Triết học nghiên cứu, giải thích thế giới ở tầm chung bao quát nhất hay nói cách khác chính là nghien cứu về thế giới quan. Triết học la hạt nhân lý luận của thế giới quan. Chính điều đó đã khiến ta phải đặt ra câu hỏi: Thế giới quan là gi? Có bao nhiêu loại thế giới quan? Thế nào là thế giới quan duy vật biện chứng? Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng ra sao? Áp dụng thế giới quan duy vật biện chứng vào ngành chuyên môn của bản thân như thế nào?Trong quá trình thực hiện đề tài được giao: “Phân tích vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với khoa học chuyên ngành. Liên hệ về quan hệ giữa ngành chuyên môn của bản thân anh (chị) với triết học”,
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC 2
1.1 Thế giới quan duy vật biện chứng 2
1.2 Nội dung thế giới quan duy vật biện chứng 6
1.2.1 Quan niệm duy vật về thế giới 6
1.2.2 Quan điểm vật chất về xã hội 9
1.3 Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với khoa học chuyên ngành……… 11
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VỚI TRIẾT HỌC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHÂN LỰC & THƯƠNG MẠI VINACONEX 15
2.1 Giới thiệu chung về Công ty CP Nhân lực & Thương mại Vinaconex (Vinaconex MEC) 15
2.1.1 Ngành nghề sản xuất kinh doanh 16
2.1.2 Nhiệm vụ 16
2.1.3 Giá trị cốt lõi 16
2.1.4 Nguyên tắc hoạt động 16
2.1.5 Cơ cấu tổ chức 17
2.2 Thực trạng vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng trong thực tiễn quản lý hoạt động xuất khẩu lao động tại Vinaconex MEC 17
2.2.1 Thực trạng vận dụng thế giới quan duy vật trong công tác khai thác thị trường xuất khẩu lao động 17
2.2.2 Thực trạng vận dụng thế giới quan duy vật trong công tác tuyển chọn và đào tạo lao động xuất khẩu 19
2.2.3 Thực trạng vận dụng thế giới quan duy vật trong công tác quản lý lao động xuất khẩu 20
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VẬN DỤNG HIỆU QUẢ THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VINACONEX MEC 21
3.1 Tránh tư tưởng duy tâm chủ quan, duy ý chí 21
3.2 Nhà quản trị phải nắm bắt được chính xác các quy luật khách quan 22
3.3 Phải tiếp tục phát huy tính sáng tạo trong công tác quản lý 24
Trang 23.4 Phát hiện kịp thời, phân tích và giải quyết mâu thuẫn đúng lúc, đúngchỗ, đủ điều kiện 24
KẾT LUẬN 25 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Lời đầu, nhóm em xin được gửi lời cám ơn chân thành đến giảng viên bộ mônTriết học, người đã dạy dỗ, rèn luyện và truyền đạt những kiến thức quý báu chochúng em trong suốt thời gian qua Trong thời gian được học tập dưới sự dìu dắt của
cô, chúng em đã không chỉ được tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích mà còn được họctập được tinh thần làm việc, thái độ giảng dạy nghiêm túc, hiệu quả - đây là nhữngđiều rất cần thiết cho chúng em trong quá trình học tập và công tác sau này
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian,tại số một trung tâm văn hoa cổ đại của nhân loại như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của người về thế giới về vị trí vàvai trò của con người trong thế giới này Triết học nghiên cứu, giải thích thế giới ở tầmchung bao quát nhất hay nói cách khác chính là nghien cứu về thế giới quan Triết học
la hạt nhân lý luận của thế giới quan Chính điều đó đã khiến ta phải đặt ra câu hỏi:Thế giới quan là gi? Có bao nhiêu loại thế giới quan? Thế nào là thế giới quan duy vậtbiện chứng? Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng ra sao? Áp dụng thế giớiquan duy vật biện chứng vào ngành chuyên môn của bản thân như thế nào?
Trong quá trình thực hiện đề tài được giao: “Phân tích vai trò của thế giới
quan duy vật biện chứng đối với khoa học chuyên ngành Liên hệ về quan hệ giữa ngành chuyên môn của bản thân anh (chị) với triết học”, mặc dù nhóm đã hết
sức nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn trình độ hiểu biết và kiến thức về môn học đốivới chúng em trong bước đầu tìm hiểu vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, bài tiểu luận củanhóm khó có thể tránh khỏi đôi chỗ còn thiếu sót hay chưa chuẩn xác Chúng em kínhmong nhận được những nhận xét và góp ý quý báu từ cô giáo để chúng em có thể hoànthiện hơn bài tiểu luận cũng như vững vàng hơn trong kiến thức của mình
Chúng em xin chân thành cám ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC1.1. Thế giới quan duy vật biện chứng
Đứng trước bức tranh về thế giới (tự nhiên và xã hội) muôn hình, muôn vẻ vàsinh động, con người luôn đặt ra và giải quyết những vấn đề về mối quan hệ của mìnhvới thế giới, về nguồn gốc của thế giới, về vị trí của mình trong xã hội, về ý nghĩa cuộcsống của mình và thể hiện quan điểm, tư tưởng qua các lý thuyết xã hội Đó chính là
sự lựa chọn và định hướng cuộc sống, tức là sự thể hiện thế giới quan của mình
Thuật ngữ "thế giới quan" xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII do nhà triết
học cổ điển Đức là Cantơ nêu ra Từ đó, nó được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩmcủa các nhà triết học sau này Đặc biệt, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, kháiniệm thế giới quan đã phát triển lên một tầm cao mới mang tầm vóc lớn lao
Thế giới quan nào ra đời cũng đều nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
Thế giới mà con người đang sống là gì?
Trong thế giới đó con người sống vì cái gì và sống như thế nào?
Khả năng con người tác động lại thế giới ra sao?
Trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã vạch ra được mối quan hệ giữa conngười với thế giới và xác định vị trí con người trong thế giới đó
Thế giới quan được hình thành và phát triển trong xã hội dưới hai hình thức:
Thứ nhất: Thế giới quan là một nhân tố của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn
cách thức tư duy và hành động của cá nhân, đó là thế giới quan cá nhân Thế giới quan
cá nhân thường là sự tích lũy và thu thập kinh nghiệm sống của mọi người Nó nằmtrong suy nghĩ và hành vi của họ mà chính họ cũng không biết rằng cái được gọi làkinh nghiệm sống hay sự hiểu biết về bức tranh chung của thế giới đó là thế giới quan
cá nhân Nó chính là mức độ thấp trong nhận thức thế giới Tuy nhiên, không nên đánhgiá thấp tác dụng của nó với tính cách là một nhân tố điều chỉnh hành động của conngười Tác động của giáo dục, ảnh hưởng của truyền thống, của các quan hệ xã hội,các điều kiện và hoàn cảnh môi trường sống là nhân tố quan trọng hình thành các quanđiểm và nguyên tắc thế giới quan cá nhân
Thứ hai: Thế giới quan là sự thể hiện dưới hình thức lý luận khái quát hóa các
quan điểm và hoạt động của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội Đó là thếgiới quan xã hội Các nhà triết học, kinh tế học, xã hội học hay các nhà tư tưởng, chínhtrị luôn suy nghĩ, cân nhắc để xây dựng thế giới quan xã hội Nhiệm vụ của họ làphải làm thế nào để thể hiện một cách đầy đủ nhất những nguyên lý tư tưởng lý luận,nguyên lý triết học nhằm chỉ dẫn suy nghĩ và hành động của con người, của một nhóm
xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội
Hai loại thế giới quan trên luôn nằm trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.Mỗi cá nhân đều luôn mong muốn làm phong phú tri thức của mình bằng cách tiếp
Trang 5nhận những lý luận chung để làm sáng tỏ vị trí của mình trong thế giới, trong đời sống
xã hội Ngược lại, những quan điểm thế giới quan xã hội, lý luận chung ấy trở thànhmột bộ phận trong ý thức và niềm tin của các cá nhân, thẩm thấu vào ý thức cá nhân,được hình thành một cách tự phát rồi tác động và chỉ dẫn nó
Dù ở trình độ phát triển nào các quan điểm về thế giới quan cũng đều mang tínhkhái quát Thế giới quan là sự phản ảnh chủ quan những điều kiện sinh hoạt vật chấtcủa con người Tuy nhiên, thế giới quan không chỉ dừng lại ở sự phản ánh thụ động
đó, mà nó còn là nhân tố tích cực của con người, sự thông thái về cuộc sống để chỉ dẫncho nhận thức lẫn hành động của con người Bởi vì, chính hành vi và hoạt động củacon người đã đặt ra các vấn đề như: liệu nhận thức có đáp ứng những mục đích sống
đã được con người lựa chọn và con đường thực hiện những mục đích ấy có tuân theonhững quy luật phát triển của thế giới khách quan hay không? Liệu quan hệ giữa trithức con người với thực tiễn cải tạo thế giới khách quan, cải tạo chính bản thân mình
có tương ứng với những đòi hỏi và những khuynh hướng phát triển hợp quy luật củahiện thực hay không? Và bằng cách nào mà tư duy và hành động của mình, con người
có thể thể hiện sự thống nhất giữa mình và thế giới, hiểu được tương lai, triển vọngcủa mình? Khi trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã thể hiện chức năng, địnhhướng lớn lao của mình
Trong lịch sử tư tưởng làm người đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thế giới
quan, chẳng hạn, G-Gertx đã cho rằng: "Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ
thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội" Hoặc trong cuốn Từ điển
Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa: "Thế giới quan là hệ thống những quan điểm
mang tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh" Chúng ta nhận thấy các định nghĩa trên đều đúng, nhưng bao quát và rõ hơn
cả là theo cách định nghĩa của Akitốp, bởi vì trong định nghĩa này, ông đã nêu nên, cácyếu tố nhận thức và giá trị, yếu tố khách quan và chủ quan thống nhất chặt chẽ vớinhau, các tri thức của khoa học về thế giới hòa với niềm tin của con người Ông viết:
"Tổng hợp tất cả những quan niệm, chính kiến về thế giới, về cấu trúc và nguồn gốc
của nó, ý nghĩa và giá trị của đời sống con người, lòng tin của con người trong hiện thực gọi là thế giới quan".
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những
quan điểm của một chủ thể (có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới Trên cơ sở
đó, thế giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Về cấu trúc của thế giới quan bao gồm một số nhân tố cơ bản sau đây:
Tri thức:
Trang 6Cũng giống ở mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tựnhiên, xã hội, con người Những tri thức mang tính khái quát về các hiện tượng tựnhiên, về mối quan hệ nền tảng, bản chất của tự nhiên, tạo thành quan điểm về tựnhiên của thế giới quan Các tri thức tự nhiên đó quy định lập trường của con ngườitrong thế giới, chỉ rõ người theo chủ nghĩa vô thần hay duy tâm, tôn giáo; biện chứnghay siêu hình.
Những tri thức về cuộc sống của con người, về sự phát triển xã hội, về quan hệcủa con người đối với xã hội tạo thành quan điểm xã hội của thế giới quan
Những tri thức hệ thống khái quát về bản chất của quá trình hoạt động nhận thứccủa con người tạo thành quan điểm nhận thức luận của thế giới quan
Rõ ràng, việc xác định bản chất của thế giới quan cần dựa trên phương diện bảnthể luận lẫn phương diện nhận thức luận Tri thức là điều kiện cần thiết cơ bản choviệc hình thành thế giới quan, nhưng không phải bất kỳ tri thức nào về tự nhiên, xãhội, về con người đều là tri thức thế giới quan Chỉ có những tri thức biểu thị quanđiểm chung về tồn tại và về nhận thức mới là những tri thức của thế giới quan
Trong nội dung tri thức của thế giới quan, các quan điểm của triết học đóng vaitrò là nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó vì triết học phảnánh các quan điểm chung nhất về thế giới
Niềm tin:
Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên cơ sở củatri thức Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của conngười
Niềm tin là những tư tưởng chi phối chặt chẽ tư tưởng, chỉ dẫn hành động củacon người tuân theo và ràng buộc trí tuệ, lương tâm của con người với chúng
Nếu con người làm việc gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của trithức, của tư tưởng thì con người sẽ bị mất đi những rung động của ý chí, nghị lực, lòngnhiệt tình và sự cổ vũ cần thiết đối với hiệu quả công việc Không có tâm hồn nóngbỏng của niềm tin vào tri thức thì sẽ không sản sinh ra cái gì vĩ đại cả Vì niềm tin giúpcho con người có nghị lực phi thường vượt qua những giây phút hiểm nghèo, giám hysinh vì mục tiêu, lý tưởng mà mình cho là cao cả Như thế, niềm tin là yếu tố cấu thànhquan trọng của thế giới quan Nếu nó được xác lập trên nền tảng tri thức khoa học thì
nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển
Lý tưởng:
Trong thế giới quan, cùng với tri thức và niềm tin thì lý tưởng là yếu tố địnhhướng cực kỳ quan trọng Lý tưởng như là hình mẫu, mục tiêu tối thượng về một cái gì
đó của một cá nhân, nhóm người, giai cấp hay toàn xã hội muốn vươn tới hiện thực
Lý tưởng là một hình thức tư tưởng được xác lập trên cơ sở tri thức và niềm tincủa một giai cấp trong toàn xã hội đặt ra nhằm định hướng hoạt động cho mọi thành
Trang 7viên trong xã hội thực hiện mục đích của mình, nhằm cải tạo thế giới "đang có" thành thế giới "phải có" Lý tưởng mang tính lịch sử về bản chất, nó có thể tiến bộ hay lạc
hậu tùy thuộc vào hình thái của các mối quan hệ xã hội Những quan niệm của conngười về tương lai, về lý tưởng, đó là sự tìm tòi và sẽ hình thành một hình thức tâm lývới tư cách là niềm hi vọng Không có niềm hy vọng như là một sự khao khát hiếndâng mình cho tương lai thì không thể có một lập trường sống tích cực Đó là các nhân
tố cơ bản có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành thế giới quan, để thể hiện nhữngquan điểm của chủ thể về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên, xã hội và các quyluật phát triển của chúng; về bản thân con người, vai trò của con người trước thế giới
Mối quan hệ giữa triết học với thế giới quan:
Như trên đã trình bày, thế giới quan đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người với thếgiới, cái chủ quan và cái khách quan đã bao hàm trong mình vấn đề cơ bản của triếthọc, thậm chí vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề chính trong kết cấu của thế giớiquan Nhưng xét về mặt lịch sử, thế giới quan ra đời sớm hơn triết học Nó ra đời trongthời kỳ bộ tộc, trên cơ sở sự phản ánh hoang đường về thực tế Và hình thức thế giớiquan đầu tiên ấy gọi là thế giới quan thần thoại Còn triết học là khoa học chỉ xuất hiệnkhi có sự tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, gắn liền với sự ra đời của chế
độ chiếm hữu nô lệ Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thếgiới, về vị trí của con người trong thế giới đó Vì vậy, triết học là hạt nhân lý luận củathế giới quan làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sựtổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các nhà khoa học đem lại Đó là chứcnăng thế giới quan của triết học
Trong những bước chuyển biến của đời sống xã hội của thực tiễn đặt ra đã kéotheo sự tiến hóa của thế giới triết học, mà đỉnh cao nhất nó đạt được là thế giới duy vậtbiện chứng
Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống chỉnh thể những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người Nó được tạo thành trên cơ sở phê phán có chọn lọc những
tư tưởng tiến bộ của các trào lưu triết học từ sự khái quát kinh nghiệm lịch sử để có những thành tựu của khoa học.
Nó được ra đời khi lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ do sự tác động củacuộc cách mạng công nghiệp Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ, thể hiện tính hơn hẳn của nó so với phương thức sản xuất phong kiến Thế giớiquan duy vật biện chứng ra đời đã kế thừa được những thành tựu lớn lao của tư tưởngnhân loại như: triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tếchính trị học cổ điển Anh Đặc biệt trong triết học cổ điển Đức, những nội dung cáchmạng trong phép biện chứng của Hêghen, những tư tưởng duy vật của Phoiơbắc, đãđược C.Mác - Ph.Ănghen cải tạo, phát triển thành thế giới quan duy vật biện chứngtriệt để, mở rộng vào tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy Thế giới quanduy vật biện chứng là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện
Trang 8chứng do đó nó thực sự là một khoa học triết học Mác và Ăngghen đã cải tạo mộtcách biện chứng chủ nghĩa duy vật cũ, giải thoát chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ khỏitính hạn chế siêu hình, tạo ra hình thức cao của phép biện chứng là phép biện chứngduy vật Mác và Ăngghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm củaHêghen, giải thoát nó khỏi chủ nghĩa duy tâm bằng cách đặt nó trên cơ sở hiện thực,tạo ra hình thức cao của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng Ở các giaiđoạn trước C.Mác, thế giới quan duy vật thường bị tách rời với phép biện chứng.Chẳng hạn, thế giới quan duy vật cổ đại, mặc dù có chứa đựng một số tư tưởng biệnchứng nhất định nhưng mới chỉ phỏng đoán, tự phát mà không thống nhất với chủnghĩa duy vật; hay thế giới quan duy vật cận đại là sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật
và phép siêu hình Như vậy, thế giới quan duy vật biện chứng ra đời đã khắc phụcđược những hạn chế của thế giới quan duy vật cổ đại, của thế giới quan duy vật siêuhình thế kỷ XVII - XVIII Đồng thời, nó còn cải tạo cả phép biện chứng duy tâm củaHêghen, tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biệnchứng Thế giới quan duy vật biện chứng khẳng định: thế giới xung quanh chúng ta dù
có phong phú đa dạng đến đâu, nhưng bản chất của nó là vật chất Các sự vật, hiệntượng cụ thể chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của vật chất, chúng đều tồn tại kháchquan độc lập với ý thức của con người Tính thống nhất vật chất của thế giới còn gắnliền với sự liên hệ tác động qua lại giữa các yếu tố, các bộ phận tạo nên sự vật dẫn đến
sự vận động biến đổi của sự vật Tính thống nhất vật chất của thế giới phải gắn liền vớivận động và phát triển của nó Sự khẳng định trên đây của thế giới quan duy vật biệnchứng đã được sự phát triển của khoa học hiện đại chứng minh Ý thức là sự phản ánhhiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo; ý thức
là hình ảnh tinh thần của thế giới khách quan hình thành trong quá trình con người tácđộng cải tạo nó Ý thức bắt nguồn từ thực tiến lịch sử - xã hội, ý thức là sản phẩm củacác quan hệ xã hội, chịu sự chi phối chủ yếu của các quy luật xã hội, các điều kiện sinhhoạt hiện thực của con người và phản ánh những quan hệ xã hội, những quy luật xã hộikhách quan
1.2. Nội dung thế giới quan duy vật biện chứng
1.2.1 Quan niệm duy vật về thế giới
Vật chất
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2.500 năm Ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là "ý chí của Thượng đế" là "ý niệm tuyệt đối", v.v Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới
là vật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng
Trang 9với những thuộc tính của chúng Vào thời cổ đại các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài Vật chất nói chung lúc đó được bắt nguồn từ lửa theo quan điểm của Hêraclít, vật chất được cấu tạo từ nguyên tử theo quan điểm của Đêmôcrít; vật chất còn bắt nguồn từ thế giới ý niệm Thế giới quan về vật chất lúc đó thật mộc mạc, đơn sơ các nhà triết học chưa thoát khỏi quan điểm cảm tính về thế giới, không có sự nghiên cứu mà quan điểm triết học chỉ là ý kiến chủ quan của mình Đến thời kỳ phục hưng đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ XVII - XVIII, khoa học tự nhiên - thực nghiệm ở châu Âu phát triển khá mạnh Thế giới quan duy vật đã có bước phát triển mới nhưng chưa được chính xác và đầy đủ Do đây là thời kì mà khoa học thời kỳ này chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn các ngành khoa học khác như vật
lý học, hóa học, sinh học, địa chất học còn ở trình độ thấp Khoa học lúc này chủ yếu còn dừng lại ở trình độ sưu tập, mô tả Cho nên quan điểm thống trị trong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ là quan điểm siêu hình - máy móc đã chi phối những hiểu biết triết học về vật chất Mọi phân biệt về chất giữa các vật thể đều bị quy giản về sự phân biệt về lượng; mọi sự vận động đều bị quy về sự dịch chuyển vị trí trong không gian; mọi hiện tượng phức tạp bị quy
về cái giản đơn mà từ đó chúng được tạo thành Do có cách nhìn siêu hình về thế giới nên đã có quan niệm rằng con người cũng là một loại máy móc, tim chính là
lò xo co giãn, mạch máu như là dây điện nối các bộ phận lại với nhau…Chính vì quan điểm siêu hình này mà đã làm cho thế giới quan triết học nói riêng và thế giới quan nói chung của con người bị cứng nhắc, cách nhìn phiến diện về thế giới.
Nhưng đến những năm 40 của thế kỉ XX Lênin đã đưa ra được định nghĩa chính xác nhất về vật chất cho đến bây giờ “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Định nghĩa này đã khắc phục được hạn chế của thời kì trước là đã khẳng định được vật chất với tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra
và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất Đồng thời cũng đã khẳng định thuộc tính khách quan của vật chất không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người; và là nguồn gốc khách
Trang 10quan của cảm giác, ý thức Vật chất có hai dạng vật chất cơ bản là chất và
trường Chất là cái gián đoạn, được tạo ra từ các hạt, có khối lượng, có cấu trúc thứ bậc từ nguyên tử cho đến các thiên thể cực kỳ lớn Còn trường là môi trường vật chất liên tục, không có khối lượng tĩnh Trường làm cho các hạt của nguyên
tử liên kết với nhau, tác động với nhau và nhờ đó mà tồn tại được Định nghĩa vật chất đã làm sáng tỏ vì sao thế giơi này luôn biên đổi bởi thế giới này được cấu tạo từ vật chất mà vật chất thì luôn vận động trong không gian và theo thời gian từ qua khứ đến tương lai Chính vì thế mà vật chất mang thuộc tính phổ biến, vật chất tồn tại ở nhiều dang khác nhau, có mặt ở mọi nơi trên thế giới Đó
là bởi vì bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất Chính từ kết luận này mà các nhà khoa học nói chung và các nhà triết học nói riêng đã có một cơ
sở chính xác để học tập và nghiên cứu từ đó hình thành những thế giới quan chính xác đúng đắn.
Ý thức
Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động) Trong quá trình ấy, vật nhận
tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Trong quá trình tiến hóa
của thế giới vật chất Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Hình thức phản ánh đơn giản nhất là phản ánh vật lý, hóa học (giới tự nhiên vô sinh), rồi đến phản ánh sinh học (giới
tự nhiên sống), cao hơn là tính kích thích (các cơ thể sống đơn giản nhất ) Hình thức phản ánh tiếp theo tính cảm ứng (các động vật chưa có hệ thần kinh ), hơn nữa là các phản xạ (các động vật có hệ thống thần kinh) Cao hơn nữa là tâm lý (động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương) Tâm lý chỉ là câu trả lời có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người.Sự phát triển ý thức là do hai mặt là tự nhiên và xã hội
quyết định Nguồn gốc tự nhiên bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật
Trang 11chất xung quanh) cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Cuộc sống con người không thể thiếu lao động và giao tiếp, đó chính là nguồn gốc xã hội của ý thức Nếu như con người không có lao động thì chẳng khác gì các loài vật Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ
óc người là quá trình năng động sáng tạo chính vì thế cho nên cần gắn kết con người với thực tiễn xã hội.
1.2.2 Quan điểm vật chất về xã hội
Xã hội tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan
Xã hội loài người đã có từ rất lâu nhưng đã có rất nhiều lần thay đổi kiểu xã hội, tại sao không chỉ có một kiểu xã hội thống nhất từ xưa đến nay Nguyên nhân của sự thay đổi xã hội này không phải là ý muốn chủ quan của con mỗi người Mà là do nguyên nhân bên trong của mỗi xã hội ở mỗi thời kì Đặc trưng của mỗi xã hội đó chính là do phương thức sản xuất quyết định; mà phương thức sản xuất lại do sự thống nhất và tác động qua lại giữ lực lượng sản xuất với quan
hệ sản xuất Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy giữ lực lượng sản xuất phát triển thúc đẩy xã hội phát triển; ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như cảu toàn bộ xã hội Chính vì thế mà xã hội muốn tồn tại và phát triển thì cần tuân theo quy luật khách quan Nếu phương thức sản xuất không tuân theo quy luật khách quan nghĩa không còn thích hợp với yêu cầu khách quan nữa thì ngay lập tức sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất khác đồng nghĩa với một hình thái xã hội khác.
Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội Sản xuất một phần của hoạt động lao động, sản xuất chính là nguồn gốc và cơ sở của đời sống con người; nếu không có lao động thì chúng ta chẳng khác gì loài vật Sản xuất là hoạt động tác động vào tự nhiên nhằm cải biến tự nhiên tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn đời sông của con người Trong quá trình lao động sản xuất chính con người cũng được cải biến, tiến bộ hơn thích nghi với cuộc sống đang biến đổi không ngừng Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới
tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của
Trang 12con người Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thỏa mãn với những cái đã có sẵn trong giới tự nhiên, mà luôn luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của con người Nhu cầu về cuộc sống con người ngày càng lớn lên đòi hỏi con người cần phải lao động nhiều hơn tạo ra nhiều của cải để có thể làm thỏa mãn nhu cầu của chính chúng ta Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho
sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã hội Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, v.v đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi
tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình Sản xuất vật chất không ngừng phát triển Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao.Chính vì vậy sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội V.I.Lênin khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa là những quan hệ vật chất giữa người và người đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh đẻ con cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm, làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó Các yếu
tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất Tồn tại xã hội tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức xã hội.Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội Tuy nhiên, ý thức
xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội do ba nguyên nhân chính: Một là, tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ của những hoạt động thực tiễn của con người, thường biến đổi với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội phản ánh không kịp
và trở nên lạc hậu Mặt khác, về bản chất ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại
xã hội, nên nó phải có sau tồn tại xã hội và khi tồn tại xã hội đã biến đổi thì ý
Trang 13thức xã hội mới biến đổi theo Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội Ba
là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp nhất định trong xã hội Ý thức xã hội cũng có thể vượt trước tồn tại xã hội ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình Trong sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội, các hình thái ý thức luôn luôn tác động qua lại lẫn nhau Một biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội là ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội.
1.3. Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với khoa học chuyên ngành
Trong triết học Mac-Lenin, lý luận duy vật biện chứng và phương pháp biệnchứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duyvật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học Nhờ đó, triết họcMac-Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biệnchứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp pháp mà còn là lý luận về thế giớiquan Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố địnhhướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành nguyên tắc xuất phát điểm củaphương pháp luận Như vậy, trong triết học Mac- Lenin, thế giới quan và phương phápluận duy vật biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau, làm cho triết học Mác trở thànhchủ nghĩa duy vật hoàn bị, một "công cụ nhận thức vĩ đại" Sự phong phú do phép biệnchứng mở ra, đã đem lại khả năng bao quát được sự phong phú của thế giới tự nhiên.Chức năng thế giới quan duy vật biện chứng đối với khoa học, được hầu hết cácnhà khoa học thừa nhận Vấn đề ở chỗ, nếu có ai đó cho rằng, mình không cần đếnmột quan điểm triết học nào, thì như thế cũng đã là có một quan điểm triết học rồi,song là một quan điểm triết học mơ hồ Đây cũng chính là tư tưởng của Ph.Ănghen khiông nói: “Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của nhữngtàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của triết học” Albert Einstein - một trong những nhàkhoa học xuất sắc nhất của thể kỷ XX không ít lần chỉ rõ các khái quát triết học cầndựa trên các kết quả khoa học Max Planck - nhà vật lý, cha đẻ của cơ học lượng tử đãkhẳng định rằng, thế giới quan của người nghiên cứu luôn tham gia vào việc xác địnhhướng nghiên cứu của người đó
Thế giới quan duy vật biện chứng đối với các khoa học trước hết là ở vai trò nhậnthức của nó, làm gia tăng tri thức mới Sự phân tích, lý giải triết học đối với các dữliệu khoa học cũng chính là sự nghiên cứu các hiện tượng ở mức độ khái quát chung
và sâu sắc hơn Hàng loạt các phạm trù nền tảng của nhận thức được hình thành vàphát triển như là các phạm trù của triết học và các khoa học, ví dụ như các phạm trù
“vật chất”, “không gian”, “thời gian”, “vận động”, “nguyên nhân”, “lượng”, “chất”, Triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các