Phương pháp xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang .... Mục tiêu nghiên cứu - Xác định loài sán lá gan ký sinh trên trâu, bo ở một số huyện thuộc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Dưới sự hướng
dẫn của TS Phan Thị Hồng Phúc và TS Trần Đức Hạnh Số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưatừng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồngốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều được cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Vang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hơn hai năm học tập và nghiên cứu tại trương và địa phương, đếnnay tôi đã hoàn thành bản luận văn này Qua đây tôi xin bày to lòng biết ơnchân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trương Đại học Nông Lâm TháiNguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo đã tận tìnhdìu dắt tôi trong suốt thơi gian học tập và nghiên cứu tại Trường
Đặc biệt, tôi xin được bày to lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô giáo: TS Phan Thị Hồng Phúc & TS Trần Đức Hạnh, những ngươi đã trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và nhân viên Chi cục thú ytỉnh Hà Giang
- Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y - Trương Đại học NôngLâm Thái Nguyên
- Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Phòng thí nghiệm, trương Cao đẳng nghề Hà Giang
- Trung Tâm kỹ thuật giống gia súc Phó Bảng, chi Nhánh xã PhongQuang, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã nơi tôi thực hiện nghiên cứu
đề tài luận văn, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiệnnghiên cứu tại địa phương
Cuối cùng tôi xin bày to lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Hà Giang, tháng 10 năm 2018
Học viên
Trang 4Nguyễn Thị Vang DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola 3
1.1.3 Vòng đơi của sán lá Fasciola 4
1.2 Đặc điểm của bệnh do sán lá Fasciola gây ra ở trâu, bo 7
1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 9
1.2.3 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bo 13
1.2.4 Bệnh tích của trâu, bo mắc bệnh sán lá gan 14
1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 14
1.2.6 Phòng và trị bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò 15
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG 21
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, địa điểm, thơi gian nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.2 Vật liệu nghiên cứu 21
Trang 62.2.1 Mẫu nghiên cứu 21
2.2.2 Dụng cụ và hoá chất 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.3.1 Xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo một số huyện tỉnh Hà Giang 22
2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bo 22
2.3.3 Đặc điểm bệnh lý lâm sàng 22
2.3.4 Hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc 23
2.3.5 Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh sán lá gan cho trâu bo ở tỉnh Hà Giang 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang 23
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bo ở một số thuộc huyện, tỉnh Hà Giang 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo tại 3 huyện của tỉnh Hà Giang 28
3.1.1 Kết quả mổ khám trâu, bo và thu thập sán lá gan 28
3.1.2 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo 29
3.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bo ở ba huyện của tỉnh Hà Giang 30
3.2.1 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo tại các địa phương 30
3.2.3 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo theo tính biệt 35
3.2.4 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo theo tuổi 37
3.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bo theo phương thức chăn nuôi 39
3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng 42
Trang 73.3.1 Xác định triệu chứng lâm sàng của trâu, bo nhiễm sán lá gan 42
3.3.2 Bệnh tích đại thể của gan trâu, bo nhiễm sán lá gan 46
3.3.3 Bệnh tích vi thể của gan trâu, bo mắc bệnh sán lá gan 48
3.3.4 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của trâu, bo mắc bệnh sán lá gan 52
3.4 Nghiên cứu hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc 54
3.4.1 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bo 54
3.4.2 Độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan trâu bo 56
3.5 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bo ở tỉnh Hà Giang 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
1.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bo ở 3 huyện của tỉnh Hà Giang: 62
2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả mổ khám trâu, bo và thu thập sán lá gan 28Bảng 3.2 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo 30Bảng 3.3 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo tại các địa phương 31Bảng 3.4 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo theo mùa vụ 34Bảng 3.5 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan trâu, bo theo tính biệt 35Bảng 3.6 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan trâu, bo theo tuổi 38Bảng 3.7 Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan trâu, bo theo phương thức
chăn nuôi 40Bảng 3.8 Một số biểu hiện triệu chứng của trâu, bo bị nhiễm sán lá gan 44Bảng 3.9 Bệnh tích đại thể gan bo bị sán lá gan ký sinh 46Bảng 3.10 Tỷ lệ và đặc điểm tiêu bản gan trâu, bo mắc bệnh sán lá gan cóbệnh tích vi thể 49Bảng 3.11 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố, men gancủa trâu, bo bình thương và trâu, bo nhiễm sán lá gan 52Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bo 55Bảng 3.13 Một số chỉ tiêu sinh lý của trâu, bo trước và sau khi dùng thuốc
1 giờ 57
Trang 1110
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh sán lá gan ở trâu, bo (Fasciolosis) do hai loài sán lá Fasciola hepatica và Fasciola gigantica gây ra, được coi là bệnh ký sinh trùng phổ
biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bo trên toàn thếgiới nói chung và Việt Nam nói riêng
Sán lá gan ký sinh gây nhiều tác hại đến sức sinh trưởng, sinh sản ở trâu,bò; mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày làm tổn thươngthành ống dẫn mật, xơ gan, thiếu máu…tiết độc tố gây trúng độc, viêm nhiễmtăng sinh ở nhu mô gan…
Nguy hiểm hơn bệnh sán lá gan ở trâu, bo còn truyền lây sang ngươi gâyviêm gan, xơ gan thậm chí biến chứng ung thư gan ở ngươi
Hà Giang là một tỉnh miền núi, đất trồng co rộng thuận lợi cho ngànhchăn nuôi trâu, bò Là một trong những ngành nghề trọng điểm của tỉnh trongnhững năm gần đây vì vậy chăn nuôi trâu, bo được đánh giá có tiềm năng rấtphát triển
Ngày 10 tháng 12 năm 2015, Nghị quyết 209 của Hội đồng nhân dântỉnh Hà Giang khóa XVI kỳ họp thứ 16, về việc ban hành chính sách khuyếnkhích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Giang,trong đó có nghề chăn nuôi trâu, bo là trọng tâm Tuy nhiên, các bệnh ký sinhtrùng trên trâu, bo chưa được ngươi chăn nuôi quan tâm đúng mức do trình
độ và kinh nghiệm của ngươi chăn nuôi còn hạn chế, một số bà con chăn nuôikhông nói được tiếng kinh nên chưa tiếp cận được khoa học cũng như kỹthuật chăn nuôi trâu, bò Đặc biệt bà con chăn nuôi chưa phân biệt cụ thể vềtẩy sán lá gan với tẩy giun nên việc phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bo tạitỉnh Hà Giang còn nhiều bất cập Trong những năm qua, việc nghiên cứu vềbệnh sán lá gan trên đàn trâu, bo ở tỉnh Hà Giang còn chưa được thực hiện
Trang 13một cách đầy đủ, vì vậy việc phòng trừ bệnh sán lá gan trên trâu, bo ở tỉnh HàGiang cũng chưa được chú ý
Để góp phần phòng chống bệnh sán lá gan lớn cho đàn trâu, bo ở Hà
Giang, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại tỉnh Hà Giang
và biện pháp phòng trị ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định loài sán lá gan ký sinh trên trâu, bo ở một số huyện thuộc
tỉnh Hà Giang
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bo tại một
số huyện thuộc tỉnh Hà Giang
- Xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bo tạitỉnh Hà Giang
- Nghiên cứu biện pháp điều trị bệnh sán lá gan trâu, bò
- Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh do sán lá gan lớn gây ra ở trâu, bò
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là những thông tin có giá trị khoa học và thực tiễn,làm cơ sở để ứng dụng cho ngươi chăn nuôi trâu, bo thực hiện các biện pháp
phòng và trị sán Fasciola ở trâu, bò, nhằm đảm bảo sức khỏe đàn trâu, bò,
góp phần phát triển chăn nuôi, từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội củacác địa phương ở tỉnh Hà Giang
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], sán lá gan ký sinh và gây bệnhcho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1954
Lớp Trematoda Rudolphhi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898 Giống Fasciola Linnaeus (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola hepatica (Linnaeus,1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinhchéo hoặc tự thụ tinh Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nốivới cơ quan tiêu hoá Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thịgiác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với
cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán lá Tử cung sán lá chứađầy trứng
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F.gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng,
"vai" không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánhngang
Trang 15Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9] mô tả F.gigantica như sau: sán hình lá,
có chiều dài 25 - 75mm, rộng 3 - 12mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp
theo của thân, vì vậy nó không có "vai" như loài khác của giống Fasciola Hai
rìa bên thân sán lá song song với nhau, đầu cuối của thân tù Giác bụng trònlồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh.Trứng hình bầu dục, phôi bào phân bố đều và màu vàng nâu Kích thướctrứng 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10mm Giác bụng có đương kính từ 1,491-1,785 mm và giác miệng có dương kính từ 1,092 – 1,555mm
- F.hepatica (Linnaeus, 1758): trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu
lồi và nhô ra phía trước làm cho sán lá có "vai", nhánh ruột chia ít nhánh nganghơn
F.hepatica dài 18 - 51mm, rộng 4 - 13mm, phần trước thân nhô ra, tạo
cho sán lá có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán lá không song song vớinhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫntuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần trước vàphần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoànphân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nênmột mạng lưới rối như tơ vò Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung
Trứng của sán F.hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F.gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09mm.
1.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola
Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên cứu
ở Đức và Thomas (1882) nghiên cứu ở Anh
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau
khi thụ tinh mỗi sán lá đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịchmật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: đượcnước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước…, nhiệt
độ 15 - 30oC, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở
thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng Miracidium
Trang 16không có khả năng thoát vo nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ
Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đámphôi Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn gian.
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ
trung gian Ở nhiệt độ 16oc hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng
phát triển, ở nhiệt độ phu hợp (20 - 30oc), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành
vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàngtrong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản vàruột phân thành hai nhánh
Theo Grigoryan G A (1958)[40], trong cơ thể Cercaria có những dạng Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là
cho sự vận động không ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môitrương nước Lora R Ballweber, M S., D V M (2015)[43] cho biết, nhơ sựhoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh,
Trang 170,23mm chiều rộng Sau vài giơ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất
nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này
Cercaria đã biến thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết, Adolescaria thương ở trong nước hoặc bám vào cây co thuỷ sinh Nếu trâu, bò, nuốt phải Adolescaria vào
đến dạ dày và ruột, lớp vo ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và dichuyển đến ống mật bằng 3 con đương:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnhmạch ruột qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vàoxoang bụng đến gan, xuyên qua vo gan vào ống mật
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lágan trưởng thành Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đơi là 92
- 117 ngày Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của trâu
bo 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm
Theo Phan Địch Lân (1985) [16], nước ta đã nghiên cứu thành côngvòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30oC), có ốc
vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng
(trâu, bò, dê, cừu) thì vong đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với cácmức thơi gian sau:
- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium)
trong khoảng 14 - 16 ngày
- Ở trong ốc vật chủ trung gian: mao ấu (Miracidium) phát triển thành lôi
ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria)
non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày
Trang 18- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria)
sau 2 giơ
- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày
trong ống dẫn mật của trâu bo đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theophân ra ngoài
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm vàgây bệnh sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên) Ở những vùng cómầm bệnh tồn tại, trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đơi trong
cơ thể trâu, bò, nghĩa là trâu cứ 3 tháng lại tạo ra một đời sán lá mới Trongkhi trâu bo đã có sán lá gan ký sinh, tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gâytình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cương độ nhiễm tăng lên theo tuổitrâu, bò
Trâu bo bị bệnh sán lá gan thể hiện những biến đổi cơ bản ở gan và ống
mật do tác động của Fasciola gây ra.
Trang 191.2.1 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12], sán lá gan gây bệnh ở vậtchủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng
và tác động mang trùng Khi trâu bo mới nhiễm bệnh, sán lá non di hànhtrong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấutrùng có thể theo máu di chuyển "lạc chỗ" đến phổi, lách, cơ hoành, tuyếntuỵ, gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán lá non xuyên qua cácnhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đương di hành đầymáu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tùy theo
số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể Trâu bo bị thiếu máu do xuất huyết, cóthể chết do mất máu
Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào ống dẫn mật,tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng thành Sán látrưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutintrên cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán lá nhiều có thể làm tắc ống mật,mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.Trong quá trình ký sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác độngvào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quátrình viêm Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu, gây hiện tượngtrúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làmalbumin giảm, globulin tăng Độc tố của sán lá còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán lá còn tác độngvào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo,
…) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thẩmthấu của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng
do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấmnhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theocác vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống
Trang 20mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào yêu cầu tăngsinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan.Khi trâu bo nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn củagan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạnkhác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổchướng, xoang phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu trâu bo mà nó ký sinh.Bằng phương pháp phóng xạ, ngươi ta đã thấy mỗi sán lá ký sinh ở ống dẫnmật lấy 0,2ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu trâu bo nhiễm ít sán lá thì vai trochiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi trâu bo có hàng trăm, hàngnghìn sán lá ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán lá non còn mangtheo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gâynhững bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm ghép với bệnh sán lá gan
Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng
của cơ thể trâu, bo giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làmcho các bệnh đang có trong cơ thể trâu bo nặng thêm lên
1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thếgiới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước
Theo Phan Địch Lân (1980) [15], mổ khám 1.043 trâu ở Thái Nguyên, sốtrâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bo do số lượngsán lá quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễmsán lá gan ở trâu là 51,2-57,5%
Đoàn Văn Phúc (1980) [ 23] đã kiểm tra 64 bo tại trại bo sữa Hà Nội,
thấy tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola là 73,43% Tác giả cho biết, bệnh sán lá gan
đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò
Trang 21Kết quả kiểm tra trâu, bo ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, BắcGiang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong đó,trâu nhiễm 33,92%, bo nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh,
1996 [29])
Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vàonhững yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:
Thơi tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trương nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinhsản thuận lợi
Trịnh Văn Thịnh (1978) [28], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[9],Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[11] … cho biết, trâu bo nhiễm sán lá ganthường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa, tỷ lệnhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn Mùa vụ gắnliền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lágan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa thu và mùa đông bệnhthường phát ra
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽvới nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu
tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đềuthuộc bốn loại địa hình: ven biểu, đồng bằng, trung du và miền núi
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ởvùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cương độ nhiễm giảmdần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi
Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, Trịnh Văn Thịnh, 1978[28]; Phạm Văn
Trang 22Khuê và Phan Lục, 1996[9] cho biết, vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh,rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địahình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng.
Phan Địch Lân (1985) [16] đã điều tra 7.359 trâu, bo ở 26 tỉnh miền BắcViệt Nam, kết quả thấy: trâu bo ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất,sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễmsán lá ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%,vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùngnúi từ 14,7% đến 44,0%)
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng
Ở nước ta, theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9], loài gia súcnhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bo ít hơn (36%), dê ít nhất(20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính ưa nước của chúng(thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao,kênh rạch), trong khi bo và dê ít ưa nước hơn
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ,các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi trâu bo càng cao thì tỷ lệ và cương độnhiễm càng tăng lên Một điều dễ nhận thấy là, trâu bo tuổi càng tăng lên(thơi gian sống càng dài) thì sự tiếp súc với môi trương ngoại cảnh càng
nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán
lá Fasciola trưởng thành có thơi gian ký sinh ở trâu bo nhai lại tương đối dài
(3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm) Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho
quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp.
Phan Địch Lân (1985) [16], cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán
lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2% -40,2%, trâu
5 8 năm tuổi nhiễm 42,4% 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao
Trang 23-tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bo toàn bộ do cóquá nhiều sán lá ký sinh).
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vàocác vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), vật
chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L auricularia, L swinhoei, L.viridis, Agalba truncatula, Radix ovata.
Phan Địch Lân và cs (1985) [16] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc
- vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L.swinhoei) và ốc chanh (L.viridis) Loài swinhoei có vo mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vo loe ra như vành tai Loài
L viridis cũng có vo mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10mm, vo dễ vỡ,
có 4 - 5 vòng xoắn cuối cùng lớn
Ốc L.viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ 7
- 10 trứng sau 7 ngày nở thành ốc con, ốc L.swinhoei thương sống trôi nổi ở
cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng Trong điềukiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [10], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lágan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bo có mốitương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọtcao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bo ở khu vực đó cũng cao
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu bo ra môi trường ngoạicảnh Trứng sán lá rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếpcủa ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bịchết sau 8 - 9 ngày
Trang 24Trong điều kiện khô hạn, vo trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vo trứng sau 1 - 1,5 ngày Ở môi trương ẩm ướt,
trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng).Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi bị chết sau 2 ngày ởnhiệt độ thấp (-5oC -15oC) Nhiệt độ 10 - 20oC trứng ngừng phát triển
Nhiệt độ 40 - 50oC, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996 )
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của chúng tăng lên rõ rệt Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -4oC 6oC,
ở điều kiện nhiệt độ bình thương, những Adolescaria có trong co khô bị ẩm và
trong môi trương nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann, 1996).
1.2.3 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán lá Fasciola Triệu chứng ở trâu, bo biểu hiện nặng hay nhẹ phụ
thuộc vào cương độ nhiễm sán lá gan, tình trạng sức khoẻ và tuổi trâu bò, tìnhtrạng chăm sóc quản lý,…
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bo 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
và Phan Lục, 1996)[9], trong giai đoạn sán lá non di hành hoặc khi nuôidưỡng, chăm sóc kém
Trâu bo biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy,miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứngthần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Trâu bo có thể chết do xuất huyết nặng, trúngđộc và suy nhược cơ thể
Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bo trưởng thành, khi trâu bo đượcnuôi dưỡng tốt và sán lá ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mậtvới số lượng ít Thể mãn tính thương xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.Nhìn chung, khi trâu bo bị bệnh sán lá gan kéo dài, nếu không được điềutrị kịp thời thì trâu bo thường chết trong tình trạng thiếu máu, ỉa chảy và suy kiệt
Trang 251.2.4 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán lá mà bệnh tích có sự khác nhau
Đối với trâu bo nhiễm sán lá nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấptính, gan sưng to, màu nâu sẫm, xung huyết Trên mặt gan có thể thấy nhữngđương di hành của sán lá non tạo thành những vệt đo thẫm, dài 2 - 4mm,trong có sán lá non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi
có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêmmạc mắt nhợt nhạt
Ở những trâu bo nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ
mô gan bị phá huỷ tạo thành sẹo mầu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ốngdẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống Lòng ống dẫn mật
giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán lá Fasciola Khi ống mật bị canxi
hoá nhiều, sán lá ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu bò, Phan Địch Lân (1985) [16] chobiết: khi mổ khám trâu bo bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan
to hơn nhiều so với bình thương (gấp 2 - 3 lần) Gan màu đo sẫm, biểu hiệnxung huyết Dưới vo gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đườngngoằn nghèo do sán lá di hành Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹođặc biệt Trong gan còn thấy những sán lá non không đến được ống dẫn mật,đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo dobiến chất thoái hoá Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan.Trương hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng)
1.2.5 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên trâu bo còn sống hoặc đã chết, tuỳđiều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phu hợp
- Đối với trâu bo còn sống
Để chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra, thương áp dụng các biện
pháp như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phâncon vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thương thấy nhất là: kiệt sức,thiếu máu, ỉa chảy, suy nhược, rụng lông, phu thũng ở ngực, ức,… Tuy nhiên,
Trang 26các biểu hiện trên không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu
chứng lâm sàng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ,vùng và tuổi trâu bo bệnh Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tincần xem xét trong các chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhấttrong chẩn đoán
Việc xét nghiệm phân tìm trứng sán lá Fasciola là biện pháp quyết định
trong chẩn đoán Thương dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo PhạmVăn Khuê và Phan Lục (1996) [9], phương pháp này phổ biến nhưng chưa
phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán lá Fasciola, nhất là ở những trâu
bò nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán lá còn non Khi xét nghiệm phân, cần phân
biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ co (phân biệt về
màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước)
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện trâu bo nhiễm Fasciola đã được sử
dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng ở nơi tiêm đểkết luận Các phương pháp khác như: phương pháp miễn dịch men ELISA,phương pháp miễn dịch huỳnh quang… Tuy nhiên, do khó khăn về phươngtiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít đượcdùng trong bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng.- Đốivới trâu bo chết
Khi trâu bo chết, mổ khám tìm sán lá Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và trưởng
thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng… Phương pháp này chính xác hơn
cả, vì tìm thấy cả sán lá non ở giai đoạn di hành
1.2.6 Phòng và trị bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò
1.2.6.1 Điều trị bệnh
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho trâu bo nhai lại bằng một trong cácloại thuốc sau:
Trang 27- Thuốc dertil: dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola Tên khác: menichlofolan, bayer ME 3625, bayer 9015A, bilevon M,
handerti…dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm Viên dertil
"O" có chứa 100mg hoạt chất, viên dertil "B" chứa 300mg hoạt chất
Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở gia súc nhai lại, với liềucao còn diệt được cả sán lá non đang di hành trong nhu mô gan Thuốc chỉcần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại Được chỉ định điều trị bệnh sán
lá gan cấp tính và mãn tính cho trâu bò
Liều lượng: Bò: 5 - 6 mg/kgTT; Trâu: 8 - 9mg/kgTT
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâuvào miệng cho con vật nuốt
- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum)
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25% hoạt
chất Nitroxynil Fasciolid có tác dụng tẩy sán lá gan Fasciola dạng trưởng
thành, được chỉ định tẩy sán lá gan cho trâu bò
Liều lượng: 0,04ml/kgTT (1ml/25kgTT, tương đương 1mg hoạtchất/kgTT) Tiêm dưới da Để tẩy sán lá gan, nên dùng thuốc 2 - 3 lần, cáchnhau 25 - 30 ngày
Ngoài các thuốc albendazole, bithionl, closantel,… cũng có tác dụng tẩy
sán lá Fasciola ở trâu bò.
Loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc
sử dụng an toàn, có hiệu quả phòng trị bệnh cao
1.2.6.2 Phòng bệnh sán lá gan Fasciola
Cơ sở khoa học đề ra quy trình phòng ngừa tổng hợp bệnh sán lá gan cho
trâu bo là: phải nắm được cụ thể chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola, sinh học
của ốc - vật chủ trung gian và tình hình dịch tễ của bệnh
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996)[9] , hàng năm nên tẩy sán cho toànđàn ít nhất 2 lần, lần đầu vào mùa xuân (trước mùa vật chủ trung gian phát
Trang 28triển), lần thứ hai vào cuối mùa thu nhằm diệt những sán đã nhiễm trong vụXuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa đông Trên những đồng co có cănbệnh tiềm tàng, có thể tiến hành chăn dắt luân phiên giữa súc vật mẫn cảm(trâu, bò, dê, cừu) với những súc vật ít khả năng cảm nhiễm (ngựa).
- Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinhnhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lágan trong phân súc vật nhai lại Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất
để phòng bệnh do sán Fasciola gây ra.
- Xử lý các cơ quan có sán ký sinh: Nếu gan nhiễm nhiều sán phải huỷ
bo (chôn, rắc vôi bột, đốt) hoặc không huỷ bo mà để lại chế biến chín làmthức ăn gia súc
- Diệt vật chủ trung gian của sán lá Fasciola: Tháo cạn nước, làm khô
những đồng cỏ, bãi chăn lầy lội, ẩm ướt Dùng một số chất hoá học có khảnăng diệt ốc (vôi bột, sulfat đồng ), đẩy mạnh chăn nuôi thuỷ cầm (vịt, ngan,ngỗng) và cá trắm đen
- Tăng cương vệ sinh thức ăn, nước uống Không chăn thả súc vật nhailại ở những bãi chăn lầy lội, ẩm thấp Nếu khó khăn về bãi chăn thả thì chỉchăn ở bãi chăn lầy lội, ẩm ướt 1,5 - 2 tháng, rồi phải chuyển sang chăn ở bãikhác Nếu lấy co ở những chỗ ẩm ướt thì phải cắt cao hơn mặt nước để tránh
Adolescaria, sau đó phơi khô, bảo quản trong 6 tháng rồi cho gia súc ăn Nguồn nước uống phải sạch, không có vật chủ trung gian và Adolescaria.
- Không nhập súc vật nhai lại từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điềutrị triệt để
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước đây, ở nước ta có nhiều cuộc điều tra về tỷ lệ nhiễm sán lá gan.Phan Địch Lân, 1980[15] tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bo cho
Trang 29thấy tỷ lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi và tăng dần từ miền biển đến miền núi,trung du và đồng bằng; tỷ lệ nhiễm dao động từ 13,7 - 61,3%.
Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh, 1997 [10] cho biết, tỷ lệ nhiễmsán lá gan ở trâu bo ở Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An từ 25,27 - 32,65%;
tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56%
Theo Lương Tố Thu 2000 [30] bo ở khu vực Hà Nội bị nhiễm với tỷ lệ42,3 - 73,3%, ở trâu là 32,3 - 76,8%
Kết quả điều tra của Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1987)[31],
ở các tỉnh miền Nam cho thấy, tỷ lệ trâu, bo nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%.Kết quả điều tra của Nguyễn Hữu Hưng (2011)[8] cho thấy, tỷ lệ nhiễmsán lá gan ở bo tại 3 tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long là 51,91%
Phan Thế Việt và cs (1977) [33] cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bo
ở miền biển thấp 4,17%, còn ở đồng bằng cao hơn tới 44,5%
Đoàn Văn Phúc và cs (1995)[24] thông báo trâu, bo ở khu vực Hà Nộinhiễm sán lá gan với tỷ lệ 33,9%
Đỗ Đức Ngái và cs 2006 [21] thông báo tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở Đăklăk
từ 34,2-62,6%, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bo xung quanh Hà Nội là 28%(ở bo từ 3 - 24 tháng tuổi) và 39% (ở trâu, bo trưởng thành)
Theo Phan Địch Lân (1985)[16], ốc L viridis phân bố rộng ở tất cả các vùng, ở vùng núi chiếm 75% trong số 2 loài ốc Lymnaea thu được, còn ở
vùng trung du chiếm 66,5%, ven biển chiếm 51,5% và vùng đồng bằng là
42,0% Còn L.swinhoei phân bố hẹp hơn, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và
ven biển, còn ở vùng núi và trung du ít hơn, đặc biệt ở miền núi rất ít, cónhiều nơi không có, vùng đồng bằng chiếm 58% Trứng ốc có thể nở đượcquanh năm với tỷ lệ rất cao, từ 89,1 - 100% và thời gian nở rất nhanh, mùa hècần 5,5 ngày, mùa đông xuân là 8,5 ngày
Kết quả điều tra trong nhiều năm của Nguyễn Thị Kim Thành và cs(1996)[26] ở Cổ Nhuế, Hà Nội cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm ấu
Trang 30trùng sán lá gan ở 2 loài ốc chỉ từ 0,7 - 3,0%.
Phan Thế Việt và cs (1977)[33] cho biết Tác giả đã không tìm thấy ấu
trùng sán lá gan trong hơn 1.000 ốc Lymneae ở tỉnh Hà Tây (cũ).
Theo Đỗ Đức Ngái và cs (2006)[21], tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasiola của ốc
L swinhoei ở ĐăkLăk là 0,45%;
Kết quả điều tra của Hoàng Văn Hiền và cs (2011)[5], cho thấy, chỉ
0,06% và 1% ốc L viridis ở Đông Anh, Phú Xuyên (Hà Nội) bị nhiễm ấu
trùng sán lá gan
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong tổng kết về bệnh sán lá gan, Kendall (1954) [41] kết luận rằng, F gigantica phổ biến trên toàn thế giới và ký chủ trung gian của chúng là các
loài ốc không dễ dàng phân biệt về mặt hình thái hoặc sinh thái Trong nghiên
cứu phòng thí nghiệm, Boray (1985) [38] gây nhiễm thành công F gigantica
ở ốc L stagnalis mới nở.
Một câu hỏi đặt ra là liệu có 2 loài F hepatica và F gigantica không?
Đa số các nhà phân loại học mô tả dựa trên quan niệm về loài theo Linnaeus
và duy trì cho đến ngày nay Thậm chí, việc sử dụng các phương pháp và kỹ
thuật mới có giá trị phân loại Fasciola (Mas-Coma và cs., 2005)[44].
Như vậy, phân loại sán lá Fasciola chủ yếu dựa trên hình thái sán trưởng
thành, kích thước trứng, vật chủ chính, vật chủ trung gian và phân bố địa lý
Về hình thái sán trưởng thành, các chỉ số tương quan và sự khác biệt về tỷ lệ
chiều dài/chiều rộng (BL/BW) có thể giúp phân biệt 2 loài F hepatica và F gigantica (Periago và cs, 2006).
Kiziewicz B (2013) [42] đã kiểm tra 178 con bo rừng Bizon ở vườn
quốc gia Bialowieza, Ba Lan, thấy có 63 con bị nhiễm sán lá F hepatica
(chiếm 35,3%), trong đó bo trưởng thành bị nhiễm với tỷ lệ cao nhất (61,9%)
và bê nhiễm với tỷ lệ 20,63%
Ali Khanjari và cs (2014) [36] đã mổ khám 2.391 con cừu và dê tại các
Trang 31lo mổ ở khu vực Amol, miền Bắc Iran để xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan
Fasciola spp
Kết quả cho thấy dê, cừu ở đó bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 6,6%, trong
đó tỷ lệ nhiễm trong mùa Xuân là cao nhất (8,3%), sau đó đến mùa Thu(8,1%), mùa Đông (5,9%) và thấp nhất là vào mùa Hè (4%) Tác giả cũng chobiết, không có sự khác nhau rõ rệt về tỷ lệ nhiễm giữa cừu đực và cừu cái,giữa dê đực và dê cái
Olsen A và cs (2015) [45] đã điều tra tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bo quagiết mổ khoảng 1,5 triệu con trong 3 năm (Từ năm 2011 - 2013) Tỷ lệ bonhiễm sán lá gan gia tăng hàng năm (năm 2011 là 25,6%; năm 2012 là 28,4%
và năm 2013 là 29,3%) Các tác giả cho biết, tỷ lệ bo nhiễm sán lá gan có liênquan chặt chẽ với các dong suối, đầm lầy có trên đồng co
Theo Elliott T P và cs (2015) [39], sán lá gan (Fasciola hepatica) là
một loài ký sinh trung phổ biến ở gia súc chăn thả tại khu vực phía đông nước
Úc Sán lá gan ký sinh làm giảm đáng kể năng suất thịt và sữa của gia súc tạiquốc gia này
Bless P J và cs (2015) [37] đã kiểm tra phân của 191 gia súc tại tỉnh
Kandal, Campuchia thấy có 18,3% số mẫu dương tính với Fasciola spp.
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trâu, bo các lứa tuổi tại một số huyện tỉnh Hà Giang
- Bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài được triển khai trên 3 huyện thị: Quản Bạ, Bắc Mê, Vị Xuyên,thuộc tỉnh Hà Giang
* Địa điểm thực hiện các nghiên cứu của đề tài:
- Bộ môn Bệnh động vật, khoa Chăn nuôi Thú y - Trương Đại học NôngLâm Thái Nguyên
- Bệnh xá Thú y, trương Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Phòng thí nghiệm, trương Cao đẳng nghề Hà Giang
- Trung Tâm kỹ thuật giống gia súc Phó Bảng, chi nhánh xã PhongQuang, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018.
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Bộ gan, mật trâu, bo (tìm sán lá gan lớn trưởng thành)
- Mẫu phân tươi trâu, bo (xác định tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá ganlớn)
- Mẫu sán lá gan thu thập từ trâu, bo mổ khám
Trang 33- Mẫu phân thu thập từ trâu, bo mổ khám.
- Trứng sán lá gan thu thập từ phân trâu, bo bệnh
- Thuốc điều trị bệnh sán lá gan lớn
- Cồn 70o, dung dịch nước muối sinh lý
- Chậu thủy tinh khay nhựa, khay men
- Hóa chất
- Dụng cụ xét nghiệm mẫu: cốc thuỷ tinh, hộp lồng, lam kính, la men,lưới lọc phân và các dụng cụ thí nghiệm khác
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò một số huyện tỉnh Hà Giang
- Làm tiêu bản cố định sán lá gan trên phiến kính: Đặt sán lá gan trâu,
bo lên phiến kính dùng chỉ cố định hai phiến kính ép sán lá gan lại rồi thả vàobình đựng cồn 70o để mang đi quan sát
2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò
* Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu và bò
- Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan ở các địa phương
- Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bo
- Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt trâu, bo
- Tỷ lệ và cương độ nhiễm sán lá gan theo địa hình
2.3.3 Đặc điểm bệnh lý lâm sàng
- Xác định triệu chứng lâm sàng của trâu, bo nhiễm sán lá gan
- Bệnh tích đại thể của gan trâu, bo nhiễm sán lá gan
- Bệnh tích vi thể của gan trâu, bo mắc bệnh sán lá gan
Trang 34- Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố, chỉ tiêu mengan của trâu, bo mắc bệnh sán lá gan
2.3.4 Hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc
- Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò
- Độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò
2.3.5 Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh
Hà Giang
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang
- Mổ khám, thu thập sán lá gan ở ống dẫn mật trâu, bò Định danh loàisán lá gan theo khóa định loại của Nguyễn Thị Lê (1996) [19], căn cứ vàohình thái, kích thước và cấu tạo của các loài để xác định tại viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật Hà Nội
- Làm tiêu bản cố định sán lá gan trên phiến kính: Đặt sán lá gan trâu, bolên phiến kính dùng chỉ cố định hai phiến kính ép sán lá gan lại rồi thả vàobình đựng cồn 70o để mang đi quan sát
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở một số thuộc huyện, tỉnh Hà Giang
2.4.2.1 Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò
* Tuổi trâu: Phân theo 4 mức tuổi
+ Dưới 1 năm tuổi – 2 năm tuổi
+ Trên 2 năm – 5 năm tuổi
+ Trên 5 năm – 8 năm tuổi
+ Trên 8 năm tuổi
* Tuổi bò: Phân theo 4 mức tuổi
+ Dưới 1 năm tuổi – 2 năm tuổi
+ Trên 2 năm – 5 năm tuổi
Trang 35+ Trên 5 năm – 8 năm tuổi
+ Trên 8 năm tuổi
* Mùa: Mùa trong năm được theo dõi gồm 4 mùa
- Xuân: Tháng 2 - tháng 4;
- Hè: Tháng 5 - tháng 7;
- Thu: Tháng 8 - tháng 10;
- Đông: Tháng 11 - tháng 1 năm sau
2.4.2.2 Phương pháp bố trí thu thập mẫu
- Bố trí thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Chọn
3 huyện trong tỉnh, mỗi huyện chọn 5 xã để lấy mẫu
Mẫu được thu thập ngẫu nhiên tại các nông hộ, trang trại chăn nuôi trâu,
bo tại 3 huyện ở tỉnh Hà Giang
- Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc sau khi bảo quảntheo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học
2.4.2.3 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan
* Phương pháp thu thập mẫu phân:
- Thu nhập mẫu phân ngẫu nhiên ở trâu bo nuôi nông hộ, trại tập thể vàgia đình Lấy phân trực tiếp từ trực tràng con vật hoặc lấy mẫu phân lúc sángsớm mới thải ra Để riêng mỗi mẫu vào một túi nilon nho và mỗi túi đều cónhãn ghi: loại gia súc (trâu, bò), địa điểm, tuổi, trạng thái phân, thơi gian lấymẫu và các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò Ngoài ra căn cứ vào những yếu tốcần xác định có liên quan đến đặc điểm dịch tễ để lấy mẫu cho tương đốiđồng đều về các yếu tố khác
* Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan:
Xác định bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943): cho từng mẫuphân vào cốc thủy tinh, thêm 5 – 10 lần nước, khuấy tan, lọc qua lưới lọc bocặn bã thô Nước lọc được để yên 15 – 20 phút cho lắng xuống, gạn nước trên
đi, lại cho nước vào, rửa đi rửa lại nhiều lần cho đến khi nước trong suốt, chocặn vào
Trang 36phiến kính, soi kính hiển vi để tìm trứng sán lá gan Những mẫu phân tìm thấy trứng sán lá gan được xác định là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm.
* Phương pháp xác định cường độ nhiễm sán lá gan:
Xác định cường độ nhiễm sán lá gan bằng phương pháp đếm trứng Mc.Master (đếm số trứng/gam phân trên buồng đếm Mc.Master theo tài liệu củaJorgen Hansen và cs, 1994)
Lấy 4g phân cho vào cốc thủy tinh, sau đó cho thêm 56ml nước, khuấyđều cho tan phân Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều gạn rửa
sa lắng Dùng pipet hút 1ml dung dịch phân cho vào 2 ngăn của buồng đếmMaster (mỗi buồng đếm có dung tích 0,5ml) Để yên khoảng 5 phút rồi kiểmtra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10): đếm số trứng của 2 ngăn củabuồng đếm x 60/4= tổng số trứng có trong 1gam phân):
Số trứng/1gram phân = (Tổng số trứng ở hai buồng đếm *60)/4
Cương độ nhiễm sán lá gan được quy định như sau:
+ Cương độ nhiễm nhẹ: 200 trứng/ g phân
+ Cương độ nhiễm trung bình: > 200 – 500 trứng/ g phân
+ Cương độ nhiễm nặng: > 500 trứng/ g phân
* Phương pháp xét nghiệm mẫu:
Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp lắng cặn để phát hiện trứng sán lá gan
* Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của trâu, bò nhiễm sán lá gan
- Trong quá trình xét nghiệm, đã phát hiện được những trâu, bo nhiễmsán lá gan Chọn ra những trâu, bo chỉ nhiễm sán lá gan, không nhiễm bất kỳloại giun sán và mắc bệnh truyền nhiễm nào khác, theo dõi các biểu hiện lâmsàng chính của những trâu, bo này Sử dụng phương pháp đo thân nhiệt bằngnhiệt kế 430C, quan sát thể trạng, lông, da; quan sát màu sắc các niêm mạc;
Trang 37theo dõi màu sắc, trạng thái và mùi phân, số lần đi ỉa trong ngày; tình trạng ănuống, vận động của trâu bò.
- Bệnh tích đại thể: Mổ khám trâu, bo mắc bệnh sán lá gan, quan sátbằng mắt thương và kính lúp các phần của túi mật, ống dẫn mật, gan Chụpảnh vùng có bệnh tích điển hình
- Bệnh tích vi thể: Để nghiên cứu bệnh tích vi thể, chúng tôi lấy mẫu
bệnh phẩm là gan, túi mật, cố định trong dung dịch formol 10% Tiêu bản vi thể được làm theo quy trình tẩm đúc Parafin, nhuộm Hematoxillin - Eosin (H.E) tại Bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên.
* Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu huyết học
- Chỉ tiêu huyết học: Lấy mẫu máu trâu, bò Mỗi mẫu máu được đưa vào
1 ống nghiệm (3ml/ống) có chất chống đông máu Trên mỗi ống được ghi đầy
đủ thời gian lấy mẫu, hộ nuôi bò, tính biệt, tuổi, địa điểm Mẫu máu đượcbảo quản trong hộp bảo ôn và được xét nghiệm ngay trong ngày Số lượnghồng cầu, bạch cầu, men gan được xác định bằng máy xét nghiệm máu tạibệnh viện đa khoa Thái Nguyên
* Phương pháp xác định hiệu lực tẩy của thuốc và đánh giá độ an toàn của thuốc điều trị sán lá gan trâu, bò
Sau khi xét nghiệm phân, phát hiện được những trâu, bo bị nhiễm sán lágan, dùng 3 loại thuốc để tẩy sán lá gan cho trâu, bò Đánh giá hiệu lực tẩycủa thuốc bằng phương pháp xét nghiệm lại phân trâu, bo tìm trứng sán lá vàđếm số lượng trứng sán/gam phân Từ đó đánh giá hiệu lực của thuốc có tốthay không? Từ đó đề xuất quy trình phòng chống bệnh sán lá gan cho bo cóhiệu quả và phu hợp, có tính khả thi khi áp dụng ở tỉnh Hà Giang
Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý (nhịp thở, thân nhiệt, nhu động dạ cỏ )trước và sau dùng thuốc để xác định độ an toàn của thuốc
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 38Số liệu thu được được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học củaNguyễn Văn Thiện, 2008 [27], trên phần mềm Excel 2010.
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUA VÀ THAO LUẬN
3.1 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò tại 3 huyện của tỉnh Hà Giang
3.1.1 Kết quả mổ khám trâu, bò và thu thập sán lá gan
Để xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bo tại ba huyện Quản Bạ, Bắc
Mê và Vị Xuyên, chúng tôi đã mổ khám 450 trâu và 300 bò, thu thập sán lágan ở ống dẫn mật trâu, bò Kết quả mổ khám thu thập mẫu được thể hiện ởbảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả mổ khám trâu, bò và thu thập sán lá gan
Địa phương
(huyện)
Loại gs
Số trâu, bò
mổ khám (con)
Số trâu,
bò nhiễm (con)
Tỷ lệ nhiễm (%)
Cường độ nhiễm (Số sán lá gan/trâu) min ÷ max
Trang 40Trong ba huyện Vị Xuyên là huyện có tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua mổkhám ở trâu là cao nhất (56,67%) sau đó đến hai huyện Bắc Mê và Quản Bạ.
Về tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bo qua mổ khám, Quản Bạ là huyện có tỷ lệnhiễm thấp nhất (39%), tiếp theo là huyện Bắc Mê (40%), Vị Xuyên (41%).Như vậy, có thể thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên trâu, bo của ba huyện làkhá cao Trâu, bo mổ khám đều nằm trong lứa tuổi từ 2 - 8 năm tuổi
Kết quả về tỷ lệ nhiễm sán gan ở trâu, bo mổ khám của chúng tôi thấphơn so với mổ khám trâu của Võ Thị Hải Lê [20] tại Nghệ An (67,76%), đốivới bò, tỷ lệ nhiễm của bo mổ khám ở ba huyện nghiên cứu cũng thấp hơn sovới kết quả của Nguyễn Văn Diên và cs (2006) [2] tại Đắk Lắk (58,63%), kếtquả của Nguyễn Hữu Hưng và cs (2009) [7] tại Đồng Tháp (64,08), kết quảcủa Phạm Diệu Thùy và cs (2014)[32] tại Tuyên Quang (64,67%)
Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [11] cho biết, đàn dê nuôi tại các tỉnh TháiNguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Cao Bằng bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ7,35% - 15,51% Như vậy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên trâu, bo cao hơn nhiều
so với tỷ lệ nhiễm trên dê Điều này phu hợp với nhận xét của Trịnh VănThịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [28], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[9] về khả năng thụ cảm với sán lá gan của các loại động vật, trong ba loài súcvật trâu, bo và dê thì trâu, cảm thụ nhất sau đó bo và cảm thụ ít nhất ở dê
3.1.2 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò
Qua tìm hiểu các tài liệu liên quan đến sán lá gan chúng tôi thấy các tài
liệu đều đề cập đến tại Việt Nam có hai loài sán lá gan lớn là F hepatica và
F gigantica Tài liệu của Lê Thanh Hòa và Nguyễn Văn Đề (2007) [6] cho biết, ở Việt Nam có 2 loài sán lá gan lớn là F hepatica và F gigantica Vì
vậy chúng tôi đã thu thập mẫu và gửi về viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
để xác định loài
Bằng phương pháp định loài qua hình thái, cấu tạo của sán lá Fasiola spp Theo khóa định loài của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] và kết quả