lạm phát và biện pháp khác phục
Trang 1Bài Luận
Đề Tài:
thực trạng và biện pháp khắc phục
lạm phát ở Việt Nam
Trang 2Lời mở đầu
1 Giới thiệu chung về lạm phát
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự thay đổi của nền kinh
tế Việt Nam trong những thập niên gần đây Trong nền kinh tế thị trường hoạt độngđầy sôi động và cạnh tranh gây gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thịtrường Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắmbắt những vấn đề của nền kinh tế mới Bên cạnh bao vân đề cần có để kinh doanh còn
là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế Một trong những vấn đề nổi cộm ấy làlạm phát Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là vấn đề hết sứcphức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong mốn đặt đượckết quả khả quan Lạm phát ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân,đến đời sống
xã hội đặc biệt là giới lao động Nét đặc trưng của thực trạng nền kinh tế có lạm phá,giá cả hầu hết các hang hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảmnhanh
Ở nước ta, từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 Lạm phát diễn ra nghiêm trọng vàkéo dài Phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan
hệ trong nền kinh tế - xã hội mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề của chiếntranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm, nghiêncứu và đế xuất phương án khác phục Và ở nước ta hiện nay, chống lạm phát, giữ vữngnền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh
tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
2 Sự cần thiết phải phân tích lạm phát
Trước hết ta nói về ảnh hưởng của lạm phát Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thểđem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao
và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống Tácđộng của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không,nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổimức độ lạm phát là một điều bất ngờ Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoántrước được thì lạm phát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể cónhững giải pháp để thích nghi với nó Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đếnnhững đầutư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần
và sinh lực của nền kinh tế
Trang 3Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác nhautrong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân Khi lạm phát xảy ra, những ngươi có tàisản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung đềutăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống Ngược lại, những người làm công ănlương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúcđẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cungcấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chínhphủ và nhân dân
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lênthì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tănglên Nhà linh tế học A.W Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việclàm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trảgiá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn
Các tác động khác
Vì vậy phân tích, nghiên cứu lạm phát là một điều tất yếu, cần thiết, cấp bách
Trang 4CHƯƠNG I CÁC LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1 Các khái niệm về lạm phát
- Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi cáyêu cầu của các quy luật kinh tế hang hóa không được tôn trọng, nhất là quy luật lưuthong tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hóa, còn tồn tại những quan hệ hàng hóa tiền tệthì ở đó ẩn nấu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưuthông tiền tệ bị vi phạm
- Trong bộ “ Tư bản “ nổi tiếng của mình C.Mác viết: “ việc phát hành tiền giấyphải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bặc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiềngiấy của mình” Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hànhvào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảmxuống và tình trạng lạm phát xuất hiện
- Theo các nhà kinh tế học hiện đại: “ Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trungbình theo thời gian’ Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trên thị trường
Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danh nghĩa/ GNPthực tế trong thực tế nó được thay thế bằng chỉ số giá tiêu dung hoặc chỉ số bán buôn
Ip= ip.d
ip: chỉ số giá của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
2 Tác động của lạm phát
Tác động đến lĩnh vực sản suất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biếnđộng không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá củađồng tiền làm vô hiệu quả hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinhdoanh ở một vài xí nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế Nếu mộtdoanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rấtlớn
Tuy nhiên, xét ở một góc độ nào đó, khi tỉ lệ lạm phát thấp, không ảnh hưởng đếnền kinh tế thì có thể sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế Từ đó sẽ khuyế khích các
Trang 5doanh nghiệp đi vay để mở rộng sản xuất, sản lượng sẽ tăng lên Ngoài ra cũng kíchthích tiêu dung, cầu tiêu dùng tăng lên do đó hàng hóa bán chạy làm sản lượng tăng
Tác động đến lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa Cácnhà doanh nghiệp thấy rằng khi lạm phát khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnhvực sán xuất sẽ gặp rủi ro cao Do có nhiều người tham gia vào quá trình lưu thôngnên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn Tiền vừa ở trong tay người bán xong lại nhanhchóng bị đẩy ra khỏi kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tăng vọt thúc đẩy lạm phát giatăng Người giầu thùa tiền dùng tiền vơ vét, thu gom hàng hóa, tài sản làm mất cân đốicung- cầu hàng hóa, giá cả hàng hóa tăng lên làm lạm phát gia tăng
Tác động đến lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp Sốngười gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thống ngân hàng, do lượngtiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với
sự sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâmnhững người đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay Về phía người đi vay, họ lànhững người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền Do vậy, hoạt động của hệ thống ngânhàng không còn bình thường nữa mà lâm vào khủng hoảng Chức năng kinh doanhtiền tệ bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phátchẳng có ai tích trữ tiền mặt Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy độngvốn, hệ thống ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định mà lãi suấtthực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, vậy muốn giữ lãi suất ổn định thì lãi suấydanh nghĩa cùng một tỉ lệ với tỷ lệ lạm phát
Trong khi đó người đi vay lại thấy có lợi lớn nhờ sự mất giá nhanh chóng củađồng tiền nên đi vây nhiều hơn Do vậy hoạt động của ngân hàng không còn cân bằngnữa Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế bởi khi có lạm phát không ai muốn tíchtrữ tiền dưới hình thức tiền mặt nữa
Tác động đến cán cân ngân sách - chính của Nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa, khi lạmphát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá hủy do biến động giá cả làm cho thịtrường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt vàkém Đồng thời, lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủsức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi, an sinh xã hội…các ngành, cáclĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có
Trang 6Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đờisống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được
Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đế mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tuynhiên không nên chỉ nhìn nhận mặt tiêu cực của vấn đề, ở đây cũng vậy, cần thấy rằng,lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều kiện thuận lợi góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế bên cạnh những tác hại không đáng kể Vì vậy, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của cácChính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế, kể cả nền kinh tếthị trường phát tiển Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
3 Phân loại lạm phát
Có nhiều cách khác nhau để phân loại lạm phát Dựa trên các tiêu thức khác nhau
sẽ có cách phân loại khác nhau
Căn cứ vào định lượng:
- Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10%/năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kỳ nàynền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động được ổnđịnh Những tác động của lạm phát này là không đáng kể vì vậy nó thường được cácnước duy trì để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Lạm phát phi mã: Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
con số trong một năm Lạm phát này sẽ làm cho giá cả tăng nhanh chóng, gây biếnđộng lớn về kinh tế Lúc này người dân tich trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động sản vàkhông cho vay với mức lãi suất bình thường, ngân hàng không huy động được vốn,
… Lạm phát này ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập, là mối đe dọa đối với sự
ổn định của nền khinh tế- xã hội
- Siêu lạm phát: 3 con số 1 năm, lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng lên với
tốc độ rất nhanh Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã Lạm phátnày làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng: tiền lương thực
tế giảm mạnh, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng, hoạtđộng sản xuất kinh doanh lâm vào tình trạng bị rối loạn, mất phương hướng
Căn cứ vào định tính
- Lạm phát cân bằng: giá cả tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất hưởng đến đời sống hàng ngày của ngườilao động và đến nền kinh tế nói chung
Trang 7- Lạm phát không cân bằng: Giá cả tăng không tương ứng với thu nhập thực tế
của người lao động
- Lạm phát dự đoán trước được: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời
ký tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn Loại lạm phát này có thể dự đoántrước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo Về mặt tâm lý, người dân đã quenvới tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước, nên lạm phát này không gâyảnh hưởng đến đời sống – kinh tế
- Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước đến giờ chưa xuất
hiện Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịpthích nghi Từ đó, loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềmtin của người dân vào chính quyền có phần giảm sút
4 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo ( Demand pull – inflation):
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung - cầu Nguyên nhân dẫn đếnviệc tăng cầu hoặc hàng hóa dịch vụ Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhấtlàm tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượtquá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc vớicông suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự ra tăng của cầu Sựmất cân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầukém xuất hiện
Lạm phát do chi phí đẩy( cost push- inflation):
Lạm phát này phát sinh khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu Ta cómột số trường hợp chi phí đẩy:
- Chi phí tiền lương: tiền lương gia tăng do áp lực từ chính sách tăng lương củachính phủ, từ áp lực của công đoàn… Cần lưu ý trường hợp tiền lương tăng lên do sức
ép của thị trường, do nhu cầu mở rộng của doanh nghiệp thì chỉ được xem là lạm phát
do cầu kéo
- Lợi nhuận: nếu doanh nghiệp thuộc loại có quyền lực trên thị trường (doanhnghiệp độc quyền, nhóm độc quyền), để nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận cao, doanhnghiệp sẽ đẩy giá tăng lên độc lập với tổng cầu
Trang 8- Nguồn tài nguyên cạn kiệt: khi các nguồn tài nguyên bị khai thác ngày càng cạnkiệt thì tất yếu sẽ làm cho giá cả dần tăng lên, gia tăng chi phí của doanh nghiệp và từ
đó doanh nghiệp muốn có lời phải đẩy giá cả háng hóa tăng lên
Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục:
Theo quan điểm cảu các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ, khi cung tiền tệ tăng
và kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài gây lạm phát Có thể thấy ngưỡng tăngcung tiền tệ để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng Khi nền kinh tế chưa toàn dụngthì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều, chưa khai thác nhiều Có nhiều nhà máy, xínghiệp bị đóng của chưa đi vào hoạt động Do nhân viên nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thấtnghiệp cao… trong trường hợp này khi tăng cung tiền tệ thì dẫn đến lãi xuất giảm đếnmột mức độ nào đó, các nhà đầu tư thấy rằng có thể có lãi và đầu tư tăng nhiều Từ đócác nhà máy, xí nghiệp mở cửa để sản xuất, kinh doanh Lúc này nguyên nhiên vật liệubắt đầu được khai thác, người lao động có việc làm và sản lượng tăng lên Ở nền kinh
tế toàn dụng, các nhà máy, xí nghiệp được hoạt động hết công suất, nguồn nguyênnhiên vật liệu được khai thác tối đa Khi đó lực lượng lao động được sử dụng một cáchtriệt để và làm sản lượng tăng lên rất nhiều Tuy nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vàikênh tắc nghẽn trong lưu thông Chẳng hạn khi các nhà máy, xí nghiệp hoạt động hếtcông suất sẽ dẫn đến thiếu năng lượng, thiếu lao động, nguyên vật liệu dần bị hanhiếm… Vai trò của chính phủ và các nhà quản lý phải xác định được kênh lưu thôngnào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi thông nó Nếu không sẽ gây ra lạm phát Lúc đó sảnlượng không tăng mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra Trong việcchống lạm phát các Ngân hàng trung ương luôn giảm sút việc cung tiền Trường hợptăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách: Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn(khi lãi xuất thấp và điều kiện kinh doanh tốt ) hoặc các ngân hàng thương mại có thẻtăng tín dụng Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chiphí Về mặt trung và dài hạn, điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng Nếucung không tăng tương ứng với cầu thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá.Tuy nhiên giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền để trợcấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng Ví dụ năm 1966-1967,chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những chi phí leo thang của cuộcchiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3%(năm 1967) đến 6% (năm 1970)
Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng,nghĩa là (i) và (Y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi.Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với tỷ lệ tươngứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Đây cũng chính là lý do tại sao Ngânhàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này
Trang 9Các nguyên nhân khác:
Ngoài các nguyên nhân chủ yếu đã đề cập ở trên ,một số các nguyên nhân kháccũng gây ra lạm phát Thứ nhất có thể kể đến là tâm lý của dân cư Khi người dânkhông tin tưởng vào đồng tiền của Nhà nước, họ sẽ không giữ tiền mà đẩy vào lưuthông bằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một lĩnh lực kinh doanh nàođó… Như thế cầu sẽ tăng lên mà cung cấp không đáp ứng được cân bằng cung cầutrên thị trường hang hoá không còn nữa và tiếp tục đẩy giá lên cao, từ đó lạm phát sẽxảy ra Có thể thấy giá cả tăng lên làm tiêu dùng tăng, cứ như vậy sẽ gây ra xoáy ốclạm phát Thứ hai thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăngcung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao
Khi chính phủ lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách thì có thể khắc phục bằngcách phát hành trái phiếu chính phủ đẻe vay vốn từ người dân nhằm bù đắp phần thiếuhụt Biện pháp này không làm ảnh hưởng đến cơ số tiền và do vậy mà làm tăng mứccung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát Tuy nhiên khi sự thâm hụt trầm trọng vàkéo dài thì chính phủ phải áp dụng biện pháp in tiền Việc phát hành tiền sẽ ảnh hưởngđến cơ số tiền tệ làm tăng mức cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm
tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, việc phát hành trái phiếuchính phủ gặp nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạn chế Biện pháp intiền được coi là có hiệu quả nhất Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều vàcàng kéo dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn
Còn đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc tiến hành trái phiếu cólợi hơn Nhưng việc tiến hành trái phiếu này kéo dài sẽ làm cầu về về vốn sẽ tăng vàlàm lãi suất sẽ tăng cao hơn Lúc này để giảm lãi suất trên thị trường Ngân hàngTrung ương lại phải mua vào các trái phiếu đó Như thế mức cung tiền lại tăng thêm dễgây lạm phát
Tóm lại, nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường hợp vẫn làm tăngcung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá tăng đồngbản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong nước muốn đẩy giáhàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái Mặt khac khi tỷ giá hối đoái tăng ,chiphí cho các nguyên vật liệu, hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên Do đó giá cả của cáchàng hoá này tăng lên cao Đây chính là lạm phát do chi phí đẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sáchthuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, mất cân đối cũng xảy ra lạm phát
Trang 105 Biện pháp khắc phục lạm phát
Khi lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ gây ra những hậu quả lớn, ảnh hưởng trầmtrọng đến đời sống nhân dân lao động và sự tăng trưởng kinh tế Ở mỗi nước tỷ lệ lạmphát khác nhau với những nguyên nhân và tác động khác nhau Do đó chính phủ ở cácnước sẽ có những biện pháp khác nhau Tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể chính phủ sẽ
áp dụng biện pháp tình thế và các biện pháp có tính chiến lược
Từ lịch sử chống lạm phát ở các nước ta có những biện pháp điển hình sau:
- Những biện pháp tình thế: là những biện pháp áp dụng nhằm làm giảm tức thờicơn sốt lạm phát
Đầu tiên biện pháp tình thế mà các nước thường áp dụng là giảm lượng tiềncung ứng trong lưu thông Đây được gọi là biện pháp thắt chặt lượng cung tiền tệ haycòn gọi là đóng bảng tiền tệ Cụ thể là Ngân hàng trung ương ngừng thực hiện cácnghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng, dừng việc mua vàocác chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền đề bù đắp bộichi ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, để làm giảm lượng tiền cung ứng thì ngân hàngtrung ương sẽ bán các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ, phát hành các công cụ nợcủa chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế Và ngân hàng cũng có thể ấn định mức lãixuất cao, từ đó sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp gửitiền không kì hạn, dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm
Tiếp đến, đẻ khắc phục lạm phát chính phủ có thể sử dụng biện pháp thắt chặtchi tiêu của mình như giảm cầu tiêu dùng của chính phủ, làm giảm sự tăng nhanh củatổng cầu Nhà nước cũng có thể hạn chế tăng tiền lương làm giảm lượng cầu chi tiêucủa dân cư Ngoài ra chính phủ có thể đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài… Một biệnpháp nữa được áp dụng là cải cách tiền tệ khi tỷ lệ lạm phát tăng quá cao trong khi cácbiện pháp nêu trên chưa đạt được hiệu quả
- Cùng với những biện pháp tình thế, các nước còn sử dụng các biện pháp chiếnlược nhằm tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và làm cho cơ số tiền tệ
ổn định bền vững Đó là các biện pháp:
Đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hoá, mở rộng lưu thông hàng hoá Hàng hoátrong nước ngày càng nhiều, quỹ hang tăng lên với số lượng, chủng loại đa dạngphong phú Ngoài ra chính phủ còn nhập hàng hoá về để bổ xung cho hàng hoá thiếuhụt trong nước Xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ để bán cho dân chúng, phát triển cácngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch Các doanh nghiệp thực hiệnchiến lược cạnh tranh hoàn hảo: Sản phẩm để người tiêu dùng chấp nhận được là yếu
Trang 11tố quan trọng Như vậy cần phải cạnh tranh giá cả bằng việc tìm mọi cách giảm chiphí.
Biện pháp chiến lược khác là kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chếquản lý hành chính Điều này sẽ làm giảm mức chi tiêu thường xuyên của Ngân sáchnhà nước Mặt khác cần phải tăng cường công tác quản lý điều hành Ngân sách nhànước dựa trên việc tăng các khoản thu cho Ngân sách một cách hợp lý chống thất thunhư thất thu về thuế và điều chỉnh các khoản chi phí
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1 Lịch sử của lạm phát triển
Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát cũng đã tồn tại của nó không công khai,các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam không sử dụng khái niệm lạm phát màchỉ sử dụng cụm từ “ chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và tiền" "Thị trườngvật giá không ổn định…”
Sau một thời gian, lạm phát đã bộc phát công khai với mức bộc phát phi mã.Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này
“ Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách đúngđắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng Các khoản chi ngân sách mang nặng tính bao cấp vàmột thời gian dài vượt quá nguồn thu Việc sử dụng vốn vay và viện trợ kém hiệuquả Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đếnthâm hụt ngân sách trầm trọng “
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đềuphải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ để chống lạm phát Đối với nước tahiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt ra trong điềuhành của chính phủ, của các nhà quản lý vì sự phát triển và ổn định Và về phươngdiện này, Việt Nam đã thành công Lạm phát đã giảm từ hơn 70% một năm vào năm
1986 xuống còn 35% một năm vào năm 1989 Đây là một thành công lớn, phản ánhkết quả từ nhiều yếu tố như tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tếhơn, ngươi dân không còn tồn trữ hàng hoá, vàng và đô la bắt đầu tích luỹ bằng đồngtiền trong nước, xuất khẩu dàu thô ngày càng tăng…Tuy nhiên, những tiến bộ vượtbậc trong năm 1989 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ và tàikhoản thận trọng, do đó trong các nhu năm 1992 và 1993, giá cả đã tăng gần 70%năm
Lịch sử lạm phát ở Viêt Nam có thể chia thành những thời kì như sau:
Trang 12- Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát được hiểu giống nhưchủ nghĩa Mác, cho nên chống lạm phát là tìm mọi cách hạn chế việc phát hành tiềnvào lưu thông.
Giai đoạn 1938-1945: Ngân hàng Đông Dương cấu kết với chính quyền thực dânPháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dương để voư vét của cải của nhân dân Việt Nam
Số tiền đó được đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến chống phát xít Đức Hậu quảnăng nề của lạm phát là nhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ năm 1939-1945bình quân là 25 lần
- Giai đoạn 1946-1954: chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do chủ tịch HồChí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay cho đòng ĐôngDương và sau đó là đòng ngân hàng thay cho sức người, sức của toàn dân tiến hànhcuộc kháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, kết quả giải phóng hoàn toànnửa đất nước
- Giai đoạn 1955-1965: chính phủ tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam liên tục lạmphát đồng tiền miền Nam để bù lại cuộc chiến tranh chống lại phong trào giải phóngdân tộc ở miền Nam Mặc dù được chính phủ Mỹ đổ vào miền Nam một khối lượnghàng viện trợ khổn lồ, giá trị hàng trăm tỉ USD cũng không thể bù đắp được chi phí bỏra
- Giai đoạn 1965-1975: ở miền Bắc Việt Nam, chính phủ Việt Nam dân chủ cộnghoà phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh pháhoại của Mỹ tại miền Bắc, giải phóng miền Nam thốn nhất đất nước, đã phát hành sốtiền lớn (gấp 3 lần tiền lưa thông của năm1965 ở miền Bắc) để huy động lực lượngtoàn dân đánh thắng quân xâm lược Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn của Liên Xô,Trung Quốc các nước XHCN anh em nên chúng ta đã hạn chế được lạm phát trongthời gian này
- Giai đoạn 1981-1988: Lạm phát Việt Nam đã có từ rất lâu song ở đây tôi muốnnói đến giai đoạn 1981-1988 Trong giai đoạn 1976-1980, lạm phát Việt Nam “ngầm”,nghĩa là tuy chỉ số giá cả do nhà nước ấn định tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá cả ởthị trường tự do tăng khá cao, mức tăng đã vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng,cũng như thu nhập quốc dân: trong thời gian 1976-1980, giá trị tổng san lượng tínhtheo giá năm 1982 đã tăng 5,8%, thu nhập quốc dân sản xuất tăng 1,5%, nhưng mứcgiá trị đã tăng 2,62 lần
Bước vào những năm 80, lạm phát đã bột phát “công khai”, và trở thành lạm phátphi mã với mức tăng giá 3 chứ số Thị trường mà nhà nước kiểm soát là thị trường mà
Trang 13các giá cả do nhà nước quy định Lạm phát ở Việt Nam đã ở mức phi mã, năm caonhất đã đạt tới chỉ số tăng giá 557% vượt qua mức lạm phát phi mã Song những biểuhiện và tác hại của nó không kém gì siêu lạm phát.
Thứ nhất, từ năm 1981-1988 chỉ số giá tiêu dùng tăng điều trên 100% một năm,những năm đầu 80 mức tăng này là trên 200%, đến năm 1983 và 1984 đã giảm xuống,nhưng từ năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất 557%, sau đó có giảm; như vậy làmức lạm phát cao và không ổn định
Thứ hai, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh vì dân chúng không ai muốn giữtiền, người ta bán song hàng phải mua ngay hàng khác, hoặc vàng hoặc đô la, không
ai dám giữ tiền lâu trong tay, vì tốc độ mất giá của nó quá nhanh Song ở Việt Namvòng quay của đồng tiền qua ngân hàng nhà nước lại không tăng lên mà giảm đi, vì
cơ chế hoạt động của ngân hàng quá kém không đáp ứng được nhu cầu gửi và rúttiền của các chủ kinh doanh và dân cư
Thứ ba, tiền lương thực tế của dân cư bị giảm mạnh, ở Việt Nam trướcnăm 1988, hầu hết các giá cả do nhà nước qui định Trong những năm 80nhà nước đã nhiều lần tăng giá Trước năm 1985, mức tăng giá do nhànước qui định không lớn, tuy mức tăng giá ở thị trường tự do cao hơnnên nhà nước đã không bù giá vào lương, tiền lương thực tế đã giảmxuống Từ năm 1986 nhà nước đã bù giá vào lương ngay sau khi tăng giá Nhưng tiền lương thực tế vẫn giảm mạnh vì nhà nước đã không khống chếđược thị trường tự do Giá nhà nước tăng một lần thì giá thị trường tự do tăng 1, 5lần Nhà nước lại không cung cấp đủ hàng cho dân cư theo giá nhà nước, nên mọingười phải mua hàng ngoài thị trường tự do với giá cao hơn, mặt khác những ngườiđược nhà nước bù giá chỉ là những người làm trong khu vực nhà nước còn số đôngdân cư thì không được bù giá như vậy
Thứ tư những người gửi tiền và có tiền cho vay đều bị tước đoạt, vì mức lãisuất so với lạm phát
Thứ năm, các yếu tố của thị trường Việt Nam bị thổi phồng và bóp méo Dogiá cả nhà nước định đã không phải là giá cả thị trường, luôn thấp hơn giá cả thịtrường tự do, và lại tăng theo từng chu kỳ, nên đã khuyến khích xu hướng đầu
cơ và tích trữ hàng hoá kiếm lợi Các xí nghiệp đã tìm mọi cách để dự trữ vật
tư, không cần kinh doanh cũng có lợi Dân chúng phải dự trữ nhu yếu phẩm.Tình trạng khan hiếm hàng hoá, khan hiếm vốn được phóng đại, các nhu cầu giảtạo tăng lên, bức trang thực của nền kinh tế bị xuyên tạc, lãi giả, lỗ thật