Ngày nay, với nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, mức sống của con người ngày càng được nâng cao, do đó vấn đề đảm bảo chất lượng hàng hóa là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của các ngành sản xuất. Với xu thế hiện đại hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, chất lượng hàng hóa không chỉ cần ổn định và có chất lượng cao trong phạm vi một quốc gia mà còn phải thống nhất chất lượng trong khu vực và trên toàn thế giới. ChíF:duoc119dec1Luan vanlvtruonganhnh vì lý do đó mà các công ty đều cố gắng nâng cao chất lượng hàng hóa của mình để đảm bảo một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng nâng cao của người tiêu dùng. Dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt bởi vì nó tác động trực tiếp đến sức khỏe con người. Do đó, vấn đề đảm bảo chất lượng phải là vấn đề hàng đầu của công nghiệp sản xuất dược phẩm. Để thống nhất hóa và đồng bộ hóa các tiêu chuẩn trong ngành sản xuất dược phẩm, người ta đề ra các nguyên tắc của THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC GMP (Good manufacturing practices for drugs) hay BPF (Bonnes Pratiques de Fabrication). Ở nước ta, ngành dược phẩm đã bắt đầu tiếp xúc với GMP từ năm 1984 và cũng chính từ đó đến nay, Bộ Y Tế đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo về GMP 4. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN mở ra một thời kỳ đầy triển vọng nhưng cũng đầy thách thức đối với ngành sản xuất thuốc ở nước ta. Chính vì thế, ngày 12091996, Bộ Y Tế đã ban hành thông tư số 12BYTTT nêu rõ “...Triển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) nhằm mục đích từng bước đưa công nghiệp dược Việt Nam phát triển, nâng cao chất lượng thuốc trong nước, phục vụ tốt sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và tạo điều kiện cho thuốc của Việt Nam hòa nhập vào thị trường trong khu vực và thế giới... Phấn đấu đến năm 2 000 hầu hết các cơ sở sản xuất dược phẩm phải đạt “Thực hành tốt sản xuất thuốc” của hiệp hội các nước Đông Nam Á ...” 2. Tuy nhiên, để hiện đại hóa và công nghiệp hóa sản xuất dược phẩm, cần phải có một loạt các giải pháp đồng bộ bao gồm nhiều lĩnh vực, từ công tác nghiên cứu và phát triển (RD) cho đến công tác tiếp cận nhu cầu điều trị, tiếp cận thị trường, từ đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị cho đến công tác đào tạo cán bộ, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất và nghiên cứu các vấn đề kinh tế liên quan đến dược phẩm (pharmacoeconomy)... Một trong những giải pháp quan trọng là phải chỉ đạo và hỗ trợ các cơ sở sản xuất thuốc phấn đấu đạt tiêu chuẩn THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC như CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ THUỐC của Việt Nam đã chỉ rõ 8. Trên tinh thần đó, khoa Dược Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đang có dự án nâng cấp, cải tạo phân xưởng thuốc viên của xưởng trường đạt các tiêu chuẩn, yêu cầu của GMP ASEAN để phục vụ cho mục tiêu sản xuất cũng như đào tạo của nhà trường. Trong phạm vi luận văn này, mục tiêu của chúng tôi là: 1. Rút ra một số nhận xét về cách bố trí nhà xưởng, dây chuyền sản xuất qua khảo sát hai xí nghiệp dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN ISO 9002 là Xí nghiệp Rhône – Poulene Rorer Việt Nam và Xí Nghiệp Liên Hiệp Dược Hậu Giang. 2. Đề xuất một số phương án nâng cấp, cải tạo cơ sở hiện có của phân xưởng thuốc viên của Xưởng trường thành một dây chuyền sản xuất thuốc viên đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
gày nay, với nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật, mức sống của con người ngày càng được nâng cao, do đó vấn đề đảm bảo chất lượng hàng hóa là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của các ngành sản xuất Với xu thế hiện đại hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, chất lượng hàng hóa không chỉ cần ổn định và có chất lượng cao trong phạm vi một quốc gia mà còn phải thống nhất chất lượng trong khu vực và trên toàn thế giới ChíF:\duoc1\1\9dec\1\Luan van\lvtruonganhnh vì lý do đó mà các công ty đều cố gắng nâng cao chất lượng hàng hóa của mình để đảm bảo một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng nâng cao của người tiêu dùng
Dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt bởi vì nó tác động trực tiếp đến sức khỏe con người Do đó, vấn đề đảm bảo chất lượng phải là vấn đề hàng đầu của công nghiệp sản xuất dược phẩm Để thống nhất hóa và đồng bộ hóa các tiêu chuẩn trong ngành sản xuất dược phẩm, người ta đề ra các nguyên tắc của THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC - GMP (Good manufacturing practices for drugs) hay BPF (Bonnes Pratiques de Fabrication)
Ở nước ta, ngành dược phẩm đã bắt đầu tiếp xúc với GMP từ năm 1984 và cũng chính từ đó đến nay, Bộ Y Tế đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo về GMP 4 Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN mở ra một thời kỳ đầy triển vọng nhưng cũng đầy thách thức đối với ngành sản xuất thuốc ở nước ta
Chính vì thế, ngày 12-09-1996, Bộ Y Tế đã ban hành thông tư số
12BYT-TT nêu rõ “ Triển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) nhằm mục đích từng bước đưa công nghiệp dược Việt Nam phát triển, nâng cao chất lượng thuốc trong nước, phục vụ tốt sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và tạo điều kiện cho thuốc của Việt Nam hòa nhập vào thị trường trong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2 000 hầu hết các cơ sở sản xuất dược phẩm phải đạt
“Thực hành tốt sản xuất thuốc” của hiệp hội các nước Đông Nam Á ” 2
Tuy nhiên, để hiện đại hóa và công nghiệp hóa sản xuất dược phẩm, cần phải có một loạt các giải pháp đồng bộ bao gồm nhiều lĩnh vực, từ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) cho đến công tác tiếp cận nhu cầu điều trị, tiếp cận thị trường, từ đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị cho đến công tác đào tạo cán bộ, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất và nghiên cứu các vấn đề kinh tế liên
N
Trang 2quan đến dược phẩm (pharmacoeconomy) Một trong những giải pháp quan trọng là phải chỉ đạo và hỗ trợ các cơ sở sản xuất thuốc phấn đấu đạt tiêu chuẩn THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC như CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ THUỐC của Việt Nam đã chỉ rõ 8
Trên tinh thần đó, khoa Dược - Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đang có dự án nâng cấp, cải tạo phân xưởng thuốc viên của xưởng trường đạt các tiêu chuẩn, yêu cầu của GMP ASEAN để phục vụ cho mục tiêu sản xuất cũng như đào tạo của nhà trường Trong phạm vi luận văn này, mục tiêu của chúng tôi là:
1 Rút ra một số nhận xét về cách bố trí nhà xưởng, dây chuyền sản xuất qua khảo sát hai xí nghiệp dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN & ISO 9002 là
Xí nghiệp Rhône – Poulene Rorer Việt Nam và Xí Nghiệp Liên Hiệp Dược Hậu Giang
2 Đề xuất một số phương án nâng cấp, cải tạo cơ sở hiện có của phân xưởng thuốc viên của Xưởng trường thành một dây chuyền sản xuất thuốc viên đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN
Trang 3- Theo GMP Anh 1983 thì đó là những hướng dẫn nhằm khuyến cáo các biện pháp mà các nhà sản xuất nên tuân theo mỗi khi cần thiết và phù hợp, nhằm đảm bảo sản phẩm có đủ tính chất và chất lượng như mong muốn 3
1.2.Mục đích của GMP:
Nhằm đảm bảo một cách chắc chắn rằng sản phẩm được sản xuất ra một cách ổn định, luôn luôn đạt chất lượng như đã định sẵn (như thuốc nguyên mẫu đã đăng ký)
Nói một cách khác, GMP giúp cho nhà sản xuất:
- Sản xuất ra những loại thuốc có chất lượng ổn định như thuốc nguyên mẫu (prototype) đã được cấp giấy phép sản xuất
- Cung cấp thuốc có các thuộc tính:
+ Tinh khiết (Pure)
+ Đúng (Correctly identified)
+ Hiệu nghiệm (Effective)
+ An toàn (Safe) 3
1.3 Các nguyên tắc chung của GMP: 3
- Trong dược phẩm cần phải có sự kiểm tra, kiểm soát toàn diện nhằm để người tiêu dùng nhận được thuốc có chất lượng cao Không dung thứ các hoạt động tự phát có tính may rủi trong quá trình sản xuất các sản phẩm nhằm mục đích cứu sống, phục hồi hay giữ gìn sức khỏe
Trang 4- Đạt kết quả kiểm nghiệm thành phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng chưa đủ để kết luận chất lượng của một sản phẩm Chất lượng của một sản phẩm phải được chứng minh trong suốt quá trình sản xuất Chất lượng của sản phẩm thuốc được quyết định bởi nguyên liệu ban đầu, quá trình sản xuất, quá trình quản lý chất lượng nhà xưởng, thiết bị và những người tham gia
- Không nên đặt tin cậy đơn thuần vào một thí nghiệm nào đó để xác định chất lượng sản phẩm Mọi sản phẩm phải được sản xuất trong những điều kiện có kiểm tra, theo dõi chặt chẽ
1.4 Vài nét về lịch sử GMP:
* Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đầu tiên cố gắng quản lý ngành Dược phẩm 5
- Năm 1906, cơ quan quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) được thành lập đã cho ra đời bộ luật đầu tiên là “ Luật về chất chứa bên trong sản phẩm” (The Law of Content)
- Năm 1938, Luật về an toàn (Law of safety) ra đời
- Năm 1962, Luật về hiệu nghiệm (Law of efficacy) được ban hành và cũng năm đó, đạo luật về Thực phẩm, Thuốc và Mỹ phẩm được thông qua, cho
ra đời những quy định đầu tiên về GMP
- Năm 1963, GMP ấn bản lần I Năm 1978, GMP ấn bản lần II
* Ở Úùc, GMP được ban hành lần đầu tiên vào năm 1969
* Ở Anh, GMP hay “Sách hướng dẫn vàng” (Orange Guide) được ấn bản lần I năm 1971, lần II năm 1977 và lần III năm 1983
* Ở Pháp, văn bản chính thức đầu tiên có tên là “Thực hành điều chế tốt” (Pratiques de Bonne Fabrication) được ban hành vào tháng 10 năm 1978
- Tháng 10 năm 1985, văn bản mới được ban hành có tên là “Thực hành tốt điều chế và sản xuất thuốc” 14
-Tháng 01-1993, GMP (Bonnes Pratiques de Fabrication còn gọi là BPF) của Pháp được ban hành bao gồm những nội dung mới nhất theo hướng dẫn của Công đồng châu Âu – EEC 10
* EEC ban hành tài liệu hướng dẫn về GMP lần đầu vào tháng 1 năm 1989
* GMP của ASEAN được triển khai lần đầu vào năm 1984, ấn bản lần II được thực hiện năm 1988 và lần III vào năm 1996
* Ở Việt Nam, năm 1996, Bộ Y Tế đã ra quyết định về việc áp dụng GMP ASEAN 1
Trang 51.5 Nội dung của GMP:
Nội dung của GMP bao gồm nhiều vấn đề, có thể được tóm tắt như sau:
4M: Material (Nguyên vật liệu)
Machinery (Máy móc)
Men (Con người)
Master formular (Tài liệu kỹ thuật)
E: Environment (Môi trường)
L: Laboratory (Phòng thí nghiệm) [3]
1.5.1 Nguyên vật liệu:
Chỉ có nguyên vật liệu tốt mới cho sản phẩm tốt
Nguyên vật liệu bao gồm: hoạt chất, tá dược, bao bì đóng gói
- Hoạt chất: đúng, đủ số lượng, đạt chất lượng tốt, hiệu quả điều trị tốt
- Tá dược: trơ về mặt hóa học, không làm ảnh hưởng tác dụng của hoạt chất, không có tác dụng phụ
Muốn như vậy, các nguyên vật liệu phải được mua từ những nhà cung cấp có uy tín và được chứng nhận
1.5.2 Máy móc:
Phải được trang bị thỏa đáng để sản xuất tốt theo yêu cầu
- Đủ: về số lượng, chủng loại, đồng bộ cho mỗi công đoạn sản xuất
- Đúng thiết kế chế tạo, chất lượng tốt
- Đặt đúng vị trí của mỗi công đoạn, sử dụng thuận tiện, dễ vệ sinh
- An toàn
1.5.3 Con người:
Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, đòi hỏi:
- Đủ về số lượng: ở tất cả các giai đoạn, ở tất cả các trình độ
- Đủ tiêu chuẩn: + về kiến thức, kỹ năng và năng lực
+ về sức khỏe (thể lực, thần kinh)
+ có đạo đức và lương tâm nghề nghiệp tốt
- Có ý thức và thái độ, quyết tâm thực hiện GMP
Trang 6Để đảm bảo được những yếu tố trên đối với con người, cần có sự đào tạo huấn luyện thường xuyên, có kế hoạch và chương trình cụ thể
1.5.4 Tài liệu kỹ thuật:
Hệ thống tài liệu phù hợp theo tinh thần GMP là: “ viết ra những gì để làm và làm theo những gì đã viết” Vì thế phải có đầy đủ quy trình, phương pháp sản xuất, quy trình kiểm tra, nói chung phải có đầy đủ các tài liệu để thực hành như tài liệu hướng dẫn Các tài liệu gồm có:
- Tài liệu kỹ thuật:
+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật: Từ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, nguyên liệu bao bì
+ Các quy trình: Quy trình sản xuất, quy trình đóng gói, quy trình kiểm tra, quy trình vệ sinh
- Hồ sơ lô: là một tập hợp các tài liệu mô tả lịch sử của một lô thuốc về sản xuất, về kiểm nghiệm, về kiểm tra chất lượng (kể từ lúc nguyên liệu cho đến thành phẩm đóng gói cuối cùng)
1.5.5 Phòng thí nghiệm:
Nếu không có phòng thí nghiệm tốt thì không thể có sản xuất thuốc tốt, phòng thí nghiệm phải được xây cách biệt với các khu vực sản xuất, thiết kế của phòng thí nghiệm phải tính đến sự thích hợp của các vật liệu xây dựng, đề phòng cháy nổ và phải thông gió
Các hệ thống xử lý không khí riêng sẽ được lắp đặt cho các phòng sinh học, vi sinh và đồng vị phóng xạ
1.5.6 Môi trường sản xuất:
Địa điểm của nhà xưởng/môi trường phải:
- Thuận tiện giao thông vận tải, giao dịch
- Không gần những nguồn ô nhiễm và không được gây ô nhiễm
- Xây dựng đúng chức năng:
+ Cho dây chuyền sản xuất thuốc viên
+ Cho dây chuyền sản xuất thuốc tiêm và tiêm truyền
+ Cho thuốc kháng sinh
- Đảm bảo cấp vệ sinh theo yêu cầu
Môi trường sản xuất là một trong những yếu tố tiên quyết cho chất lượng của sản phẩm được làm ra Mỗi sản phẩm đều có những đòi hỏi riêng về mức độ
Trang 7vệ sinh phải thực hiện để đảm bảo rằng sản phẩm luôn luôn có chất lượng như mong muốn Do đó, nhà xưởng được thiết kế phải có cấp độ sạch của từng khu vực phù hợp theo yêu cầu của từng loại sản phẩm và các thao tác được thực hiện trong đó Đây là một vấn đề hết sức quan trọng mà bất cứ một nhà sản xuất nào cũng phải nghĩ tới trước khi dự định sản xuất ra một loại sản phẩm thuốc nào đó
2 SỰ PHÂN CHIA KHU VỰC THEO CẤP ĐỘ SẠCH CỦA NHÀ XƯỞNG:
Có rất nhiều kiểu phân chia cấp độ sạch tùy theo quy định của từng tổ chức
- Theo GMP ASEAN thì cấp độ sạch được quy định theo ký hiệu màu: TRẮNG (WHITE), XÁM (GREY), ĐEN (BLACK) hay cấp I, II, III và IV, có thể tóm tắt như sau:9
Bảng 1: Phân chia cấp độ sạch theo GMP ASEAN:
Trang 8Bảng 2: Phân chia cấp độ sạch theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO):
Trang 9Bảng 3: So sánh sự phân chia cấp độ sạch giữa các tổ chức:
lọc không khí cuối cùng
(%)
Số lượng tối đa các phần tử cho phép/m3
Số lượng tối đa các
vi khuẩn sống cho phép/m3
Số thể tích không khí thay đổi/giờ WHO
IV BLACK
85.00 ASHRAE
* Cấp IV - khu vực “Đen”: được dùng cho:
- Nhà kho: nguyên liệu ban đầu và thành phẩm cuối cùng
- Phòng thí nghiệm
- Phòng đóng gói thứ cấp
Trang 10- Khu xử lý nguyên liệu bao bì ( ví dụ: chai lọ…)
- Các phòng chứa…
* Cấp III - khu vực “Xám”: được dùng cho các sản phẩm không vô trùng
- Phòng pha chế
- Phòng lấy mẫu
- Phòng chế biến (dập viên, bao viên…)
- Phòng vô lọ, đóng gói sơ cấp
* Cấp II và cấp I - khu vực “Trắng”: pha chế và vô lọ, đóng chai các sản phẩm
vô trùng 9
Như vậy, cấp độ sạch của môi trường sản xuất rất quan trọng đối với chất lượng sản phẩm Mỗi sản phẩm làm ra phải đảm bảo rằng chúng được sản xuất trong một môi trường có cấp độ vệ sinh đúng như các điều kiện yêu cầu cho từng loại sản phẩm đó Và muốn đạt được điều này, một trong những vấn đề đặt ra là không khí cung cấp cho các khu vực đó phải được xử lý một cách thích hợp
3 VẤN ĐỀ XỬ LÝ KHÔNG KHÍ:
Không có một phòng sạch kiểu mẫu vì mỗi khu vực hoạt động có một nhu cầu đặc biệt tùy theo hoạt động của nơi đó, do đó việc thiết kế phải phù hợp Việc thiết kế và thực hiện cho mỗi phòng sạch có một giá trị riêng Vì vậy, cần thiết phải lựa chọn một xếp loại về độ bụi phù hợp theo yêu cầu của sản phẩm được sản xuất Một điều thiết yếu đầu tiên là vấn đề xử lý không khí
Hệ thống luân chuyển không khí (aeroliques) được dùng để bảo vệ khu vực sản xuất khỏi bị ô nhiễm từ bên ngoài vào bên trong và sự ô nhiễm do chính hoạt động ở bên trong khu vực đó
Để chống lại và loại trừ ô nhiễm cần phải:
- Lọc không khí
- Cách ly khu vực với bên ngoài
- Loại trừ ô nhiễm vào sản phẩm ở bên trong khu vực…
3.1 Lọc không khí:
Trong khuôn khổ thiết kế một phòng sạch, việc lọc có hiệu quả bắt buộc phải trải qua tối thiểu 3 cấp độ lọc:16
Trang 11Cấp độ lọc Mục đích Hiệu quả lọc
- Bảo vệ bộ phận lọc phía sau
85 – 95% theo phép đo độ đục Giá
trị tốt nhất là ở 95%
DOP = Di-Octyl Phtalate
Người ta dùng DOP để đo hiệu quả của lọc thử nghiệm theo nguyên tắc sau:
Số lượng DOP sẽ được đo trực tiếp trước và sau lọc thử nghiệm – quang kế sẽ cho trực tiếp hiệu suất của lọc.[16]
Gravimétrique (phép phân tích trọng lượng) & Opacimétrique (phép đo độ đục) là những phép đo để đánh giá hiệu quả lọc không khí trong thử nghiệm
Bộ phận
phun
DOP
Quang kế (Photomètre)
Quạt hút Lọc thử
nghiệm
Trang 12ASHRAE – có nguyên tắc như sau:
- Gravimétrique (phép phân tích trọng lượng):
Không khí có chứa bụi được bơm ngang qua lọc thử nghiệm Bụi không bị giữ lại bởi lọc thử nghiệm sẽ được thu bởi lọc mẫu Người ta cân khối lượng bụi thu được trên lọc mẫu và khối lượng bụi đã phát ra Hiệu quả lọc được xác định bằng tỉ lệ giữa 2 khối lượng này
- Opacimétrique:
Bụi được lấy mẫu nhờ 2 đầu dò lấy mẫu giống nhau được đặt truớc và sau lọc thử nghiệm Bụi này được thu giữ trên 2 đĩa giấy có hiệu quả lọc cao.Người
ta dùng phương pháp đo độ đục để đo độ đục của 2 đĩa giấy Hiệu quả của lọc là
tỉ số độ đục của 2 đĩa này.11
* Tỉ lệ trộn:
Là tỉ lệ giữa lượng không khí được thổi vào trong phòng và thể tích của phòng Tỉ lệ này được diễn tả bằng thể tích/giờ và phụ thuôïc vào:
- Độ kín của phòng
- Cấp độ sạch mong muốn
- Hoạt đôïng ở nơi đó
- Thể tích của phòng [16]
Hiệu quả lọc không khí cuối cùng được đề nghị cụ thể cho từng khu vực như sau:
- Khu vực sản xuất thuốc vô trùng: HEPA 99.995%
- Khu vực sản xuất thuốc vô trùng có tiệt trùng ở giai đoạn cuối: HEPA 99.95%
- Khu vực sản xuất thuốc lỏng uống, kháng acid, những dạng kem và dạng dùng ngoài: HEPA 99.95%
- Khu vực sản xuất dạng thuốc khô: ASHRAE 85%
- Khu vực bao bì: ASHRAE 65% 12
Ghi chú: HEPA = High-Efficiency Particulate Air
3.2 Đổi không khí và làm mới không khí:
Là tỉ lệ giữa lưu lượng không khí mới được đưa vào trong phòng so với thể tích của phòng, được diễn tả cũng bằng thể tích/giờ
Trang 13Lưu lượng không khí mới được tính toán sao cho đem lại không khí vệ sinh cần thiết cho nhân viên ở trong đó Theo quy định, lượng tối thiểu phải là 25m3/giờ/người
- Để thực hiện sự duy trì chênh lệch áp suất
- Bù cho lượng không khí bị rút ra
Tóm lại, hiệu quả lọc càng cao khi mức độ lọc càng triệt để và mức độ làm mới càng cao Từ đó, vấn đề cần thiết là phải xác định một cách chuẩn xác nhu cầu bằng cách lựa chọn độ sạch phù hợp theo yêu cầu của sản phẩm và vừa giới hạn diện tích bề mặt cần bảo vệ nếu điều đó có thể thực hiện được
3.3 Khuếch tán không khí:
Có hai kiểu khuếch tán không khí:
- Kiểu duy nhất một chiều (kiểu từng lớp): thường gọi là Laminaire
+ Việc khuếch tán không khí liên tục , một chiều với tốc độ trung bình 0.45m/giây Hạn chế của kiểu này là dễ bị tắc
+ Chỉ áp dụng cho cấp 1 -100
- Kiểu “xáo trộn” :Thường gọi là Turbulent
+ Sự luân chuyển không khí bơm vào phòng từ nhiều hướng nhờ đi qua những bộ phận khuếch tán không khí Kiểu này có hạn chế là nếu một điểm nào đó bị ô nhiễm thì nó có thể lan tới một vùng khác bất cứ lúc nào
+ Được dùng cho cấp 1 000 - 100 000
Như vậy, để giảm thiểu diện tích của loại 100 thì người ta thường phối hợp cả hai buồng đó 16
4 GIỚI THIỆU VỀ Ô NHIỄM CHÉO:
4.1 Định nghĩa:
- Là việc ô nhiễm của một vật liệu hay một sản phẩm với vật liệu hay sản phẩm khác [8]
- Là sự nhiễm một sản phẩm bởi một sản phẩm khác [13]
4.2 Phân loại ô nhiễm chéo: [13]
4.2.1 Ô nhiễm sinh học: Bao gồm sự ô nhiễm của súc vật, vi sinh vật như nấm mốc, vi khuẩn
4.2.2 Ô nhiễm hóa học: Ô nhiễm do các hoạt chất của các sản phẩm với nhau 4.2.3 Ô nhiễm vật lý: Nhiễm các tác nhân vật lý như bụi bẩn, dị vật, mùi, màu
Trang 144.3 Các nguồn gốc của sự ô nhiễm chéo: [13]
Nguồn gốc của sự ô nhiễm chéo rất đa dạng Điều quan trọng là phải xác định rõ các nguồn gốc này để có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu
Sơ đồ sau sẽ nêu lên các nguồn gốc của sự ô nhiễm chéo:
Sơ đồ 1: Các nguồn gốc dẫn đến ô nhiễm chéo
+ Nguyên liệu: Lẫn các chất lạ trong nguyên liệu
+ Thiết bị: Các thiết bị dùng trong sản xuất, tiếp xúc với sản phẩm không bảo đảm yêu cầu vệ sinh
+ Môi trường: Các luồng không khí trong sản xuất chưa được phân khu riêng biệt
+ Phương pháp: Do không tuân thủ các phương pháp, các quy trình đã được thẩm định
+ Quản lý : Sự quản lý lỏng lẻo, không theo sát các công việc của công nhân cũng có thể gây nên sự ô nhiễm chéo
+ Con người: Sự ô nhiễm chéo cũng có thể bắt nguồn từ công nhân không đảm bảo yêu cầu vệ sinh
Sơ đồ sau đây sẽ chứng minh rõ ràng hơn vòng phức tạp của sự ô nhiễm chéo:
Trang 15Sơ đồ 2 : Quá trình của sự ô nhiễm chéo
+ Yếu tố con người được biết đến qua trang phục, cách huấn luyện
+ Môi trường không khí là do chưa có biện pháp hữu hiệu để cách ly các vùng không khí với nhau
+ Yếu tố bề mặt bao gồm bề mặt các thiết bị tiếp xúc trực tiếp với dược phẩm, điều này thông qua sự vệ sinh và sự chống nhiễm không đạt yêu cầu
+ Tất cả các yếu tố trên có thể độc lập hoặc phối hợp cùng nhau để gây nên sự ô nhiễm chéo
4.4.Diễn tiến của sự ô nhiễm chéo và biện pháp ngăn cản: [13]
Bắt đầu từ nguồn có thể gây ô nhiễm, chất gây ô nhiễm được vận chuyển đến những tác nhân có thể bị ô nhiễm qua yếu tố chuyên chở:
Các yếu tố chuyên chở sự ô nhiễm có thể là:
- Con người
- Không khí môi trường (không khí bên ngoài, không khí bên trong, sự lọc)
- Lưu chất (nước)
- Luồng di chuyển nguyên liệu (vận chuyển nguyên liệu)
Sơ đồ sau đây sẽ nêu lên được mối liên hệ sơ lược giữa nguồn gây ô nhiễm-yếu tố vận chuyển - hàng rào chống ô nhiễm:
Con người
Môi trường Bề mặt
Sản phẩm
Trang 16Sơ đồ 3: Mối liên hệ sơ lược giữa nguồn gây nhiễm - yếu tố vận chuyển –
hàng rào chống ô nhiễm
* Hàng rào ngăn cản sự ô nhiễm bao gồm các yếu tố:
- Các chốt gió (Sas, airlock): Một không gian giới hạn bởi hai hay nhiều cửa đi nằm giữa hai hay nhiều buồng (thuộc các cấp sạch khác nhau) nhằm mục đích kiểm soát luồng gió giữa các buồng đó khi chuyển từ buồng nọ sang buồng kia Một chốt gió có thể thiết kế để dùng cho người hay vật liệu, có thể gọi là lối trung chuyển Một chốt gió cũng có thể là “tiền phòng”cho một buồng sạch trong đó xử lý các vật phẩm vô trùng [8]
- Trang phục: Phù hợp với công việc được giao để đảm bảo sản phẩm không bị ô nhiễm cũng như an toàn lao động cho người công nhân
- Lọc không khí
Nguồn gây ô nhiễm và tác nhân gây ô nhiễm
Chất gây ô nhiễm
Trang 17- Chênh lệch áp suất
5 MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA GMP VỀ CÁCH THIẾT KẾ, BỐ TRÍ NHÀ XƯỞNG:
5.1 Yêu cầu chung: [8]
Nhà xưởng trong sản xuất thuốc phải có diện tích, thiết kế xây dựng và vị trí thích hợp để thuận tiện cho thao tác, vệ sinh và bảo trì Từng khu vực làm việc phải thích hợp để tránh sự lộn xộn, ô nhiễm chéo hoặc các lỗi khác có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng thuốc
5.2 Vị trí: [8]
- Nhà xưởng phải được xây ở những nơi có thể tránh được ô nhiễm do môi trường chung quanh như các chất ô nhiễm không khí, đất và nước cũng như do những hoạt động khác gần đó Trường hợp nhà xưởng xây dựng ở những khu không thích hợp thì cần có những biện pháp hữu hiệu để tránh sự ô nhiễm
- Vị trí của nhà xưởng phải thuận lợi cho giao thông vận tải
5.3 Không gian, diện tích:
Phải có các khu vực xác định cho các thao tác sau: [8]
- Tiếp nhận nguyên liệu
- Biệt trữ nguyên liệu vừa đưa về
- Bảo quản các nguyên liệu ban đầu
- Cân và cấp phát
- Pha chế
- Bảo quản các sản phẩm chưa đóng gói
- Đóng gói
Trang 18- Biệt trữ trước khi xuất xưởng dược phẩm
- Bảo quản thành phẩm
- Đóng thùng xuất kho
- Phân tích kiểm nghiệm
- Rửa thiết bị dụng cụ
5.4 Thiết kế và cách bố trí:
Khi thiết kế, bố trí sắp xếp nhà xưởng phải quan tâm đến các vấn đề sau: [8]
- Sự tương hợp của nhiều thao tác sản xuất khác sẽ cùng được thực hiện trong cùng nhà xưởng hoặc nhà xưởng kế đó
- Các nhà xưởng phải được bố trí, sắp xếp để cho phép sản xuất tại những nơi nối tiếp nhau theo một trật tự hợp lý phù hợp với trình tự các thao tác và mức độ sạch sẽ đòi hỏi
- Nơi làm việc phải đủ rộng để cho phép bố trí thiết bị và nguyên liệu một cách trật tự và hợp lý và thao tác phải dễ dàng, thuận chiều, thông tin liên lạc và giám sát phải có hiệu quả, tránh sự bề bộn và lộn xộn
- Tránh việc dùng khu sản xuất làm lối đi chung cho người hay vật liệu hoặc để tồn trữ những vật liệu khác với loại dùng trong quá trình sản xuất
Việc thiết kế và cách bố trí nhà xưởng phải thỏa mãn các yêu cầu sau: [8] 5.4.1 Phải ngăn chặn nguy cơ trộn lẫn các thuốc khác nhau hay thành phần của chúng, khả năng nhiễm chéo do thuốc hay các chất khác và nguy cơ bỏ qua một công đoạn sản xuất nào đó Vì mục đích đó, có thể sử dụng cách phân chia tường thích hợp, màn gió hay phương tiện khác Phải chú ý đặt biệt đến sản xuất các chất có độc tính cao hay gây mẫn cảm như các nội tiết tố, tác nhân độc hại tế bào và một số kháng sinh
5.4.2 Phải đề phòng nhiễm chéo các sản phẩm do vi sinh vật sống hay các dược phẩm như một số steroid hay tác nhân độc hại tế bào mà vết vi lượng có thể gây
ra tác dụng sinh lý bằng các phương pháp sau:
- Tiến hành các thao tác sản xuất trong những nhà cách biệt hay cách ly các thao tác một cách thích hợp bằng cách đóng kín toàn bộ hay bằng cách làm các lô liên tục trên cùng một thiết bị hay thiết bị dành riêng, tiếp theo là công việc vệ sinh tích cực
Trang 19- Kiểm soát các chất gây ô nhiễm không khí bằng cách dùng áp suất chênh lệch thích hợp trong khu sản xuất hay hệ thống thải và lọc gió thích hợp cùng với việc kiểm soát không khí tái tuần hoàn
- Bố trí trang bị sản xuất và nơi nào có thể thì dùng trang bị riêng cho mỗi loại thuốc
- Ngăn chặn truyền chất gây nhiễm bằng chốt gió (airlock), thay quần áo và khử nhiễm các đồ chứa và các vật dụng khác khi loại chúng ra khỏi khu vực cách ly
- Vệ sinh riêng các trang phục bị nhiễm
- Thử nghiệm định kỳ môi trường xung quanh khu sản xuất về sự hiện diện của các chất trị liệu đã được sản xuất
- Thẩm định các quy trình vệ sinh
5.4.3 Việc xử lý vật liệu cho các sản phẩm không phải là thuốc phải tách biệt khỏi việc sản xuất dược phẩm
5.4.4 Phải có không gian tách biệt để vệ sinh các trang bị cơ động và tồn trữ vật liệu vệ sinh
5.4.5 Chốt gió phải được nối trực tiếp nhưng phân cách khỏi khu sản xuất
5.4.6 Các phòng vệ sinh không mở trực tiếp vào khu vực sản xuất và phải được thông gió tốt
5.5 Các yêu cầu cơ bản cho một số khu vực quan trọng trong nhà xưởng:
5.5.1 Khu vực phụ trợ: [15]
- Phòng giải lao và phòng nghỉ nên tách biệt với các khu vực khác
- Phòng thay áo quần và cất giữ áo quần cũng như nhà vệ sinh phải dễ dàng tiếp cận và phù hợp với số người sử dụng Nhà vệ sinh không nên gần khu sản xuất hay tồn trữ
- Phòng bảo trì nếu có thể nên tách biệt với khu sản xuất
5.5.2 Khu vực tồn trữ: [15]
- Khu vực tồn trữ phải có sức chứa thích đáng để cho phép tồn trữ một cách có hệ thống nhiều loại khác nhau của nguyên liệu và thành phẩm: nguyên liệu thô, nguyên liệu bao bì, bán thành phẩm, thành phẩm chờ đóng gói và thành phẩm, thành phẩm biệt trữ, sản phẩm xuất kho, sản phẩm bị loại bỏ, sản phẩm trả về hay thu hồi
- Khu vực tồn trữ phải được thiết kế hay lắp đặt bảo đảm tồn trữ tốt, đặc biệt, chúng phải khô ráo và sạch sẽ, được bảo trì với một giới hạn cho phép về nhiệt
Trang 20độ ở bên trong Nơi tồn trữ đặc biệt thì những đòi hỏi về nhiệt độ, độ ẩm phải được cung cấp đầy đủ và phải được kiểm tra, giám sát
- Các thùng chứa gởi đi và nhận về phải bảo vệ được nguyên liệu và thành phẩm đối với ảnh hưởng của thời tiết Khu vực tiếp nhận nên được thiết kế và trang bị cho phép các thùng chứa nguyên liệu đi vào được làm sạch nếu cần thiết trước khi tồn trữ
- Nơi biệt trữ phải đảm bảo được tồn trữ riêng biệt, những nơi này phải đề tên rõ ràng và chỉ những người có phận sự mới được vào Bất cứ sự xáo trộn nào trong khu vực biệt trữ cũng phải đảm bảo tính an toàn như trước đó
- Nên có khu vực để lấy mẫu của nguyên liệu ban đầu, nếu mẫu được lấy ở khu vực tồn trữ, phải có cách quản lý để ngăn chặn sự ô nhiễm hay ô nhiễm chéo
- Nên có khu vực tồn trữ riêng cho nguyên liệu hay thành phẩm: bị loại bỏ, trả về hay thu hồi Những nguyên liệu có hoạt tính cao, thuốc mê, những thuốc nguy hiểm hay có nguy cơ lạm dụng và những vật liệu dễ gây cháy nổ nên được tồn trữ trong khu vực an toàn và chắc chắn
5.5.3 Khu vực cân: 15
Có thể nằm trong khu sản xuất hoặc tồn trữ
Việc cân nguyên liệu ban đầu và nguyên liệu cho sản xuất thông thường nên được thực hiện trong khu vực riêng biệt có thiết kế riêng, ví dụ như vấn đề kiểm soát bụi
5.5.4 Khu vực sản xuất:
Nhằm hạn chế đến mức nhỏ nhất các sai sót nghiêm trọng dẫn đến sự ô nhiễm chéo, các phương tiện dụng cụ được thiết kế một cách hoàn chỉnh và đặc hiệu phải đầy đủ cho quá trình sản xuất của từng loại thuốc, như những nguyên liệu có tính nhạy cảm cao (ví dụ: penicilline) hay quá trình sản xuất các sản phẩm sinh học (ví dụ: các vi khuẩn sống) Quá trình sản xuất của các loại sản phẩm khác, như một vài kháng sinh, hormon, các dược phẩm có hoạt tính cao phải được quản lý một cách chặt chẽ
- Nhà xưởng nên được bố trí phù hợp với quy trình sản xuất và mức độ sạch yêu cầu
- Phải có diện tích tương xứng cho từng công đoạn để cho phép bố trí các thiết bị và nguyên liệu một cách có thứ tự và hợp lý nhằm hạn chế đến mức nhỏ nhất sự lầm lẫn giữa sản phẩm thuốc với các thành phần của chúng, tránh được sự nhiễm chéo và hạn chế sự bỏ sót hay thực hiện sai các bước của quy trình sản xuất và kiểm soát
Trang 21- Cống rãnh thoát nước nên có kích cỡ phù hợp để tránh hiện tượng chảy ngược Hạn chế đến mức tối thiểu các cống hở Đối với những nơi cần thiết thì phải làm nông để dễ dàng vệ sinh và khử uế
- Các loại ống dẫn, dây điện, đèn thắp sáng, các điểm thông gió và các phương tiện để phục vụ khác ở trong khu vực sản xuất phải được thiết kế, bố trí thích hợp để tránh những chỗ không lau chùi được và tốt nhất nên đặt ở ngoài khu vực chế biến
- Khu vực sản xuất phải được thông gió một cách có hiệu quả với các phương tiện kiểm soát (bao gồm kiểm soát về nhiệt độ, và nơi cần thiết thì cả độ ẩm và lọc) phù hợp với sản phẩm được làm, các thao tác tiến hành trong đó và môi trường bên ngoài [15]
- Chỗ hút gió, xả gió, các chỗ nối ống dẫn gió cũng như các ống dẫn gió phải được đặt sao cho có thể tránh được sự ô nhiễm các sản phẩm
- Các chỗ nối mái hở, các loại đường ống phải không được để trần Ở nơi không thể tránh được thì phải có và tuân theo các quy trình và kế hoạch vệ sinh đặc biệt
- Các đường ống để trần không được chạm tường mà phải treo hay đặt trên vòng đỡ, đủ khoảng cách cho phép vệ sinh
- Nguồn điện phải đủ để đảm bảo hoạt động của các thiết bị sản xuất và dụng cụ thí nghiệm
- Mặt trong các khu vực sản xuất (như tường, nền, trần) phải phẳng, nhẵn, không được có các kẽ hở, lóc, lở, không giữ hoặc làm vãi bụi và dễ làm vệ sinh hoặc dễ tiệt trùng khi cần thiết Sàn ở nơi chế biến phải được làm bằng chất chống thấm và dễ tẩy sạch các chất bẩn Mặt tường phải có khả năng chống thấm và rửa được Chỗ giáp giới của tường và nền, tường và trần và ở những nơi then chốt cần phải được phủ nhẵn không còn kẽ hở
- Các cửa từ khu sản xuất trực tiếp ra bên ngoài như cửa thoát hiểm phải bịt kín chống ô nhiễm Chúng phải được đảm bảo là chỉ được dùng làm lối thoát khẩn cấp Khi cửa nội bộ là rào cản nhiễm chéo, chúng phải đóng khi không dùng
8
Trang 22PHẦN 1:
KHẢO SÁT THỰC TẾ 2 XÍ NGHIỆP DƯỢC PHẨM: RHÔNE – POULENC RORER VIỆT NAM & XÍ NGHIỆP LIÊN HIỆP DƯỢC HẬU GIANG
1 SƠ LƯỢC VỀ RHÔNE – POULENC RORER VIỆT NAM:
Rhône - Poulenc Rorer (RPR) là một tập đoàn dược phẩm lớn nhất của Pháp và đã hiện diện ở hơn 140 nước trên thế giới RPR đã đến Việt Nam từ rất lâu, cách đây 30 năm, bản hợp đồng đầu tiên được ký vào năm 1962 và đã cho
ra đời công ty Vinaspécia, một công ty liên doanh lâu dài giữa phía Việt Nam và phía Pháp
Vào năm 1994, liên doanh Vinaspécia cùng với RPR và công ty Yteco bên phía Việt Nam đã được cấp giấy phép đầu tư với số vốn 2.8 triệu USD Đánh giá cao các tiềm năng của thị trường Việt Nam, RPR đã không dừng ở mức xí nghiệp liên doanh Vinaspécia hiện hữu, quyết định đầu tư thêm xây dựng một nhà máy sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN
Vinaspécia ngày nay lấy tên là Rhône - Poulene Rorer site de Ho Chi Minh Ville, đã và đang không ngừng phấn đấu để ngày càng hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và hiện tại nhà máy đã được công nhận tiêu chuẩn GMP ASEAN & ISO 9002
Các sản phẩm nhà máy sản xuất đã trở nên quen thuộc với thị trường Việt Nam Các thuốc của nhà máy sản xuất được chia thành ba loại:
* Nhóm viên nén, viên bao đường, viên bao film và viên nang:
- Antrima : Viên nén
- Bévitine : Viên bao đường
- Flagyl : Viên bao film
- Flagystatine : Viên đặt âm đạo
- Ganidan : Viên nén
- Profenid : Viên nang
- Sectral : Viên nén
- Toplexil : Viên nang
Trang 23- Spasmaverin : Viên bao film
- Flagentyl : Viên bao film
- Cidermex thuốc mỡ
Hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất, trong tương lai gần đây RPR Việt Nam sẽ sản xuất các thuốc có chất lượng giống như chất lượng các thuốc ngoại nhập, không những phục vụ cho thị trường Việt Nam mà còn dành cho xuất khẩu, nhất là cho khu vực Á châu và nếu có thể cả các nước Âu châu nữa[7]
2 CÁCH BỐ TRÍ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT THUỐC VIÊN CỦA RHÔNE
- POULENC RORER VIỆT NAM:
Trên cơ sở nhà xưởng cũ hiện có, năm 1994, RPR đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa thành một dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN và đến nay đã đạt tiêu chuẩn ISO 9002
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy dây chuyền sản xuất thuốc viên của nhà máy được bố trí như sau: (Sơ đồ 4)
Trang 25Trong quy trình sản xuất của RPR, nhìn chung sự bố trí nhà xưởng cũng như các công đoạn của quá trình sản xuất khá liền lạc và hợp lý Ranh giới giữa các khu vực được phân chia một cách rõ ràng và đảm bảo cấp vệ sinh theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng sản phẩm
- Khu vực kho có mức độ sạch cấp IV(vùng “Đen” - “Black”) theo phân loại của GMP ASEAN Khu vực này được bố trí cho các công đoạn: tiếp nhận, tồn trữ nguyên liệu, làm sạch bụi nghuyên liệu trước khi chuyển vào khu vực cân, tồn trữ bao bì và thành phẩm cũng như biệt trữ các nguyên liệu và thành phẩm đặc biệt Công đoạn đóng gói cũng có mức độ sạch cấp IV nhưng không khí ở đây được xử lý tốt hơn và có những yêu cầu riêng
- Khu vực cân và khu vực sản xuất có mức độ sạch cấp III (Vùng “Xám” -
”Grey”) theo phân loại của GMP ASEAN hay cấp 100 000 theo US Fed Standard Class Trong khu vực này sẽ diễn ra các thao tác từ lúc xử lý nguyên liệu trước khi cân, cân nguyên liệu cho đến các thao tác pha chế, ép vỉ, đóng gói
- Các chốt gió (Airlock, Sas) được thiết kế khá hoàn chỉnh và được bố trí khá hợp lý bảo đảm được cấp độ sạch yêu cầu Điều này thể hiện rõ nhất ở phòng bao film và phòng pha dịch bao là hai phòng có khả năng gây nhiễm chéo mạnh nhất, người ta đã bố trí cửa ra vào là một Airlock để ngăn ngừa bụi sinh ra ở các phòng này có thể trở thành nguồn ô nhiễm
- Việc cân nguyên liệu được thực hiện ở trung tâm cân là một khu vực tách biệt với khu vực pha chế Việc bố trí trung tâm cân tách biệt với các khu vực pha chế đã đảm bảo tính rõ ràng của từng công đoạn trong quy trình sản xuất và hạn chế đến mức thấp nhất những sự ô nhiễm có thể phát sinh do bụi ở khu vực cân gây
ra
- Khu vực kho được bố trí một phòng lấy mẫu để kiểm định nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất – phòng này được thiết kế với những yêu cầu riêng về xử lý không khí, được phân cách với kho bởi một chốt gió (airlock) – Điều này cho thấy sự chặt chẽ trong quản lý chất lượng của RPR
- Một vấn đề hết sức quan trọng trong dây chuyền sản xuất là bố trí các luồng di chuyển đã được thực hiện khá hoàn hảo Đường đi của nguyên liệu, nhân viên, bao bì đóng gói, thành phẩm, chất thải đều được tách biệt, không chồng lên nhau, đảm bảo nguyên tắc một chiều của quy trình sản xuất
Tuy nhiên, do xuất phát từ một nhà xưởng cũ đã được nâng cấp lên thành một dây chuyền sản xuất hoàn toàn mới nên đã chịu ảnh hưởng không ít của cấu trúc trước đó trong việc bố trí phòng ốc
Trang 26Trong bố trí dây chuyền sản xuất của nhà máy, ta thấy không có phòng tồn trữ bán thành phẩm - điều này có thể là một nhược điểm nếu sản xuất cùng lúc nhiều mặt hàng Theo quy trình của nhà máy, nguyên liệu sau khi trộn hoàn chỉnh với các tá dược trơn bóng xong sẽ đưa vào phòng dập viên hay vô nang trực tiếp mà không được tồn trữ ở một nơi nào đó để “chờ” - điều này chỉ thích hợp với việc sản xuất từng loại sản phẩm một Nếu sản xuất cùng một lúc nhiều loại sản phẩm mà không có nơi để tồn trữ bán thành phẩm thì rất dễ sinh ra nhiễm chéo
* Các luồng di chuyển trong dây chuyền sản xuất thuốc viên của Rhône – Poulenc Rorer Việt Nam:(Sơ đồ 5)
Trang 28* Nguyên liệu từ kho sẽ đi qua bộ phận làm sạch bụi, sau đó được đưa vào trung tâm cân qua các công đoạn: xử lý trước khi cân (tiền cân), rây, và cân Sau khi cân xong, nguyên liệu sẽ được chờ ở một phòng chứa tạm và sau đó theo yêu cầu sản xuất sẽ được chuyển vào khu vực sản xuất Giữa các khu vực được phân cách bằng một chốt gió (airlock) để tránh sự ô nhiễm từ khu vực có cấp độ sạch thấp sang khu vực có cấp độ sạch cao hơn Có thể tóm tắt đường đi của nguyên liệu như sau:
Kho Bộ phận làm sạch bụi Tiền cân Cân
Phòng chứa tạm Khu vực sản xuất
* Nhân viên trước khi bước vào khu vực sản xuất sẽ được làm vệ sinh và thay y phục 2 lần – đối với nhân viên đóng gói thì thay y phục một lần Trang phục và lối đi của nhân viên hai khu vực cân và sản xuất & đóng gói sẽ khác nhau để dễ kiểm soát ý thức chấp hành nội quy của nhân viên
* Bao bì sẽ từ kho đi vào khu đóng gói qua một chốt gió
* Thành phẩm từ khu đóng gói trở về kho cũng qua một chốt gió
* Chất thải sau các ca sản xuất được đưa ra ngoài cũng qua chốt gió dành cho thành phẩm chờ đóng gói thông qua kho
3 SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP LIÊN HIỆP DƯỢC HẬU GIANG
( HG PHARM ):
Xí nghiệp Liên hiệp Dược Hậu Giang là một trong những xí nghiệp quốc doanh có quy mô sản xuất lớn nhất ở Việt Nam Những năm qua, xí nghiệp luôn là xí nghiệp đầu ngành trong cả nước về lãnh vực đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường, góp phần thúc đẩy công nghiệp Dược Việt Nam phát triển hòa nhập cùng khu vực
Xí nghiệp được thành lập ngày 2-9-1974 tại Kinh Năm - Đất Sét - Khánh Lâm - U Minh - Minh Hải Trước năm 1988, xí nghiệp hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản xuất chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu trong nước nên việc phát triển sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
Năm 1988, với sự chuyển đổi từ cơ cấu kinh tếá bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, xí nghiệp đã sát nhập với Công ty vật tư y tế, tự vay vốn, trang bị máy móc, hoạch toán kinh doanh để phát triển sản xuất Kể từ đó đến nay, xí
Chốt gió
Chốt gió
Trang 29nghiệp đã không ngừng phát triển cả về quy mô lẫn chiều sâu và luôn là xí nghiệp đầu ngành trong cả nước
Năm 1998, Hậu Giang là một trong số rất ít các xí nghiệp Việt Nam đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN
Tháng 3-1999, xí nghiệp đã được công nhận tiêu chuẩn ISO 9002
Các sản phẩm của xí nghiệp được bán trên cả nước bao gồm nhiều chủng loại, con số các mặt hàng của xí nghiệp đã lên đến 200 và hiện nay xí nghiệp vẫn không ngừng đầu tư đổi mới, hiện đại hóa quy trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu dược phẩm trong nước và cả nước ngoài
4 CÁCH BỐ TRÍ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT THUỐC VIÊN CỦA XÍ
NGHIỆP LIÊN HIỆP DƯỢC HẬU GIANG:
Cũng trên cơ sở nhà xưởng cũ hiện có, Xí nghiệp dược Hậu Giang đã đầu
tư nâng cấp thành một dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN
Qua khảo sát, chúng tôi thấy sơ đồ của nhà máy được bố trí như sau:(Sơ đồ 6)
Trang 31- Các hành lang xung quanh khu sản xuất có mức độ sạch cấp IV (vùng “Đen” -
“Black”) theo phân loại của GMP ASEAN gọi là hành lang đen, bộ phận làm sạch bụi nguyên liệu cũng thuộc khu vực này
- Bộ phận cân và pha chế, sản xuất được xử lý không khí đạt mức độ sạch cấp III theo phân loại của GMP ASEAN hay cấp 100 000 theo phân loại của US Fed Standard class Mặc dù cũng được cải tạo từ nhà xưởng cũ và quy mô khá lớn, số phòng lên tới gần 100 nhưng nhìn chung việc bố trí phòng ốc trong dây chuyền sản xuất là khá hợp lý, bố trí phòng ốc theo từng công đoạn và theo cấp độ sạch khá liền lạc và rõ ràng theo đúng nguyên tắc một chiều của sản xuất
- Đa số các phòng đều có diện tích tương đối hợp lý, phù hợp với các thiết bị được lắp đặt ở bên trong cũng như các thao tác vận hành ở trong đó
- Một chi tiết nhỏ nhưng rất đáng lưu ý là cách bố trí khu ép vỉ và vô lọ(đóng gói
sơ cấp) đều dính liền với khu đóng gói thứ cấp, thông nhau bởi một cửa sổ nhỏ vừa đủ để các sản phẩm chạy trên băng chuyền trực tiếp từ bộ phận vô lọ, ép vỉ sang bộ phận đóng gói thứ cấp thành một công đoạn liên tục không cần phải qua một khâu trung chuyển nào cả Điều này rất có ý nghĩa cả về mặt kinh tế lẫn vệ sinh
- Khu kiểm nghiệm được bố trí dính liền với bộ phận sản xuất, cách nhau bằng một vách chung kín Việc chuyển mẫu để kiểm nghiệm được thực hiện bằng cách đưa trực tiếp từ khu sản xuất sang khu kiểm nghiệm thông qua một lổ nhỏ trên vách chung này, tránh được sự ô nhiễm do phải vận chuyển đi xa
Tuy nhiên, do xuất phát từ nhà xưởng cũ được nâng cấp và quy mô sản xuất lớn nên các kho chưa được bố trí trực tiếp với khu sản xuất Kho nguyên liệu và khu bao bì được đặt ở một nơi riêng, sau đó mới được chuyển vào khu vực sản xuất, kho thành phẩm cũng được bố trí ở một nơi khác Điều này cũng là điểm hạn chế để thực hiện tính liên hoàn của quy trình sản xuất
- Việc cân nguyên liệu được thực hiện trong khu sản xuất và việc bố trí phòng tiền cân gần với phòng pha chế hơn là phòng cân là chưa phù hợp lắm vì khả năng gây nhiễm sẽ cao hơn là ngược lại Nếu có thể khu vục cân tách riêng khu vực sản xuất vẫn tốt hơn
- Mặc dù nhà xưởng khá rộng nhưng hành lang của các khu sản xuất đều thông với nhau mà không chia thành từng khu nhỏ, ngăn nhau bởi các chốt gió Điều này sẽ là một hạn chế cho việc tính toán chính xác dung lượng không khí phải trao đổi cho các hành lang và đặc biệt, khi có sự cố hay cần sửa chữa bất kỳ một khu nào đó trong khu vục sản xuất thì nguy cơ ô nhiễm là rất lớn vì nơi đó không được tách biệt với các nơi khác…
Trang 32- Các luồng di chuyển được phân biệt rất rõ ràng và nghiêm ngặt cho thấy tính hợp lý của việc bố trí dây chuyền sản xuất (Sơ đồ7):
* Nguyên liệu được chuyển từ kho vào khu vực sản xuất qua một bộ phận làm sạch bụi, sau đó được chuyển vào một airlock nguyên liệu để vào khu sản xuất
* Bao bì (vỉ, chai lọ) được xử lý và tồn trữ ở một bộ phận riêng, sau đó được chuyển vào khu đóng gói sơ cấp qua một airlock Airlock này cũng là Airlock dùng cho nhân viên trước khi bước vào khu vực sản xuất Bao bì dùng cho đóng gói thứ cấp sẽ đi ở một ngả riêng
* Nhân viên trước khi vào khu vục sản xuất được thay áo quần ở lầu 1, sau đó xuống tầng trệt và bước vào khu vực sản xuất thông qua một airlock
Nhân viên đóng gói thứ cấp có lối đi và trang phục khác với nhân viên khu vực khác
* Thành phẩm từ khu đóng gói sẽ được chuyển ra ngoài trả về kho thông qua một airlock
* Chất thải cũng được đưa ra ngoài thông qua một airlock
Trang 34PHẦN 2:
THỰC TRẠNG CỦA XƯỞNG TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ
PHƯƠNG ÁN CẢI TẠO
1.THỰC TRẠNG CỦA XƯỞNG:
Xưởng trường - tức cơ sở sản xuất Thái Vân trước đây (số 81B Lý Chính Thắng - Q3 – T.P Hồ Chí Minh) được xây dựng từ rất lâu, trước đây đã sản xuất nhiều mặt hàng nhưng hiện nay hầu như không hoạt động, chỉ có một phần nhỏ của xưởng được sử dụng cho nghiên cứu và giảng dạy của bộ môn Công Nghiệp Dược
Mặt bằng tổng thể của toàn khu có chiều rộng 28m và chiều dài gần 32m,
cơ sở chính của xưởng là hai khu nhà với tổng diện tích mặt bằng khoảng 450m2
- khu I có hai tầng, khu II có 5 tầng đều vẫn đang trong tình trạng sử dụng được
Tuy nhiên, ngoại trừ lầu II và lầu III của khu II được sử dụng cho nghiên cứu và thực tập cũng như văn phòng, các khu vực khác hầu như không sử dụng cho mục đích sản xuất Việc bố trí các phòng cho sản xuất theo mô hình cũ còn lộn xộn, không theo một quy tắc nào cả và hiện nay đã không còn phù hợp với các yêu cầu của GMP tuy nhà xưởng vẫn đang trong tình trạng tốt về kết cấu và độ bền vững ( Sơ đồ 8)
Nếu được cải tạo tốt, nhà xưởng có thể sử dụng cho sản xuất thuốc với các yêu cầu kỹ thuật cao hơn