1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhóm 4 xã hội học (118) 2 bản chất con người

29 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 108,76 KB
File đính kèm tài liệu xã hội học.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi thời đại lịch sử văn hóa đều đặt ra những vấn đề, những thách thức xác định đối với tồn tại loài người. Do vậy, “ con người đã, đang và sẽ luôn luôn là hiện tượng thú vị nhất đối với con người”. Trong lịch sử đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về con người, song tất cả những câu trả lời đó dường như là chưa đủ vì rằng con người là đối tượng đặc biệt luôn ẩn chứa những bí mật khêu gợi và thách thức sự khám phá.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Sinh viên nhóm 4 hoàn thành:

1) Bùi Thị Phương Thu : 11154162

Trang 2

Chúng em xin chân thành cảm ơn cô Ths Nguyễn Thị Huyền đã giúp đỡ và hướngdẫn chúng em tận tình trong suốt thời gian hoàn thành bài tập này, tạo cho chúng emnhững tiền đề, những kiến thức để tiếp cận vấn đề, phân tích giải quyết vấn đề Nhờ đó

mà em hoàn thành bài tập của mình được tốt hơn

Những kiến thức mà chúng em được học hỏi là hành trang ban đầu cho quá trìnhlàm việc của chúng em sau này Chúng em xin một lần nữa gửi tới cô Ths Nguyễn ThịHuyền và thầy cô trong khoa Kinh tế & quản trị nguồn nhân lực lời chúc thành công trêncon đường sự nghiệp giảng dạy của mình

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Nhóm sinh viên thực hiện

- Bùi Thị Phương Thu : 11154162

Trang 3

Mục lục

LỜI CẢM ƠN 1

I Lý do chọn đề tài 3

II Bản chất con người 3

2.2 Bản chất con người theo học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud 3

2.2.1 Tiểu sử về Sigmund Freud 3

2.2.2 Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud 4

2.3 Bản chất con người theo một số nhà tâm lý – xã hội khác.9 2.3.1 Quan niệm về con người trong Triết học Phương đông 9

2.3.2 Bản chất con người theo Các Marx 11

2.3.3 Con người theo quan điểm của Émile Durkheim 16

III Thực trạng bản chất con người hiện nay 17

3.1 Ưu điểm 17

3.2 Nhược điểm 18

IV Các giải pháp để hiểu và tác động khai thác bản chất tốt của con người 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 4

I Lý do chọn đề tài

Mỗi thời đại lịch sử văn hóa đều đặt ra những vấn đề, những tháchthức xác định đối với tồn tại loài người Do vậy, “ con người đã, đang và

sẽ luôn luôn là hiện tượng thú vị nhất đối với con người” Trong lịch sử

đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về con người, song tất cả nhữngcâu trả lời đó dường như là chưa đủ vì rằng con người là đối tượng đặcbiệt luôn ẩn chứa những bí mật khêu gợi và thách thức sự khám phá.Đối với em bản chất con người vô cùng thú vị vì ta đang tìm hiểu vềbản chất của chính chúng ta Bản chất ở đây chính là sự đặc trưng,quyết dịnh quá trình biến đổi, phát triển của sự vật hay cụ thể là conngười chúng ta

Có rất nhiều quan điểm, thuyết học, nghiên cứu về bản chất củacon người Tiêu biểu là Phân tâm học của Sigmund Freud- ông đã chỉ rarằng cần xem xét con người một cách sâu sắc hơn trước đó, con ngườikhông những là thực thể duy lý mà còn là giao điểm của hai thế giới

“thế giới tâm linh cao cả và thế giới tự nhiên thấp hèn” Bên cạnh đó lànhững quan niệm bản chất con người theo xã hôi theo quan điểm EmileDurkheim, bản chất con người theo quan điểm Các Marx hay quan điểmbản chất con người theo yếu tố tâm linh Mỗi quan điểm sẽ có góc nhìn,đánh giá khác nhau nhưng qua tìm hiểu chúng ta sẽ đánh giá được thựctrạng bản chất con người đồng thời đưa ra giải pháp để tiếp cận, khaithác bản chất con người một cách hiệu quả nhất

II Bản chất con người

II.2 Bản chất con người theo học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud

II.2.1 Tiểu sử về Sigmund Freud

Sigmund Freud (1856 -1939), sinh ở Freiburg (một thị xã nhỏ ởMoravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech) và mất tại London, làcha đẻ của phân tâm cổ điển Cha ông là một thợ máy người Do Thái,một người khắc nghiệt và gia trưởng Thuở nhỏ đối với cha Freud có

Trang 5

thái độ pha lẫn sợ hãi và yêu mến Trái ngược với cha, mẹ Freud làngười phụ nữ dịu dàng chu đáo vì vậy ông luôn cảm thấy có sự gắn bómật thiết với mẹ Khi còn đi học ông luôn là học sinh xuất sắc, tốtnghiệp phổ thông loại ưu.

Freud theo học trường y khoa, chuyên về thần kinh học và đã họcmột năm tại Paris với Jean-Martin Charcot Ông chịu ảnh hưởng bởiAmbroise-August Liebault và Hippolyte-Marie Bernheim, cả hai đều dạyông thôi miên khi ông ở Pháp Sau khi học tập ở Pháp, Freud quay trở

về Vienna và bắt đầu công việc lâm sàng với những bệnh nhânHysteria Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, công việc của ông vớinhững bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học

II.2.2 Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud

Sigmund Freud cho rằng, nhân cách, bản chất con người là sự đấutranh giữa một bên là những thôi thúc nguyên sơ và các lực lượng cốtìm cách từ chối hoặc ngụy trang những thôi thúc đó Trong đó, nhữngthôi thức nguyên sơ là những hiện tượng tinh thần với những đặc điểmkhác nhau là vô thức, tiềm ý thức, ý thức

II.2.2.1 Vô thức

Sigmund Freud quan niệm về vô thức: : “Tất cả các hiện tượng

tâm thần của con người về bản chất là hiện tượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lí của con người Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức”.

Để hiểu về vô thức ta cần hiểu về ý thức và tiềm ý thức Ý thức làlớp ở trên, là những suy nghĩ và nhận thức mà ta biết rất minh bạch.Còn tiềm ý thức về đặc điểm có vẻ như không khác với tiềm thức nhưngvai trò của chúng lại có phần nào thay đổi theo yêu cầu riêng của phântâm học Có thể hiểu rằng tiềm thức là một hiện tượng tinh thần khôngcòn phụ thuộc vào ý thức nữa nhưng cũng chưa hoàn toàn phụ thuộc

Trang 6

Khi đề cập đến vô thức Freud đồng tình với quan niệm cho rằng,

vô thức là cái mang tính sinh lí tự nhiên, là cái mang tính bản năng ditruyền bẩm sinh từ đời nọ sang đời kia Tuy nhiên, ông còn cho rằng vôthức ngoài nguồn gốc có tính bẩm do cơ quan sinh lí phát động còn có

sự tác động bên ngoài xã hội

Để thấy rõ hơn ta cần tìm hiểu về cấu trúc nhân cách của Freud.Ông cho rằng nhân cách của cá nhân là cảnh tượng về một cuộc chiếndai dẳng, giữa một bên là những thôi thúc nguyên sơ và không thểchấp nhận được, đang mong muốn được diễn tả, một bên là các lựclượng cố tìm cách từ chối hoặc ngụy trang các thôi thúc đó Trong trậnchiến đó, Freud còn nhận diện các đối thủ, đó là: bản năng vô thức hay

là tự ngã (id), bản ngã (ego), và siêu ngã (superego)

Trang 7

 Tự ngã (id):

Tự ngã là cái con người đã có ngay từ lúc sinh ra Nó chi phối toàn

bộ dời sống của con người Đó cũng là nguồn cung cấp libido TheoFreud, con người sinh ra với hai xung động bản năng, đóng vai trò làmđộng cơ thúc đẩy căn bản cho tất cả mọi hành vi Một là xung

năng Eros Đây là xung động để tồn tại Xung động này bao gồm nhu

cầu ăn uống, giữ ấm, và trên hết là hoạt động tính dục (libido) Và xung

năng Thanatos là thôi thúc phá hủy Mục đích của nó là phá hủy cái

khác, nhưng cũng có một khía cạnh tự phá hủy đối với nó

 Bản ngã (ego):

Bản ngã (ego) thì không có lúc sinh ra Chính bản ngã giúp con

người tự chủ trước các tác động bên ngoài Bản ngã phát triển qua sựtương tác bên ngoài, đồng thời nó sẽ tìm lấy sức mạnh trong siêu ngã

 Siêu ngã:

Siêu ngã thể hiện lương tri của chúng ta Đó là các giá trị đạo đức

về đúng, sai mà chủ yếu được thấm dần vào chúng ta từ bố mẹ, thầy

cô và xã hội Bản chất của siêu ngã là lương tâm và cái tôi lý tưởng.Siêu ngã được hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt Siêu ngãkhiến chúng ta cảm thấy tội lỗi khi làm một điều sai trái Cũng chínhsiêu ngã khiến chúng ta hoàn thiện mình hơn và sống theo những lýtưởng của mình Siêu ngã tồn tại ở cả ba cấp độ nhưng chủ yếu là vôthức

Do đó, Freud đã xây dựng mô hình lí thuyết của mình mà ông gọi

là mô hình tảng băng Theo đó, phần trên của tảng băng là ý thức,phần dưới tảng băng theo thứ tự: tiềm ý thức, siêu ngã, cái tôi, vô thức,

tự ngã Và cũng cần thấy rằng, cái tôi (ego) không phải là dạng cố địnhnhưng nó có thể có mặt ở cả 3 dạng thức (vô thức, tiềm ý thức và ýthức)

Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lí ngườiđược Freud làm rõ trong các công trình nghiên cứu về bệnh Hystêri, về

Trang 8

giấc mơ và về lý thuyết tính dục cũng như ở nhiều vấn đề khác được đềcập liên quan trong các vấn đề cụ thể của ông.

II.2.2.2 Libido

Để thấy rõ hơn về vô thức, chúng ta cần hiểu libido theo Freud là

gì Libido có thể tạm dịch là dục năng – tức xung năng tính dục, là sự

khát dục của con người Freud coi vô thức là bể chứa các xung năng vàxung năng tính dục là xung năng quan trọng nhất cung cấp năng lượngcho mọi hoạt động tâm thần của con người Libido tồn tại ở 2 dạng làEros và Thanatos Theo Freud, libido là bản năng tình dục của conngười, chịu tác động theo nguyên tắc khoái lạc (pleasre principle)

“Khát vọng tình dục là nhu cầu thỏa mãn một ham muốn mang nộidung tình dục” Nó là nhu cầu của con người như ăn, uống, ngủ,nghỉ… Libido không chỉ diễn ra trong 5 giai đoạn phát triển nhân cáchcủa trẻ mà còn chi phối suốt cuộc đời con người Cũng theo Freud, nhờnhững thực tại ngăn cản nguyên tắc khoái lạc (Freud gọi là ego) nêncon người chỉ thỏa mãn thúc đẩy tình dục khi hội đủ các yếu tố màthôi

 5 giai đoạn phát triển nhân cách của trẻ:

Giai đoạn môi miệng (oral stage) – dưới 1 tuổiGiai đoạn hậu môn (anal stage) – từ 1  3 tuổiGiai đoạn dương vật tượng trưng (phallic stage) – từ 3  6 tuổiGiai đoạn ẩn tàng (latent period) từ 6 tuổi  dậy thì

Giai đoạn phát dục (genital stage) từ dậy thì trở đi

II.2.2.3 Mặc cảm Oedipus

Vì libido chi phối không những những giai đoạn đầu đời của trẻ màcòn chi phối cả cuộc đời con người nên chúng ta sẽ hiểu cách rõ rànghơn về quan niệm mặc cảm Oedipus của Freud Trong quá trình pháttriển nhân cách của trẻ, Freud chia 5 giai đoạn: môi miệng, hậu môn,dương vật, tiềm ẩn, cơ quan sinh dục ngoài Theo đó, mặc cảm Oedipusxuất hiện rõ nhất trong giai đoạn dương vật

Trang 9

“Vào khoảng tuổi lên 3 trẻ bắt đầu giai đoạn sùng bái dương

vật (Phallic stage)” Đây là một giai đoạn đánh dấu một trong các sắc

thái quan trọng nhất của tiến trình phát triển nhân cách theo quan

điểm của Freud: đó là xung đột do mặc cảm Oedipus.

Freud tin rằng các trẻ nam phát triển các mối quan tâm tình dụcvào mẹ chúng, bắt đầu xem cha chúng như kẻ thù, và ấp ủ ước muốngiết cha – giống như Oedipus đã làm trong bi kịch Hy Lạp cổ đại Nhưng

vì thấy người cha quá uy quyền, trẻ sinh lòng sợ hãi bị trả đũa dướidạng “lo sợ bị thiến” (Oedipal conflict) Trẻ lo ngài ông bố sẽ giải quyếtcuộc cạnh tranh bằng những biện pháp quyết liệt này Vì đời sống có sự

lo âu không thể chấp nhận được như thế, nên trẻ phải giải quyết theocách nào đó, qua cơ chế phòng thủ cái tôi gọi là nhận dạng với tácnhân tấn công Tác động tiềm thức trên nguyên tắc người bố có thể cóthái độ thù địch đối với trẻ ít hơn nếu ông ta xem trẻ như một đồngminh Sau cùng nỗi sợ hãi này mạnh mẽ đến mức đè nén được các khátkhao đối với mẹ chúng, và thay vào đó bằng cách đồng hóa(Identification) với người cha, cố bắt chước hành vi của ông càng nhiềucàng tốt Bằng cách này, trẻ đi đến việc tiếp nhận vai trò giới tính củamình, và phải nhận dạng như một nam giới

Đối với bé gái, tiến trình diễn ra khác biệt hẳn Freud lập luậnrằng các bé gái bắt đầu thức tỉnh tình dục đối với cha của chúng, tứcchúng ao ước có dương vật, ao ước sinh con cho cha, đổ lỗi cho mẹ vìchúng vì mẹ mà chúng thiếu dương vật Về điểm này, Freud sau này bị

lên án vì như thế là ông đã quan niệm nữ giới thấp kém hơn nam

giới Dù vậy, giống như các bé trai, chúng thấy rằng để giải quyết

những tình cảm không thể chấp nhận được như thế, chúng phải đồnghóa với bậc cha mẹ đồng giới tính bằng cách cư xử giống mẹ và chấpnhận giá trị và thái độ của bà mẹ Theo cách này, hiện tượng đồng hóavới bà mẹ của các bé gái đã hoàn tất

Phân tâm học còn cho chúng ta biết rằng Oedipus là mặc cảmxuất hiện cả trẻ nam và trẻ nữ Riêng ở trẻ nữ, phân tâm học gọi

là mặc cảm electra Freud và các nhà phân tâm học sau này không cho

Trang 10

chúng ta biết nhiều về mặc cảm này chỉ biết rằng nó cũng tương tự nhưmặc cảm Oedipus Vào thời điểm này, các nhà phân tâm nói rằng mặccảm Oedipus đã được giải quyết…

II.2.2.4 Giấc mơ

Freud tin rằng chúng ta ngủ vì chúng ta mệt mỏi khi nhận và đápứng các kích thích bên ngoài Điều này có nghĩa, ngủ là một sự trốntránh thực tế ; Chúng ta đi đến một căn phòng tối tăm và đắp chăn đểgiảm thiểu các kích thích từ môi trường Tuy nhiên, điều đó không thực

sự an toàn để trốn tránh thực tế Chúng ta sẽ có nguy cơ ngủ và khôngbao giờ thức dậy nữa, giống như chúng ta không biết khi nào nên dậy.Trong trường hợp khẩn cấp, chúng ta cần có một vài mức độ cảnh báotrong khi ngủ; Nếu một con hổ bắt đầu nhíu mày nhai tay của bạn,chắc chắn bạn sẽ hy vọng mình thức dậy (mặc dù biết được bản chấtcủa những giấc mơ, có lẽ bạn sẽ thức dậy để tìm chú cún con vô hạiđang chơi đùa gặm nhắm tay bạn) Chúng ta rất nhạy cảm với các kíchthích bên ngoài – chúng ta chỉ không thường tỉnh giấc bởi chúng Đó là

lý do tại sao chúng ta mơ những điều đang thực sự xảy ra (mặc dùthường phóng đại), như với ví dụ chú cún con / hổ ở trên

Vào năm 1901 Freud đã đưa ra lí thuyết về giấc mơ Vì Freud coitiềm thức của con người cơ bản tập trung ở năng lượng tình dục nên líthuyết về giấc mơ của ông cũng được giải thích theo hướng đó Ôngcho rằng, con người trong vô thức luôn mong ước một khát khao, và đểtránh những mối đe dọa từ bên ngoài nên con người đã đưa mongmuốn đó vào giấc mơ “Ông gọi các hạng mục và sự kiện trong giâc mơ

là nội dung hiện trong khi ý nghĩa ẩn các giấc mơ là nội dung ẩn” Giấc

mơ chỉ xuất hiện trong giấc ngủ, và phân tâm học coi giấc ngủ “chính

là biểu hiện của những gì còn sót lại trong ngày, trong đời sống bênngoài vào những lúc thức”

Freud tin rằng trong suốt một ngày, siêu ngã (superego) của bạnthường kiểm soát bản ngã (ego); Bạn hành động một cách phù hợp với

xã hội và hành xử như bạn nên làm (hầu hết thời gian là như vậy…) Về

cơ bản, siêu ngã (superego) quản lý để kiểm soát bản năng (Id) Khi

Trang 11

bạn ngủ, bản năng của bạn cần một cách để giải phóng tất cả nhữngham muốn và khát vọng mà xã hội không thể chấp nhận được thôngqua những ước mơ.Và nó không hoàn toàn kết thúc ở đó Đôi khi, sựthúc giục nguyên sơ của chúng ta có thể làm phiền và gây hại tâm lý.

Vì vậy, bộ não “kiểm duyệt” những sự thôi thúc và chuyển chúng thànhbiểu tượng dễ được chấp nhận hơn Đây là lý do tại sao ước mơ thườngđược “giải mã” Tuy nhiên, chưa kết thúc tại đó, Freud còn tin rằngnhững giấc mơ, tự bản thân chúng được chia thành hai phần:

nhớ lại Nếu bạn mô tả một giấc mơ cho một người bạn, bạn sẽ nói với

họ nội dung rõ ràng Về cơ bản nó không phải là ý nghĩa thật sự củagiấc mơ Nó hoàn toàn không có ý nghĩa, vì nó chỉ là một cách để chegiấu những ham muốn bị cấm của bạn

giấc mơ của bạn Các ham muốn vô thức nằm ở đây và có thể thực sựxuất hiện trong nội dung hiển nhiên Tuy nhiên, nếu chúng đúng nhưvậy để thực hiện điều đó, chúng có thể không thể được nhận diện vàkhông có bối cảnh – điều này có nghĩa bạn sẽ quên chúng dễ dàng hơn

Quá trình mà não kiểm duyệt giấc mơ, chuyển đổi nội dung hiểnnhiên sang nội dung tiềm ẩn, cũng được giải thích bởi Freud Ông gọi

đó là quá trình “giấc mơ hoạt động” (“Dream work”) Ông tin rằng bộnão có ba phương pháp để chuyển đổi nội dung:

- Sự ngưng tụ (Condensation): Như cái tên cho thấy, hai haynhiều tư tưởng tiềm ẩn được tập trung lại thành một giấc mơ hoặc hìnhảnh rõ ràng

- Sự thay thế (Displacement): Đây là nơi ham muốn hoặc cảmxúc được chuyển dời một cách cố ý từ người và đối tượng biết rõ lênmột đối tượng vô nghĩa trong một giấc mơ rõ ràng

- Biểu tượng hóa (Symbolism): Nơi những biểu tượng được sửdụng để che đậy những khái niệm hoặc đối tượng có âm thanh hay hìnhdáng tương tự

Trang 12

II.2.2.5 Sự dồn nén

Vậy phải chăng giấc mơ là một trong những biểu hiện nói về sựdồn nén của con người? Theo Freud, trong đời sống con người thườnggặp phải chứng lo âu, là một cảm giác gây căng thẳng và mất thăngbằng trong cuộc sống Để giải quyết vấn đề này, tâm lí con người đãtạo nên cơ chế phòng thủ để đối phó với nó Cơ chế phòng thủ bào

gồm: sự dồn nén, sự phóng ngoại nội tâm, sự chối bỏ, biện pháp hồi

qui, sự hợp lí hóa, sự phá bỏ, sự thăng hoa, sự mơ mộng

Như vậy, sự dồn nén (repression) là một trong 8 cơ chế phòng thủtheo Freud Khi một nhu cầu bản năng không thực hiện được hay khôngđược chấp nhận nó dẽ được đẩy vào vô thức “Dồn nén là một phươngthức trực tiếp nhất nhằm giải quyết tình trạng lo âu, thay vì phải giảiquyết một xung động gây ra tình tạng lo âu ở bình diện ý thức, người tachỉ việc phớt lờ nó đi” Chẳng hạn một cậu bé căm ghét cha mình, nó bịdồn nén, đến lúc đi học nó gặp những ông thầy khó tính và kết quả còntồi tệ hơn Thế là nó sẽ gia nhập cảnh sát để có thể ra những mệnhlệnh và bắt người khác phải thực hiện mà không có khiếu nại nào Đây

là một cơ chế rất thường thấy trong đời sống con người Nó có ảnhhưởng rất nhiều trong quá trình phát triển nhân cách…

II.3 Bản chất con người theo một số nhà tâm lý – xã hội khác

Trong lịch sử tư tưởng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau vềcon người do đó có nhiều quan niện khác nhau

II.3.1 Quan niệm về con người trong Triết học Phương đông

Mạnh Tử nhấn mạnh rằng: bản chất con người tự tính là thiện.Con người có một tặng phẩm Trời ban, đó là cái tâm biết suy tư vàthương xót, điều này đặt con người tách biệt với hàng thú vật: “Việccủa tâm là biết suy nghĩ, biết suy nghĩ thì biết được đạo lý, không biếtsuy nghĩ thì không biết được đạo lý” Từ đó, Mạnh Tử xây dựng nên họcthuyết tứ đoan (bốn đầu mối), ứng với bốn đặc điểm của cái tâm suy tư

và thương xót, bao gồm: lòng thương xót (trắc ẩn), lòng thẹn và ghét(tu ố), lòng nhún nhường (tứ nhượng) và lòng biết trái phải (thị phi) Tứ

Trang 13

đoan đưa đến bốn đức hạnh: lòng thương xót là đầu mối của Nhân, lòngthẹn và ghét là đầu mối của Nghĩa, lòng từ bỏ và nhún nhường là đầumối của Lễ, lòng phải trái là đầu mối của Trí.

Nhưng Mạnh Tử cũng thừa nhận rằng con người là những tạo vật

có lòng ham muốn, Những ham muốn ích kỷ đe dọa bốn hạt giốngcủa bản chất đạo đức bậc cao của con người Cái tâm suy tư được Trờiban tặng kia vì thế cũng trở nên mỏng manh và có thể bị đánh mất bất

cứ lúc nào nếu không có sự chăm sóc Đáng tiếc là trường hợp này lạithường xảy ra Không phải Trời sinh ra cho mỗi người cái tài chất khácnhau, tài chất khác nhau là vì tâm con người bị kìm hãm khác nhau màthôi

Đối nghịch mạnh mẽ nhất với Mạnh Tử chính là Tuân Tử với tưtưởng: bản chất con người là ác, không phải thiện lương Ông chủtrương rằng, thế giới nội tâm của chúng ta được chế ngự bởi nhữngxung lực của ham muốn, sự thúc bách của bản năng sinh lý không cógiới hạn Tự nhiên đã cho ta những ham muốn vô giới hạn trong mộtthế giới tài nguyên có giới hạn Ông cũng đưa ra học thuyết đối nghịchvới học thuyết tứ đoancủa Mạnh Tử, đó là học thuyết bốn khuynhhướng: lợi ích, ghen tị, thù hằn, và ham muốn Nếu để trong trạng thái

tự nhiên của chúng, bốn khuynh hướng này sẽ dấy lên bốn điều ác là:xung đột, bạo lực, tội phạm và phóng đãng Đối với Tuân Tử, con người

tự bản năng như một tấm ván cong vẹo

Thiện ác phân tranh khó đi đến hồi kết, vì ai cũng có những lý lẽcủa riêng mình Tuy nhiên, mặc dù tương khắc nhau nhưng cả Tuân Tử

và Mạnh Tử đều nhất trí lạc quan về khả năng hoàn thiện của conngười Sau lời nhận định về tấm ván cong, Tuân Tử viết tiếp: “Bởi bảnchất con người là ác, nên con người phải nhờ vào sức mạnh chỉ bảo củacác hiền nhân và sức mạnh chuyển đổi của các nguyên lý lễ nghĩa, chỉnhư thế con người mới thể hiện được trật tự phù hợp với tính thiện”.Hóa ra, yếu tố then chốt không phải là phân định rạch ròi bản chất conngười là thiện hay ác, mà cách hành xử của ta mới quyết định ta là tấmván cong vẹo hay là tấm ván thẳng thiện lương

Trang 14

Phật giáo: Con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất vàtinh thần) Cuộc sống vĩnh cửu là cõi Niết bàn, nơi linh hồn con ngườiđược giải thoát để trở thành bất diệt.

Khổng Tử: Bản chất của con người là do “thiên mệnh”, chi phối,đức “nhân” là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là con người quântử

Đổng Trọng Thư: Là người kế thừa Nho giáo theo xu hướng duytâm cực đoan Ông quan niệm Trời và Người có thể thông hiểu lẫn nhau(Thiên nhân cảm ứng) Cuộc đời con người bị quyết định bởi “thiênmệnh”

Lão Tử: Con người được sinh ra từ “Đạo” Vì vậy, con người cầnphải sống “vô vi” theo lẽ tự nhiên, không trái với tự nhiên

Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết họcphương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú thiên về vấn đề conngười trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung con ngườitrong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm có pha trộn tínhchất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xãhội

II.3.2 Bản chất con người theo Các Marx

Con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các môn khoa

nhằm phục vụ con người Khác với những môn khoa học khác, nghiên

ở những góc độ riêng, triết học nghiên cứu con người ở góc độ chung

Ngày đăng: 18/04/2019, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w