Tiểu thuyết sở dĩ đã trở thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới mới ấy sản sinh ra và đồng chất với thế giới ấy v
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ HOÀNG YẾN
TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932 - 1945
TỪ GÓC NHÌN MẪU GỐC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TÔN THẤT DỤNG
Huế, Năm 2014
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Phan Thị Hoàng Yến
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 3iii
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Huế đã dạy dỗ, cung cấp tri thức cho tôi trong suốt 2 năm học qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo, TS Tôn Thất Dụng, người trực tiếp hướng dẫn, định hướng tri thức và thao tác khoa học, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã là nguồn động viên, chia sẻ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
Học viên thực hiện Phan Thị Hoàng Yến
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC i
PHẦN I MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
2.1 Tình hình nghiên cứu về Mẫu gốc trên thế giới 6
2.2 Tình hình nghiên cứu Mẫu gốc ở Việt Nam 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu 10
3.2 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của đề tài 10
6 Cấu trúc của luận văn 11
PHẦN II NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1:LÝ THUYẾT VỀ MẪU GỐC VÀ MẪU GỐC
TRONG TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932 - 1945 12
1.1 Những khái niệm chung 12
1.1.1 Mẫu gốc 12
1.1.2 Vô thức tập thể 13
1.1.3 Biểu tượng 15
1.1.4 Giấc mơ, chiêm mộng 17
1.2 Các loại mẫu gốc 18
1.2.1 Persona (mặt nạ) 19
1.2.2 Shadow (bóng âm) 19
1.2.3 Anima (tính nữ, linh âm) 19
1.2.4 Animus (tính nam, linh dương) 20
1.2.5 Self (vô thức tự ngã) 21
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 52
1.3 Các tính chất của mẫu gốc 21
1.4 Mẫu gốc trong tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1932 - 1945 23
1.4.1 Thành tựu tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1932 - 1945 23
1.4.1.1 Tiểu thuyết hiện thực từ 1932 đến 1935 24
1.4.1.2 Tiểu thuyết hiện thực từ 1936 đến 1939 25
1.4.1.3 Tiểu thuyết hiện thực từ cuối 1939 đến 1945 26
1.4.2 Mẫu gốc trong tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1932 - 1945 28
CHƯƠNG 2: MẪU GỐC TRONG TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932 - 1945 TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG 31
2.1 Hệ biểu tượng 31
2.1.1 Những giọt nước lấp lánh 31
2.1.2 Trăng huyền bí 36
2.1.3 Ánh sáng và cát bụi 38
2.1.4 Bóng đêm u tối 40
2.2 Nguyên lý tính Mẫu và Nữ tính vĩnh hằng 43
2.2.1 Nguyên lí tính Mẫu 43
2.2.2 Nữ tính vĩnh hằng 47
2.3 Giấc mơ như một cổ mẫu 50
2.3.1 Giấc mơ - sự lặp lại của những kí ức, ám ảnh đời thường 50
2.3.2 Giấc mơ - sự mở rộng không gian sống 51
2.3.3 Giấc mơ - sự dự cảm, linh ứng với tương lai 52
2.3.4 Giấc mơ - sự trỗi dậy của những ẩn ức kìm nén 52
CHƯƠNG 3: MẪU GỐC TRONG TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932 - 1945 TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN 55
3.1 Trầm tích dân gian 55
3.1.1 Ảnh hưởng của văn học dân gian 55
3.1.1.1 Các thể loại văn học dân gian 55
3.1.1.2 Các yếu tố văn học dân gian 56
3.1.1.2.1 Tục ngữ, thành ngữ, ca dao 56
3.1.1.2.2 Thủ pháp nghệ thuật dân gian 59
3.1.2 Phong tục, lễ nghi, trò chơi dân gian 61
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 63.2 Mã nhân vật 63
3.2.1 Nhân vật lưỡng tính 63
3.2.2 Nhân vật con rối 66
3.2.3 Nhân vật vô thức 69
3.3 Mã không gian và thời gian 72
3.3.1 Mã không gian 72
3.3.2 Mã thời gian 77
PHẦN III: KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 74
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế kỉ XX ghi dấu cuộc chuyển mình mạnh mẽ của Văn học Việt Nam Các thể loại văn học đều đã chuyển sang quỹ đạo hiện đại hóa Nếu như ở thời kì trung đại, thơ là thể loại chính thống thì bước sang thế kỉ XX, tiểu thuyết đã giành được vị trí chủ đạo trên văn đàn
Tiểu thuyết là máy cái của văn học - nhận xét ấy không cũ khi vận vào để soi rọi tình hình tiểu thuyết, sẽ là không đầy đủ trong công việc nhận diện văn học nếu không nói đến tiểu thuyết Tiểu thuyết là một thể loại chủ lực, có vị trí quan trọng trong loại hình văn xuôi nghệ thuật Không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới, tiểu thuyết luôn là vấn đề lôi cuốn sự quan tâm chú ý của cả giới sáng tác,
lý luận phê bình và công chúng độc giả “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy
nhất luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi Tiểu thuyết sở dĩ đã trở thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới mới ấy sản sinh ra và đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt”
(M Bakhtin) Văn học Việt Nam thế kỉ XX ghi nhận những phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết, từ những mò mẫm, dò đường đến những thành tựu rực rỡ Đặc biệt giai đoạn 1932 - 1945 tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ trong tiến trình hiện đại hóa văn học Nếu như những năm đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết chỉ mới dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm với số lượng ít ỏi, nội dung, nghệ thuật còn đơn giản thì đến giai đoạn này tiểu thuyết phát triển nhanh chóng, vượt bậc với những trào lưu, khuynh hướng
phong phú Đến mức Vũ Ngọc Phan trong bộ sách Nhà văn hiện đại đã chia tiểu
thuyết thành các hình thức thể loại: tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lí, tiểu thuyết truyền kì, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết trinh thám
Làm nên một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam hiện đại là phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 với những kiện tướng như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,
Huy Cận, Nguyễn Bính,… Nhưng tạo nên những bộ “tấn trò đời” để lưu truyền hậu
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 8thế lại là những bộ tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực như Vũ Trọng Phụng với
Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê,… Nguyên Hồng với Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Nam Cao
với Sống mòn, Ngô Tất Tố với Tắt đèn,… Không mang màu sắc lãng mạn, huyền
ảo với những gam màu tình yêu cháy bỏng như tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực đi sâu vào khai thác hiện thực cuộc sống với bao ngổn ngang, hỗn tạp như
nó vốn có, khai thác con người bên trong con người Với sự phát triển gấp gáp theo quy luật gia tốc của thời hiện đại, văn học Việt Nam 1932 - 1945 nói chung và tiểu thuyết hiện thực nói riêng đã đạt đến đỉnh cao thành tựu, sản sinh ra những nhà tiểu thuyết không chỉ làm vinh quang cho chính họ, cho thời đại của họ mà cho cả lịch
sử văn học Việt Nam
1.2 Tác phẩm văn chương đầu tiên của nhân loại mà cổ mẫu ngả bóng vào là huyền thoại nhưng cổ mẫu không chỉ náu mình trong huyền thoại Người đọc cổ mẫu không chỉ tìm về những trang viết của quá khứ mù xa, mà còn phải đắm mình trên dòng sông chữ nghĩa hôm nay Tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1932 - 1945 đã làm cuộc hành trình về với thuở nguyên sơ của loài người, trở về với thế giới biểu
tượng “mãi mãi gợi cảm đến cái bất tận”, tìm về với sự “ngơi nghỉ, sự an toàn” và
“sự tái sinh”, là “cõi ẩn náu vĩ đại của loài người, đó chính là Mẹ vĩ đại”, tìm về
với những trầm tích văn hóa dân gian ẩn sau từng con chữ, và sau nhiều mệt mỏi, va vấp con người náu mình trong những giấc mơ, tìm về với chính bản thân mình, hay chính là tìm về với thế giới Mẫu gốc qua cây cầu văn chương Đó là những giá trị hằng hữu sau nhiều thế kỉ quay lưng của con người, nó lặn xuống các tầng sâu vô thức - quê hương của con người và của vạn vật Những đáy nền hiện hữu ấy vẫn luôn ám ảnh nhân loại như một vẫy gọi Nó là thực tại cuối cùng, là ý thức tuyệt đối, là đấng tối cao,… của mọi sáng tạo nghệ thuật
Có mặt trong huyền thoại và rồi tái sinh, hóa thân trong tác phẩm văn học thành văn nhiều thế kỉ, cho đến nay, Mẫu gốc đã có một hành trình rất dài cùng nhân loại Với mong muốn tìm hiểu thêm về Mẫu gốc theo lí thuyết của C Jung, tôi
đã lựa chọn đề tài Tiểu thuyết hiện thực Việt Nam 1932 - 1945 từ góc nhìn Mẫu
gốc như một minh chứng cho sự tiếp thu mẫu gốc trong văn học Việt Nam, đặc
biệt trong một thể loại luôn biến động ở một giai đoạn đầy biến động của văn học Việt Nam
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 96
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về Mẫu gốc trên thế giới
Ngay từ khi ra đời, lý thuyết Mẫu gốc của C Jung là một vẫy gọi hấp dẫn đối với giới phê bình, được nhiều nhà phê bình tiếp bước, đó là Ch Bauduin, J Campbell,
M Eliade, N Frye,… Họ đã triển khai lý thuyết này theo những hướng khác nhau
Ch Bauduin tập trung vào anh hùng như Iliade, Ramayana,… để phân tích
tâm lý huyền thoại anh hùng nhằm tìm ra các tổ hợp về cái chết và sự tái sinh, người thế mạng,…
J Campbell dẫn ra các Mẫu gốc: người anh hùng, vị thần, nhà tiên tri để tìm các giai đoạn biểu tượng thích hợp cho đời sống con người thời hiện đại Qua các sáng tác huyền thoại Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc,… ông đều tìm ra những nguyên mẫu và chức năng tâm lý như nhau của sự sống và cái chết, sự tái sinh,…
Và theo ông, về mặt chức năng, nó chính là chìa khóa lý giải nguyên lý tổng hợp bất biến trong bản tính con người
M Eliade thì lưu ý rằng, kí ức tập thể mang tính phản lịch sử, nó chỉ thừa
nhận các phạm trù và nguyên mẫu, chứ không thừa nhận các sự kiện lịch sử Qua
đó, ông đặt vấn đề về cách ứng xử của con người trong cuộc chống chọi với nỗi đau khổ và nỗi khiếp sợ muôn thuở trước lịch sử
G Empedocle.Bachelard thay thế các “giấc mơ” bằng “sự mơ mộng” Theo
đó ông cho rằng thơ ca chính là sự mơ mộng xoay quanh vật chất nguyên thủy, những yếu tố đầu tiên làm nên thế giới: đất, nước, lửa, không khí Và chính các Mẫu gốc đó đã làm nên đặc trưng nghệ thuật của các thiên tài như E Poe, Novalis, Hoffman,… Ông cũng là người khởi danh cho các mặc cảm Promethee,
Đặc biệt, Northrop Frye trong công trình Giải phẫu phê bình đã chỉ ra huyền
thoại là một quyền lực thông tin trung tâm cung cấp ý nghĩa Mẫu gốc cho nghi lễ và cho lời sấm truyền, vì thế huyền thoại là mẫu gốc Trong văn học, Mẫu gốc hiện lên trong cấu trúc ngôn từ, thậm chí trong những con chữ được tác giả sử dụng một cách đặc biệt như trường hợp lặp phụ âm đầu chẳng hạn Về phương diện thể loại văn học, N Frye đã thay thế Vô thức tập thể của người sáng tác bằng vô thức của thể loại Dưới cái nhìn của N Frye, đó không đơn thuần là hiện tượng chuyển hóa
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 10của thể loại trong văn học mà là hiện tượng chuyển hóa của huyền thoại trong văn học Điều này gợi ra một hình thức phê bình tổng thể mà trước hết là phê bình huyền thoại, phê bình Mẫu gốc
E.M Meletinsky, tác giả cuốn Thi pháp của huyền thoại (do Trần Nho Thìn
và Song Mộc dịch) đã vận dụng khá thành công thuật ngữ của C Jung vào nghiên cứu văn học dân gian cũng như văn học hiện đại, đặc biệt là khuynh hướng tiểu thuyết huyền thoại của các nhà văn hậu hiện đại
2.2 Tình hình nghiên cứu Mẫu gốc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người đầu tiên tiếp cận một cách có hệ thống lý thuyết Mẫu gốc của C Jung là triết gia Kim Định, từ những năm 70 của thế kỉ XX, trong các công
trình như: Loa thành đồ thuyết, Vũ trụ Nhân linh - Tâm linh,… Xuất phát từ đó, ông
soi chiếu vào các thần thoại như An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy, Nữ Oa,… để lập thuyết cho triết học Việt Nho của mình
Nhà phê bình Đặng Anh Đào, trong bài Về vấn đề gặp gỡ và ảnh hưởng của
văn học Pháp đối với văn học Việt Nam in trong Việt Nam và Phương Tây - Tiếp
nhận và giao thoa trong văn học đề cập đến vấn đề “motip về thiên đường đã mất
vốn tiềm ẩn ở cả văn hóa Trung Hoa và Việt Nam như một Mẫu gốc của văn học nhân loại”[10, tr 327] Bà coi đó như một yếu tố văn hóa của dân tộc và nhà văn
mang tính siêu không gian
Hai công trình nghiên cứu của nhà phê bình Đỗ Lai Thúy: Hồ Xuân Hương -
Hoài niệm phồn thực và Bút pháp của ham muốn đã nhìn nhận mẫu gốc như một
yếu tố tái sinh nghĩa và là mã nghệ thuật cơ bản khi đi tìm bí ẩn thơ Hồ Xuân Hương, thơ Hoàng Cầm,… Nếu như ở hiện tượng bà chúa thơ Nôm là cách lí giải từ tín ngưỡng phồn thực và các biểu tượng siêu mẫu về văn hóa phồn thực, thì ở nhà thơ xứ Kinh Bắc là không gian văn hóa quan họ cùng những hội hè đình đám, đặc biệt là mặc cảm Oedipe,… là những hướng chính để đi tìm mắt thơ
Bên cạnh đó bài tham luận của Nguyễn Thị Thanh Xuân Đi tìm cổ mẫu trong
văn học Việt Nam in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam - Những khả năng và
thách thức đã chỉ ra những cổ mẫu trong thơ Hồ Xuân Hương, thơ Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng và truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Trong đó yếu tố đất, nước, trăng, máu, biển,… được vực dậy từ vô thức tập thể - những kinh nghiệm nguyên sơ
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 118
nhất về đất và nước Bà cho rằng cái nhìn và bút pháp của Hồ Xuân Hương, đôi chỗ
có cái gì đó gần giống với Bùi Giáng, một nhà thơ hiện đại: “thơ Hồ Xuân Hương
ngả về bản năng, thơ Bùi Giáng thiên về bản nhiên Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta chừng như thấy một người đàn bà Việt nghịch ngợm tai quái vục chiếc gáo dừa vào chiếc lu vô thức nhân loại, quậy chơi, và múc ra một hỗn hợp những Đất - Nước - Trời - Người, vung ra tung tóe” [16, tr 196] Dưới cái nhìn cổ mẫu, thơ
Tản Đà đã vĩnh cửu hóa vầng trăng tự tại, biểu tượng thế giới an nhiên chốn thiên
thai, và thơ Hàn Mặc Tử thì tràn ngập trăng “lai láng như nước và cần như hơi
thở” [16, tr 197] Đến đương đại, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc nối mạch
trở lại với huyền thoại Đất, nước, biển, sông, rừng, gió, mưa, lửa, mẹ,… với tư cách là những Cổ mẫu, ám ảnh Nguyễn Huy Thiệp không kém con người, và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng làm cho trang viết của ông có chiều sâu
Nó tham dự vào văn chương đầy mê đắm và khuất phục
Tác giả Đào Ngọc Chương trong Tạp chí nghiên cứu văn học số 11 năm
2008, qua sự khảo sát có chiều sâu các cống hiến của C Jung, J Frazer, N Frye,
G Bachelard đã nhận diện rằng archetype là dữ liệu trực tiếp của kinh nghiệm tâm linh mà biểu hiện rõ nhất của nó được lưu giữ trong huyền thoại Chính cây cầu Cổ mẫu đã nối huyền thoại với vô thức tập thể, và về sau, theo C Jung, chính Cổ mẫu
đã nối huyền thoại với văn học thông qua Vô thức tập thể Đó là con đường chuyển hóa của huyền thoại theo cách nhìn của C Jung, nếu chúng ta lý giải một cách sơ
lược nhất Theo tác giả, đó là kết quả của “Hiện tượng chuyển hóa trong văn học -
Trường hợp huyền thoại” (tên bài viết), qua đó ông cổ súy cho một phương pháp
phê bình mới, phê bình Cổ mẫu
Trong bài viết Phân tâm học vô thức với việc phân tích cấu trúc tác phẩm
văn học của Nguyễn Văn Dân, in trong Tạp chí văn học số 4/2003 đã chỉ ra quá
trình phát triển tâm phân học từ Freud đến C Jung Tác giả cho rằng cơ sở lí thuyết của tâm phân học Freud là cá nhân mỗi con người đều có những bản năng tính dục
từ thời ấu thơ Đến C Jung, ông vẫn giữ khái niệm “vô thức làm khái niệm trung
tâm cho tâm lí học của ông nhưng ông phản đối kịch liệt cái yếu tố tính dục trong quan niệm của Freud, để rồi ông thay vô thức cá nhân của Freud bằng vô thức tập thể Và theo ông, cái vô thức tập thể được thể hiện ra thành các cổ mẫu trong văn học và nghệ thuật” [7, tr 28]
Demo Version - Select.Pdf SDK