Phân tích tác động của đòn bẩy kinh doanh tại công ty cổ phần dược phẩm imexpharm). Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, là một đơn vị hạch toán độc lập, tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra các sản phẩm ,hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu về lợi nhuận. Tối đa hóa lợi nhuận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải có những quyết sách, chiến lược phù hợp, kịp thời đối với các hoạt động kinh tế của mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, nếu chỉ dựa vào khả năng của mình mà bỏ qua sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài, doanh nghiệp khó có thể đứng ứng và phát triển được. Phân tích tác động của đòn bẩy kinh doanh là một công việc thường xuyên và vô cùng cần thiết không những đối với chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn cần thiết đối với tất cả các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quan hệ về kinh tế và pháp lý với doanh nghiệp. Đánh giá được đúng thực trạng tài chính, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra được các quyết định kinh tế thích hợp, sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực, nhà đầu tư có quyết định đúng đắn với sự lựa chọn đầu tư của mình, các chủ nợ được đảm bảo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các khoản cho vay, nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được việc doanh nghiệp sẽ thực hiện các cam kết đặt ra, các cơ quan quản lí nhà nước có được các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cũng như hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp bằng pháp luật. Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cùng đi tìm hiểu tác động của đòn bẩy kinh doanh tại công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm. Tác động của đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp. Đòn bẩy hoạt động. Khái niệm đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định, công ty đầu tư chi phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí cố định và chi phí biến đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi phí hoạt động cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận. Ảnh hưởng của đòn bẩy thể hiện ở chỗ sự biến đổi nhỏ về doanh thu (hoặc sản lượng) sẽ làm phát sinh sự biến đổi lớn về lợi nhuận. Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động. Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong số lượng hàng bán đưa đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độ lớn hơn. Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (degree of operating leverage DOL). Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần trăm thay đổi của lợi nhuận hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu). Đòn bẩy hoạt động (DOL) =(phần trăm thay đổi lợinhuận)(phần trăm thay đổi sản lượng (hoặc doanh thu )) (1) ở mức sản lượng Q Cần lưu ý rằng độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng (hoặc doanh thu) khác nhau. Do đó, khi nói đến độ bẩy phải chỉ rõ độ bẩy ở mức sản lượng Q, doanh thu S nào đó. Chúng ta thực hiện thêm một số biến đổi công thức (1) để có thể dễ dàng tính DOL theo cách khác: Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ– VQ –F = Q(PV) – F Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên: ∆EBIT = ∆Q(PV). Thay vào công thức (1) ta được: DQL=(∆Q(PV))((Q(PV) –F)(∆QQ)) = (∆Q(PV))(Q(PV) –F)XQ∆Q = (Q(P–V))(Q(P–V) – F ) (2) Công thức (2) dùng để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q, công thức này chỉ thích hợp đối với những công ty mà sản phẩm có tính đơn chiếc. Đối với công ty sản xuất sản phẩm đa dạng và không thể tính thành đơn vị, chúng ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy theo doanh thu. Công thức tính độ bẩy theo doanh thu như sau: DQL = (S – V)(S– V– F) v= (EBIT+F)EBIT S: doanh thu, V: tổng chi phí khả biến Độ bẩy hoạt động = (số dư đảm phí)(lợi nhuận) Giả định có hai công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một lượng doanh thu như nhau, thì những công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, lợi nhuận tăng lên càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy hoạt động sẽ lớn hơn. Điều này cho thấy những công ty mà tỷ trọng chi phí bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm với sự thay đổi doanh thu, sản lượng bán. Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động Yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động có ý nghĩa quan trọng và quyết định nhất chính là kết cấu chi phí. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn, chi phí khả biến chiếm tỷ trọng nhỏ thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) nhiều hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn là những công ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi tốc độ phát triển nhanh. Ngược lại nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được, doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá sản diễn ra nhanh chóng. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí khả biến chiếm tỷ trọng lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) ít hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ là những công ty có mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn. Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm (doanh số biên tế) nếu việc bán một sản phẩm tăng thêm đó chỉ làm gia tăng chi phí khả biến đơn vị nhỏ. Vì hầu hết các chi phí đã là chi phí cố định. Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhập cũng tăng nhanh hơn. Trong khoảng thời gian kinh doanh thuận lợi, một đòn bẩy hoạt động cao có thể tạo thêm lợi ích cho công ty. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt trong máy móc, nhà xưởng, nhà đất và hệ thống kênh phân phối sẽ không thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do”. Rủi ro kinh doanh tùy thuộc một phần vào phạm vi định phí của công ty, định phí của công ty càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn. Nếu mức cầu sụt giảm, một công ty với các biến phí có thể điều chỉnh dễ dàng, trong khi công ty với các định phí lớn sẽ mất tiền. Tác động của đòn bẩy hoạt động tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp. Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm. Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt động chỉ là một bộ phận của rủi ro doanh nghiệp. Yếu tố chính của rủi ro doanh nghiệp là sự thay đổi hay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn bẩy hoạt động làm khuếch đại sự ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên bản thân đòn bẩy hoạt động không phải là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu doanh thu và cơ cấu chi phí cố định, bởi vì cái gốc là sự thay đổi doanh thu và chi phí sản xuất. Các nhà đầu tư khôn ngoan đều hiểu rằng dù một doanh nghiệp có mở rộng phạm vi thay đổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có nghĩa là đầu tư nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau đó là gia tăng đòn bẩy hoạt động. Do đó sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ bẩy hoạt động với rủi ro doanh nghiệp. Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động có tác dụng khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận và do đó khuếch đại rủi ro của doanh nghiệp. Từ giác độ này, có thể xem độ bẩy hoạt động như là một dạng rủi ro tiềm ẩn, nó chỉ trở thành rủi ro hoạt động khi nào xuất hiện sự biến động doanh thu và chi phí sản xuất. Ý nghĩa và tác dụng của đòn bẩy hoạt động. Sau khi nghiên cứu về đòn bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câu hỏi: Hiểu biết về đòn bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nào đối với giám đốc tài chính? Là giám đốc tài chính, bạn cần biết trước xem ở một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động. Độ bẩy hoạt động chính là công cụ giúp bạn trả lời câu hỏi này. Khi doanh thu tăng hay giảm X % thì EBIT có chiều hướng tăng hay giảm X %×DOL. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến động nhỏ trên doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Đôi khi biết trước độ bẩy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết định chính sách doanh thu và chi phí của mình. Nhưng nhìn chung, công ty không thích hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vì trong tình huống như vậy chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ của doanh thu cũng dễ dẫn đến sụt giảm lớn lợi nhuận. Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và doanh số ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc hiện đại, độ bẩy hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận. Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT. Tuy nhiên sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần. Đòn bẩy tài chính. Khái niệm. Đòn bẩy tài chính là hệ số biểu thị mức độ sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) để gia tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay gia tăng lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phiếu. Đòn bẩy tài chính là hệ số biểu thị việc sử dụng nợ phải trả (chủ yếu là vốn vay) trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay gia tăng lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phiếu của công ty. Công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm hoạt động của công ty quyết định, chẳng hạn như công ty hoạt động trong ngành hàng không thì có đòn bẩy hoạt động cao trong khi công ty hoạt động trong ngành dịch vụ như tư vấn và du lịch thì lại có đòn bẩy hoạt động thấp. Đòn bẩy tài chính thì khác không có công ty nào ép buộc phải sử dụng nợ và cổ phiếu ưu đãi để tài trợ cho hoạt động của mình mà thay vào đó có thể sử dụng nguồn vốn từ việc phát hành cổ phiếu thường. Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hi vọng là sẽ gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường. Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả cho việc huy động vốn có lợi tức cố định. Phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ đông thường. Điều này sẽ được thể hiện rõ hơn khi chúng ta phận tích quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế (EBIT) và lợi nhuận trên cổ phần (EPS). Phân tích mối quan hệ EPIT và EPS. Tác động của đòn bẩy tài chính đến thu nhập một cổ phần: khi thay đổi quy mô sử dụng vốn vay sẽ dẫn đến việc thay đổi lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần (EPS). Phân tích quan hệ EBIT – EPS là sự phân tích ảnh hưởng của những phương án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần. Từ sự phân tích này chúng ta sẽ tìm một điểm bàng quan, tức là điểm EBIT mà ở đó các phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau. Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp đạt được EBIT cao hơn, việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm cho EPS có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với trường hợp không vay vốn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, EBIT giảm sút, thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho EPS giảm sút mạnh hơn và nếu công ty thua lỗ thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho cổ đông gánh chịu sự thua lỗ nặng nề hơn so với trường hợp công ty không sử dụng vốn vay. Điểm cân bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (điểm cân bằng EBIT). Trong điều kiện bình thường, việc tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần hoặc tài trợ có sử dụng vốn vay có thể đưa đến kết quả EBIT giống nhau nhưng EPS có sự khác nhau. Tuy nhiên, có thể tìm ra được một mức EBIT mà khi đạt được mức lợi nhuận này đều đưa ra kết quả EPS là như nhau cho dù khác nhau về cách thức tài trợ. Đó chính là điểm cân bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Điểm cân bằng EBIT là một mức lợi nhuận trước thuế và lãi vay với mức lợi nhuận đó đạt được sẽ đưa lại EPS là như nhau cho dù tài trợ bằng vốn vay hay vốn cổ phần thường. Có 2 cách xác định điểm cân bằng EBIT: Cách 1: Dùng phương pháp đại số. Từ công thức EPS = ((EBIT1)(1t) PD)SH Trong đó: I: Lãi suất hàng năm phải trả , PD: Cổ tức hàng năm phải trả t: Thuế suất thuế thu nhập công ty, SH: Số lượng cổ phần thường Giải phương trình sau để tính điểm cân bằng EBIT: EPS1¬¬ = EPS2
Trang 1Đề tài: phân tích tác động của đòn bẩy kinh doanh tại một doanh nghiệp.( tại công ty cổ phần dược phẩm imexpharm)
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh
tế, là một đơn vị hạch toán độc lập, tiến hành quá trình sản xuấtkinh doanh để tạo ra các sản phẩm ,hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhucầu ngày càng cao của xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu về lợinhuận Tối đa hóa lợi nhuận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động củadoanh nghiệp Muốn vậy doanh nghiệp cần phải có những quyếtsách, chiến lược phù hợp, kịp thời đối với các hoạt động kinh tế củamình Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, nếu chỉdựa vào khả năng của mình mà bỏ qua sự hỗ trợ của các nguồn lựcbên ngoài, doanh nghiệp khó có thể đứng ứng và phát triển được.Phân tích tác động của đòn bẩy kinh doanh là một công việcthường xuyên và vô cùng cần thiết không những đối với chủ sở hữudoanh nghiệp mà còn cần thiết đối với tất cả các đối tượng bênngoài doanh nghiệp có quan hệ về kinh tế và pháp lý với doanhnghiệp Đánh giá được đúng thực trạng tài chính, chủ doanh nghiệp
sẽ đưa ra được các quyết định kinh tế thích hợp, sử dụng một cáchtiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực, nhà đầu tư có quyếtđịnh đúng đắn với sự lựa chọn đầu tư của mình, các chủ nợ đượcđảm bảo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với cáckhoản cho vay, nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được việcdoanh nghiệp sẽ thực hiện các cam kết đặt ra, các cơ quan quản línhà nước có được các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cũng như
hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thờikiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp bằng pháp luật Để làm
rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cùng đi tìm hiểu tác động của đònbẩy kinh doanh tại công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm
Trang 2I Tác động của đòn bẩy hoạt động, đòn
bẩy tài chính tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp.
1 Đòn bẩy hoạt động.
a Khái niệm đòn bẩy hoạt động.
Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định,công ty đầu tư chi phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo
ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí cố định và chi phí biến đổi.Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi phí hoạtđộng cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếchđại sự thay đổi lợi nhuận Ảnh hưởng của đòn bẩy thể hiện ở chỗ sựbiến đổi nhỏ về doanh thu (hoặc sản lượng) sẽ làm phát sinh sự biếnđổi lớn về lợi nhuận
b Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động.
Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong sốlượng hàng bán đưa đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độlớn hơn Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người
ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (degree of operating leverage DOL) Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần trăm thay đổi củalợi nhuận hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặcdoanh thu)
-Đòn bẩy hoạt động (DOL) = (1)
Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ– VQ –F = Q(P-V) – F
Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên: ∆EBIT = ∆Q(P-V) Thay vào công thức (1) ta được:
DQL= X = (2)
Công thức (2) dùng để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q,công thức này chỉ thích hợp đối với những công ty mà sản phẩm cótính đơn chiếc Đối với công ty sản xuất sản phẩm đa dạng và không
Trang 3thể tính thành đơn vị, chúng ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy theo doanhthu Công thức tính độ bẩy theo doanh thu như sau:
số dư đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và lợi nhuận sẽrất nhạy cảm với sự thay đổi doanh thu, sản lượng bán
c Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động
Yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động có ý nghĩa quan trọng vàquyết định nhất chính là kết cấu chi phí Những công ty có chi phíbất biến chiếm tỷ trọng lớn, chi phí khả biến chiếm tỷ trọng nhỏ thì
tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuậntăng (giảm) nhiều hơn Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷtrọng lớn là những công ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi tốc
độ phát triển nhanh Ngược lại nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêuthụ được, doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá sản diễn
ra nhanh chóng
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí khảbiến chiếm tỷ trọng lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng(giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) ít hơn Những công ty cóchi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ là những công ty có mức đầu tưthấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro sản phẩmkhông tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúpdoanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm(doanh số biên tế) nếu việc bán một sản phẩm tăng thêm đó chỉ làmgia tăng chi phí khả biến đơn vị nhỏ Vì hầu hết các chi phí đã là chiphí cố định Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhậpcũng tăng nhanh hơn
Trong khoảng thời gian kinh doanh thuận lợi, một đòn bẩy hoạtđộng cao có thể tạo thêm lợi ích cho công ty Nhưng các công ty cócác chi phí “cột chặt" trong máy móc, nhà xưởng, nhà đất và hệthống kênh phân phối sẽ không thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi
Trang 4muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng cầu Vì vậy, nếu nềnkinh tế có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do” Rủi ro kinhdoanh tùy thuộc một phần vào phạm vi định phí của công ty, địnhphí của công ty càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn Nếu mứccầu sụt giảm, một công ty với các biến phí có thể điều chỉnh dễdàng, trong khi công ty với các định phí lớn sẽ mất tiền
d Tác động của đòn bẩy hoạt động tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp.
Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh tronghoạt động của doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm.Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt động chỉ là một bộ phận của rủi rodoanh nghiệp Yếu tố chính của rủi ro doanh nghiệp là sự thay đổihay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn bẩy hoạtđộng làm khuếch đại sự ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuậnhoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên bản thân đòn bẩy hoạt độngkhông phải là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có
ý nghĩa gì cả nếu doanh thu và cơ cấu chi phí cố định, bởi vì cái gốc
là sự thay đổi doanh thu và chi phí sản xuất Các nhà đầu tư khônngoan đều hiểu rằng dù một doanh nghiệp có mở rộng phạm vi thayđổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có nghĩa là đầu
tư nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau đó là gia tăngđòn bẩy hoạt động Do đó sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ bẩyhoạt động với rủi ro doanh nghiệp Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động cótác dụng khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận và do đó khuếch đại rủi rocủa doanh nghiệp
Từ giác độ này, có thể xem độ bẩy hoạt động như là một dạng rủi
ro tiềm ẩn, nó chỉ trở thành rủi ro hoạt động khi nào xuất hiện sựbiến động doanh thu và chi phí sản xuất
e Ý nghĩa và tác dụng của đòn bẩy hoạt động.
Sau khi nghiên cứu về đòn bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câuhỏi: Hiểu biết về đòn bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nàođối với giám đốc tài chính? Là giám đốc tài chính, bạn cần biết trướcxem ở một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ ảnhhưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động Độ bẩy hoạt động chính làcông cụ giúp bạn trả lời câu hỏi này Khi doanh thu tăng hay giảm X
% thì EBIT có chiều hướng tăng hay giảm X %×DOL Nếu doanhnghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến động nhỏ trên doanhthu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận Đôi khi biết trước độ bẩyhoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết định chính
Trang 5sách doanh thu và chi phí của mình Nhưng nhìn chung, công tykhông thích hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vìtrong tình huống như vậy chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ của doanhthu cũng dễ dẫn đến sụt giảm lớn lợi nhuận
Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thịphần và doanh số ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sởvật chất và máy móc hiện đại, độ bẩy hoạt động lớn sẽ đẩy mạnhmức gia tăng lợi nhuận Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tácdụng khuếch đại gia tăng EBIT Tuy nhiên sự khuếch đại này khôngphải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần
2 Đòn bẩy tài chính.
a Khái niệm.
Đòn bẩy tài chính là hệ số biểu thị mức độ sử dụng các nguồn tàitrợ có chi phí cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) để gia tăng lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu hay gia tăng lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phiếu.Đòn bẩy tài chính là hệ số biểu thị việc sử dụng nợ phải trả (chủyếu là vốn vay) trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mụcđích gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay gia tăng lợinhuận ròng trên mỗi cổ phiếu của công ty
Công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựachọn đòn bẩy hoạt động Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm hoạt độngcủa công ty quyết định, chẳng hạn như công ty hoạt động trongngành hàng không thì có đòn bẩy hoạt động cao trong khi công tyhoạt động trong ngành dịch vụ như tư vấn và du lịch thì lại có đònbẩy hoạt động thấp Đòn bẩy tài chính thì khác không có công tynào ép buộc phải sử dụng nợ và cổ phiếu ưu đãi để tài trợ cho hoạtđộng của mình mà thay vào đó có thể sử dụng nguồn vốn từ việcphát hành cổ phiếu thường
Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hi vọng là sẽ gia tăng đượclợi nhuận cho cổ đông thường Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thểdùng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành tráiphiếu và cổ phiếu ưu đãi để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả choviệc huy động vốn có lợi tức cố định Phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc
về cổ đông thường Điều này sẽ được thể hiện rõ hơn khi chúng taphận tích quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế (EBIT) và lợi nhuận trên
cổ phần (EPS)
b Phân tích mối quan hệ EPIT và EPS.
Trang 6Tác động của đòn bẩy tài chính đến thu nhập một cổ phần: khithay đổi quy mô sử dụng vốn vay sẽ dẫn đến việc thay đổi lợi nhuậnròng trên mỗi cổ phần (EPS).
Phân tích quan hệ EBIT – EPS là sự phân tích ảnh hưởng củanhững phương án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần
Từ sự phân tích này chúng ta sẽ tìm một điểm bàng quan, tức làđiểm EBIT mà ở đó các phương án tài trợ đều mang lại EPS nhưnhau Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp đạt đượcEBIT cao hơn, việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm cho EPS có tốc
độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với trường hợp không vay vốn.Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, EBIT giảm sút, thì việc sử dụngđòn bẩy tài chính sẽ làm cho EPS giảm sút mạnh hơn và nếu công tythua lỗ thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho cổ đông gánhchịu sự thua lỗ nặng nề hơn so với trường hợp công ty không sửdụng vốn vay
c Điểm cân bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (điểm cân bằng EBIT).
Trong điều kiện bình thường, việc tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổphần hoặc tài trợ có sử dụng vốn vay có thể đưa đến kết quả EBITgiống nhau nhưng EPS có sự khác nhau Tuy nhiên, có thể tìm rađược một mức EBIT mà khi đạt được mức lợi nhuận này đều đưa rakết quả EPS là như nhau cho dù khác nhau về cách thức tài trợ Đóchính là điểm cân bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Điểm cân bằng EBIT là một mức lợi nhuận trước thuế và lãi vayvới mức lợi nhuận đó đạt được sẽ đưa lại EPS là như nhau cho dù tàitrợ bằng vốn vay hay vốn cổ phần thường Có 2 cách xác định điểmcân bằng EBIT:
Trang 7phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ phương án nào cũng manglại EPS như nhau.
Đối với mỗi phương án chúng ta cần lần lượt vẽ đường thẳng phảnánh quan hệ giữ EPS với tất cả các điểm của EBIT
EPS1 = EBIT
EPS2 = -3,6 .EBIT
Ý nghĩa điểm cân bằng EBIT:
Đây là một trong những căn cứ giúp doanh nghiệp lựa chọnphương án tài trợ có lợi hơn Nếu lợi nhuận trước lãi vay và thuế đạtđược thấp hơn điểm cân bằng EBIT thì phương thức tài trợ bằng cổphiếu phổ thông đưa lại EPS cao hơn so với phương án tài trợ có sửdụng vốn Nếu EBIT đạt được cao hơn điểm cân bằng EBIT thì việc sửdụng phương thức tài trợ có sử dụng vốn vay sẽ mang lại EPS caohơn so với phương thức tài trợ không sử dụng vốn vay Việc xem xétđiểm cân bằng EBIT có thể cho phép mở rộng phương án tài trợbằng vốn vay với mức độ sử dụng đòn bẩy khác nhau hay cácphương án tài trợ khác nhau
d Độ bẩy tài chính.
Để đánh giá sự ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến EPS ở mức
độ như thế nào người ta sử dụng thước đo gọi là mức độ tác độngcủa đòn bẩy tài chính (DFL) mức độ tác động của đòn bẩy tài chính
có thể được hiểu là thước đo mức độ thay đổi của tỷ suất lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận trước lãivay và thuế (EBIT) Có thể xác định theo công thức sau:
Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính =
t là thuế suất thuế TNDN
Trường hợp doanh nghiệp không tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãiPD=0, ta có:
DFLEBIT =
Kết hợp với việc xác định EBIT theo chi phí cố định và chi phíbiến đổi (trong phần đòn bẩy hoạt động) ta có:
Trang 8DFLEBIT =
Ý nghĩa của DFL: Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính phản ánh
khi tăng lên hay giảm đi 1% thì EPS sẽ tăng lên hay giảm đi baonhiêu %.Như vậy, tại mỗi mức EBIT khác nhau thì mức độ tác độngcủa đòn bẩy tài chính cũng khác nhau Đây cũng là một trong nhữngthước đo mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp
e Độ bẩy tài chính và rủi ro tài chính.
Rủi ro tài chính có thể được hiểu là rủi ro do biến động lợi nhuậntrên mỗi cổ phần và mất khả năng thanh toán phát sinh do công ty
sử dụng đòn bẩy tài chính Khi công ty gia tăng tỷ trọng nguồn tàitrợ có chi phí cố định trong cơ cấu nguồn vốn thì dòng tiền tệ cố địnhchi ra để trả lãi hoặc cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi cũng gia tăng Từ đólàm cho xác suất mất khả năng thanh toán cũng tăng theo Chẳnghạn, công ty A và B đều có EBIT là 300 triệu, công ty A không sửdụng nợ, công ty B phải trả 600 triệu tiền lãi Nếu EBIT cảu 2 công tygiảm xuống còn 100 triệu thì công ty B lâm vào tình trạng mất khảnăng thanh toán trong khi đó công ty A thì không
3 Tổng hợp đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính.
Khi đòn bẩy tài chính được sử dụng kết hợp với đòn bẩy hoạtđộng, sẽ tạo ra đòn bẩy tổng hợp (Combined or total leverage) Nhưvậy, đòn bẩy tổng hợp là việc sử dụng kết hợp cả chi phí hoạt động
và chi phí tài trợ cố định Khi sử dụng kết hợp, đòn bẩy hoạt động vàđòn bẩy tài chính có tác động đến EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổiqua hai bước Bước thứ nhất, số lượng tiêu thụ thay đổi làm thay đổiEBIT (tác động của đòn bẩy hoạt động) Bước thứ hai, EBIT thay đổilàm thay đổi EPS (tác động của đòn bẩy tài chính) Mức độ tác độngcủa đòn bẩy tổng hợp có thể được hiểu là thước đo phản ánh tỷ lệthay đổi tỷ suất lợi nhuận trên cổ phần thường (EPS) khi doanh thutiêu thụ hay sản lượng tiêu thụ có sự thay đổi Có thể biểu hiện mức
độ khác tác động của đòn bẩy tổng hợp theo công thức:
Mức độ tác động của đòn bẩy tổng hợp =
(DTL-degree Of total leverage)
Về mặt tính toán DTL chính là tích số của độ bẩy hoạt động với
độ bẩy tài chính:
DTL = x
DTLQ(hoặc S) = DOL DEL
Trang 9Khi thay các công thức DOL và DFL theo Q, P, V, F, I vào thì DTL
có thể viêt là:
DTLQ = hoặc (Nếu PD=0)
DLTS = hoặc (Nếu PD=0)
Trong đó: PD là cổ tức trả cho cổ phiếu ưu đãi
I là lãi vay; t là thuế suất thuế TNDN
P là giá bán đơn vị sp; Q là số lượng sp sản xuất và tiêuthụ
V là chi phí biến đổi của mỗi đơn vị sp; F là chi phí cốđịnh
Ý nghĩa của đòn bẩy tổng hợp:
Ở mỗi mức doanh thu hay sản lượng khác nhau thì mức độ tácđộng của đòn bẩy tổng hợp cũng khác nhau DTL cũng là một hìnhthước đo cho phép đánh giá mức độ rủi ro tổng thể của doanhnghiệp bao gồm cả rủi ro hoạt động và rủi ro tài chính Khi xem xét,đánh giá DTL nàh quản trị tài chính cần phối hợp DOL và DFL để làmEPS tăng lên nhưng đồng thời phải đảm bảo an toàn tài chính chodoanh nghiệp DTL cho biết khi doanh thu hoặc sản lượng tiêu thụtăng lên hoặc giảm đi 1% thì tỉ suất lợi nhuận trên cổ phần thường(EPS) tăng lên hay giảm đi bao nhiêu %
II Liên hệ thực tế về tác động của đòn bẩy
kinh doanh tại công ty cổ phần dược phẩm imexpharm.
1 Giới thiệu chung về công ty.
- Quá trình phát triển.
Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm được thành lập năm
1983 với tên gọi là Xí nghiệp Liên Hiệp Dược Đồng Tháp, trực thuộc
Sở Y tế Đồng Tháp
Năm 1997, Imexpharm là Công ty Dược phẩm đầu tiên củaViệt Nam đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP ASEAN)
Trang 10Năm 1999 Imexpharm đã phát triển sang Châu Âu và
đã trở thành Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm vào tháng07/2001
Năm 2010, Chính thức đưa nhà máy Cephalosporin tại khu CNViệt Nam-Singapore II Bình Dương đi vào hoạt động tháng 09/2010,với tổng đầu tư 113 tỷ đồng Đây là nhà máy được đầu tư theo tiêuchuẩn và công nghệ Châu Âu, sản xuất các loại thuốc uống và tiêmbột thuộc nhóm Cephalosporin thế hệ mới
Năm 2013, đánh dấu bước cải tiến mới trong sản xuất củaImexpharm với việc sử dụng nguyên liệu sản xuất bằng côngnghệ lên men (Enzymatic) của Tập đoàn DSP Tây Ban Nha cho cácdòng sản phẩm kháng sinh nổi tiếng của Imexpharm như:pmsCLAMINAT, pms-PHARMOX, pmsOPXIL và pms-IMEDROXIL Cácdòng kháng sinh được sản xuất bằng công nghệ này rất antoàn cho sức khỏe và góp phần bảo vệ môi trường, được sự chấpnhận cao của giới chuyên môn và khách hàng Imexpharm
- Ngành nghề kinh doanh:
+ Sản xuất dược phẩm, chế biến dược liệu
+ Bán buôn, xuất nhập khẩu dược phẩm, thiết bị và dụng cụ y tế,hóa chất, nguyên phụ liệu bao bì sản xuất thuốc, các chất diệtkhuẩn, khử trùng cho người
+ Bán buôn mỹ phẩm; Nuôi trồng dược liệu; Bán buôn thực phẩm,thực phẩm chức năng, các loại nước uống, nước uống có cồn, có gas;Sản xuất sữa; Hoạt động tài chính; Sản xuất thực phẩm chức năng,thực phẩm dinh dưỡng; Cung cấp các dịch vụ hệ thống kho bảo quảncác loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc; Bán lẻ thuốc, dụng cụ y tế,
mỹ phẩm và vật phẩm vệ sinh trong các cửa hàng chuyên doanh.+ Hoạt động kinh doanh chính của Imexpharm là sản xuất và kinhdoanh dược phẩm, nhập khẩu và mua nguyên phụ liệu bao bì phục