuỗi số liệu nhiều năm của các chỉ tiêu kinh tế-tế-xã hội của cả nước, mặc dù ngành Thống kê có đủ điều kiện xây dựng và người dùng tin rất trông chờ nhưng đến nay vẫn chưa được tiến hành Số lượng các cơ sở dữ liệu vốn đã ít và chưa hoàn thiện lại chưa có cơ chế sử dụng nên những năm vừa qua số người biết và được phép truy cập vào các cơ sở dữ liệu này rất hạn hẹp và hầu như không có sự cải thiện

d) Nội dung thứ tư: Hoàn thiện và phát triển Trang web thống kê

Trang web thống kê đã được xây dựng và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10/2004 Hiện nay Trang web này do Trung tâm Tư liệu Thống kê quản lý Ngoài ra, trong những năm vừa qua Tổng cục Thống kê còn nghiên cứu xây dựng Trang web doanh nghiệp, Trang web điều hành tác ngiệp cơ quan Tổng cục

Trang 31

Thống kê Nhiều Bộ, ngành đã xây dựng được Trang web Thống kê chuyên ngành Một số Cục Thống kê cũng đã có Trang web kết nối với cổng giao tiếp điện

tử hoặc Trang web của Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Tồn tại lớn nhất cần khắc phục hiện nay của Trang web thống kê do Trung tâm

Tư liệu Thống kê quản lý cũng như các Trang web hiện có khác của ngành Thống kê là nội dung còn nghèo nàn và thông tin ít được cập nhật thường xuyên

Do vậy, số người truy cập vào các Trang web này còn hạn chế

e) Nội dung thứ năm: Xây dựng và củng cố Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương và khu vực

Trước năm 2003, Tổng cục Thống kê có 3 Trung tâm tin học, trong đó Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương (nay là Trung tâm Tin học Thống kê) có trụ sở tại Hà Nội do Tổng cục Thống kê trực tiếp quản lý; 2 Trung tâm còn lại do Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh và Cục Thống kê Đà Nẵng quản lý Nhưng khi tổ chức lại theo Nghị định 101/2003/NĐ-CP thì cả ba Trung tâm này đều trực thuộc Tổng cục Thống kê Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các Trung tâm đã được Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định tại các Quyết định số 283/QĐ-TCTK; 284/QĐ-TCTK và 285/QĐ-TCTK ngày 15/4/2004 Ngoài việc ban hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ

và cơ cấu tổ chức của 3 Trung tâm Tin học nêu trên, từ năm 2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê còn giao chức năng quản lý nhà nước về công nghệ thông tin cho Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê nhằm tăng cường hoạt động hoạch định chính sách, phương hướng phát triển và kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn Ngành Để hỗ trợ và phối hợp hoạt động với các Trung tâm Tin học, Tổng cục Thống kê còn khuyến khích và cho phép các Cục Thống kê xây dựng và phát triển các Trung tâm, bộ phận tin học trực thuộc Cục Thống kê

Mặc dù các Trung tâm tin học Thống kê đã được kiện toàn thêm một bước nhưng việc phân định các nhiệm vụ cho từng Trung tâm về xây dựng cơ

sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển các phần mềm ứng dụng, tổ chức các cơ sở dữ liệu và xử lý, tổng hợp các số liệu cụ thể vẫn chưa thật rõ ràng nên các Trung tâm này chưa phối hợp chặt chẽ được với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển công nghệ thông tin của toàn ngành Thống kê

Trang 32

5-Chương trình củng cố tổ chức và phát triển nguồn nhân lực cho công tác thống kê

A-Tóm tắt chương trình

(1) Mục đích: Nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức

thống kê hiện có và tạo nguồn nhân lực cho công tác thống kê trong tương lai, nhằm khắc phục trình trạng hẫng hụt về trình độ và năng lực của cán bộ, công chức

(2) Thời gian thực hiện: 2003-2010

(3) Nội dung cơ bản:

- Củng cố tổ chức thống kê, bao gồm: Củng cố tổ chức thống kê ngành dọc; củng cố tổ chức thống kê của các Bộ, ngành; nghiên cứu thành lập và xây dựng Hội Thống kê;

- Tổ chức đào tạo hàng năm cho cán bộ, công chức thống kê, bao gồm đào tạo lại và đạo tạo bổ sung kiến thức;

- Củng cố hai trường Trung học Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê, nâng cấp cả hai trường này thành trường cao đẳng thống kê;

- Cải tiến nội dung giảng dạy thống kê trong các trường đại kinh tế

Ngày đăng: 18/04/2019, 20:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w