Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Để đảm bảo chất lượng thuốc, trong quá trình sản xuất người ta phải đề ra những yêu cầu khắc khe hơn như yêu cầu về Thực hành tốt sản xuất thuốc (Good manufacturing practice) được gọi phổ biến là GMP. Một trong những yêu cầu của GMP là thẩm định (Validation). Theo GMP Pháp 1995: thẩm định là việc thiết lập một chứng minh, phù hợp theo các nguyên tắc của GMP, là việc triển khai sử dụng mọi quá trình, qui định, thiết bị, nguyên liệu, bao bì đóng gói hay sản phẩm, hoạt động hay hệ thống cho phép đạt đến một cách thật sự các kết quả như dự kiến.8 Nói một cách khác, tất cả những gì ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm phải được thẩm định. Thẩm định các thiết bị đo lường hay các thông số vật lý là một nội dung trong công tác thẩm định tại nhà máy Rhône Poulenc Rorer do phòng Đo lường (Métrologie) đảm nhận. Công việc này tiến hành liên tục từng ngày, từng giờ; ở tất cả các phân xưởng trong nhà máy; ở tất cả các công đoạn trong quy trình sản xuất nhằm góp phần sản xuất ra thuốc có chất lượng. Để công tác đo lường trong nhà máy tiến hành thuận lợi, nhiệm vụ của luận văn này là xây dựng một số quy trình thẩm định phương tiện đo hay thông số vật lý mà cụ thể là: Xây dựng quy trình thẩm định các loại nhiệt kế có trong nhà máy. Xây dựng quy trình thẩm định lưu lượng khí của các thiết bị. Xây dựng quy trình thẩm định số lượng hạt tử của hệ thống xử lý không khí.
Trang 1huốc là một loại hàng hóa đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tínhmạng của người dân Để đảm bảo chất lượng thuốc, trong quá trình sản xuấtngười ta phải đề ra những yêu cầu khắc khe hơn như yêu cầu về Thực hành tốtsản xuất thuốc (Good manufacturing practice) được gọi phổ biến là GMP.
Một trong những yêu cầu của GMP là thẩm định (Validation)
Theo GMP Pháp 1995: thẩm định là việc thiết lập một chứng minh, phùhợp theo các nguyên tắc của GMP, là việc triển khai sử dụng mọi quá trình, quiđịnh, thiết bị, nguyên liệu, bao bì đóng gói hay sản phẩm, hoạt động hay hệthống cho phép đạt đến một cách thật sự các kết quả như dự kiến.[8]
Nói một cách khác, tất cả những gì ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩmphải được thẩm định
Thẩm định các thiết bị đo lường hay các thông số vật lý là một nội dungtrong công tác thẩm định tại nhà máy Rhône - Poulenc Rorer do phòng Đo lường(Métrologie) đảm nhận
Công việc này tiến hành liên tục từng ngày, từng giờ; ở tất cả các phânxưởng trong nhà máy; ở tất cả các công đoạn trong quy trình sản xuất nhằm gópphần sản xuất ra thuốc có chất lượng
Để công tác đo lường trong nhà máy tiến hành thuận lợi, nhiệm vụ của
luận văn này là xây dựng một số quy trình thẩm định phương tiện đo hay thông số
vật lý mà cụ thể là:
Ø Xây dựng quy trình thẩm định các loại nhiệt kế có trong nhà máy
Ø Xây dựng quy trình thẩm định lưu lượng khí của các thiết bị
T
Trang 2Ø Xây dựng quy trình thẩm định số lượng hạt tử của hệ thống xử lý không
1-Tình hình áp dụng GMP trên thế giới và tại Việt Nam:
+ Năm 1963 Mỹ là nước đầu tiên ban hành nguyên tắc GMP trên toàn
quốc, chúng được dựa trên luật ban hành vào năm 1962 về việc bảo quản thựcphẩm, mỹ phẩm và thuốc
+ Năm 1969 tại úc lần đầu tiên ban hành GMP đầu tiên trên cả nước.
+ Ở Anh xuất bản cuốn “Sách hướng dẫn vàng”, lần thứ nhất vào năm
1971, lần thứ hai vào năm 1977, lần thứ ba vào năm 1983
+ Tại Pháp văn bản chính thức đầu tiên về Thực hành sản thuốc tốt ban
hành vào 10/1978 [5]
+ Sau khi thành lập khối Liên minh Châu Âu (EU), nguyên tắc GMP đã
được áp dụng tại nhiều nước thuộc Châu Âu Tất cả đều dựa vào tài liệu chỉ dẫncủa Liên minh Châu Âu: “Thực hành tốt sản xuất thuốc ở các nước Châu Âu”.Tài liệu này hết sức quan trọng Nó cho phép kinh doanh thuốc tự do giữa cácnước thành viên Ngoài ra còn đề cập đến việc buôn bán một thuốc mới giữa cácnước thành viên với một thị trường mà EU đã chấp nhận.v.v…
Trang 3+ Những hướng dẫn GMP bằng tiếng Anh của 27 nước trên thế giới được
tổng hợp trong cuốn “International Drug GMP’s” Những tiêu chuẩn GMP thếgiới bao gồm những hướng dẫn gần đây nhất của WHO, Khối Châu Á, Khối EU,và những quy định về thanh tra Dược [13]
+ Ngành Dược Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với GMP vào năm 1984, từ đó
chúng ta liên tục có những hội thảo, lớp tập huấn nhằm một mặt phổ cập kháiniệm và nội dung của GMP trong đông đảo cán bộ quản lý kỹ thuật, một mặtxác định phương án chấn chỉnh tổ chức và hoạt động phù hợp với yêu cầu mới.[7]
- Chính sách mở cửa của Đảng, nhà nước và việc trở thành thành viênASEAN là động lực thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệp Dược Việt Nam,đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách cho ngành Dược nước ta: cần phải triển khaiGMP một cách đồng bộ trên cả nước
- Việt Nam bắt đầu triển khai việc áp dụng GMP ASEAN từ tháng 9năm 1996 [5], đến nay ở các tỉnh phía Nam đã có một số Xí nghiệp Dược đạttiêu chuẩn GMP ASEAN: Xí nghiệp Dược phẩm Hậu giang, Xí nghiệp Dượcphẩm Đồng tháp, Xí nghiệp Dược phẩm Sanofi
- Hiện nay, Xí nghiệp liên doanh Rhône - Poulenc Rorer Việt Namđang triển khai xây dựng nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP ASEANvà tiến đến tiêu chuẩn GMP quốc tế
2-Mục đích của GMP là đảm bảo chất lượng:
2.1-Quan niệm về chất lượng thuốc:
+ Yêu cầu phải áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn của GMP vào trongsản xuất thuốc xuất phát từ quan niệm về chất lượng thuốc
+ Đối với người sử dụng thuốc, yêu cầu đối với chất lượng thuốc là:[6]
Trang 4§ Tính hiệu quả.
§ Tính an toàn
§ Không độc hại
+ Đứng về mặt Y-Dược học ngày nay, quan niệm về chất lượng thuốc córất nhiều thay đổi so với trước
- Trước đây thuốc đạt chất lượng được hiểu là sự đảm bảo các tiêuchuẩn kiểm nghiệm: cảm quan, định tính, định lượng Với quan niệm này, người
ta đã thực hiện việc kiểm nghiệm để đánh giá chất lượng thuốc mà trong đó mẫuđược lấy tự nhiên trong các lô mẻ sản xuất Như vậy việc kiểm nghiệm chỉ cónghĩa khi những lô hoàn toàn đồng nhất
- Trải qua thời gian phát triển lâu dài, dựa vào những cơ sở khoa họcđã có và kết hợp với các ngành khoa học mới hình thành: Dược động học(Pharcocinétique) và Sinh dược học (Biopharmacie) Quan niệm về chất lượngthuốc đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầu củangười tiêu dùng
- Theo Hội Dược học Mỹ (American Pharmaceutical Association),thuốc được xem có chất lượng khi:
§ Chứa đủ số lượng đến dạng phân liều nhỏ
§ Không có tạp chất
§ Duy trì toàn vẹn lượng hoạt chất, hoạt tính trị liệu, hìnhdạng bên ngoài cho đến khi sử dụng
§ Sau khi đưa thuốc vào cơ thể, thuốc phóng thích ra hoạt chấtvới liều sinh khả dụng toàn vẹn.[9]
- Một quan niệm khác cho rằng một sản phẩm thuốc đạt chấtlượng khi nào các quá trính đã quy định và được tuân theo sẽ cho một sản phẩmđáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và khi sản phẩm hội đủ các yếu tố:
- Có chứa đúng các thành phần theo tỉ lệ đã quy định
Trang 5- Được sản xuất đúng quy trình đã định.
- Có độ tinh khiết theo yêu cầu
- Được đóng gói trong các đồ bao gói thích hợp
- Các bao gói có nhãn đúng quy cách (hoặc có thể nói cách kháclà đánh dấu rõ ràng hay dễ nhận.) [7]
2.2-Đánh giá chất lượng thuốc:
+ Về phương diện sản xuất, chất lượng của một thuốc được xéttheo hai khía cạnh sau:
§ Chất lượng từ quan niệm
§ Chất lượng về tính phù hợp [6]
2.2.1-Chất lượng từ quan niệm: (qualité de conception)
Tức trù liệu xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng của thuốc mẫu đăngký (prototype) Điểm quan trọng là các thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hànhtrên một lô thuốc mẫu chuẩn ban đầu không thể nào lập lại thường xuyên được
Do đó, thuốc mẫu chuẩn này phải được mô tả một cách chính xác để có thể táisản xuất ra chúng Sau này trên mỗi lô sản xuất, người ta chỉ có thể tiến hànhcác thử nghiệm lý hoá để kiểm tra chất lượng thuốc Nói cách khác đó là cáctiêu chuẩn đăng ký và làm tham chiếu để xem xét đánh giá chất lượng thuốctrong khi sản xuất sau này
2.2.2-Chất lượng về tính phù hợp: (qualité de conformité)
Tức xem xét tính phù hợp, tính đồng đều (regularité) củathuốc trong tất cả các lô sản xuất so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký tứctiêu chuẩn của thuốc mẫu chuẩn đăng ký
+ Một khi đảm bảo được đồng thời hai khía cạnh trên tức đã đảmbảo được chất lượng thuốc Đảm bảo chất lượng thuốc, trên nguyên tắc khônglàm thay đổi giá trị trung bình mà là làm giảm thiểu độ phân tán, nghĩa là giảmthiểu độ sai lệch so với thuốc chuẩn đã đăng ký[6] Để thực hiện được điều nàythì phải làm chủ một cách nghiêm ngặt tất cả các giai đoạn: sản xuất, đónggói Hay nói cách khác là phải áp dụng các nguyên tắc GMP
Trang 6q Như vậy GMP là yếu tố không thể thiếu trong công tác bảo đảm chất lượng.
3-Nội dung chính của GMP:
Mặc dù GMP là toàn bộ các quy định được công bố thành một dạng tài liệuchi tiết, nhưng thực tế có những phương pháp khác hay cách áp dụng khác miễnlà đạt được mục đích đảm bảo chất lượng Do vậy việc triển khai GMP tại các xínghiệp trong hay ngoài nước có thể có những điểm khác nhau trong khi thựchiện Tuy nhiên nội dung cơ bản của GMP hoàn toàn giống nhau Nó luôn baogồm các yếu tố sau:
3.2-Nguyên liệu:
- Chỉ có những nguyên liệu tốt thì mới tạo được sản phẩm tốt.Chính vì vậy nguyên liệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà
Trang 7máy đề ra hay nói cách khác là tiêu chuẩn của GMP, nhằm đảm bảo việc sảnxuất thuốc đạt chất lượng đã đăng ký
- Danh từ nguyên liệu bao gồm: hóa chất (dùng cho sản xuất, cho phòngthí nghiệm, cho nghiên cứu), tá dược (tinh bột, vaselin …), chất phụ gia (màu …),vật liệu bao bì
- Nguyên liệu phải được dán nhãn mang tên quy định trong tiêu chuẩnkỹ thuật trước khi đưa vào sử dụng Không được phép dùng tên viết tắt, mã sốhoặc tên khác Mỗi khi giao nhận nguyên liệu phải kiểm tra bằng cảm quan vềđiều kiện chung, đồ chứa đựng phải còn nguyên vẹn, sự hư hỏng và nguy cơ bị
hư hỏng Đồng thời lấy mẫu để thử nghiệm so sánh với tiêu chuẩn của nguyênliệu ban đầu.[7]
3.3-Máy móc:
Đây là thế mạnh của nền công nghiệp Dược hiện đại, tất cả máy móckhi đưa vào sử dụng cần lưu ý các điểm sau:
- Đòi hỏi phải tốt, tính năng phù hợp với mục đích sử dụng, đầy đủ hồ
sơ, lý lịch về máy
- Dễ dàng, thuận tiện trong việc lau chùi cả trong lẫn ngoài sau khisản xuất
- Các phần tiếp xúc với nguyên liệu hay sản phẩm phải đảm bảokhông có các phản ứng hoặc hấp thu nguyên liệu nếu có thì ở mức thấp nhất
- Máy móc phải được thiết kế, bố trí phù hợp với quá trình sản xuất vàđể tránh được ô nhiễm chéo
- Việc bảo quản máy phải tiến hành thường xuyên và phải kịp thờisửa chữa khi cần
- Bên cạnh đó các thiết bị phụ cần cho máy phải được để ở chỗ tươngđối rộng để tránh va chạm do chồng chất và để dễ tìm khi cần
Trang 83.4-Tài liệu:
Các tài liệu là việc cần thiết đầu tiên trong bảo đảm chất lượng.Mục đích là để xác định hệ thống kiểm tra, giảm nguy cơ sai lầm xảy ra khi traođổi bằng lời nói, đề bảo đảm rằng các nhân viên được học tập chi tiết và chấpnhận quy trình có liên quan và cho phép điều tra nghiên cứu, truy tìm các sảnphẩm xấu Hệ thống tài liệu phải làm sao cho lịch sử của mỗi lô sản phẩm baogồm các việc sử dụng và xử lý các nguyên liệu ban đầu, vật liệu bao gói, cácsản phẩm trung gian, sản phẩm chưa đóng gói và thành phẩm đều có thể xácđịnh.[7]
3.5-Môi trường:
Để có được một sản phẩm đạt tiêu chuẩn về cấp độ sạch thì trướchết cần phải chú ý đến việc loại sự ô nhiễm do vi khuẩn hay bụi Tạo ra mộtmôi trường sạch, được tiến hành ngay từ lúc bắt đầu xây dựng nhà máy và phảiduy trì liên tục trong suốt thời kỳ hoạt động của nhà máy Nó phụ thuộc vào việcxây dựng nhà máy và yêu cầu cấp độ sạch, vô trùng của từng loại sản phẩm
3.5.1-Nhà xưởng:
a-Vị trí:
Xây dựng nhà xưởng ở vị trí thích hợp tránh sự ô nhiễm do môitrường xung quanh hoặc do các hoạt động gần đó (vùng dân cư, mỏ than …)
b-Xây dựng thiết kế đúng chức năng:
- Bố trí các phòng, các phân xưởng, lối đi cho hợp lý để tránh sự ônhiễm chéo
- Phòng thay quần áo phải tách riêng hoặc ngăn cách với khu sảnxuất Nhà vệ sinh phải thông gió tốt và không được mở trực tiếp vào khu sảnxuất
- Sàn nhà, tường, trần nhà luôn sạch dễ lau, không hở nứt
- Hệ thống ánh sáng, thông gió phải đảm bảo tốt
- Các ống ga, cống rãnh phải có kích cỡ thích hợp, trách cáckhe hở
3.5.2-Yêu cầu cấp độ sạch, vô trùng của từng loại sản phẩm:
Trang 9+ Tùy sản phẩm, ta có thể tuân theo một tiêu chuẩn môi trường cụthể
Số bụi cho phép trong 1m 3
(bằng hay trên)
Số vi sinh vật sống tối
đa cho phép trong 1m 3
Tiêu chuẩn phân loại gần nhất
- Buồng sạch cấp II dùng cho thao tác vô trùng Việc vàobuồng đó phải đi qua một chốt gió hay lối đi thích hợp Buồng này có ít hơn
Trang 10350.000 hạt tử kích thước 0.5mm hoặc lớn hơn, 2.000 hạt tử kích thước 5mm hoặclớn hơn và không quá 100 vi sinh vật sống trong 1m3 không khí.
- Buồng sạch cấp I không khí dưới luồng gió song song trongbuồng chứa dưói 3.500 hạt tử kích thước 0.5mm hay lớn hơn, không có hạt tử nàolớn hơn 5mm và không quá 5 vi sinh vật sống trong 1m3 không khí
+ Mặc dù có nhiều điểm khác nhau, nhưng tất cả các tiêuchuẩn về môi trường của từng nước hay từng khu vực đều có một nguyên tắcchung là:
“Áp suất không khí luôn cao nhất trong khu vực có nhiều rủi ro nhấtcho sản phẩm”
3.6-Phòng thí nghiệm:
+ Tất cả các nhà máy GMP đều phải có phòng thí nghiệm đạt GLP(Good Laboratory Practice) Nhiệm vụ của phòng thí nghiệm là nghiên cứu vàkiểm nghiệm sản phẩm Hầu hết các phòng thí nghiệm trong nhà máy thiên vềcông tác kiểm nghiệm nên thường gọi là phòng kiểm nghiệm Cũng như một nhàmáy sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP, một phòng kiểm nghiệm đạt GLP cần phảiđảm bảo một số yêu cầu như:
- Phải được thiết kế, trang bị và đủ chỗ làm cho các thao tác liênquan
- Phải có phòng tồn trữ phù hợp và an toàn cho vật liệu phế thải chờxử lý Các chất độc, dễ cháy phải bảo quản trong tủ kín, được thiết kế thích hợpvà ngăn cách
- Đặc biệt phòng phải được xây dựng cách biệt với buồng sản xuất vàphải luôn chú ý đến hệ thống xử lý không khí, thông gió
- Nhiệm vụ và trách nhiệm của từng nhân viên phải xác định rõ ràng
- Nhân viên phải được đào tạo, huấn luyện và có kinh nghiệm để cókhả năng làm đúng chức năng đã chỉ định [12]
Trang 11+ Thiết kế, xây dựng một phòng kiểm nghiệm đạt GLP nhằm phát hiệnnhanh chóng, chính xác những sai sót trong quá trình sản xuất, nguyên liệu, sảnphẩm, bao bì Kịp thời sửa chữa, chấn chỉnh các sai sót để đáp ứng mục đíchđảm bảo chất lượng
` Những nguyên tắc GMP là nhằm mục tiêu phấn đấu của quá trình hiện đại hóa ngành công nghiệp Dược trong và ngoài nước Tương lai, nguyên tắc GMP sẽ có nhiều điểm mới hơn, những quy định sẽ khắc khe hơn Nhưng nội dung cơ bản vẫn gồm 6 yếu tố như đã nêu trên.
ĐO LƯỜNG TRONG NHÀ MÁY GMP
(MÉTROLOGIE)
1-Vai trò của đo lường trong nhà máy GMP:
Đã từ lâu, đo lường chiếm một vị trí rất quan trọng trong ngành Dượcnhưng ít khi chúng ta thấy được vai trò của nó vì quá quen thuộc và gần gũi với
ta đến mức trở thành tự nhiên: cân khối lượng thuốc hay đong thể tích dung dịchthuốc Chúng ta chỉ phát hiện ra vai trò của nó khi gặp một trục trặc nào đótrong việc mua bán, kiểm tra thuốc hay gặp sự cố trong điều trị bệnh, ví dụ như
Trang 12một thuốc bị thiếu hàm lượng hoạt chất so với lượng thuốc ghi trên nhãn đã đăngký lúc đó người ta mới suy xét đến cân, quả cân và thao tác cân tại xí nghiệpsản xuất thuốc tức suy xét đến hoạt động đo lường trong xí nghiệp đó.
Ngày nay, đo lường là yếu tố không thể thiếu trong nhà máy GMP Dựavào nội dung cơ bản của nguyên tắc GMP, ta có thể chứng minh được vai trò của
đo lường trong nhà máy sản xuất thuốc:
1.1-Môi trường:
+ Để có một môi trường đạt tiêu chuẩn GMP cần phải có một hệ thống xửlý không khí thích hợp Đây là một hệ thống phức tạp vì nó đảm nhiệm việcphân phối, thu hồi, loại bỏ không khí đi đến từng khu vực, phòng sản xuất theotừng cấp độ sạch khác nhau, đồng thời đảm bảo đủ không khí và không có sự ônhiễm chéo giữa các khu vực, phòng sản xuất
+ Việc thẩm định đánh giá các thông số môi trường trong nhà máythuộc trách nhiệm của phòng Thẩm định Nhưng để có được những bằng chứngcụ thể giúp cho việc đánh giá môi trường, cần có sự hỗ trợ của phòng Đo lường.Phòng Đo lường sẽ cung cấp những biên bản thẩm định lưu lượng không khí củahệ thống xử lý không khí; những biên bản thẩm định các nhiệt kế theo dõi nhiệt
Sơ đồ tổng quát của hệ thống xử lý không khí
Không khí mới
Tiền lọc Loại ẩm Lọc tinh khiết
Các phòng Khu vực
ThảiThu hồi
Lọc
Trang 13độ trong quá trình loại ẩm; những biên bản thẩm định số hạt tử có trong môitrường của từng khu vực, phòng sản xuất; hay những biên bản thẩm định các ápkế theo dõi sự chênh lệch áp suất giữa các phòng nhằm tránh hiện tượng nhiễmchéo .
w QO (Qualification operationnelle): kiểm định hoạt động tức kiểm trahệ thống thiết bị phù hợp với đòi hỏi của sự kiểm tra các thông số hoạt động.Trong bước thẩm định này cần có sự tham khảo hoặc tuân thủ các hướng dẫn sửdụng máy của nhà sản xuất nhằm mục đích đề ra hướng dẫn sử dụng bằng tiếngViệt cho từng máy với đầy đủ các thông số yêu cầu
w QP (Qualification de performance): kiểm định hiệu năng củamáy được thực hiện chủ yếu cho các công đoạn then chốt của sản xuất và trêncác thiết bị của quy trình để chứng minh sự ổn định và hiệu quả trong vận hànhcủa máy [10]
+ Tất cả các máy, thiết bị cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm đều phảiđược tiến hành QI, QO Khi đó phòng Đo lường tiến hành QI, QO trên cácphương tiện đo của các máy (áp kế, nhiệt kế, đồng hồ ) và các thông số vậtlý: lưu lượng, vận tốc vòng quay, biên độ dao động
Ví du: Thẩm định máy sấy tầng sôi FBD AEROMATIC
- Thực hiện QI: kiểm tra việc lắp đặt và tình trạng bên ngoài củacác nhiệt kế, áp kế, đồng hồ hẹn giờ trên máy, dựa trên bản vẽ kỹ thuật và cáctiêu chuẩn kỹ thuật Trong lĩnh vực đo lường công việc này gọi là “Kiểm tra yêucầu kỹ thuật”
Trang 14- Thực hiện QO: kiểm tra khả năng hoạt động của phương tiện đo,thường được gọi là “Kiểm tra đo lường” Phòng đo lường chịu trách nhiệm kiểmtra, đánh giá hoạt động, và độ chính xác của các nhiệt kế theo dõi nhiệt độ loạiẩm khí vào, khí tại buồng sấy, khí thoát ra hay các áp kế theo dõi sự chênh lệcháp suất trong buồng sấy và bên ngoài Xác định lưu lượng khí khi máy hoạtđộng ở công suất 100%, đối chiếu với hồ sơ máy để có kết luận đúng về khảnăng hoạt động của máy
Sau khi thực hiện xong các quy trình trên, phòng Đo lường sẽ cungcấp đầy đủ các biên bản thẩm định cho phòng Thẩm định Phần việc còn lạithuộc trách nhiệm của phòng Thẩm định, họ sẽ tổng hợp các biên bản thẩm địnhcủa các phòng có liên quan (như phòng Bảo trì) để quyết định sử dụng haykhông sử dụng máy
- Thực hiện QP máy sấy tầng sôi, sự hỗ trợ của phòng Đo lườnggiúp cho phòng Thẩm định và bộ phận sản xuất ghi nhận đầy đủ các thông sốnhư nhiệt độ, áp suất, độ ẩm của cốm và lưu lượng khí, hoàn tất biên bản thẩmđịnh QP
+ Ngoài ra, phòng Đo lường còn thực hiện QI, QO độc lập với phòngThẩm định trên các phương tiện đo chuyên biệt mà điển hình nhất là các cânđiện tử phân tích hay cân điện tử kỹ thuật
1.3-Nguyên vật liệu:
Tùy theo yêu cầu bảo quản của từng nguyên vật liệu, bộ phận kho phảibố trí sắp xếp việc bảo quản cho phù hợp với các yêu cầu đó Việc tồn trữ bảoquản nguyên vật liệu giữa vai trò rất quan trọng trong sản xuất thuốc Môitrường là tác nhân ảnh hưởng lớn đến chất lượng của nguyên vật liệu, trong thờigian tồn trữ người ta thường quan tâm đến hai yếu tố môi trường tác động thườngxuyên đến nguyên vật liệu là nhiệt độ và độ ẩm Việc ghi nhận nhiệt độ và độ
Trang 15ẩm được phòng Đo lường đảm nhận hằng ngày Sự theo dõi và đánh giá chínhxác, kịp thời hai yếu tố trên tại từng khu vực trong kho giúp cho việc bảo quản,tồn trữ nguyên vật liệu đúng theo yêu cầu, tạo điều kiện cho việc sản xuất cácsản phẩm thuốc đảm bảo chất lượng.
Ví dụ: Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm tại kho lạnh, nơi tồn trữ một số hóa
chất đặc biệt như: Gelatin, Promethazin Tại đây nhiệt độ trong khoảng 13 –
14 C0; độ ẩm khoảng 90%, nếu có sự thay đổi nhiệt độ trở nên thấp hơn có thểdẫn tới hiện tượng đọng sương Chính vì vậy sự ghi nhận hai thông số trên tạikho lạnh phải được phòng Đo lường tiến hành thường xuyên và chính xác
1.4-Phòng thí nghiệm:
+ Để phục vụ việc nghiên cứu và kiểm nghiệm các nguyên vậtliệu, bán thành phẩm, thành phẩm , phòng thí nghiệm thường được trang bịcác thiết bị thí nghiệm hiện đại, chính xác Trong đó các phương tiện đo chiếmmột phần không nhỏ Tương tự phần máy móc đã trình bày, phương tiện đo dùngtrong phòng thí nghiệm cũng có hai dạng:
- Phương tiện đo gắn trên các thiết bị thí nghiệm
Ví dụ: Nhiệt kế, đồng hồ được thiết kế lắp đặt trên máy thử độ
tan rã ERWEKA, máy rửa sấy dụng cụ LANCER
- Phương tiện đo chuyên biệt
Ví dụ: Cân điện tử phân tích, các dụng cụ đo lường thể tích
+ Như vậy, phòng Đo lường sẽ hoàn tất quy trình QI, QO, cung cấp biênbản thẩm định các phương tiện đo cho phòng Thẩm định và phòng Thí nghiệmđể đánh giá tổng thể về một thiết bị thí nghiệm
Ví dụ: Thẩm định nhiệt kế và đồng hồ hẹn giờ trên máy rửa sấy
dụng cụ thủy tinh LANCER Đây là hai thiết bị rất quan trọng, máy sẽ hoạt độngtheo thời gian cài đặt trên đồng hồ hẹn giờ, nhiệt độ đã điều chỉnh theo yêu cầurửa, sấy dụng cụ sẽ được theo dõi qua nhiệt kế Chính vì vậy thẩm định haiphương tiện đo trên sẽ đảm bảo hoạt động của máy đúng theo tiêu chuẩn, yêucầu đặt ra
Trang 16+ Riêng đối với các phương tiện đo chuyên biệt, phòng Đo lường toànquyền quyết định việc sử dụng hay không sử dụng, sau khi đã tiến hành thẩmđịnh một cách kỹ lưỡng.
+ Mặc khác, phòng Đo lường còn phải xác định, đánh giá một sốthông số vật lý theo tiêu chuẩn của nhà chế tạo máy Ví dụ:
- Xác định lưu lượng khí hút vào của tủ Hốt để đánh giákhả năng hoạt động của tủ
- Xác định vận tốc vòng quay của máy mai mòn ERWEKA đối chiếuvới tiêu chuẩn của máy từ đó đưa ra biểu đồ hiệu chỉnh cho phù hợp giữa thờigian và vận tốc vòng quay
Song song với các vai trò đã nêu trên, phòng Đo lường còn phải đảm nhiệmviệc quản lý và chuyển nhận các tài liệu liên quan đến đo lường: tài liệu tiêuchuẩn kỹ thuật máy, thiết bị, tài liệu quy trình thẩm định, biên bản Hướngdẫn, đào tạo nhân viên biết cách sử dụng các phương tiện đo và thành thạo cácphương pháp thẩm định, ghi chép biên bản nhằm phục vụ tốt công tác đolường
Như vậy, công tác đo lường luôn xuyên suốt trong các mặt hoạt động củaGMP Đó là một mắc xích nối liền các bộ phận khác như Đảm bảo chất lượng,Sản xuất, Bảo trì trong nhà máy GMP Nó đã thâm nhập và trở thành yếu tốkhông thể thiếu của mọi khâu trong sản xuất, một yếu tố quan trọng hàng đầuđể đảm bảo chất lượng và hiệu quả cao trong sản xuất
2-Nhiệm vụ của người Dược sĩ phụ trách phòng Đo lường:
Để tiến hành các phép đo cần thiết, cần ít nhất ba yếu tố:
§ Phương tiện đo
§ Phương pháp đo
§ Con người sử dụng các phương tiện, phương pháp ấy
Trang 17Trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay đã cho phép tự động hóa nhiểu phép
đo Nhưng dù là đo theo chương trình tự động thì những chương trình đó cũngphải là do con người cụ thể lập nên và gài đặt trước đó Yếu tố “con người” vẫnlà cần thiết
` Người Dược sĩ phụ trách đo lường, trước hết, phải hiểu rõ vai trò đolường trong nhà máy, nắm vững các kiến thức về Đo lường học và các yêu cầucủa GMP, kết hợp các kiến thức trên để đảm bảo công tác đo lường trong nhàmáy
` Tổng hợp, phân tích tình hình và yêu cầu về đo lường, tham khảo các tàiliệu kỹ thuật, xây dựng các quy trình thẩm định phù hợp cho từng phương tiện
đo, hay các thông số vật lý Trong quá trình phân tích cần nắm vững tình trạngcác phương tiện đo, thông số đo và độ chính xác cần đạt theo yêu cầu của nhàmáy hay của một tổ chức đo lường uy tín trong nước hay trên thế giới
` Tổ chức và quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng các phương tiện
đo Thực hiện nhiệm vụ kiểm định, hiệu chuẩn và sửa chữa phương tiện đo,thông số đo theo định kỳ của Nhà nước (đối với các phương tiện đo chuẩn) haytheo định kỳ tại nhà máy (đối với các phương tiện đo, thông số đo phục vụ sảnxuất)
` Thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật đo lường, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật
đo lường mới vào nhà máy Biên soạn giáo trình, tổ chức lớp huấn luyện, đàotạo nhân viên, cán bộ kỹ thuật về đo lường
Nhiệm vụ nặng nề trên đòi hỏi ở người Dược sĩ phải có tinh thần tráchnhiệm cao, đặc biệt là tính trung thực khi thực hiện công tác đo lường, ghi biênbản đầy đủ chính xác, không xóa bỏ một cách tự ý các số liệu khảo sát đểõ giúpđánh cho việc giá đúng về khả năng hoạt động của một phương tiện đo haythông số vật lý
Trang 18VÀI NÉT VỀ ĐO LƯỜNG HỌC
1-Đo lường là gì ? [1]
Để hiểu rõ về đo lường học, cần nắm vững một số khái niệm sau:
1.1-Đại lượng: Đại lượng đo được, hay vắn tắc là đại lượng, là thuộc tính củamột hiện tượng, một vật thể, hoặc một chất có thể phân biệt được về mặt chấtlượng và xác định về mặt số lượng Có thể xem đại lượng dưới hai khía cạnh:chất lượng và số lượng
- Về mặt chất lượng, có thể chia đại lượng thành từng loại đại lượng nhưđộ dài, khối lượng, thời gian, thể tích, nhiệt độ, áp suất, cường độ dòng điện
- Về mặt số lượng, mỗi loại đại lượng này lại có thể biểu hiện dướinhiều hình thức và mức độ riêng biệt khác nhau Như đường kính, bề dày củamột viên thuốc đều thuộc loại đại lượng độ dài Khối lượng hoạt chất trongmột viên thuốc, khối lượng thuốc trong một mẻ đều thuộc loại đại lượng khốilượng
1.2-Đơn vị: Đơn vị đo, hay vắn tắc là đơn vị, là một đại lượng cụ thể đượcchọn theo quy ước thống nhất dùng để biểu thị các đại lượng cùng loại với nó vềmặt định lượng Ví dụ: ta có độ dài cụ thể theo định nghĩa thống nhất của quốc
Trang 19tế để lấy làm đơn vị để đo loại đại lượng “độ dài” mang tên “mét”, ký hiệu
“m”
1.3-Giá trị: Giá trị của đại lượng, hay viết tắc là giá trị, là sự biểu thị đạilượng bằng số và đơn vị tương ứng Ví dụ: 1 mét (1m); 2 kilogam (2Kg) phầnsố trong giá trị của đại lượng thường gọi là trị số Trong các ví dụ trên là 1; 2
1.4-Phép đo: Tập hợp tất cả các thao tác nhằm mục đích xác định giá trị của
đại lượng Như vậy bản chất của phép đo chính là so sánh đại lượng cần đo vớimột đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị Như độ dài của hộp thuốc là sosánh độ dài đó với một độ dài đã được chọn làm đơn vị là “mét” để xem nó lớnhơn hay bé hơn “mét” bao nhiêu lần
1.5-Đo lường: Đến đây ta thấy có thể là rõ một vài khía cạnh xung quanh
thuật ngữ “đo lường” đang được dùng phổ biến trong đời sống, sản xuất, tài liệukhoa học – kỹ thuật cũng như trong nhiều văn bản của nhà nước
Có thể hiểu “đo lường” là “phép đo” hoặc là lĩnh vực khoa học về phép
đo (đo lường học) tùy theo ngữ cảnh khi nó được dùng như 1 danh từ Có thểhiểu “đo lường “ là đo, là một thao tác cụ thể nhằm xác định giá trị của đạilượng khi nó được dùng như một động từ Cũng có thể dùng thuật ngữ này nhưtính từ để chỉ một vấn đề, một nội dung nào đó có liên quan đến việc xác địnhgiá trị của đại lượng, ví dụ như “Hoạt động đo lường” hay “Quản lý đo lường”
2-Chuẩn đo lường: [1]
2.1-Định nghĩa chuẩn đơn vị đo lường:
Là trang thiết bị kỹ thuật để thể hiện và truyền đơn vị được gọi là chuẩnđơn vị đo lường, gọi tắc là chuẩn hay chuẩn đo lường Về bản chất cũng làphương tiện đo nhưng không dùng cho các phép đo hằng ngày mà chỉ dùng đểthực hiện và truyền kích cỡ của đơn vị đến các chuẩn hoặc phương tiện đo có độchính xác thấp hơn, như dùng để kiểm định, hiệu chuẩn, khắc độ phương tiện
đo Hệ thống chuẩn đơn vị đo lường là cơ sở kỹ thuật quan trọng nhất
Trang 20để đảm bảo tính thống nhất và độ chính xác cần thiết của phép đo trong phạm viquốc gia và quốc tế.
2.2-Phân loại chuẩn:
Có thể phân loại chuẩn căn cứ theo độ chính xác hoặc theo mục đích sử
dụng của chuẩn
2.2.1-Theo độ chính xác: căn cứ theo độ chính xác có thể phân loại chuẩn
thành chuẩn đầu, chuẩn thứ, chuẩn hạng I, chuẩn hạng II, hạng III
` Chuẩn đầu: chuẩn thể hiện với độ chính xác cao nhất so với cácchuẩn khác có cùng đơn vị Ví dụ: quả cân hình trụ bằng Platin – Iridietc so sánhtrực tiếp với chuẩn gốc quốc tế của KILOGRAM do viện cân đong quốc tế(BIPM) cung cấp để thể hiện đơn vị khối lượng KILOGAM
` Chuẩn thứ: chuẩn có giá trị xác định từ chuẩn đầu, độ chính xác thấphơn chuẩn đầu nhưng cao hơn chuẩn khác của đơn vị Ví dụ: quả cân bằng thépkhông rỉ có sai số không vượt quá 7.10-9 là chuẩn thứ đơn vị khối lượng
` Chuẩn hạng I, hạng II, hạng III có độ chính xác từ cao đến thấplà những chuẩn có giá trị xác định từ chuẩn thứ hoặc chuẩn có giá trị cao hơn
2.2.2-Theo chức năng sử dụng: theo cách này có thể phân loại chuẩn
thành:
` Chuẩn quốc gia: chuẩn có độ chính xác đạt trình độ chuẩn đầu haychuẩn thứ và được nhà nước công nhận dùng làm cơ sở để xác định tất cả cácchuẩn còn lại của một đại lượng đo trong nước Trường hợp chưa có chuẩn đạttrình độ chuẩn đầu, chuẩn thứ, nhà nước công nhận chuẩn cao nhất thay chochuẩn quốc gia ở lĩnh vực đo đó
Trang 21` Chuẩn chính: chuẩn có độ chính xác cao nhất của một địa phương,ngành, cơ sở dùng để xác định giá trị các chuẩn còn lại của cùng đại lượng tạiđịa phương, ngành, cơ sở đó.
` Chuẩn công tác: Chuẩn thường xuyên được so sánh với chuẩn chínhvà được dùng hằng ngày để hiệu chuẩn, kiểm định vật đọ, dụng cụ đo có cùngđại lượng tại địa phương, ngành, cơ sở cơ sở đó
3-Sai số của phép đo: [1]
² Giá trị thực của đại lượng là giá trị phản ảnh thuộc tính của đối tượngđã cho bằng phương pháp lý tưởng phù hợp với nó cả về số lượng và chất lượng.Giá trị thực không phụ thuộc vào phương pháp phương tiện nhận biết chúng, đóchính là “chân lý” của đại lượng mà đo lường cố gắng đạt tới Ngược lại kết quảcủa phép đo (kết quả đo) là sản phẩm của trình độ nhận thức của chúng ta Nóphụ thuộc không những vào bản thân của đại lượng đo mà còn phụ thuộc vàophương pháp đo, phương tiện đo, người đo, điều kiện môi trường trong đó phép
đo được thực hiện Như vậy, giữa kết quả đo và giá trị thực của đại lượng đobao giờ cũng có sự khác nhau gọi là sai số của phép đo
Giá trị thực là “lý tưởng”, ta chỉ có thể tiệm cận đến nó, không thểbiết được nó một cách hoàn toàn Vì vậy, để nhận được những thông tin dù chỉ làgần đúng về sai số của phép đo, người ta thay giá trị thực bằng giá trị quy ước
² Giá trị thực quy ước là giá trị tìm được bằng thực nghiệm và gần giá trịthực đến mức đủ để sử dụng cho một mục đích nhất định:
Sai số của phép đo = Kết quả đo – Giá trị thực
Sai số của phép đo = Kết quả đo – Giá trị quy ước
Trang 22Có thể phân loại sai số của phép đo theo hình thức biểu thị hay theo quyluật xuất hiện chúng:
3.1-Theo hình thức biểu thị: gồm sai số tuyệt đối và sai số tương đối
3.1.1-Sai số tuyệt đối:
3.2.1-Sai số hệ thống: Là phần sai số không đổi hoặc thay đổi theo quy
luật xác định khi đo lặp lại cùng một đại lượng đo Quy luật này không phụthuộc vào số lần đo lặp lại nhiều hoặc ít Trong đa số trường hợp, sai số hệ thốngcó thể xác định bằng thực nghiệm và có thể loại trừ khỏi kết quả đo
3.2.2-Sai số ngẫu nhiên: Khi đo lặp lại cùng một đại lượng trong các điều
kiện như nhau ta vẫn nhận được các giá trị khác nhau Sự khác nhau này gây rabởi những yếu tố xuất hiện và biến mất một cách ngẫu nhiên hoặc với mộtcường độ khó đoán trước như sự lệch của các phần tử cấu thành phương tiện đotheo phương của nó, những thăng gián nhỏ của điều kiện môi trường, những biếnđộng trong sự chú ý của người đo Sai số của phép đo do những yếu tố ngẫunhiên này gây ra gọi là sai số ngẫu nhiên
3.2.3-Sai số thô: Đây là sai số vượt quá sai số mong đợi trong những điều
kiện đã cho một cách rõ rệt Sai số thô gây ra do những sai hỏng trầm trọng của
d% X= DXX
X x 100%
Trang 23phương tiện đo, sai sót lớn của người thao tác hoặc thay đổi đột ngột của điềukiện đo
` Phân loại phương pháp đo: [2]
Để loại bỏ hay giảm bớt sai số của phép đo cần phải áp dụng các phươngpháp đo khác nhau Khoa học kỹ thuật càng phát triển, số phương pháp đo ngàycàng tăng và càng đa dạng Tuy nhiên có thể sắp xếp chúng theo một đặc trưngchung nhất định đó là cách so sánh đại lượng đo với đơn vị đo Theo cách nàycác phương pháp đo được chia thành hai nhóm: phương pháp đánh giá trực tiếpvà phương pháp so sánh với vật đọ
a.Phương pháp đánh giá trực tiếp: là phương pháp đo trong đó giá trị đạilượng được đọc trực tiếp ngay trên bộ phận chỉ thị của dụng cụ đo Đo theophương pháp này, người đo không phải thực hiện thêm một thao tác nào ngoài
việc đưa đại lượng đo vào phương tiện đo Ví dụ: cân một vật trên cân đồng hồ,
đo tốc độ gió bằng máy đo vận tốc gió, đo nhiệt độ bằng nhiệt kế
Phương pháp đo này rất đơn giản, mất ít thời gian, không cần tínhtoán, nên được sử dụng nhiều trong sản xuất, ngay tại hiện trường Độ chính xáccủa phương pháp này không cao do sai số khắc độ thang đọc, sai số đọc, do tácđộng của các đại lượng ảnh hưởng
b.Phương pháp so sánh với vật đo : là phương pháp đo trong đó đại lượng
đo được so sánh với đại lượng thể hiện bằng vật đọ Vật đọ có độ lớn điều chỉnhđược và có độ chính xác cao đã được lắp sẵn trên thiết bị đo Quá trình so sánhcó thể tiến hành với chính đại lượng đo hoặc thông qua đại lượng khác có liênquan tới nó
Phương pháp so sánh cho khả năng nhận được kết quả đo với độ chínhxác cao hơn phương pháp đánh giá trực tiếp Thực hiện phép đo theo phươngpháp này đòi hỏi nhiều thời gian và điều kiện khắt khe, nên nó được dùng chủyếu trong phòng thí nghiệm
Trang 244-Phương tiện đo – Sai số phương tiện đo:
4.1-Phương tiện đo – Phân loại:
Phương tiện đo là thiết bị được dùng độc lậphoặc cùng với các thiết bị phụđể thực hiện phép đo Tùy theo chức năng, phương tiện đo có thể được phânthành vật đọ, dụng cụ đo và chuyển đổi đo
4.1.1-Vật đọ: ø Phương tiện đo thể hiện 1 (vật đọ đơn trị) hoặc 1 dãy (vật đọ
đa trị) giá trị xác định của đại lượng Ví dụ: vật đọ đơn trị như quả cân, cácmiếng căn mẫu , vật đọ đa trị như thước cuộn có vạch chia đến milimét
- Vật đọ được đặt trưng bằng giá trị danh nghĩa của nó Đó là giá trị ghi khắctrên vật đọ như giá trị 1kg khắc trên quả cân; giá trị 2l trên các bình định mức
- Với các vật đọ dùng làm chuẩn, ngoài giá trị danh nghĩa ta còn dùng giátrị thực quy ước Đó là giá trị thể hiện bởi vật đọ và được xác định bằng phươngtiện và phương pháp quy định tương ứng với cấp chính xác của nó Ví dụ:5,00001g là giá trị thực quy ước của quả cân có giá trị danh nghĩa là 5g xác địnhđược qua kiểm định và hiệu chuẩn.Tùy theo độ chính xác của việc xác định cácgiá trị này mà vật đọ được phân thành các cấp, hạng chính xác khác nhau
4.1.2-Dụng cụ đo: Phương tiện biến đổi tín hiệu về giá trị của đại lượng đo
thành những dạng mà ta có thể nhận biết trực tiếp được Căn cứ vào cách tiếpnhận giá trị của đại lượng đo ta chia ra dụng cụ đo tác động trực tiếp và dụng cụ
đo so sánh
- Dụng cụ đo tác động trực tiếp là dụng cụ trong đó đại lượng đo sau mộthay một số biến đổi sẽ tác động vào bộ phận chỉ thị và làm bộ phận này dịchtrên thang khắc vạch cho biết giá trị đại lượng đo Ví dụ: Nhiệt kế, cân đồng hồ
- Dụng cụ đo so sánh là dụng cụ ở đó phép đo được thực hiện bằng cách
so sánh đại lượng đo với vật đọ tương ứng Ví dụ: cân đều tay đòn
Trang 254.1.3-Chuyển đổi đo: Phương tiện chuyển đổi tín hiệu về đại lượng đo với
đầu vào thành tín hiệu có dạng thích hợp của đại lượng ở đầu ra Độ lớn của đạilượng ra phụ thuộc độ lớn của đại lượng vào theo một quan hệ nhất định gọi làquan hệ chuyển đổi Các chuyển đổi đo được đặc trưng bằng phạm vi chuyển đổitức giải giá trị cho phép ở đầu vào và cấp chính xác của nó
Những đặt trưng của bộ phận chỉ thị trong phương tiện đo: [2]
w Phạm vi chỉ thị là phạm vi đọc được xác định bởi giá trị đầu (giá trịnhỏ nhất) và giá trị cuối (giá trị lớn nhất)
w Phạm vi đo là một miền của phạm vi chỉ thị, trong miền này sai sốcủa dụng cụ đo hay chuyển đổi đo tại mọi số chỉ đều bé hơn sai số cho phép ứngvới cấp chính xác của nó Giới hạn bé nhất và lớn nhất của phạm vi đo gọi làgiới hạn đo dưới và giới hạn đo trên của thang đọc
w Độ chia là giá trị chia nhỏ nhất mà bộ phận chỉ thị có thể đọc được
trên phạm vi chỉ thị Ví dụ: Nhiệt kế đầu dò Checktemp 1 có giá trị chia nhỏ
nhất là 0,1 C0 tức độ chia của nó là 0,1 C0
4.2-Sai số của phương tiện đo: [1]
Do tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên và xác định trong chế tạo, bảoquản và sử dụng, giá trị danh nghĩa của vật đọ hoặc số chỉ của dụng cụ đothường có sai lệch so với giá trị của đại lượng được thể hiện hoặc đo.Những sailệch này đặc trưng cho sai số của phương tiện đo và thường được thể hiện dướinhiều hình thức khác nhau
4.2.1-Sai số tuyệt đối, sai số tương đối, sai số quy đổi:
a Sai số tuyệt đối: (D) Của vật đọ: D = Xdn – X
Của dụng cụ đo: D = Xsc – X
Trang 26Trong đó Xdn là giá trị danh nghĩa của vật đo, Xsc là số chỉ của dụngcụ đo, X là giá trị thực quy ước tương ứng Số hiệu chính cho giá trị danh nghĩacủa vật đọ hoặc cho số chỉ của dụng cụ đo có giá trị bằng sai số tuyệt đối tươngứng nhưng với dấu ngược lại.
b Sai số tương đối: Sai số tương đối của vật đọ và dụng cụ đo có biểu
Dạng sai số quy đổi thường áp dụng cho dụng cụ đo mà ở đósai số tuyệt đối không phụ thuộc giá trị đo Khi đó sai số quy đổi sẽ có giá trịnhất định trên toàn thang đo, nó đặc trưng cho độ chính xác chung của cả thang
đo Dựa vào sai số quy đổi ta có thể so sánh dễ dàng độ chính xác của dụng cụcùng loại có phạm vi khác nhau
4.2.2-Sai số hệ thống, sai số ngẫu nhiên của phương tiện đo:
a Sai số hệ thống của phương tiện đo: Phần sai số của phương tiện đo
có độ lớn không đổi hay thay đổi theo quy luật nhất định,làm cho phương tiện đokhông đúng Nói chung, sai số hệ thống của phương tiện đo thường hàm của đạilượng đo, đại lượng ảnh hưởng và thời gian
b Sai số ngẫu nhiên của phương tiện đo: Xảy ra do những biến đổi
ngẫu nhiên trong thông số của các phân tử cấu tạo, ma sát giữa các phần động
Trang 27và tĩnh, sự không ổn định của điện trở tiếp xúc Thành phần sai số ngẫunhiên này làm cho phương tiện đo không trung thành (không ổn định)
4.3-Điều kiện tiêu chuẩn, sai số cơ bản, sai số cơ bản cho phép của phương tiện đo :[1]
- Vì sai số phương tiện đo thay đổi theo các đại lượng ảnh hưởng nên đốivới mỗi loại phương tiện đo, tùy mức độ chính xác, nhà sản xuất quy định một
điều kiện môi trường nhất định (Ví dụ: độ ẩm, nhiệt độ môi trường, áp suất
không khí ) gọi là “điều kiện chuẩn” Đây cũng chính là điều kiện môi trườngđể tiến hành khắc vạch cho phương tiện đo
- Sai số được xác định trong điều kiện tiêu chuẩn trên là sai số cơ bảncủa phương tiện đo
- Ngoài điều kiện tiêu chuẩn được thể hiện bằng các giá trị tiêu chuẩn(hoặc phạm vi tiêu chuẩn) của đại lượng ảnh hưởng người ta còn quy định miềnmở rộng của đại lượng ảnh hưởng Độ biến thiên sai số của phương tiện đo khimột đại lượng ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi tiêu chuẩn (hoặc lệch ra khỏigiá trị tiêu chuẩn) nhưng còn nằm trong miền mở rộng được gọi là “sai số phụcủa phương tiện đo đối với đại lượng đó” Ví dụ: Sai số phụ theo nhiệt độ củamột dụng cụ nào đó có thể bằng 0,5% khi nhiệt độ môi trường lệch khỏi giá trịtiêu chuẩn +10C0 và còn nằm trong miền mở rộng
- Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của phương tiện đo là sai số
cơ bản cho phép, gọi tắc là sai số cho phép Sai số cho phép là sai số lớn nhấtmà phương tiện đo có thể có để vẫn được công nhận là hợp pháp và được phépsử dụng
4.4-Cấp chính xác của phương tiện đo:[1]
Trang 28Cấp chính xác là đặc trưng tổng quát của phương tiện đo Cơ sở để quyđịnh và ký hiệu cấp chính xác là độ lớn của sai số cho phép và hình thức địnhmức nó.
w Nếu phương tiện đo có sai số cho phép biểu thị dưới dạng sai sốtuyệt đối, cấp chính xác của nó được ký hiệu bằng số thứ tự hoặc các chữ cái inhoa Phương tiện đo có sai số cho phép lớn, cấp chính xác được ký hiệu bằng sốlớn hoặc chữ cái đứng ở phía sau theo thứ tự bản chữ cái Ví dụ:
- Trong dãy cân chuẩn cấp 0 ; 1 ; 2 ; 3 ; 4 ; 5 cân chuẩn cấp 5 cósai số cho phép lớn nhất
- Trong dãy quả cân cấp chính xác E1 ; E2 ; F1 ; F2 ; M1 ; M2 thìquả cân cấp chính xác M2 có sai số cho phép lớn nhất
w Các phương tiện đo trong lĩnh vực âm học, kỹ thuật ánh sáng, điện tử cóthang đo theo đơn vị logarit (như nepe, ben, dexiben) được xem như trường hợpngoại lệ Cấp chính xác của chúng được ký hiệu bằng chính giới hạn sai số chophép Ví dụ:
- Dụng cụ đo có sai số cho phép ± 0,5 dB thì cấp chính xác củanó là 0,5 dB
w Phương tiện đo có sai số cho phép biểu thị dưới hình thức sai số tuyệtđối hoặc sai số quy đổi, cấp chính xác của chúng được chọn trong dãy thập phânsau:
k = [ 1 ; 1,5 ; (1,6) ; 2 ; 2,5 ; (3) ; 4 ; 5 và 6 ] 10n, với n = 1, 2, 1,
-2,
Ký hiệu trong ngoặc 1,6.10n và 3.10n chỉ dùng trong các lĩnh vực đặt biệt
5- Quy tắc làm tròn: [2]
- Sai số phép đo cho ta biết con số nào trong trị số của kết quả đo là đángnghi ngờ Vì vậy, nếu biểu thị sai số bằng nhiều chữ số thì không có nghĩa, nêntrong trị số của sai số chỉ giữ lại một con số có nghĩa hoặc hai con số nếu con sốthứ hai bằng 5 Với những phép đo quan trọng và chính xác mới giữ lại hai consố có nghĩa trong trị số của sai số
Trang 29- Khi làm tròn trị số của kết quả đo, người ta căn cứ vào bậc số có nghĩacủa sai số Trị số của kết quả đo phải tận cùng bằng con số cùng bậc với trị sốcủa sai số Ví dụ: khi sai số là ± 0,02, con số tận cùng sẽ là con số lẽ phầntrăm, Để làm tròn số cuối cùng, ta áp dụng các quy tắc sau đây (TCVN 1517– 74).
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số 0, 2,
3 hay 4, thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽ không thay đổi (quy tròn xuống haygiảm) Ví dụ: 6,343 » 6,34
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số 6, 7, 8hay 9 thì khi quy tròn, con số cuối cùng đó sẽ tăng thêm 1 (quy tròn lên hay quytròn tăng) Ví dụ: 3,14159 » 3,1416
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và saucon số 5 có ít nhất một con số khác không thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽtăng thêm 1 (quy tròn tăng) Ví dụ: 4,3501 » 4,4
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và biếtrõ con số 5 này đã được quy tròn như thế nào thì con số 5 đó sẽ được quy trònxuống theo quy tắc 1 nếu như nó đã được quy tròn lên và sẽ được quy tròn lêntheo quy tắc 2 nếu như nó đã được quy tròn xuống Ví dụ:
6,3149 đã quy tròn thành 6,315, nếu tiếp tục sẽ quy tròn thành 6,31.4,1852 đã quy tròn thành 4,185, nếu tiếp tục sẽ quy tròn thành 4,19
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số đúng 5(sau nó chỉ toàn số 0) thì có thể tùy ý quy tròn lên hay quy tròn xuống Nhưngnếu cần sử dụng số quy tròn trong khi tính toán thì nên quy tròn như thế nào đểcon số cuối cùng là số chẵn Như vậy, con số cuối cùng đó sẽ không thay đổinếu nó là con số chẵn và sẽ tăng thêm một nếu là con số lẻ (quy tắc số chẵn) Vídụ: 1/6 = 0,0625 » 0,062 hay 3/4 = 0,75 » 0.8
` Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5nhưng không biết là con số đúng 5 hay đã được quy tròn, thì xem con số 5 đó làcon số đúng và quy tròn theo quy tắc 5
- Khi quy tròn kết quả đo, ngoài việc lấy sai số của phép đo và cách quytròn số làm cơ sở, ta cần cân nhắc kỹ lưỡng để vừa thuận tiện cho tính toán vừakhông ảnh hưởng đến độ chính xác có thể đạt được của kết quả đo.[4]
6-Kiểm định – Hiệu chuẩn:
Trang 306.1-Phân biệt kiểm định và hiệu chuẩn: [3]
² Hiệu chuẩn (Calibration): Tập hợp các thao tác để thiết lập, trong
điều kiện quy định, mối quan hệ giữa giá trị của đại lượng được chỉ bởi dụng cụ
đo hoặc hệ thống đo, hoặc giá trị thể hiện bằng vật đọ hoặc mẫu chuẩn và giá trịtương ứng thể hiện bằng chuẩn
² Kiểm định (Verification): Toàn bộ thao tác do một tổ chức của cơ
quan quốc gia về đo lường hợp pháp (hoặc một tổ chức ủy quyền về pháp lý)tiến hành nhằm xác định chứng nhận rằng phương tiện đo thỏa mãn hoàn toàncác yêu cầu quy định về kiểm định Kiểm định bao gồm việc xem xét và đóngdấu
Như vậy về mặt kỹ thuật, hiệu chuẩn và kiểm định tương tự như nhau,đều là việc xác định sai số và các đặc trưng đo lường khác nhau của phương tiện
đo bằng cách so sánh nó với chuẩn
Kiểm định là biện pháp quản lý nhà nước đối với phương tiện đo, đượcquy định bằng luật pháp, do cơ quan Quản lý Nhà nước về đo lường hoặc cơ sởđược ủy quyền kiểm định Nhà nước thực hiện và là bắt buộc đối với các phươngtiện đo nằm trong danh mục phải qua kiểm định Nhà nước Còn hiệu chuẩn làhoạt động kỹ thuật bình thường và cần thiết của cơ sở sản xuất, kinh doanh,nghiên cứu để biết được tình trạng của phương tiện đo trong quá trình sử dụnghoặc bảo quản chúng
6.2-Cách chọn chuẩn và các phương pháp kiểm định, hiệu chuẩn:6.2.1-Cách chọn chuẩn:
Để đảm bảo tính kinh tế và độ tin cậy của việc kiểm định và hiệuchuẩn, cần phải chọn chuẩn phù hợp với đối tượng và nhu cầu kiểm định, hiệuchuẩn Thường sai số của chuẩn càng nhỏ so với sai số cho phép của đối tượng
Trang 31kiểm định, hiệu chuẩn, thì kết quả càng tin cậy Tuy nhiên nếu chọn chuẩn quáchính xác sẽ không cần thiết và không kinh tế Vì vậy trong các quy trình kiểmđịnh, hiệu chuẩn thường quy định các tỷ số nhất định giữa sai số của chuẩn vàsai số cho phép của đối tượng kiểm định, hiệu chuẩn để hướng dẫn cách chọnchuẩn Đối với từng phương tiện đo, tỷ số có thể là 1:3 ; 1:4 ; 1:5 Tỷ số 1:2 cũngcó thể dùng với điều kiện sai số ngẫu nhiên của chuẩn và phương tiện đo cầnkiểm định, hiệu chuẩn nhỏ không đáng kể, độ chính xác của chúng chủ yếu dosai số hệ thống quyết định.[1]
6.2.2-Các phương pháp kiểm định, hiệu chuẩn:
Ø So sánh trực tiếp vật đọ với vật đọ chuẩn, dụng cụ đo với dụng cụ
đo chuẩn
Ø So sánh vật đọ với vật đọ chuẩn qua một dụng cụ so sánh
Ø Dùng dụng cụ đo đại lượng thể hiện bằng vật đọ hoặc đo một đạilượng nào đó mà đại lượng này lại được so sánh với vật đọ chuẩn [4]
` Các điểm cần lưu ý trong các quy trình thẩm định : [1]
a. Kiểm tra yêu cầu kỹ thuật: (thường áp dụng cho phương tiện đo)
- Tức kiểm tra bên ngoài và khả năng làm việc của phươngtiện đo Mục đích nhằm phát hiện những sai hỏng, khuyết tật bên ngoài ảnhhưởng đến sự làm việc bình thường của phương tiện đo Ví dụ, các vết nứt, mờ
Trang 32trên mặt kính hay kim bị gãy Việc kiểm tra này cần thiết để loại ngay từ đầunhững phương tiện đo không đúng với quy cách
- Cũng có thể tiến hành việc kiểm tra này tại nơi cần xác địnhthông số vật lý như kiểm tra cửa dẫn khí trước khi tiến hành thẩm định lưu lượngkhí tại cửa dẫn khí
b. Kiểm tra đo lường:
- Nhằm mục đích xác định sai số cơ bản của phương tiện đohay thông số vật lý có nằm trong giới hạn cho phép hay không Bản chất củaviệc này là so sánh phương tiện đo hay thông số đo với một phương tiện đochuẩn (vật đọ chuẩn) có độ chính xác cao hơn
c. Biên bản thẩm định:
+ Biên bản thẩm định là tài liệu ghi lại các kết quả trongquá trình thẩm định, đặc biệt là các số liệu và kết quả tính toán của việc kiểmtra đo lường Đây là tài liệu gốc hết sức quan trọng vì nó là cơ sở để đánh giá,phân tích kết quả thẩm định Do tính chất quan trọng của biên bản thẩm định,nên trong quy trình thẩm định có quy định về mẫu biên bản thẩm định cho từngloại phương tiện đo hay thông số vật lý cũng như cách ghi biên bản thẩm định.Thường biên bản thẩm định ghi lại các nội dung chính sau:
- Các đặc trưng và thông số danh nghĩa của phương tiện đo cầnthẩm định, các dấu hiệu chính thức của phương tiện đo như số hiệu, nơi sản xuất,nơi sử dụng, phạm vi đo
- Điều kiện thẩm định Ví dụ: nhiệt độ môi trường, độ ẩm, ápsuất khí quyển và các điều kiện đặc biệt khác
- Kết quả của từng lần đo riêng rẽ trong quá trình thẩm định
- Kết quả xử lý các số liệu thẩm định
+ Việc dựa vào biên bản thẩm định để đánh giá phương tiện
đo hay thông số vật lý đã có những chỉ dẫn, quy định trong từng quy trình tuântheo tiêu chuẩn của nhà sản xuất, hay theo tiêu chuẩn của cơ sở sản xuất, kinhdoanh, nghiên cứu đề ra
` Những trang mục trên chỉ nêu phần nhỏ về Đo lường nhằm phục vụ công
tác đo lường trong nhà máy sản xuất thuốc theo tiêu chuẩn GMP
Trang 33THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC GOOD MANUFACTURING PRACTICE
(GMP)
- ` `
-GMP (Good manufacturing practice) – Thực hành tốt sản xuất thuốc làmột khái niệm có trên thế giới khoảng 30 năm nay Nó không chỉ là một kháiniệm đơn thuần mà còn là một yêu cầu phấn đấu của toàn ngành Dược phẩm đểcó những sản phẩm có chất lượng, với ý nghĩa đó GMP đúng là một chương trìnhhành động thiết thực [7]
1-Tình hình áp dụng GMP trên thế giới và tại Việt Nam:
Q Năm 1963 Mỹ là nước đầu tiên ban hành nguyên tắc GMP trên toànquốc, chúng được dựa trên luật ban hành vào năm 1962 về việc bảo quản thựcphẩm, mỹ phẩm và thuốc
Q Năm 1969 tại úc lần đầu tiên ban hành GMP đầu tiên trên cả nước
Q Ở Anh xuất bản cuốn “Sách hướng dẫn vàng”, lần thứ nhất vào năm
1971, lần thứ hai vào năm 1977, lần thứ ba vào năm 1983
Q Tại Pháp văn bản chính thức đầu tiên về Thực hành sản thuốc tốt banhành vào 10/1978 [5]
Q Sau khi thành lập khối Liên minh Châu Âu (EU), nguyên tắc GMP đãđược áp dụng tại nhiều nước thuộc Châu Âu Tất cả đều dựa vào tài liệu chỉ dẫncủa Liên minh Châu Âu: “Thực hành tốt sản xuất thuốc ở các nước Châu Âu”.Tài liệu này hết sức quan trọng Nó cho phép kinh doanh thuốc tự do giữa cácnước thành viên Ngoài ra còn đề cập đến việc buôn bán một thuốc mới giữa cácnước thành viên với một thị trường mà EU đã chấp nhận.v.v…
Trang 34Q Những hướng dẫn GMP bằng tiếng Anh của 27 nước trên thế giới đượctổng hợp trong cuốn “International Drug GMP’s” Những tiêu chuẩn GMP thếgiới bao gồm những hướng dẫn gần đây nhất của WHO, Khối Châu Á, Khối EU,và những quy định về thanh tra Dược [13]
Q Ngành Dược Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với GMP vào năm 1984, từ đóchúng ta liên tục có những hội thảo, lớp tập huấn nhằm một mặt phổ cập kháiniệm và nội dung của GMP trong đông đảo cán bộ quản lý kỹ thuật, một mặtxác định phương án chấn chỉnh tổ chức và hoạt động phù hợp với yêu cầu mới.[7]
- Chính sách mở cửa của Đảng, nhà nước và việc trở thành thành viênASEAN là động lực thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệp Dược Việt Nam,đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách cho ngành Dược nước ta: cần phải triển khaiGMP một cách đồng bộ trên cả nước
- Việt Nam bắt đầu triển khai việc áp dụng GMP ASEAN từ tháng 9năm 1996 [5], đến nay ở các tỉnh phía Nam đã có một số Xí nghiệp Dược đạttiêu chuẩn GMP ASEAN: Xí nghiệp Dược phẩm Hậu giang, Xí nghiệp Dượcphẩm Đồng tháp, Xí nghiệp Dược phẩm Sanofi
- Hiện nay, Xí nghiệp liên doanh Rhône - Poulenc Rorer Việt Namđang triển khai xây dựng nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP ASEANvà tiến đến tiêu chuẩn GMP quốc tế
2-Mục đích của GMP là đảm bảo chất lượng:
2.1-Quan niệm về chất lượng thuốc:
+ Yêu cầu phải áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn của GMP vào trongsản xuất thuốc xuất phát từ quan niệm về chất lượng thuốc
+ Đối với người sử dụng thuốc, yêu cầu đối với chất lượng thuốc là:[6]
Trang 35+ Tính hiệu quả.
+ Tính an toàn
+ Không độc hại
+ Đứng về mặt Y-Dược học ngày nay, quan niệm về chất lượng thuốc córất nhiều thay đổi so với trước
- Trước đây thuốc đạt chất lượng được hiểu là sự đảm bảo các tiêuchuẩn kiểm nghiệm: cảm quan, định tính, định lượng Với quan niệm này, người
ta đã thực hiện việc kiểm nghiệm để đánh giá chất lượng thuốc mà trong đó mẫuđược lấy tự nhiên trong các lô mẻ sản xuất Như vậy việc kiểm nghiệm chỉ cónghĩa khi những lô hoàn toàn đồng nhất
- Trải qua thời gian phát triển lâu dài, dựa vào những cơ sở khoa họcđã có và kết hợp với các ngành khoa học mới hình thành: Dược động học(Pharcocinétique) và Sinh dược học (Biopharmacie) Quan niệm về chất lượngthuốc đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầu củangười tiêu dùng
- Theo Hội Dược học Mỹ (American Pharmaceutical Association),thuốc được xem có chất lượng khi:
§ Chứa đủ số lượng đến dạng phân liều nhỏ
§ Không có tạp chất
§ Duy trì toàn vẹn lượng hoạt chất, hoạt tính trị liệu, hìnhdạng bên ngoài cho đến khi sử dụng
§ Sau khi đưa thuốc vào cơ thể, thuốc phóng thích ra hoạt chấtvới liều sinh khả dụng toàn vẹn.[9]
- Một quan niệm khác cho rằng một sản phẩm thuốc đạt chấtlượng khi nào các quá trính đã quy định và được tuân theo sẽ cho một sản phẩmđáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và khi sản phẩm hội đủ các yếu tố:
- Có chứa đúng các thành phần theo tỉ lệ đã quy định
Trang 36- Được sản xuất đúng quy trình đã định.
- Có độ tinh khiết theo yêu cầu
- Được đóng gói trong các đồ bao gói thích hợp
- Các bao gói có nhãn đúng quy cách (hoặc có thể nói cách kháclà đánh dấu rõ ràng hay dễ nhận.) [7]
2.2-Đánh giá chất lượng thuốc:
+ Về phương diện sản xuất, chất lượng của một thuốc được xéttheo hai khía cạnh sau:
+ Chất lượng từ quan niệm
+ Chất lượng về tính phù hợp [6]
2.2.1-Chất lượng từ quan niệm: (qualité de conception)
Tức trù liệu xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng của thuốc mẫu đăngký (prototype) Điểm quan trọng là các thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hànhtrên một lô thuốc mẫu chuẩn ban đầu không thể nào lập lại thường xuyên được
Do đó, thuốc mẫu chuẩn này phải được mô tả một cách chính xác để có thể táisản xuất ra chúng Sau này trên mỗi lô sản xuất, người ta chỉ có thể tiến hànhcác thử nghiệm lý hoá để kiểm tra chất lượng thuốc Nói cách khác đó là cáctiêu chuẩn đăng ký và làm tham chiếu để xem xét đánh giá chất lượng thuốctrong khi sản xuất sau này
2.2.2-Chất lượng về tính phù hợp: (qualité de conformité)
Tức xem xét tính phù hợp, tính đồng đều (regularité) củathuốc trong tất cả các lô sản xuất so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký tứctiêu chuẩn của thuốc mẫu chuẩn đăng ký
+ Một khi đảm bảo được đồng thời hai khía cạnh trên tức đã đảmbảo được chất lượng thuốc Đảm bảo chất lượng thuốc, trên nguyên tắc khônglàm thay đổi giá trị trung bình mà là làm giảm thiểu độ phân tán, nghĩa là giảmthiểu độ sai lệch so với thuốc chuẩn đã đăng ký[6] Để thực hiện được điều nàythì phải làm chủ một cách nghiêm ngặt tất cả các giai đoạn: sản xuất, đónggói Hay nói cách khác là phải áp dụng các nguyên tắc GMP
Trang 37q Như vậy GMP là yếu tố không thể thiếu trong công tác bảo đảm chất lượng.
3-Nội dung chính của GMP:
Mặc dù GMP là toàn bộ các quy định được công bố thành một dạng tài liệuchi tiết, nhưng thực tế có những phương pháp khác hay cách áp dụng khác miễnlà đạt được mục đích đảm bảo chất lượng Do vậy việc triển khai GMP tại các xínghiệp trong hay ngoài nước có thể có những điểm khác nhau trong khi thựchiện Tuy nhiên nội dung cơ bản của GMP hoàn toàn giống nhau Nó luôn baogồm các yếu tố sau:
3.2-Nguyên liệu:
- Chỉ có những nguyên liệu tốt thì mới tạo được sản phẩm tốt.Chính vì vậy nguyên liệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà
Trang 38máy đề ra hay nói cách khác là tiêu chuẩn của GMP, nhằm đảm bảo việc sảnxuất thuốc đạt chất lượng đã đăng ký
- Danh từ nguyên liệu bao gồm: hóa chất (dùng cho sản xuất, cho phòngthí nghiệm, cho nghiên cứu), tá dược (tinh bột, vaselin …), chất phụ gia (màu …),vật liệu bao bì
- Nguyên liệu phải được dán nhãn mang tên quy định trong tiêu chuẩnkỹ thuật trước khi đưa vào sử dụng Không được phép dùng tên viết tắt, mã sốhoặc tên khác Mỗi khi giao nhận nguyên liệu phải kiểm tra bằng cảm quan vềđiều kiện chung, đồ chứa đựng phải còn nguyên vẹn, sự hư hỏng và nguy cơ bị
hư hỏng Đồng thời lấy mẫu để thử nghiệm so sánh với tiêu chuẩn của nguyênliệu ban đầu.[7]
3.3-Máy móc:
Đây là thế mạnh của nền công nghiệp Dược hiện đại, tất cả máy móckhi đưa vào sử dụng cần lưu ý các điểm sau:
- Đòi hỏi phải tốt, tính năng phù hợp với mục đích sử dụng, đầy đủ hồ
sơ, lý lịch về máy
- Dễ dàng, thuận tiện trong việc lau chùi cả trong lẫn ngoài sau khisản xuất
- Các phần tiếp xúc với nguyên liệu hay sản phẩm phải đảm bảokhông có các phản ứng hoặc hấp thu nguyên liệu nếu có thì ở mức thấp nhất
- Máy móc phải được thiết kế, bố trí phù hợp với quá trình sản xuất vàđể tránh được ô nhiễm chéo
- Việc bảo quản máy phải tiến hành thường xuyên và phải kịp thờisửa chữa khi cần
- Bên cạnh đó các thiết bị phụ cần cho máy phải được để ở chỗ tươngđối rộng để tránh va chạm do chồng chất và để dễ tìm khi cần
Trang 393.4-Tài liệu:
Các tài liệu là việc cần thiết đầu tiên trong bảo đảm chất lượng.Mục đích là để xác định hệ thống kiểm tra, giảm nguy cơ sai lầm xảy ra khi traođổi bằng lời nói, đề bảo đảm rằng các nhân viên được học tập chi tiết và chấpnhận quy trình có liên quan và cho phép điều tra nghiên cứu, truy tìm các sảnphẩm xấu Hệ thống tài liệu phải làm sao cho lịch sử của mỗi lô sản phẩm baogồm các việc sử dụng và xử lý các nguyên liệu ban đầu, vật liệu bao gói, cácsản phẩm trung gian, sản phẩm chưa đóng gói và thành phẩm đều có thể xácđịnh.[7]
3.5-Môi trường:
Để có được một sản phẩm đạt tiêu chuẩn về cấp độ sạch thìtrước hết cần phải chú ý đến việc loại sự ô nhiễm do vi khuẩn hay bụi Tạo ramột môi trường sạch, được tiến hành ngay từ lúc bắt đầu xây dựng nhà máy vàphải duy trì liên tục trong suốt thời kỳ hoạt động của nhà máy Nó phụ thuộc vàoviệc xây dựng nhà máy và yêu cầu cấp độ sạch, vô trùng của từng loại sảnphẩm
3.5.1-Nhà xưởng:
a-Vị trí:
Xây dựng nhà xưởng ở vị trí thích hợp tránh sự ô nhiễm do môitrường xung quanh hoặc do các hoạt động gần đó (vùng dân cư, mỏ than …)
b-Xây dựng thiết kế đúng chức năng:
- Bố trí các phòng, các phân xưởng, lối đi cho hợp lý để tránh sự ônhiễm chéo
- Phòng thay quần áo phải tách riêng hoặc ngăn cách với khu sảnxuất Nhà vệ sinh phải thông gió tốt và không được mở trực tiếp vào khu sảnxuất
- Sàn nhà, tường, trần nhà luôn sạch dễ lau, không hở nứt
- Hệ thống ánh sáng, thông gió phải đảm bảo tốt
- Các ống ga, cống rãnh phải có kích cỡ thích hợp, trách cáckhe hở
3.5.2-Yêu cầu cấp độ sạch, vô trùng của từng loại sản phẩm:
Trang 40+ Tùy sản phẩm, ta có thể tuân theo một tiêu chuẩn môi trường cụthể
Số bụi cho phép trong 1m 3
(bằng hay trên)
Số vi sinh vật sống tối
đa cho phép trong 1m 3
Tiêu chuẩn phân loại gần nhất
- Buồng sạch cấp II dùng cho thao tác vô trùng Việc vàobuồng đó phải đi qua một chốt gió hay lối đi thích hợp Buồng này có ít hơn