Nghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc KạnNghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO TẠI XÃ LỤC BÌNH, HUYÊN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO TẠI XÃ LỤC BÌNH, HUYÊN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lưu Thị Thùy Linh
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn”
của các trường chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
nói riêng Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên cuối khóa Đây là
giai đoạn rất quan trọng nhằm củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng
thời nâng cao kỹ năng thực hành
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt
tình của giảng viên Th.s Lưu Thị Thùy Linh, cùng sự giúp đỡ tận tình của các các
cán bộ tại Ủy ban Nhân dân xã Lục Bình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc tới các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ UBND xã Lục Bình Với trình
độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu
sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài
của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 6 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 4
2.1.2 Nghèo đa chiều 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1.Hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới 16
2.2.3 Hoạt động XĐGN ở Việt Nam 20
2.3 Giảm nghèo bền vững 22
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 24
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 25
3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 25
3.4 Các Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 25
3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ 25
3.4.2 Chỉ tiêu đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo 26
Trang 5PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
4.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo 27
4.1.2 Khí hậu, thủy văn 27
4.1.3 Các nguồn tài nguyên 28
4.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội 29
4.2 Thực trạng nghèo và giảm nghèo của xã Lục Bình năm 2015-2017 35
4.2.1 Thực trạng nghèo 35
4.3 Thực trạng các hộ điều tra 49
4.3.1 Thông tin chung về hộ 49
4.3.2 Thực trạng nghèo đa chiều của các hộ nghiên cứu tại xã Lục Bình 51
4.4 Nguyên nhân dẫn đến nghèo và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo 56
4.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều 56
4.4.2 Nguyên nhân dẫn đến nghèo 58
4.4.3 Nguyên nhân chủ quan 59
4.4.4 Nguyên nhân khách quan 61
4.5 Định Hướng và giải pháp giảm nghèo tại xã Tụ Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 62
4.5.1 Định hướng giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 62 4.6 Giải pháp giảm nghèo bền vững nâng cao chất lượng đối với các nhóm hộ và các chiều nghèo 63
4.6.1 Giải pháp giảm nghèo bền vững nâng cao chất lượng đối với các nhóm hộ và các chiều nghèo 63
4.6.2 Giải pháp giảm nghèo đối với các chiều nghèo 68
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
5.2.1 Đối với hộ nghèo 73
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 73
5.2.3 Đối với người dân 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 7
Bảng 2.2: Bảng chỉ số nghèo đa chiều 13
Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động của xã Lục Bình năm 2015 - 2017 29
Bảng 4.2:Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2017 30
Bảng 4.3: Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Lục Bình năm 2017 32
Bảng 4.4: Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính của xã 33
Bảng 4.5:Tình hình chăn nuôi của xã từ năm 2015 đến năm 2017 35
Bảng 4.6: Kết quả rà soát hộ nghèo và cận nghèo của xã Lục Bình năm 2017 36
Bảng 4.7: Kết quả giảm nghèo của xã Lục Bình 37
Bảng 4.8: Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ nghèo năm 2017 39
Bảng 4.9: Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ cận nghèo năm 2017 41
Bảng 4.10: Phân tích hộ nghèo theo mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản năm 2017 43
Bảng 4.11 Bảng phân tích hộ nghèo theo nhóm đối tượng năm 2017 45
Bảng 4.12: Phân tích hộ cận nghèo theo mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản năm 2017 47
Bảng 4.13: Phân tích hộ nghèo theo các nhóm dân tộc 48
Bảng 4.14: Phân tích hộ cận nghèo theo các nhóm dân tộc 49
Bảng 4.15 : Tình hình nhân khẩu, lao động và trình độ học vấn của hộ điều tra trong xã Lục Bình 50
Bảng 4.16 : Ngưỡng thiếu hụt giáo dục của hộ điều tra 51
Bảng 4.17: Tình hình tiếp cận và tham gia dịch vụ y tế của các hộ điều tra năm 2017 52
Bảng 4.18 Tình hình về nhà ở và diện tích của các hộ điều tra 53
Bảng 4.19 Tình hình tiếp cận thông tin của các hộ điều tra 54
Bảng 4.20 Tình hình về điều kiện sống của các hộ điều tra 55
Bảng 4.21 Bảng trình độ văn hóa của chủ hộ 56
Bảng 4.22 Bảng cơ cấu dân tộc các hộ điều tra 57
Bảng 4.23 Bảng Quy mô hộ gia đình 58
Bảng 4.24 Nguyên nhân nghèo đói của nhóm hộ điều tra 59
Trang 7PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, đói nghèo là vấn đề được xã hội quan tâm Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hoá giàu nghèo Còn
ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó có Việt Nam, thì bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn đang sống trong tình trạng thiếu đói, không đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người
Sau hơn 20 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng Nền kinh tế nước
ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với
sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển Vì vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn,
là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Xóa đói giảm nghèo cũng giống như việc chữa trị một căn bệnh, điều cốt lõi
là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất giúp người dân xóa nghèo
Xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là một xã vùng cao của huyện Bạch Thông nằm dưới dải chân núi Phja Bjoóc, cách trung tâm huyện khoảng 8km, Thành phố Bắc Kạn 15 km Có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.869 ha một xã hầu hết dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông
Trang 8nghiệp Điều kiện sản xuất còn rất khó khăn nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Là xã đặc biệt khó khăn của huyện, địa hình chủ yếu là đồi núi có độ dốc cao, hệ thống đường giao thông đã được phát triển có đường ô tô đến trung tâm xã nhưng chủ yếu là đường giao thông nông thôn loại b thường bị chia cắt vào mùa mưa, giao thông đi lại khó khăn nên ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình
Trình độ dân trí không đồng đều do vậy nhận thức và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm, còn chông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình
Thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp chưa quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Là xã vùng ba có tỷ lệ hộ nghèo là 27,79% nên công tác giảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải
Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của xã Lục Bình như vậy, huyện Bạch Thông và Xã Lục Bình đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo
Xuất phát từ những lí do trên và qua quá trình học tập tại trường với sự giúp đỡ của
giáo viên hướng dẫn Th.s Lưu Thị Thùy Linh em tiến hành nghiên cứu đề tài “
Nghiên cứu thực trạng và và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng
đến nghèo của các hộ nông dân từ đó đưa ra được những giải pháp giảm nghèo tại
xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng nghèo của xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kan
- Đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
Trang 9- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn
Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này
Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc rễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là cơ sở để có những định hướng, giải pháp nhằm XĐGN cho địa phương nghiên cứu và áp dụng vào một số địa phương có điều kiện tương tự
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
2.1.1.1 Một số khái niệm về đói nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia
Hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế xã hội ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ASCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm
và định nghĩa về đói nghèo Theo hội nghị “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của các địa phương và những phong tục ấy đã được xã hội thừa nhận” [10]
Khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo co hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian
Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp phù hợp (Báo cáo số 21/LĐTBXH-BTXH, 2005) Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch 1995
đã đưa ra định nghĩa cụ thể về đói nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai
mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua số sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là
Trang 11cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[6]
) Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức
độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’ Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40
đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997) [ 8 ]
) Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc
về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.[4]
2.1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói
2.1.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu
Trang 12người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu
+ Từ 20.000 đến 25.000 USD/người/năm là nước giàu
+ Từ 10.000 đến 20.000 USD/người/năm là nước khá giàu
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình
+ Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo
+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo
Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau:
+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0.5 USD/ngày
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang của sức mua Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, Liên hợp quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP)
- Phương pháp sức mua tương đương (PPP)
Là phương pháp sử dụng rộng rãi so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, để đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD
WB sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung theo (PPP):
+ Đối với các nước có thu nhập thấp: < 1 USD/ngày
+ Đối với các nước có thu nhập trung bình thấp: <2 USD/ngày
Trang 13Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan 2.1.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam
Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)
Chuẩn nghèo đói qua các
giai đoạn
Phân loại người nghèo đói Mức thu nhập bình
quân/người/tháng
1993 - 1995 (Mức thu nhập
bình quân quy ra gạo)
Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg Đói (KV thành thị) Dưới 13Kg Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15Kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20Kg
Trang 142.1.1.3 Các khía cạnh của nghèo đói
Về thu nhập: Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn cực khổ
và có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèo thường làm công việc đơn giản, lao động chân tay, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp Công việc thường bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và
có tính rủi ro liên quan đến thời tiết ( mưa, nắng, hạn hán, lũ lụt, động đất…) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp nên chi tiêu trong cuộc sống của những người nghèo hạn chế hầu hết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày chỉ được đáp ứng ở mức thấp thậm chí là không đủ đó giảm thu nhập đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Y tế - giáo dục: Những người nghèo thường mắc phải những căn bệnh như cảm cúm, đau khớp… vì phải lao động cực nhọc Ngoài ra họ còn phải sống trong những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế còn hạn chế Họ không được sử dụng nước sạch, không có công trình khép kín, Dẫn đến tăng tỷ lệ số trẻ em bị suy dinh dưỡng và bà mẹ bị mang thai thiếu máu Nguyên nhân là do bị đối xử bất bình đẳng trong xã hội người nghèo không được tiếp xúc với các dịch vụ an sinh xã hội so với người giàu Bên cạnh đó trình độ nhận thức của người nghèo, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình, chủ quan khiến bệnh càng trầm trọng hơn Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Tỷ lệ thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói rất cao Tình trạng này do các gia đình không thể trang trải được lệ phi, học phí cho con cái hoặc do tâm lý cổ hủ lạc hậu không cho con cái đi học vì sẽ mất
đi 1 lao động Hiện nay một số hộ nghèo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đến trường tuy nhiên vấn đề chi phí cho học tập rất là khó khăn đối với tình hình tài chính của gia đình Tóm lại, y tế - giáo dục là một vấn đề được nhiều người quan tâm, họ cũng đã hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này đối với bản thân
và tương lai của họ và gia đình Nhưng do thu nhập họ quá thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí, họ đành phải chấp nhận để con cái thôi học, người bệnh không được khám chữa kịp thời
Trang 15Điều kiện sống: Người nghèo thường sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, từ đó đưa ra các giải pháp giúp họ được tiếp cận với các với nguồn nước sạch và vệ sinh hợp lý
Tiếp cận thông tin Sử dụng thước đo tiếp cận thông tin nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thông tin truyền thông cho người nghèo rất quan trọng vì tình trạng tiếp cận thông tin của họ rất còn hạn chế và lạc hậu Từ đó đưa ra các phương pháp khắc phục
Nhà ở: Không được sống và sinh hoạt trong những ngôi nhà bền vững, họ luôn phải sống trong nỗi lo sợ thiếu thốn về vật chất và tinh thần do đó mà nó làm ảnh hưởng rất nhiều tới công việc sản xuất hàng ngày, rồi từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục
2.1.2 Nghèo đa chiều
2.1.2.1 Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều không chỉ được đo bằng thu nhập, chỉ tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cân đông thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sông xã hội khác ngay cả các chỉ báo phi vật chất Nói cách khác, tình trạng nghèo không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ báo về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội mà hộ gia đình có được Mặc dù vậy, việc chọn lựa các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn còn chưa rõ ràng Cách tiếp cận Sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế - Vương Quốc Anh (DFID) có quan hệ chặt chẽ với khái niệm nghèo đa chiều khi sử dụng một bộ các chỉ báo kinh tế - xã hội để phản ánh khả năng tiếp cập đến năm nhóm tài sản sinh kế bao gồm tài sản con người, xã hội, tự nhiên, vật chất và tài chính của hộ gia đình hoặc cá nhân [ 9 ]
Do vậy, người nghèo được tiếp cận theo hướng đa chiều, có nghĩa là không chỉ có mức thu nhập bình quân dưới chuẩn nghèo mà còn thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xã hội như giáo dục, y tế, an sinh xa hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản tại nơi ở, lương thực thực phẩm…
Trang 16Như vậy, khái niệm nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất Tổng hòa các chỉ báo này phản ánh chất lượng cuộc sống Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index
- HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và Chỉ số nghèo đa chiều 2 (Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) Cho đến nay hầu hết các nghiên cứu về nghèo ở Việt Nam vẫn sử dụng tiếp cận nghèo đơn chiều mặc dù Ngân hàng thế giới (2003) đã chỉ ra rằng Việt Nam đã áp dụng sáu phương pháp đo lường nghèo khác nhau, trong đó có bốn phương pháp áp dụng tiếp cận nghèo đa chiều Gần đây, nghiên cứu đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm 2010 (UBND TP Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh & UNDP, 2010) áp dụng chỉ số nghèo đa chiều MPI bao gồm tám chiều đo lường và 21 chỉ báo với trọng số ngang bằng nhau Báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm các khía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được xã hội bảo vệ UNDP (2011) đã công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 cho Việt Nam trong đó áp dụng so sánh ba phương pháp đo lường là nghèo tiền tệ, HPI và MPI Chỉ số nghèo đa chiều MPI được UNDP xây dựng dựa trên ba thước đo (chiều) là y tế, giáo dục và mức sống, được đại diện bằng chín chỉ tiêu 1) hộ phải bán tài sản, vay nợ để trả phí chăm sóc y
tế hoặc ngưng chữa trị; 2) thành 14 viên hộ chưa hoàn thành bậc tiểu học; 3) trẻ em trong độ tuổi đi học không đến trường; 4) sử dụng điện thắp sáng; 5) tiếp cận nước uống sạch; 6) tiếp cận vệ sinh; 7) tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn; 8) sống ở nhà cố định; và 9) có sở hữu tài sản lâu bền Quan hệ giữa nghèo và các chỉ báo kinh tế - xã
Trang 17hội khác cũng được áp dụng ở một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới (Asselin, 2009; Ki, Faye & Faye, 2009, trích bởi Asselin, 2009; Crooks, 1995) Asselin và Vu đã áp dụng 5 chiều đo lường cho Việt Nam bao gồm giáo dục, sức khỏe, nước sạch/vệ sinh, việc làm và nhà ở (Asselin, 2009) Có thể thấy, kết quả đo lường nghèo đa chiều tùy thuộc rất nhiều vào sự tin cậy của các chiều đo và các chỉ tiêu đại diện cho từng chiều đo Để có thể đo lường chính xác nghèo đa chiều, cần phải xác lập hệ thống các chiều đo và các chỉ tiêu phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của từng quốc gia, vùng miền và nhóm người cần đo lường về các khía cạnh lý thuyết, thống kê và thực tiễn Hiện nay, các nghiên cứu sử dụng MPI chủ yếu chọn lựa các chiều đo và các chỉ tiêu dựa trên lý thuyết nghèo và kinh nghiệm thực tiễn là chính Vì vậy, nghiên cứu này hướng đến việc tìm kiếm cách thức chọn lựa các chiều đo và các chỉ tiêu hợp lý về phương diện thống kê, có nghĩa là chúng phải có quan hệ thực sự về mặt thống kê với tình trạng nghèo của hộ gia đình hoặc cá nhân cần đo lường Tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu
về đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình ở các nước đang phát triển Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) xác định năm nhóm tài sản, hay còn được hiểu là “vốn” mà sinh kế dựa vào Các tài sản này bao gồm tài sản (hoặc là vốn) con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội Gia tăng khả năng tiếp cận đến các tài sản sinh kế này bằng cách sở hữu hay sử dụng được hiểu là hỗ trợ cho sinh kế và giảm nghèo Khái niệm tài sản sinh kế cho phép hiểu nghèo đa chiều thông qua các chỉ báo về tài sản sinh kế
Như vậy, có thể tồn tại các quan hệ chặt chẽ giữa các chỉ báo nghèo về tiền
và các chỉ báo về tài sản sinh kế Mỗi tài sản sinh kế cũng có thể được coi 15 là một chiều đo lường của nghèo đa chiều, và được biểu thị bằng nhiều chỉ báo khác nhau Nghiên cứu này dựa vào lý thuyết sinh kế bền vững vì tính chất toàn diện của lý thuyết cho phép tạo ra nền tảng hình thành các chiều đo lường khác nhau cho nghèo
đa chiều Sự giàu có hay nghèo nàn về các tài sản sinh kế cũng đồng nghĩa với sự giàu có hay nghèo theo quan niệm đa chiều Dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững, Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) đã thử sử dụng bộ số liệu VHLSS năm 2008 và đã xác định mười chiều đo đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế là
Trang 18vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, và vốn tài chính của hộ gia đình nông thôn Việt Nam dựa trên các phương pháp thống kê đa biến là phân tích thành phần chính PCA và Multiple Correspondence Analysis (MCA)
Kế thừa kết quả trên, nghiên cứu này tiếp tục dựa vào khung phân tích sinh
kế bền vững (DFID, 1999) để xác định các chỉ báo đo lường nghèo đa chiều cho hộ
3 gia đình nông thôn Việt Nam và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2010 để kiểm tra lại tính nhất quán của các chiều đo và các chỉ báo nghèo đa chiều
Ra đời mới chỉ vài năm gần đây, phương pháp mới này có nhiều điểm lợi hơn là cách đo lường thông thường Nó đánh giá đầy đủ các khía cạnh khác nhau của người dân về mặt cuộc sống xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là thu nhập Nếu tính theo kiểu thu nhập, xã hội dễ bỏ qua những người nằm trong diện vừa thoát nghèo nhưng trên thực tế lại không đủ thu nhập để tiếp cận các dịch vụ xã hội khác, hoặc những hộ gia đình có nguy cơ tái nghèo Do đó tỉ lệ người nghèo ước tính sẽ cao hơn, khi đó ta sẽ nắm được rõ các hộ nghèo để có một phương pháp giảm nghèo bền vững phù hợp hơn và hiệu quả hơn để hộ nghèo được thoát nghèo
Việc xác định mức độ thiếu hụt thông qua tiếp cận đo lường nghèo đa chiều
sẽ góp phần tăng tính hiệu quả của chính sách hỗ trợ, hạn chế tình trạng 16 trông chờ, ỷ lại của đối tượng thụ hưởng, đồng thời là cơ sở để xây dựng kế hoạch ngân sách thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội phù hợp hơn
2.1.2.2 Chỉ số nghèo đa chiều
- Theo Quyết định số 59/2015 TTg về chuẩn nghèo ban hành ngày 19/10/2015 của Thủ tướng Chính Phủ
1 Hộ nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên
b) Khu vực thành thị: là độ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Trang 19- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên
2 Hộ cận nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
sở và hiện không đi
học
Hiến pháp năm 2013 Luật Giáo dục 2005 Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em NQ 15/NQ-TW Một số
10
Trang 20có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt
có bảo hiểm y tế
Hiến pháp năm 2013 Luật bảo hiểm y tế
2014 NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn
cố hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)
Luật Nhà ở; NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-
2020
10
3.2 Diện tích Diện tích nhà ở bình Luật Nhà ở; Quyết 10
Trang 21quân đầu người của
hộ gia đình nhỏ hơn
8m2
định 2127/QĐ- Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030
4) Điều kiện
sống
4.1 Nguồn nước sinh hoạt
Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh
Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh
Hộ gia đình không có thành viên nào sử dụng thuê bao điện thoại và internet Luật Viễn thông
Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn Luật Thông tin truyền thông
Trang 222.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1.Hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Đói nghèo là vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó trở thành vấn nạn trên toàn cầu Trong lịch sử có nhiều nạn đói chết hàng triệu người dân châu Á, châu Phi Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang gia tăng trên quy mô toàn cầu và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130- 155 triệu người năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao[5]
Ngày 15/5/2012, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm 2012 về thị trường lao động, nhấm mạnh từ những năm qua, tình trạng nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển [5]
Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất.Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết giữa các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi “Nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế, và
Trang 23nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh
2.2.1.2 Các giải pháp và kinh nghiệm XĐGN ở một số nước trên thế giới
Giải pháp
Những giải pháp và những chính sách hướng vào phát triển sản xuất, tăng trường kinh tế với công bằng xã hội.Những kết quả, thành tựu đạt được trong việc khắc phục tình trạng đói nghèo ở các nước trong giai đoạn xây dựng và cải cách kinh tế - xã hội đã vừa xác nhận vừa làm tăng lên ý nghĩa của bài học kinh nghiệm.Nó là điểm tựa, là cơ sở lý luận cho các quyết sách của Chính phủ Về mặt thực tiễn của xã hội, bài học kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng thiết thực của các chính sách hỗ trợ phát triển cho người nghèo bằng cách tạo việc làm, tăng thu nhập thực tế, tạo cơ hội và trợ giúp các điều kiện để cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói Từ kinh nghiệm trên cho thấy rằng Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua chính sách tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi để hỗ trợ sản xuất cho người nghèo
Kinh nghiệm XĐGN của một số nước trên thế giới
- Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị -xã hội Để ổn định tình hình chính trị -xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế -xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế -xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay
Trang 24- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao
- Thay giống lúa mới có năng suất cao
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dâncó việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dẩna các thành phố lớn dể kiếm việc làm chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn
Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế
2.2.2 Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo của một số nước trên thế giới
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối diện với những căng thẳng và nguy cơ tụt giảm ngày càng lớn, khủng hoảng việc làm, giá lương thực tăng cao, bất công xã hội, biến đổi khí hậu, khiến cho số người lâm vào cảnh cùng cực gia tăng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đã được chỉ ra, trong đó phải kể đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nay vẫn đeo đuổi nhiều nước, đặc biệt các nước phát triển trong đó có Mỹ Khu vực đồng Euro đang phải đối mặt với khủng hoảng nợ công nên buộc phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội, trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến phần còn lại của thế giới
Đầu năm 2011 Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) ước tính, trên thế giới
có khoảng một tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực Đến cuối tháng 10 năm 2011, dân số thế giới đạt 7 tỷ người Điều đó có nghĩa, mỗi ngày trên hành tinh
Trang 25cứ 7 người sẽ có 1 người bị đói, nghèo mặc dù thế giới sản xuất đủ lương thực cho tất cả mọi người Điều đáng buồn là con số này sẽ không dừng lại mà còn có xu hướng tăng lên trong năm, trong đó nhiều người không chỉ nghèo mà còn bị đẩy vào cảnh cùng cực Đặc biệt, nạn đói đang tác động tới 12,4 triệu người ở vùng sừng Châu Phi Tại đây, có tới 7 nước đang phải đối phó với nạn đói và tính mạng của hàng chục triệu người bị đe dọa
Nghèo đói tập trung chủ yếu vào hai khu vực đó là Châu Phi và Châu Á: Với khu vực Châu Á có tỷ lệ người nghèo và số người nghèo cao bởi họ phải hứng chịu nhiều những biến động của nền kinh tế thế giới Hiện nay, 900 triệu người châu Á đang phải sống trong tình trạng cực kì nghèo đói với mức sống dưới 1,25 đô la Mỹ/ngày 620 người sống dưới mức thu nhập 1USD/ngày Một nửa trong số này sống ở Trung Quốc và Ấn Độ
Với Châu Phi, nghèo là do châu lục này tỷ lệ có thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới Có tới 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỷ USD Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch Họ có 7 triệu người phải sống trong các trại tị nạn, 20 triệu người sống trong cảnh vô gia cư Ngoài ra hạn hán, mù chữ, thiếu nước sạch xảy ra thường xuyên trong những năm qua đã đẩy châu lục này vào tình trạng đói nghèo trầm trọng Với Châu Âu theo bao cáo của Eurostat thì "Trong năm 2010, 115 triệu người, hay 23,4% dân số, trong EU27 có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội Điều này có nghĩa rằng họ đã rơi vào ít nhất một trong ba hoàn cảnh sau: có nguy cơ đói nghèo, bị tước đoạt vật chất hoặc sống trong các hộ gia đình với cường độ làm việc rất thấp Việc giảm số lượng người có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội ở EU là một trong những mục tiêu chính của chiến lược 2020 Châu Âu Cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu cho biết: Trong năm 2010, số người đang có nguy cơ nghèo đói hoặc loại trừ xã hội được ghi nhận cao nhất ở Bulgaria (42%), Rumani (41%), Latvia (38%), Lithuania (33%) và Hungary (30%), và thấp nhất ở Cộng hòa Séc (14%), Thụy Điển và Hà Lan (cả hai đều 15%), Áo, Phần Lan và Luxembourg (tất cả 17%)
Trang 26Dù thế giới đã sớm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về xoá đói giảm nghèo song chống đói nghèo vấn tiếp tục là một cuộc chiến trường kỳ đòi hỏi nỗ lực không mệt mỏi của cả cộng đồng quốc tế
Do vậy, trong thông điệp nhân Ngày thế giới chống đói nghèo năm nay, Tổng thư ký Ban Ki-moon đã kêu gọi toàn thế giới không được quên rằng vẫn còn quá nhiều người nghèo đói, không được học hành và không được chữa bệnh trên hành tinh của chúng ta Người đứng đầu tổ chức LHQ cho rằng ngay lúc này cộng đồng quốc tế cần chung tay xây dựng Chương trình nghị sự phát triển sau năm
2015, trong đó phải ưu tiên tối đa cho mục tiêu thanh toán nạn đói nghèo và bần cùng; mỗi quốc gia cần có ngay những biện pháp hữu hiệu và thiết thực nhất để giải quyết nạn đói nghèo, cùng hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một thế giới thịnh vượng, công bằng, bình đẳng và một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, vui tươi cho tất
cả mọi người.[3]
2.2.3 Hoạt động XĐGN ở Việt Nam
2.2.3.1.Thực trang nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Trong hơn 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc XĐGN đã đạt được những thành tựu đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững
Theo Báo cáo “Tình hình, kết quả công tác dân vận trong thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm nghèo bền vững và Xây dựng nông thôn mới” của Bộ LĐ-TB&XH, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, đưa
tỷ lệ nghèo đói chung của cả nước từ khoảng 58% năm 1993 xuống còn dưới 4,25% vào cuối năm 2015; đã xóa hoàn toàn tình trạng đói từ năm 2000 và đã chuyển trọng tâm sang thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
Công tác giảm nghèo đã bước sang giai đoạn mới, chuyển từ diện rộng trong phạm vi cả nước sang tập trung ở một số vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, trong một số nhóm dân cư; chính sách giảm nghèo đã hướng đến nâng cao chất lượng giảm nghèo và chuyển sang mục tiêu giảm nghèo bền vững Về thực hiện chỉ
Trang 27tiêu giảm nghèo, cuối năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 8,23%, giảm 1,67% so với cuối năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo các huyện nghèo còn 44,93%, giảm 5,5%, so với cuối năm 2015, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao Dự kiến đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn dưới 7% (giảm 1,3% so với cuối năm 2016) [7]
2.2.3.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Để đánh giá được thực trạng đói nghèo ở nước ta, trước tiên cần phải tìm hiểu các nhân tố tác động đến vấn đề nghèo đói Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói, nó không chỉ đơn thuần là nhân tố về kinh tế hoặc thiên tai, địch họa gấy ra Mà tình trạng đói nghèo ở nước ta có sự đan xen của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên của cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan, cả tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội Do đó cần phải đánh giá đúng nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đối với từng đối tượng cụ thể
Nhóm nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội: vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, địa hình phức tạp (miền núi, hải đảo vùng sâu) đường giao thong không thuận lợi Do điều kiện địa lý như vậy,
họ rất dễ rơi vào thế bị cô lập, tách biệt với bên ngoài khó tiếp cận được các nguồn lực của phát triển
- Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc biệt là bão lụt, hạn hán, cháy rừng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân
- Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thấp kém nhưng không
có thị trường
Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế, chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ
về chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, làm ngư, chính sách giáo dục – đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư,
kinh tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế
Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân hộ nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn để sản xuất, gia đình đông con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí, lười lao động, mắc các tệ nạn xã hội như: Cờ
Trang 28bạc, rượu chè, nghiện hút,…ngoài ra còn một bộ phận nhỏ người nghèo có tư tưởng
ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước nên chưa chủ động vươn lên để thoát nghèo
Để xác định các biện pháp phù hợp trong công tác XĐGN, mỗi địa phương phải xác định rõ đâu là nguyên nhân chính và những thuận lợi, khó khăn của địa phương mình
2.3 Giảm nghèo bền vững
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm cải tiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.Thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã cam kết Những năm qua việc tập trung thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn với các dịc vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường, đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012), bình quân giảm 2,3%/năm Tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đã giảm từ 58,33% (năm 2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm Những thành công trong công tác giảm nghèo đã được cộng đòng quốc tế ghi nhận và đánh giá.[6]
Giảm nghèo phải đi đôi với bảo vệ môi trường để giảm nghèo bền vững Tuy nhiên, trên thực tế kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, chệnh lệch giàu nghèo giữa các nhóm, vùng dân cư còn lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn nhiều khó khăn, nhất là khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Mục tiêu giảm nghèo bền vững của ta đến năm 2020 không chỉ tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, khu vực đồng bào dân tộc thiểu
số, mà quan trọng là chuyển đổi phương pháp đo lường từ nghèo đơn chiều sang đa chiều, tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Xóa nghèo không chỉ tăng thu
Trang 29nhập cho các hộ nghèo mà còn tăng mức độ thụ hưởng các chính sách, dịch vụ xã hội “Việc khuyến khích người nghèo bày tỏ tiếng nói, trao quyền để họ tự tìm ra cách giảm nghèo, lôi cuốn sự tham gia của người nghèo vào quá trình lập kế hoạch
và giám sát thực hiện là những yếu tố để giảm nghèo bền vững”- bà Pratibha Mehta, Điều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc lưu ý
Giảm nghèo bền vững phải được thực hiện một cách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực (chính sách, y tế, giáo dục và điều kiện sống) đảm bảo không có hiện tượng tái nghèo xảy ra
Trang 30Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nghèo và cận nghèo trong xã Lục Bình huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm: Tại xã Lục Bình - Huyện Bạch Thông - Tỉnh Bắc Kạn
Thời gian: từ 15/01/2018 đến 30/5/2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên, kinh tế, xã hội tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Đánh giá thực trạng nghèo của người dân tại địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại địa phương
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại địa phương từ năm 2015 đến nay
- Đề xuất giải pháp giảm nghèo cho địa bàn nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Đây là những số liệu trong báo cáo tổng kết, thống kê tình hình kinh tế xã hội, số liệu đánh giá nghèo đói của HĐND-UBND xã Lục Bình Em sử dụng phương pháp này để có được số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, kinh tế, xã hội, tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; các tài liệu tham khảo như báo cáo đánh giá kết quả hoạt động tình hình an ninh kinh tế nông thôn trên địa bàn
xã Lục Bình từ năm 2015 đến 2017, kế hoạch điều tra rà soát hộ nghèo cận nghèo
hộ trung bình năm 2017 trên địa bàn xã Lục Bình, báo cáo mục tiêu giảm nghèo năm 2017, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2017 và phương hướng nhiệm
vụ 2018, danh sách các hộ nghèo và cận nghèo và nguyên nhân gây nên, danh sách
bổ xung các hộ nghèo mới,… Qua đó để thấy được thực trạng nghèo đói của cộng đồng người dân trên địa bàn xã (UBND xã Lục Bình, 2017)[1]
Trang 313.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
a Chọn điểm điều tra
Chọn 3 thôn gồm thôn Lủng Chang, Nà Chuông, Bắc Lang Chang để nghiên cứu Các thôn được chọn mang tính đại diện nhất, trong đó thôn Bắc Lang Chang
là trung tâm, nơi có UBND xã Lục Bình và các cơ quan đặt tại đây, có vị trí thuận lợi nhất trong giao thương buôn bán, là nơi có hoạt động kinh tế phát triển và dân
cư tập chung đông nhất; tiếp đến là thôn Nà Chuông và thôn là nơi có dân cư và hoạt động kinh tế trung bình; tiếp đến là thôn Lủng Chang là thôn xa trung tâm nhất, dân cư và điều kiện hoạt động kinh tế khó khăn nhất của vùng
b Chọn mẫu điều tra
Chọn 3 thôn gồm thôn Lủng Chang, Nà Chuông, Bắc Lang Chang để nghiên cứu, thôn Lủng Chang chọn 10 hộ nghèo và 10 hộ cận nghèo Thôn Bắc Lang Chang chọn 10 hộ nghèo và 10 hộ cận nghèo Thôn Nà Chuông chọn 10 hộ nghèo
10 hộ cận nghèo Tổng số phiếu điều tra là 60
3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp so sánh
Sau khi các số liệu được tổng hợp và phân tích chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để so sánh tỷ lệ hộ nghèo đa chiều so với hộ nghèo đơn chiều theo thu nhập để thấy được sự khác biệt giữa hai loại hình nghiên cứu và suy rộng ra được vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành thu thập thông tin trong một khoảng thời gian đề tài nghiên cứu Từ các số liệu và các thông tin thu thập được tiến hành phân tích những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến đói nghèo, để thấy được xu hướng và đưa ra những giải pháp giảm nghèo bền vững
3.4 Các Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ
- Bình quân diện tích đất đai/hộ
- Bình quân diện tích đất đai/nhân khẩu
- Bình quân số vốn vay/hộ được vay
Trang 32- Tỷ lệ lao động/nhân khẩu
3.4.2 Chỉ tiêu đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo
Lục Bình là một xã vùng cao của huyện Bạch Thông nằm dưới dải chân núi Phja Bjoóc, cách trung tâm 08km, Thị xã Bắc Kạn 15 km Có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.869 ha, có danh giới giáp với 06 xã:
+ Phía Đông giáp xã Tân Tiến, xã Quân Bình
+ Phía Tây giáp xã Đôn Phong
+ Phía Nam giáp xã Hà Vị
+ Phía Tây Bắc giáp xã Vi Hương
+ Phía Bắc giáp xã Tú Trĩ
Với vị trí địa lý này, xã có điều kiện phát huy khai thác tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế xã hội.( UBND xã Lục Bình, 2017)
- Thuộc dãy núi Phja Bjoóc có độ cao 1.575 m so với mực nước biển, là một
xã vùng núi có đường giao thông liên xã, có địa hình đồi núi cao sen kẽ giữa các đồi núi là khe suối nhỏ, thấp trũng
- Diện tích đất ở chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là bám vào các ven đồi, núi và các bãi soi dọc hai bên bờ suối Ruộng lúa canh tác ở xã chiếm tỷ lệ diện tích nhỏ nằm dọc theo con suối Lục Bình, diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ khá lớn nên cũng có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp
4.1.2 Khí hậu, thủy văn
Xã Lục Bình năm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Mùa nóng mưa từ tháng 5 đến tháng 8 Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau Do
vị trí địa lý nên hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc; vào mùa khô nhiệt
Trang 34- Lượng mưa trung bình 2.137 mm
Từ tháng 5 đến tháng 8 mưa nhiều, lượng mưa trong các tháng này chiếm tới 70% lượng mưa trong cả năm
- Đầu năm thường mưa nhỏ kéo dài, thời tiết âm u
- Lượng bốc hơi trung bình 600 mm
- Mùa đông gió thịnh hành theo hướng Bắc - Đông Bắc
- Mùa hè gió thịnh hành theo hướng Đông - Đông Nam
Hệ thống sông suối tương đối nhiều Trong đó có suối Lục Bình chảy theo địa hình của xã dài 4 km.( UBND xã Lục Bình, 2017)
4.1.3 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất:
- Đất xã Lục Bình thuộc loại đất felarit
- Đất phù sa suối trong phân bổ tập trung ở các ven con suối chính chảy qua địa bàn xã, đây là loại đất có diện tích nhỏ
- Độ ẩm đất tương đối cao, tầng canh tác dày, độ màu mỡ tương đối phong phú Hàm lượng mùn trung bình
- Nhìn chung đất ở đây tương đối màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây như: Lúa, ngô, khoai, sắn, đỗ tương Cây công nghiệp như: Chè, thuốc lá và các loại cây lâm nghiệp như: bồ đề, quế, mỡ
Tài nguyên nước và các công trình thủy lợi:
- Hệ thống sông suối nhỏ phân bố không đồng đều, là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của xã
- Được sự quan tâm của Nhà nước về cơ bản xã đã hoàn thành các công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất Hiện nay trong toàn xã có 8/8 thôn đều đã có đập thuỷ lợi với hệ thống kêng mương có chiều dài là 9 km được xây dựng bằng bê tông đảm bảo cho việc cung cấp nước tới tiêu cho đồng ruộng
- Toàn xã có 6 thôn có công trình cấp nước sạch phục vụ nhân dân trong thôn: Nà Chuông, Cao Lộc, Bản Piềng, Pác Chang, Nà Nghịu, Lủng Chang
Tài nguyên rừng:
- Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 2.319,64 ha chủ yếu là rừng trồng các loại cây lâm nghiệp như: Keo lai, bồ đề, mỡ Trồng rừng tập trung đạt 449,09 ha,
Trang 35trồng rừng phân tán 525,91 ha, cấp phép khai thác 374, 08 m3 gỗ rừng trồng ước tính trị giá khai thác gỗ đạt 561 triệu đồng Trên địa bàn xã có 7 cơ sở kinh doanh
gỗ tạo công ăn việc làm cho 118 lao động, với mức lương thu nhập bình quân 1,7 triệu đồng/tháng/người Nhờ phát triển lâm nghiệp nên đời sống của người dân khá giả và nhiều hộ gia đình đã giàu lên từ việc phát triển cây lâm nghiệp.( UBND xã Lục Bình, 2017)
4.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội
a) Tình hình dân số , lao động
Theo điều tra dân số của xã tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2017 thì xã có
số hộ là 662 hộ với 2.629 khẩu, gồm 3 dân tộc cùng chung sống và được chia thành
8 thôn Trong đó
- Dân tộc Tày 2.267 người, chiếm tỷ lệ 87,26% tổng dân số toàn xã
- Dân tộc Kinh 110 người, chiếm tỷ lệ 4,23%tổng dân số toàn xã
- Dân tộc Nùng 221 người, chiếm tỷ lệ 8,51% tổng dân số toàn xã
Dân cư phân bố không đồng đều, rải rác trong các làng, bản đan xen nhau, dân cư tập chung ở các khu trung tâm xã (UBND xã Lục Bình, 2017)[1]
Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động của xã Lục Bình năm 2015 - 2017
III Tổng lao động Lđ 1763 100 1767 100 1788 100 100
1.Lao động nông
nghiệp Lđ 1691 95,92 1693 95,81 1704 95,3 95,68 2.Lao động
phi nông
72 4,08 74 4,19 84 4,7 4,32
Trang 36Qua bảng số liệu trên cho ta thấy qua 3 năm, cơ cấu lao động ngành phi nông nghiệp cũng được tăng lên từ 4,62% lên 5,44%, tốc độ phát triển bình quân là 4,94% đây là con số không lớn lắm nhưng nó đóng góp một phần cho sự phát triển của xã
- Lao động phi nông nghiệp từ đó cũng tăng lên từ 4,08% lên 4,7 %, tốc độ phát triển qua 3 năm đạt được là 4,32% Hộ phi nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp tăng lên là do một số hộ chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập cho gia đình
- Hộ nông nghiệp và lao động nông nghiệp có xu hướng giảm xuống nhưng
số lượng không đáng kể
b) Hiện trạng sử dụng đất đai tại xã
Bảng 4.2:Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2017
STT Mục đích sử dụng đất tích(ha) Diện cấu(%) Cơ
(Nguồn: Địa chính xã Lục Bình năm 2017)
Qua bảng 4.2 ta thấy xã Lục Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 2868,73ha
và được sử dụng vào các mục đích khác nhau, có sự chuyển đổi mục đích sử dụng giữa các loại đất với nhau
Trang 37Đấy nông nghiệp có diện tích lớn nhất là 2732,41ha chiếm 95,25% Trong khi đó đất phi nông nghiệp có diện tích là 135,05 ha chiếm 4,71%, và đất chưa sử dụng là 1,27 ha chiếm 0,04% Đây là các loại điều kiện thuận lợi để xã phát triển các loại hình trồng trồng trọt và khai thác tài nguyên rừng
c) Hiện trạng cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Hệ thống giao thông của xã về cơ bản các tuyến đường liên xã
đã đựơc đầu tư xây dựng và rải nhựa còn lại các tuyến đường đến các thôn, bản thì chủ yếu là đường đất, chưa có sự đầu tư xây dựng nên hàng năm vào mùa mưa việc
đi lại sinh hoạt của nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn
- Công trình thủy lợi: Được sự quan tâm của Nhà nước về cơ bản xã đã
hoàn thành các công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất Hiện nay trong toàn xã có 8/8 thôn đều đã có đập thuỷ lợi với hệ thống kêng mương có chiều dài là 9 km được xây dựng bằng bê tông đảm bảo cho việc cung cấp nước tới tiêu cho đồng ruộng Toàn xã có 6 thôn có công trình cấp nước sạch phục vụ nhân dân trong thôn:
Nà Chuông, Cao Lộc, Bản Piềng, Pác Chang, Nà Nghịu, Lủng Chang
- Giáo dục: Xã có 01 trường Tiểu học, 01 trường Mầm non, năm học 2016
- 2017 nhà trường đã hoàn thành chương trình đề ra: Tổng số học sinh trên địa bàn
- Y tế: Xã có 01 Trạm y tế xã có 5 cán bộ; trong đó có: 02 y sỹ đa khoa,
01 nữ hộ sinh và 02 điều dưỡng với 3 giường bệnh cơ sở vật chất và phương tiện khám chữa bệnh khá khang trang Đảm bảo thường trực 24/24, tổ chức họp giao ban tháng với 8/8 y tế thôn bản triển khai thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, y
tế dự phòng (tiêm phòng, tiêm chủng) đã phần nào đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và phòng chống các dịch bệnh thông th-
ường, năm 2010 được công nhận chuẩn Quốc gia về y tế
Trang 38Bảng 4.3: Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Lục Bình năm 2017
I Điện sinh hoạt
Trang 39(Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế, xã hội của UBND xã )
Trong giai đoạn 2015 - 2017 ngành trồng trọt của thị trấn đã có sự biến động của các loại cây trồng cả về diện tích, năng suất và sản lượng qua các năm
Lúa
- Diện tích: Diện tích trồng lúa năm 2015 là 356,9ha đến năm 2017 tăng lên
là 20,69ha, diện tích trồng lúa của năm 2016 so với năm 2015 cũng tăng lên là 19,64 ha Nguyên nhân dẫn đến diện tích đất trồng lúa trên địa bàn tăng là vì lúa là cây trồng chủ yếu để phục vụ cuộc sống của họ và cũng là cây trồng đem lại thu nhập ổn định cho người dân
- Năng suất: Năng suất lúa có sự biến chuyển không đồng đều, năm 2015 năng suất lúa là 5,14tấn/ha đến năm 2017 giảm xuống còn 5,03tấn/ha, Năng suất lúa năm 2016 so với năn 2015 tăng lên nhưng số lượng tăng lên không đáng kể chỉ có 0,02 tấn/ha Nguyên nhân là do ảnh hưởng của thời tiết nên có 24,07ha giống lúa ngắn ngày và lúa nếp bị nhiễm bệnh lùn sọc đen và 38,025ha lúa bao thai đang thời
kỳ trỗ bông bị đổ ảnh hưởng lớn đến năng suất
Trang 40- Sản lượng: Mặc dù diện tích trồng lúa qua 3 năm tăng song năng suất lúa lại giảm nên sản lượng lúa không ổn định
Ngô
- Diện tích: Diện tích trồng ngô năm 2015 là 45,45ha đến năm 2017 diện tích trồng ngô giảm xuống còn 33,56ha giảm 11,89ha so với năm 2015 Diện tích trồng ngô giai đoạn 2012 - 2014 giảm xuống, nguyên nhân chủ yếu vì người dân chuyển trồng ngô sang trồng cây khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn giá cả ổn định hơn trồng ngô
- Năng suất: Năng suất ngô tăng nhẹ nhưng không đáng kể, năm 1015 năng suất trồng ngô là 3,83 tấn/ha tăng 0,7 tấn/ha so với năm 2017
- Sản lượng: Sản lượng ngô năm 2015 là 174,6tấn đến năm 2017 giảm xuống còn 152,5tấn
Sắn:
Diện tích: Diện tích sắn giảm mạnh qua 3 năm, năm 2015 diện tích sắn của
xã là 40,98ha đến năm 2017 giảm xuống còn 8,75ha tức là giảm 32,23ha Kéo theo năng suất sắn cũng giảm đều qua các năm Sản lượng: Sản lượng sắn giảm qua các năm, năm 2015 sản lượng sắn là 799,11 tấn, đến năm 2017 sản lượng sắn là 140,625 tấn
Như vậy có thể thấy rằng hàng năm đều có sự biến động về diện tích gieo trồng các loại cây song sự biến động ấy là không nhiều, đa số vẫn là sự chuyển đổi sang các cây trồng chính như lúa, ngô mang lại thu nhập ổn định hơn cho người dân
Chăn nuôi
Trồng trọt là ngành tạo tiền đề cho ngành chăn nuôi phát triển Tận dụng các sản phẩm của ngành trồng trọt làm thức ăn, nguyên liệu cho ngành chăn nuôi đã góp phần vào sự phát triển của ngành chăn nuôi ở địa phương Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm khá ổn định Ngành chăn nuôi là ngành đem lại nguồn thu chính thứ 2 sau ngành trồng trọt của xã, loại vật nuôi chủ yếu là lợn, gà, trâu