Ung thư là một căn bệnh nguy hiểm và tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng cao. Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Tổ chức y tế thế giới (WHO), số người mắc bệnh ung thư trên thế giới sẽ tăng dần, đến năm 2030 là khoảng hơn 20 triệu (con số này là 12,7 triệu người vào năm 2008) với 90% ca bệnh tập trung ở các nước nghèo. Trước đây, ung thư được xem như bệnh nan y nhưng ngày nay với sự kết hợp tốt của nhiều phương pháp phẫu thuật ngoại khoa, xạ trị và đặc biệt là hóa trị đã góp phần rất lớn trong điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Các thuốc hóa trị như 5fluorouracil (5FU), oxaliplatin thường được dùng điều trị ung thư đường tiêu hóa, ung thư vú… Phối hợp 5FUleucovorinoxaliplatin (FOLFOX) được xem như phác đồ đầu tay trong điều trị ung thư trực tràng với tỷ lệ đáp ứng lên đến 5167%, 10 gia tăng tỷ lệ sống sót của bệnh nhân, đặc biệt ở những bệnh nhân đã đề kháng. Tuy nhiên, mặt hạn chế của phác đồ FOLFOX nói riêng và hóa trị nói chung là gây độc tính trên nhiều cơ quan như hệ tạo máu, niêm mạc tiêu hóa, tóc. Đặc biệt, độc tính trên tủy xương, gây suy giảm bạch cầu. Bên cạnh đó, nhiều thuốc khác cũng gây suy giảm bạch cầu như ribavirin, lamivudin trong điều trị viêm gan siêu vi B, C. Bạch cầu có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân bên ngoài như vi khuẩn, virus, nấm… Giảm số lượng bạch cầu sẽ làm người bệnh có nguy cơ cao bị mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, đây là nguyên nhân cao gây tử vong cho người bệnh. Trước đây, tình trạng giảm bạch cầu chỉ có thể khắc phục bằng cách giảm liều, trì hoãn hoặc ngưng điều trị. Nhưng hiện nay, khó khăn này đã được khắc phục bằng việc sử dụng các yếu tố kích thích tạo bạch cầu như: GCSF (FilgrastimPegfilgrastim, Lenograstim); GMCSF (Molgramostim, Sargramostim); SCF (Ancestim). Bên cạnh đó, các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu như tam thất, phụ tử, linh chi, trinh nữ hoàng cung…v,v, cũng đang được nghiên cứu như là những chất hỗ trợ điều trị, giúp hạn chế tác dụng phụ trên hệ tạo máu của các thuốc hóa trị. Vì vậy việc xây dựng các mô hình dược lý phù hợp để phục vụ cho các nghiên cứu này là rất cần thiết. Với mục đích trên, chúng tôi đặt mục tiêu xây dựng mô hình gây suy giảm bạch cầu trên chuột nhắt bằng phối hợp của oxaliplatin, 5fluorouracil, leucovorin với các mục đích cụ thể như sau: Khảo sát tác động gây suy giảm bạch cầu của phối hợp oxaliplatin, 5 fluorouracil, leucovorin. Xây dựng mô hình để nghiên cứu sàng lọc thuốc có tác dụng phòng ngừa suy giảm bạch cầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHÂU NGỌC QUỲNH ANH
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GÂY GIẢM BẠCH CẦU BẰNG
PHỐI HỢP OXALIPLATIN VÀ 5-FLUOROURACIL
TRÊN CHUỘT NHẮT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Tp Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHÂU NGỌC QUỲNH ANH
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GÂY GIẢM BẠCH CẦU BẰNG PHỐI HỢP
OXALIPLATIN VÀ 5-FLUOROURACIL TRÊN CHUỘT NHẮT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS TRẦN MẠNH HÙNG
DS LÊ PHAN XUÂN QUYÊN
Tp Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CÁC DÒNG BẠCH CẦU 3
2.1.1.Bạch cầu hạt 4
2.1.2.Bạch cầu dòng lympho 6
2.1.3.Bạch cầu đơn nhân 6
2.2 SUY GIẢM BẠCH CẦU DO THUỐC 7
2.2.1.Các thuốc hóa trị ung thư 7
2.2.2.Các thuốc kháng giáp tổng hợp 11
2.2.3.Các loại thuốc khác 11
2.3 YẾU TỐ KÍCH THÍCH TẠO BẠCH CẦU 12
2.3.1.Quá trình sản sinh bạch cầu 12
2.3.2.Kích thích sự tạo bạch cầu sau hóa trị liệu 14
2.3.3.Filgrastim 15
CHƯƠNG 3 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
3.2 HÓA CHẤT VÀ THUỐC THỬ NGHIỆM 17
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.3.1 Phương pháp đếm tổng lượng bạch cầu trên buồng đếm Neubauer 18
3.3.2 Xây dựng mô hình và xác định các chỉ số huyết học của mô hình trên máy xét nghiệm huyết học 21
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23
4.1 KHẢO SÁT TÁC DỤNG GÂY SUY GIẢM BẠCH CẦU CỦA OXALIPLATIN, 5-FLUOROURACIL TRÊN BUỒNG ĐẾM NEUBAUER 23
Trang 44.1.1.Khảo sát tác động gây suy giảm bạch cầu của oxaliplatin, 5-fluorouracil 23
4.1.2.Lựa chọn mô hình thích hợp cho nghiên cứu sàng lọc thuốc 37
4.2 ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH GÂY SUY GIẢM BẠCH CẦU CỦA OXALIPLATIN, 5-FLUOROURACIL, LEUCOVORIN VÀ ĐÁP ỨNG CỦA FILGRASTIM 38
4.2.1.Đánh giá trên thể trọng chuột 38
4.2.2.Đánh giá trên bạch cầu của chuột thí nghiệm 40
4.2.3.Đánh giá trên tiểu cầu, hồng cầu và các chỉ số liên quan 43
4.3 BÀN LUẬN 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.1 ĐỀ NGHỊ 48
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các giá trị bình thường của bạch cầu ở người .3
Bảng 2.2 Công thức bạch cầu ở chuột nhắt 4
Bảng 2.3 Nguồn gốc và tế bào mục tiêu của các yếu tố kích thích tạo máu 13
Bảng 4.1 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 23
Bảng 4.2 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 25
Bảng 4.3 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 27
Bảng 4.4 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 29
Bảng 4.5 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 31
Bảng 4.6 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 33
Bảng 4.7 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3 trước và sau khi tiêm thuốc 35
Bảng 4.8 Thể trọng chuột ở các lô thử nghiệm 38
Bảng 4.9 Bảng theo dõi số lượng các loại bạch cầu ở các lô thử nghiệm 40
Bảng 4.10 Số lượng hồng cầu, tiểu cầu và Hemoglobin 44
Bảng 4.11 Các thông số liên quan khác 44
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bạch cầu trung tính 5
Hình 2.2 Bạch cầu ưa kiềm 5
Hình 2.3 Bạch cầu ái toan 6
Hình 2.4 Bạch cầu lympho 6
Hình 2.5 Bạch cầu đơn nhân 7
Hình 2.6 Sơ đồ biệt hóa các dòng tế bào từ tế bào gốc 13
Hình 2.7 a) Buồng đếm Neubauer 18
b) Buồng đếm Neubauer khi soi dưới kính hiển vi (vùng đếm là A, B, C, D) 18
Hình 2.8 Buồng đếm nhìn thẳng và nghiêng ……… 18
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tác động của phối hợp oxaliplatin 10 mg/kg, 5-FU 150 mg/kg, trên thể
trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 24
Biểu đồ 4.2 Tác động của phối hợp oxaliplatin 10 mg/kg, 5-FU 100 mg/kg, trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 26
Biểu đồ 4.3 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5 mg/kg, 5-FU 150 mg/kg, trên thể
trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 28
Biểu đồ 4.4 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5mg/kg, 5-FU 75 mg/kg, trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 30
Biểu đồ 4.5 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5 mg/kg, 5-FU 50 mg/kg trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 32
Biểu đồ 4.6 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5mg/kg, 5-FU/ LV 75 mg/kg trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 34
Biểu đồ 4.7 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5 mg/kg, 5-FU/LV 50 mg/kg trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm 36
Biểu đồ 4.8 Thể trọng chuột ở các lô thử nghiệm 39
Biểu đồ 4.9 Tổng lượng bạch cầu ở các lô thử nghiệm 41
Biểu đồ 4.10 Số lượng bạch cầu trung tính ở các lô thử nghiệm 42
Biểu đồ 4.11 Số lượng bạch cầu lympho ở các lô thử nghiệm 42
Biểu đồ 4.12 Số lượng bạch cầu đơn nhân ở các lô thực nghiệm 43
Biểu đồ 4.13 Số lượng hồng cầu và các chỉ số liên quan ở các lô thực nghiệm 45
Biểu đồ 4.14 Số lượng tiểu cầu ở các lô thực nghiệm 46
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến thầy PGS.TS Trần Mạnh Hùng và
DS Lê Phan Xuân Quyên đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm để em có thể hoàn thành tốt khóa luận
Em cũng xin trân trọng cảm ơn cô TS Huỳnh Ngọc Trinh và quý thầy, cô trong hội đồng đã dành thời gian nhận xét, đóng góp để khóa luận được hoàn chỉnh
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong Khoa xét nghiệm Huyết học bệnh viện
175 TP HCM cũng như các cô và các chị làm việc tại Bộ môn Dược lý đã luôn sẵn lòng giúp đỡ em trong thời gian thực hiện khóa luận
Và sau cùng em xin cảm ơn gia đình, thầy cô và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ em trong thời gian qua
Trang 9XÂY DỰNG MÔ HÌNH GÂY GIẢM BẠCH CẦU BẰNG PHỐI HỢP OXALIPLATIN VÀ 5-FLUOROURACIL TRÊN CHUỘT NHẮT
Châu Ngọc Quỳnh Anh Thầy hướng dẫn: PGS.TS Trần Mạnh Hùng
DS Lê Phan Xuân Quyên
Đặt vấn đề
Các thuốc hóa trị liệu ung thư gây tác dụng phụ lên nhiều hệ cơ quan, trong đó suy tủy và suy giảm bạch cầu là một trong những nguyên nhân chính buộc phải giảm liều, đổi thuốc, ngưng thuốc gây giảm hiệu quả điều trị Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình gây suy giảm bạch cầu bằng phối hợp oxaliplatin, 5-fluorouracil, leucovorin để sàng lọc các thuốc có khả năng phòng ngừa suy giảm bạch cầu
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng: thí nghiệm được tiến hành trên chuột nhắt trắng chủng Swiss albino 6-8 tuần tuổi,
phái đực
Phương pháp: thử nghiệm được tiến hành trên hai phương pháp: đếm tổng lượng bạch cầu
trên buồng đếm Neubauer và xác định các chỉ số huyết học của mô hình trên máy xét nghiệm huyết học
Kết quả
Oxaliplatin 5 mg/kg, ip (ngày 0) + 5-fluorouracil/leucovorin 50 mg/kg, ip (ngày 0, 1) gây giảm số
lượng các loại bạch cầu và mức giảm bạch cầu mạnh nhất vào ngày thứ 5 Sự suy giảm bạch cầu này đạt ý nghĩa bệnh lý về suy giảm bạch cầu do thuốc hóa trị
Kết luận:
Oxaliplatin 5 mg/kg, ip (ngày 0) + 5-fluorouracil/leucovorin 50 mg/kg, ip (ngày 0, 1) phù hợp để mô phỏng mô hình sàng lọc các thuốc phòng ngừa suy tủy vào ngày 5
Trang 10Graduation thesis for obtaining the degree of BS Pharm - Academic year: 2011-2012
Mouse model of neutropenia induced by oxaliplatin and 5-fluorouracil
Chau Ngoc Quynh Anh
Supervisor: Assoc Prof Dr Tran Manh Hung
Pharm Le Phan Xuan Quyen
Introduction
Chemotherapeutic agents cause many adverse effects, of those neutropenia is one of the most serious side effects that may delay or postpone chemotherapy In this study, we mimicked a mouse model of neutropenia for screening candidates which could protect bone marrow suppression induced by chemotherapeutic agents
Materials and Methods
Materials: Swiss albino male mice 6-8 weeks old were used in this experiment
Methods: two methods were used: counting white blood celll on Neubauer hemocytometer and
determining hematological indices by hematology analyzer
Results
Oxaliplatin, 5 mg/kg, ip (day 0) + 5-fluorouracil/leucovorin 50 mg/kg (day 0, 1) induced marked decrease in white blood cell count on day 5 after the first dose This neutropenia was pathologically significant in term of neutropenia induced by chemotherapy
Conclusions
Oxaliplatin, 5 mg/kg, ip (day 0) + 5-fluorouracil/leucovorin 50 mg/kg (day 0, 1) could be used to mimick a mouse model of neutropenia
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là một căn bệnh nguy hiểm và tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng cao Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Tổ chức y tế thế giới (WHO), số người mắc bệnh ung thư trên thế giới sẽ tăng dần, đến năm 2030 là khoảng hơn 20 triệu (con số này là 12,7 triệu người vào năm 2008) với 90% ca bệnh tập trung ở các nước nghèo
Trước đây, ung thư được xem như bệnh nan y nhưng ngày nay với sự kết hợp tốt của nhiều phương pháp phẫu thuật ngoại khoa, xạ trị và đặc biệt là hóa trị đã góp phần rất lớn trong điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân Các thuốc hóa trị như 5-fluorouracil (5-FU), oxaliplatin thường được dùng điều trị ung thư đường tiêu hóa, ung thư vú… Phối hợp 5-FU/leucovorin/oxaliplatin (FOLFOX) được xem như phác đồ đầu tay trong điều trị ung thư trực tràng với tỷ lệ đáp ứng lên đến 51-67%, [10] gia tăng tỷ lệ sống sót của bệnh nhân, đặc biệt ở những bệnh nhân
đã đề kháng Tuy nhiên, mặt hạn chế của phác đồ FOLFOX nói riêng và hóa trị nói chung là gây độc tính trên nhiều cơ quan như hệ tạo máu, niêm mạc tiêu hóa, tóc Đặc biệt, độc tính trên tủy xương, gây suy giảm bạch cầu Bên cạnh đó, nhiều thuốc khác cũng gây suy giảm bạch cầu như ribavirin, lamivudin trong điều trị viêm gan siêu vi B, C
Bạch cầu có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân bên ngoài như vi khuẩn, virus, nấm… Giảm số lượng bạch cầu sẽ làm người bệnh có nguy cơ cao bị mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, đây là nguyên nhân cao gây tử vong cho người bệnh
Trước đây, tình trạng giảm bạch cầu chỉ có thể khắc phục bằng cách giảm liều, trì hoãn hoặc ngưng điều trị Nhưng hiện nay, khó khăn này đã được khắc phục bằng
việc sử dụng các yếu tố kích thích tạo bạch cầu như: G-CSF
(Filgrastim/Pegfilgrastim, Lenograstim); GM-CSF (Molgramostim, Sargramostim);
SCF (Ancestim) Bên cạnh đó, các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu như tam
thất, phụ tử, linh chi, trinh nữ hoàng cung…v,v, cũng đang được nghiên cứu như là những chất hỗ trợ điều trị, giúp hạn chế tác dụng phụ trên hệ tạo máu của các thuốc
Trang 12hóa trị Vì vậy việc xây dựng các mô hình dược lý phù hợp để phục vụ cho các nghiên cứu này là rất cần thiết
Với mục đích trên, chúng tôi đặt mục tiêu xây dựng mô hình gây suy giảm bạch cầu trên chuột nhắt bằng phối hợp của oxaliplatin, 5-fluorouracil, leucovorin với các mục đích cụ thể như sau:
- Khảo sát tác động gây suy giảm bạch cầu của phối hợp oxaliplatin, fluorouracil, leucovorin
5 Xây dựng mô hình để nghiên cứu sàng lọc thuốc có tác dụng phòng ngừa suy giảm bạch cầu
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Số lượng bạch cầu trong 1 lít máu ở người trưởng thành bình thường dao động từ 4x109 đến 11x109 Ở trẻ em và phụ nữ có thai, lượng bạch cầu có thể cao hơn Số lượng bạch cầu tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, đặc biệt tăng cao trong các bệnh bạch huyết cấp hoặc mạn tính và giảm trong trường hợp bị nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy [1], [5]
Có nhiều cách phân loại bạch cầu, thông dụng nhất là chia thành ba nhóm : bạch cầu hạt (bạch cầu trung tính, ưa acid, và ưa kiềm), bạch cầu lympho và bạch cầu đơn nhân
Bảng 2.1 Các giá trị bình thường của bạch cầu ở người [1], [5]
Các loại bạch cầu
Giá trị tuyệt đối (trong 1mm 3 )
Tỷ lệ phần trăm
Ở chuột, cũng tìm thấy những loại bạch cầu như ở người Tuy nhiên, tỷ lệ bạch cầu lympho ở chuột cao hơn tỷ lệ này ở người và bạch cầu ưa kiềm ít khi được tìm thấy trong máu chuột trưởng thành [12]
Trang 14Số lượng bạch cầu rất khác nhau tùy thuộc vào gen, giới tính, môi trường và phương pháp lấy máu Ở chuột cái, bạch cầu hạt cao hơn chuột đực Việc lấy máu đuôi nhiều lần cũng có thể làm tăng bạch cầu từ 50-120% [12] Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học, đại học Michigan, số lượng bạch cầu khi lấy máu ở đuôi chuột thường cao hơn khi lấy máu ở tim [18]
Bảng 2.2 Công thức bạch cầu ở chuột nhắt [15]
Tổng lượng
bạch cầu
(trong 1 mm3)
Bạch cầu lympho (%)
Bạch cầu trung tính (%)
Bạch cầu đơn nhân (%)
Bạch cầu
ưa acid (%)
Bạch cầu
ưa kiềm (%)
2.1.1 Bạch cầu hạt
Bạch cầu hạt trước đây được gọi là “bạch cầu đa nhân” do nhân tế bào thắt lại, chia thành nhiều thùy Bạch cầu hạt gồm ba loại, phân biệt nhờ tính bắt phẩm màu khác nhau của các tiểu hạt trong tế bào chất
2.1.1.1 Bạch cầu trung tính [1], [5]
Là những tế bào trưởng thành trong máu tuần hoàn, chức phận cơ bản của bạch cầu trung tính là vận động và thực bào các vật lạ bên ngoài đặc biệt là vi khuẩn, virus ngay sau khi chúng xâm nhập vào cơ thể Vì vậy, bạch cầu trung tính tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp như viêm ruột thừa, viêm phổi… Số lượng bạch cầu trung tính cũng có thể tăng gấp 3-4 lần so với bình thường sau khi chơi thể thao, vận động nhiều, làm việc nặng Khoảng 60 phút sau, sự tăng bạch cầu sinh lý này sẽ trở lại bình thường
Bạch cầu trung tính giảm trong các trường hợp nhiễm độc kim loại nặng (Pb, As), suy tủy, nhiễm siêu vi, nội độc tố, do thuốc…
Trang 15Hình 2.1 Bạch cầu trung tính
2.1.1.2 Bạch cầu ưa kiềm [1], [5]
Bạch cầu ưa kiềm không có khả năng vận động và thực bào, nhưng có vai trò quan trọng trong phản ứng quá mẫn do IgE - một globulin miễn dịch gây ra phản ứng dị ứng có khuynh hướng gắn trên màng tế bào bạch cầu ưa baz Khi màng bạch cầu vỡ
ra, histamin, bradykinin, serotonin được phóng thích vào máu gây ra các triệu chứng phù, ngứa, mẫn đỏ, đau… Ngoài ra, bạch cầu ưa baz còn phóng thích heparin vào máu để phòng ngừa đông máu lòng mạch
Hình 2.2 Bạch cầu ưa kiềm
2.1.1.3 Bạch cầu ưa acid [1], [5]
Bạch cầu ưa acid có vai trò chính là khử độc các protein lạ trước khi chúng xâm nhập vào cơ thể Do đó, thường tăng trong các phản ứng dị ứng, ký sinh trùng Ngoài ra, bạch cầu ưa acid giải phóng plasminogen, chất này hoạt hóa thành plasmin, làm tan cục máu đông Bạch cầu ưa acid có khả năng thực bào kém hơn bạch cầu trung tính, chủ yếu là thực bào và tiêu hóa các phức hợp kháng nguyên-
Trang 16kháng thể, sau khi quá trình miễn dịch hoàn thành, vì vậy không giữ vai trò quan trọng chống lại sự nhiễm khuẩn
Hình 2.3 Bạch cầu ưa acid
Hình 2.4 Bạch cầu lympho
2.1.3 Bạch cầu đơn nhân [1], [5]
Bạch cầu đơn nhân là bạch cầu có kích thước lớn nhất trong các tế bào máu tuần hoàn Đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của đáp ứng miễn dịch Bạch cầu
Trang 17đơn nhân trong máu cũng như các bản sao của chúng ở các mô có nhiệm vụ thực bào rồi đưa kháng nguyên của tác nhân gây bệnh tới trình diện cho tế bào T Bạch cầu đơn nhân trưởng thành có thể biệt hóa thành đại thực bào tại các mô khác nhau của cơ thể
Hình 2.5 Bạch cầu đơn nhân
2.2 SUY GIẢM BẠCH CẦU DO THUỐC
2.2.1 Các thuốc hóa trị ung thư [13]
Hóa trị liệu là một trong những nguyên nhân gây suy tủy tạm thời, biểu hiện thường gặp là giảm bạch cầu trung tính Tác động của hóa trị trên tủy xương và tỷ lệ phục hồi, lệ thuộc vào cơ chế dược lý của thuốc hóa trị sử dụng và tốc độ phục hồi của dòng tế bào gốc Về mặt lý thuyết, tất cả thuốc gây độc tế bào có thể tác động lên tế bào gốc đa năng và những tế bào tiền thân khác, những tế bào biệt hóa và cả những
tế bào trong vi mô trường của tủy xương bao gồm tế bào nội mô, mô liên kết, tế bào thân… Khoang dự trữ của tủy xương có nhiệm vụ cung cấp các tế bào máu trưởng thành vào máu ngoại biên trong khoảng 8-10 ngày sau khi phân chia và trưởng thành từ tế bào gốc Hóa trị ức chế các tế bào gốc sản sinh bạch cầu nhưng không làm giảm chức năng hay rút ngắn đời sống của các bạch cầu hạt, thậm chí khi tủy xương đã thâm nhiễm tế bào ung thư
Trang 182.2.1.1 5-Fluorouracil (5-FU)
5-Fluorouracil là chất kháng chuyển hóa loại pyrimidin, vào cơ thể được biến thành chất chuyển hóa có hoạt tính là 5-Fd UMP (5-fluoro-2’-deoxyuridin-5’-monophosphat) Tác động kháng u được giải thích qua hai cơ chế:
- Ức chế tổng hợp ADN do ức chế enzym TS (thymidilat synthetase) là enzym xúc tác phản ứng methyl hóa uridilat thành thymidilat
- Ức chế thành lập ARN: thông qua fluorouridin triphosphat (FUTP) Chất này sáp nhập vào ARN làm thay đổi nhiều tính chất của ARN nên gây độc tế bào
Cơ chế chính làm chết tế bào là ức chế TS bằng cách thành lập phức hợp FdUMP-folat là một hợp chất phân ly chậm Khi thiếu folat sẽ ngăn thành lập phức trên, do đó chất bổ sung folat như leucovorin (calcium folinat) có tác dụng làm tăng tác dụng độc tế bào của FU [3], [11]
TS-Sau khi tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải trung bình khỏi huyết tương khoảng 16 phút (từ 8 đến 20 phút và phụ thuộc vào liều dùng) Không còn thấy thuốc ở dạng nguyên vẹn trong huyết tương sau khi tiêm tĩnh mạch được 3 giờ [2]
5-Fluorouracil có hiệu quả làm thuyên giảm các bệnh ung thư tế bào biểu mô đại tràng, trực tràng, vú và dạ dày Thuốc có chỉ số điều trị rất thấp, độc tính cao với máu, gây xuất huyết tiêu hóa, thậm chí tử vong Đặc biệt là độc tính gây suy tủy nặng
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã sử dụng 5-FU để xây dựng mô hình suy giảm bạch cầu
Trong nghiên cứu của Kimball và cộng sự [17] đã sử dụng liều duy nhất 5-FU 150
mg/kg, tiêm tĩnh mạch trên chuột nhắt trắng chủng B6C3F1, kết quả cho thấy bạch
cầu trung tính giảm thấp nhất vào vào ngày 7 sau khi tiêm 5-FU (<100/mm3
)
Bit Mansour và cộng sự đã sử dụng 5-FU liều 150 mg/kg truyền tĩnh mạch 30 giờ
vào chuột nhắt Bạch cầu giảm thấp nhất vào ngày 8 sau tiêm và hồi phục ở ngày
13 Trong thí nghiệm này, CMP/GMP (common myeloid/granulocyte-monocyte progenitors) được tiêm 1 ngày sau khi tiêm 5-FU, kết quả có sự gia tăng đáng kể bạch cầu trung tính so với nhóm chỉ được tiêm 5-FU [16]
Trang 19Trong một thí nghiệm khác, Gad El-Hak và cộng sự gây suy giảm bạch cầu bằng
5-FU 160 mg/kg tiêm phúc mạc liều duy nhất để gây mô hình suy giảm bạch cầu trên
chuột nhắt Trong thí nghiệm này, các yếu tố kích thích tăng sinh bạch cầu như CSF 250 µg/kg, L-glutathion (GSH) 800 mg/kg được tiêm phúc mạc 7 ngày trước khi tiêm 5-FU (ngày 8), và lấy máu ở ngày 9 Kết quả cho thấy khi dùng đơn lẻ G-CSF (Filgrastim) 250 µg/kg hoặc GSH 800 mg/kg có tác dụng cải thiện bạch cầu so với nhóm chỉ tiêm 5-FU 160 mg/kg, tuy nhiên sự phối hợp cùng lúc cả 2 yếu tố này lại làm giảm tác dụng của nhau [8]
G-Trần Mạnh Hùng và cộng sự cũng đã xây dựng mô hình gây suy giảm bạch cầu
bằng 5-FU liều 150 mg/kg tiêm phúc mạc liều duy nhất, trong thí nghiệm này, bạch
cầu giảm thấp nhất vào ngày 7 và hồi phục sau 14 ngày [4]
2.2.1.2 Oxaliplatin
Là một thuốc chống tân sinh thuộc nhóm các hợp chất platin mới, trong đó platin nguyên tử tạo phức hợp với 1,2-diaminocyclohexane ("DACH") và nhóm oxalat
Cơ chế tương tự cisplatin, khi hợp chất platin vào tế bào và được kích hoạt bởi Cl
-sẽ tạo thành 1,2-diaminocyclohexan platin (1,2-DACH platin) Chất này tiếp tục chuyển hóa thành 1,2-DACH monoclorplatin và 1,2-DACH platin dichlorid gắn vào
vị trí N-7 trên purin, ức chế sự sao chép tế bào Oxaliplatin cũng gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, thiếu máu, độc thần kinh [11]
Oxaliplatin có hiệu quả tốt trên những bệnh ung thư trực tràng, đại tràng, sử dụng đơn lẻ cho hiệu quả điều trị 10-24%
Trên mô hình dược lý thực nghiệm, Shi-Rong Cai và cộng sự, tiêm phúc mạc
oxaliplatin liều 10 mg/kg vào chuột nhắt cái, kết quả cho thấy oxaliplatin gây giảm
bạch cầu trung tính 35% so với bình thường, bạch cầu giảm thấp nhất vào ngày 6 và bình thường trở lại vào ngày 11 [7]
Trang 202.2.1.3 Phối hợp của oxaliplatin và 5-fluorouracil [9], [10]
Phối hợp FOLOX đã trở thành một trong những phối hợp đầu tay trong điều trị ung thư kết-trực tràng với tỷ lệ đáp ứng lên đến 51–67%, gia tăng tỷ lệ sống sót của bệnh nhân, đặc biệt cho kết quả tốt trên những bệnh nhân ung thư kết-trực tràng di căn kháng trị trước đây
Trên lâm sàng, phác đồ FOLFOX4 thường được dùng hóa trị ở giai đoạn 3 Oxaliplatin (85 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 2 giờ ngày 1, leucovorin (200 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 2 giờ ngày 1 và 2 Sau đó 5-fluorouracil (400 mg/m2) tiêm bolus tĩnh mạch rồi 5-fluorouracil (600 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong
22 giờ ngày 1 và 2 Liều trên lặp lại mỗi 2 tuần [9]
Phác đồ FOLFOX6 thường được dùng hóa trị ở những bệnh nhân đã chuyển sang giai đoạn 4, oxaliplatin (85-100 mg/m2), truyền tĩnh mạch trong 2 giờ ngày 1, leucovorin (400 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 2 giờ ngày 1 và 2 Sau đó 5-fluorouracil (400 mg/m2) tiêm bolus tĩnh mạch, tiếp theo là 5-fluorouracil (2400-
3000 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 46 giờ ngày 1 và 2 Liều trên lặp lại mỗi 2 tuần [9]
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm cho thấy phối hợp 5-FU và leucovorin gây ra những độc tính nghiêm trọng: tiêu chảy, viêm cơ, giảm bạch cầu xảy ra ở 15-20% bệnh nhân Tuy khả năng dung nạp khá tốt nhưng tỷ lệ đáp ứng chưa cao 14-33% (chỉ dùng 5-FU tỷ lệ này là 10-15%) Phối hợp oxaliplatin và 5-FU/LV nâng cao tỷ lệ đáp ứng (51-67%) Tuy nhiên gây tiêu chảy nặng ở 43% bệnh nhân, độc tính này có thể được khắc phục bằng cách sử dụng loperamid Ngoài ra còn gây buồn nôn, nôn mữa Phối hợp cũng gây độc tính nghiêm trọng trên hệ tạo máu, trên thần kinh cảm giác ngoại biên, tăng enzym gan Đây là nguyên nhân phải giảm liều, trì hoãn hoặc ngưng điều trị Do đó việc cải thiện tác dụng phụ, đặc biệt là cải thiện bạch cầu trung tính là rất quan trọng [10]
Hiện chưa tìm thấy mô hình suy giảm bạch cầu bằng phối hợp 2 thuốc oxaliplatin
và 5-fluorouracil/leucovorin
Trang 212.2.2 Các thuốc kháng giáp tổng hợp [1]
Các thuốc kháng giáp tổng hợp như methimazol, carbimazol hoặc propylthiouracil được dùng rất phổ biến trong điều trị các bệnh lý có cường giáp như basedow, nhân tuyến giáp Mặc dù có hiệu quả cao trong điều trị nhưng các thuốc này có thể gây khá nhiều phản ứng phụ ở các mức độ khác nhau Một trong những phản ứng phụ gây nguy hiểm cho người bệnh là giảm bạch cầu hạt
Mất bạch cầu hạt của thuốc kháng giáp tổng hợp là một phản ứng miễn dịch, gây ra
do sự thành lập các kháng thể đặc hiệu với thuốc, hoặc với các chất chuyển hóa của chúng Do đó có sự phản ứng chéo giữa các loại thuốc kháng giáp với nhau
2.2.3 Các loại thuốc khác [1]
Các Penicillin: được chiết xuất từ nấm Penicillinum notatum hoặc Penicillinum
chrysogenum Do có chung cấu trúc là beta-lactam, nên các kháng sinh thuộc nhóm
này đều có tác dụng phụ là có thể gây giảm bạch cầu
Ngoài ra, các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin (phân lập từ nấm
Cephalosporium) như: cefaclor, cefadroxil, cephalexin, cephaloridin, cephalothin,
cephradin, cefazolin, cefotaxim, cefamandol cũng có thể gây giảm bạch cầu
Kháng sinh nhóm Phenicol: các kháng sinh nhóm này thường gây suy giảm bạch
cầu không hồi phục, có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc liều, có tần xuất khoảng 1/10.000 ca điều trị và thường là tử vong
Kháng sinh nhóm Cyclin: như tetracyclin, oxycyclin, doxycyclin cũng có thể làm
giảm bạch cầu, tuy nhiên ít gặp và cũng ít gây nguy hiểm
Kháng sinh nhóm Sulfamid: có thể gây ức chế tủy, kết hợp trimethoprim và
sulfamethoxazol có nguy cơ cao làm giảm bạch cầu, bạch cầu trung tính nhất là trên tủy nhạy cảm (ghép tủy)
Phenothiazin: thường làm giảm bạch cầu sau 2–8 tuần điều trị, hoặc khi tổng liều
vượt quá 5 gam Có thể thay đổi theo cá nhân và tùy theo khả năng bù trừ sự ức chế của phenothiazin lên tổng lượng ADN
Trang 22Vàng: các thuốc có dẫn xuất từ vàng làm giảm bạch cầu hạt do ức chế tủy hay do
miễn dịch
Thuốc loạn nhịp tim: quinidin và procainamid cũng làm giảm bạch cầu trong vòng
12 tuần sau khi sử dụng
2.3 YẾU TỐ KÍCH THÍCH TẠO BẠCH CẦU
2.3.1 Quá trình sản sinh bạch cầu [6], [13]
Các tế bào bạch cầu cũng như hồng cầu đều xuất phát từ một nguồn là tế bào gốc tạo máu (hematopoietic stem cell) Khởi đầu trong bào thai, các tế bào này có mặt ở túi noãn hoàng nguyên thủy, rồi ở gan và cuối cùng là ở tủy xương cho đến suốt đời Các tế bào gốc ban đầu được gọi là các tế bào vạn năng vì chúng có thể phát triển và biệt hóa thành các dòng tế bào khác nhau Từ tế bào gốc vạn năng, qua biệt hóa sẽ cho ra hai dòng tế bào chính: tế bào dòng lympho và tế bào dòng tủy Sơ đồ
về quá trình biệt hóa có thể tóm tắt như hình 2.6
Các tế bào dòng tủy khởi đầu là những tế bào tiền thân chung cho cả dòng hồng cầu
và tế bào tủy sau đó mới tách ra Các tế bào tiền thân của dòng tủy tiếp tục biệt hóa
để trở thành một bên là dòng tế bào tiền thân của bạch cầu trung tính và các tế bào đơn nhân, một bên khác sẽ biệt hóa để cho tiểu cầu nguyên thủy và các bạch cầu ưa acid, ưa kiềm và tế bào mast
Quá trình biệt hóa của các tế bào dòng tủy chịu ảnh hưởng của nhiều cytokin được
mô tả trong bảng 2.3 và hình 2.6
Trang 23Bảng 2.3 Nguồn gốc và tế bào mục tiêu của các yếu tố kích thích tạo máu [13]
bạch cầu đơn nhân
GFU-G, bạch cầu hạt
bạch cầu đơn nhân, lympho T
CFU-blast, CFU-GEMM, CFU-GM, BFU-E, bạch cầu hạt, bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa kiềm
CFU-GM,CFU-E,
BFU-E, bạch cầu hạt, bạch cầu
ưa acid, bạch cầu ưa kiềm
bạch cầu đơn nhân
CFU-M, bạch cầu đơn nhân
M-CSF = macrophage colony-stimulating factor (yếu tố k ích thích dòng đại thực bào)
G-CSF = Granulocyte colony-stimulating factor (yếu tố k ích thích dòng bạch cầu hạt)
GM-CSF = Granulocyte – macrophage colony-stimulating factor (yếu tố k ích thích cả dòng bạch cầu hạt
và đại thực bào)
Hình 2.6 Sơ đồ biệt hóa các dòng tế bào từ tế bào gốc
Trang 242.3.2 Kích thích sự tạo bạch cầu sau hóa trị liệu [13]
Suy tủy thật sự là một trở ngại lớn trong việc duy trì liều hóa trị Do bạch cầu bị suy giảm dẫn đến những biến chứng nhiễm khuẩn, nhiễm nấm… gia tăng tỷ lệ tử vong Bệnh nhân buộc phải đến bệnh viện điều trị hoặc dùng kháng sinh Những nỗ lực nghiên cứu trong thập kỉ vừa qua đã đem lại những tiến bộ vượt bậc trong việc hỗ trợ tình trạng suy tủy bệnh nhân sau hóa trị
Việc sử dụng các yếu tố kích thích sự tạo bạch cầu như G-CSF và GM-CSF đã cải thiện được tỷ lệ suy giảm bạch cầu sau hóa trị liệu và ghép tủy
G-CSF
Những nghiên cứu tiền lâm sàng của G-CSF, một yếu tố kích thích đơn dòng giúp cải thiện sự sản xuất và hoàn thiện chức năng của bạch cầu trung tính, chứng minh rằng sự kích thích này phụ thuộc vào liều và thời gian giảm bạch cầu sau hóa trị, suy tủy nặng hoặc xạ trị Những thử nghiệm pha I/II ở người cho thấy việc tiêm truyền hoặc tiêm dưới da G-CSF làm tăng bạch cầu hạt một cách tương đối và phục hồi tình trạng giảm bạch cầu sau hóa trị Độc tính đáng chú ý của G-CSF là đau xương, đau lưng và xương chậu
Trong một thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, đa trung tâm của Mỹ, bệnh nhân điều trị với cyclophosphamid, doxorubicin và etoposid nhận G-CSF hoặc giả dược và một thử nghiệm khác tương tự ở Châu Âu Cả hai thử nghiệm, tuy khác nhau về cách thiết kế nghiên cứu nhưng đều cho những kết luận tương tự Thời gian giảm bạch cầu trung tính là 6 ngày ở nhóm dùng giả dược và giảm còn 3 ngày ở nhóm được tiêm G-CSF Quan trọng hơn những biến chứng nhiễm khuẩn cần chăm sóc ở bệnh viện được giảm tới 50% ở những bệnh nhân dùng G-CSF Do đó, G-CSF được Mỹ chấp nhận sử dụng ở những bệnh nhân bị suy tủy do hóa trị
GM-CSF
GM-CSF kích thích những tế bào tiền thân dòng bạch cầu hạt và dòng mono, đồng thời hoàn thiện chức năng của các tế bào bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa acid, ưa
Trang 25kiềm trưởng thành và đại thực bào GM-CSF ở người cũng được sản xuất ở động vật có vú, nấm men và một số loại vi khuẩn Sargramostim là GM-CSF chiết xuất từ nấm men
Trong khi filgrastim và sargramostim giống nhau ở chỗ chúng đều làm phát triển bạch cầu trung tính, thì sargramostim cũng kích thích sự trưởng thành của đại thực bào, bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa kiềm và hồng cầu Tác dụng rộng hơn của sargramostim tạo điều kiện cho các dòng tế bào khác hợp sức với bạch cầu trung tính chống lại vi khuẩn và các tác nhân xâm nhập khác Một hiện tượng lâm sàng quan trọng khác là sargramostim kích thích đại thực bào dẫn đến sản sinh interleukin-1 hay yếu tố hoại tử u Các chất này là yếu tố gây sốt nội sinh vì thế bệnh nhân có thể bị sốt khi được điều trị bằng sargramostim Filgrastim không gây sốt do thuốc như sargramostim
2.3.3 Filgrastim [2], [14]
Filgrastim là một yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt của người, được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp ADN và có hoạt tính giống hệt yếu tố nội sinh kích thích dòng bạch cầu hạt ở người G-CSF Filgrastim là một protein không gắn đường, có
độ tinh khiết cao, chứa 175 acid amin
Filgrastim được sản xuất trong phòng thí nghiệm từ chủng vi khuẩn Escherichia coli mà hệ gen của chúng đã được biến đổi do gắn thêm vào một gen sản xuất ra
yếu tố kích thích tạo bạch cầu hạt Thuốc điều hoà việc sản xuất và huy động các tế bào hạt trung tính từ tuỷ xương Thuốc kích thích sự hoạt hoá, tăng sinh và biệt hoá các tế bào tiền thân bạch cầu trung tính Trong một số trường hợp giảm bạch cầu trung tính mạn tính, điều trị cũng làm tăng sản xuất bạch cầu hạt ưa acid và ưa kiềm Tăng bạch cầu hạt trung tính phụ thuộc trực tiếp vào liều
Khi ngừng điều trị, bạch cầu trung tính lưu hành giảm 50% trong vòng 1-2 ngày và trở lại mức bình thường trong vòng 1-7 ngày
Liều filgrastim đầu tiên phải được tiêm cách ít nhất 24 giờ sau khi kết thúc hóa trị
Trang 26Filgrastim, được cấp phép nǎm 1991, ban đầu được chỉ định để ngǎn ngừa các biến chứng nhiễm khuẩn sau dùng hóa trị liệu chuẩn Nǎm 1994, filgrastim được cấp phép sử dụng sau ghép tủy xương để thúc đẩy sự phục hồi số lượng bạch cầu trung tính Filgrastim chủ yếu dùng để ngǎn ngừa giảm bạch cầu trung tính nặng, tuy nhiên, cũng có thể dùng chất này để điều trị giảm bạch cầu trung tính sau khi đã phát bệnh Điều trị filgrastim được áp dụng cho bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính khi bắt đầu có sốt
Theo một nghiên cứu của Kuderer cùng các đồng nghiệp thuộc Đại Học Y Khoa Duke trên 3000 bệnh nhân ung thư đang được hóa trị, kết quả cho thấy bệnh nhân ung thư được truyền bạch cầu trễ thường có biểu hiện triệu chứng sốt do giảm bạch cầu và có nguy cơ tử vong là 44% Trong khi nhóm bệnh nhân ung thư vừa được hóa trị, vừa được chỉ định dùng filgrastim, giảm nguy cơ tử vong xuống thấp hơn (22%) Filgrastim có tác dụng phục hồi lượng bạch cầu trong máu Vì thế, nhiều tác giả khuyến cáo nên dùng filgrastim trước hay ngay sau khi hóa trị cho bệnh nhân vì
sẽ giảm nguy cơ tử vong cho bệnh nhân hơn là để quá trễ
Trang 27CHƯƠNG 3 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là chuột nhắt trắng, giống đực, chủng Swiss albino, 6- 8 tuần tuổi, do viện Vắc-xin và Sinh phẩm Nha Trang cung cấp, có trọng lượng trung bình 28-35 g Chuột thử nghiệm là chuột khỏe mạnh, không có biểu hiện bất thường Hằng ngày, chuột được cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống Sau khi nhập về, chuột được nuôi trong môi trường thực nghiệm từ 3-5 ngày để chúng thích nghi với môi trường Chuột được phân bố ngẫu nhiên thành nhiều lô khác nhau, mỗi lô từ 8-
15 con
3.2 HÓA CHẤT VÀ THUỐC THỬ NGHIỆM
5-Fluorouracil “Ebewe” 250mg, do công ty Ebewe Pharma Ges.m.b.H – Austria sản xuất Số lô 12754204, hạn sử dụng 4-2013, dạng bào chế: dung dịch tiêm
Neupogen (filgrastim) 30MU sc/iv infusion, sản xuất tại Thụy Sĩ bởi F.Hoffmann-La Roche Ltd., số lô B2036B03, hạn sử dụng 30-8-2013, dạng bào chế: dung dịch tiêm
DBL Oxaliplatin (oxaliplatin), do công ty Hospira Australia Pty Ltd sản xuất,
số lô X025350AB, hạn sử dụng 06-2013, dạng bào chế: bột pha tiêm
Calcium folinat “ Ebewe” 50mg, do công ty Ebewe Pharma Ges.m.b.H – Austria sản xuất, số lô 96549006 hạn sử dụng 10-2013, dạng bào chế: dung dịch tiêm
Trang 283.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp đếm tổng lượng bạch cầu trên buồng đếm Neubauer
Trang 293.3.1.2 Phương pháp tiến hành
Lấy máu: lau sạch đuôi chuột bằng bông thấm nước, tránh chà xát mạnh, cắt cách
đầu đuôi một đoạn 0,5 cm, hơi xéo Cố gắng để máu chảy tự nhiên, bỏ giọt máu đầu, lấy từ giọt máu thứ 2 Đặt ống hút bạch cầu nghiêng 30o
hoặc 45o so với giọt máu Hút máu tới vạch 0,5, lưu ý là cột máu liên tục, không lẫn bọt khí, dùng bông tẩm cồn lau nhẹ đầu ống Những lần lấy máu sau, cắt sát vết thương cũ
Pha loãng: cho ống hút vào dung dịch Lazarus, hút tiếp đến vạch 11, để có độ pha
loãng là 20 lần
Lưu ý: thao tác phải nhanh để tránh đông máu
Trộn máu: dùng hai ngón tay bịt kín 2 đầu ống hút, lắc tối thiểu 1 phút
Chuẩn bị buồng đếm: rửa sạch buồng đếm, sấy khô Đặt lamelle lên hai khu vực có
kẻ ô đếm Nhỏ bỏ khoảng 3-4 giọt đầu, sau đó nhỏ giọt tiếp theo lên buồng đếm, ngay mép lamelle, dung dịch sẽ mao dẫn lan khắp ô đếm Đặt buồng đếm lên mặt phẳng nằm ngang, để yên trong thời gian 2 phút để bạch cầu phân tán đều
Đếm bạch cầu: đếm số lượng bạch cầu ở vật kính x10 (là những tế bào nhuộm xanh,
thấy rõ viền và nhân) ở tất cả 16 ô vuông nhỏ nằm trong mỗi ô vuông lớn ở 4 góc (A,B,C,D), không tính những tế bào nằm ngay trên đường phân chia
Trong đó : A: là số bạch cầu đếm được
1/10: chiều cao từ buồng đếm đến lamelle
20: độ pha loãng
4: vì 1 ô vuông lớn (16 ô vuông nhỏ) có diện tích 1 mm2
Nguyên nhân sai số:
- Máu xét nghiệm không đúng qui cách: đông dây, máu mao mạch bị pha loãng bởi dịch gian bào do nặn bóp đầu ngón tay nhiều khi chích máu, ống máu để lâu không đậy nút,
Trang 30- Dụng cụ không đủ tiêu chuẩn: bẩn, ướt,
- Đếm hoặc tính kết quả sai
3.3.1.3 Lựa chọn liều lượng thử nghiệm
Đường tiêm: tiêm phúc mạc, thể tích tiêm: 0,1ml/10g Hằng ngày chuột được lấy máu từ đuôi và xác định số lượng bạch cầu bằng buồng đếm Neubauer vào thời điểm trước khi tiêm và liên tục 14 ngày sau khi tiêm Chuột được thử nghệm với các liều như sau:
- Oxaliplatin 10 mg/kg ngày 0 + 5-FU 150 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 10 mg/kg ngày 0 + 5-FU 100 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 5 mg/kg ngày 0 + 5-FU 150 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 5 mg/kg ngày 0 + 5-FU 75 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 5 mg/kg ngày 0 + 5-FU 50 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 5 mg/kg ngày 0 + 5-FU 50 mg/kg ngày 0, 1 + leucovorin 50 mg/kg ngày 0, 1
- Oxaliplatin 5 mg/kg ngày 0 + 5-FU 75 mg/kg ngày 0, 1+ leucovorin 50 mg/kg ngày 0, 1
Trang 313.3.2 Xây dựng mô hình và xác định các chỉ số huyết học của mô hình
trên máy xét nghiệm huyết học
3.3.2.1 Xây dựng mô hình
Chuột được nuôi thành 4 lô như sau:
- 2 lô chứng ngày 0 và ngày 5
- Lô tiêm phúc mạc oxaliplatin 5mg/kg (ngày 0) + 5-FU 50 mg/kg (ngày 0, 1) + leucovorin 50 mg/kg (ngày 0, 1), xét nghiệm ngày 5
- Lô tiêm phúc mạc oxaliplatin 5 mg/kg (ngày 0) + 5-FU 50 mg/kg (ngày 0, 1) + leucovorin 50 mg/kg (ngày 0, 1) + neupogen 50 µg/kg (ngày 2, 3, 4, 5) xét nghiệm ngày 5
Oxaliplatin, 5-FU, leucovorin, filgrastim (Neupogen) được pha trong dung dịch glucose 5% thành liều phù hợp Điều kiện tiêm: 0,1ml/10g, đường tiêm: tiêm phúc mạc
Oxaliplatin được tiêm vào buổi sáng, sau 2-3 giờ tiêm leucovorin, 5-FU được tiêm cách leucovorin khoảng 1-2 giờ
Neupogen được tiêm hằng ngày, liều đầu tiên cách 24 giờ sau khi ngừng tiêm thuốc hóa trị
3.3.2.2 Phương pháp lấy máu xét nghiệm
Chuột được gây mê bằng đá CO2 Mổ bộc lộ khoang bụng để lấy máu từ tim, thao tác này phải nhanh, trong khi tim chuột còn đập để tránh đông máu từ bên ngoài Thể tích máu cần lấy phải đạt ít nhất là 0,4 ml Ngay sau khi có đủ lượng máu cần lấy (từ 0,4 – 0,9 ml), cho ngay mẫu máu vào ống chứa mẫu có chất chống đông EDTA Máu được xét nghiệm trên máy CELL-DYN 3700
Trang 323.3.2.3 Các thông số đánh giá
- Trọng lượng của chuột trong quá trình thí nghiệm
- Tổng lượng bạch cầu, bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho, bạch cầu đơn nhân
- Tổng lượng hồng cầu, hemoglobin, hematocrit
- Số lượng tiểu cầu
3.3.2.4 Phương pháp phân tích thống kê
Các số liệu được trình bày là giá trị trung bình ± Sai số chuẩn của giá trị trung bình (Mean ± SEM)
SEM : Standard Error of Mean
Việc thống kê các số liệu được áp dụng dựa trên phần mềm thống kê Minitab Sự khác nhau được xem là có ý nghĩa khi giá trị p<0,05 (độ tin cậy 95%) hay p<0,01 (độ tin cậy 99%)
Trang 33CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1 KHẢO SÁT TÁC DỤNG GÂY SUY GIẢM BẠCH CẦU CỦA OXALIPLATIN, 5-FLUOROURACIL TRÊN BUỒNG ĐẾM NEUBAUER
4.1.1 Khảo sát tác động gây suy giảm bạch cầu của oxaliplatin,
5-fluorouracil
4.1.1.1 Oxaliplatin 10 mg/kg (ngày 0) + 5-Fluorouracil 150 mg/kg ngày (0, 1)
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm trên 8 chuột Sau khi tiêm thuốc, chuột được cân và lấy máu theo dõi mỗi ngày Sau khi tiêm thuốc, thể trạng chuột nhanh chóng suy sụp, trọng lượng chuột giảm rõ rệt Từ ngày 2 chuột bắt đầu bị tiêu chảy, rụng lông Ngày 4 có 1 chuột chết, tất cả chuột đều rất yếu ớt, chuột chết dần (đến ngày 6 thì toàn bộ chuột trong lô đều chết) Như vậy liều này quá độc, không thích hợp để khảo sát
Bảng 4.1 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3
trước và sau khi tiêm thuốc
Trước khi tiêm
Trang 34Biểu đồ 4.1 Tác động của phối hợp oxaliplatin 10 mg/kg, 5-FU 150 mg/kg,
trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu
Trang 354.1.1.2 Oxaliplatin 10 mg/kg (ngày 0) + 5-Fluorouracil 100 mg/kg (ngày 0, 1)
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm trên 5 chuột với liều 5-FU giảm xuống còn 100 mg/kg Sau khi tiêm thuốc, chuột được cân và lấy máu theo dõi mỗi ngày Trong thí nghiệm này, thể trạng chuột cũng nhanh chóng suy sụp, trọng lượng chuột giảm nhanh Chuột bị tiêu chảy, rụng lông Ngày 4 có 2 chuột chết, ngày 6 tất cả chuột đều chết Như vậy liều này cũng quá độc, không thích hợp để khảo sát
Bảng 4.2 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3
trước và sau khi tiêm thuốc
Trước khi tiêm
Trang 36Biểu đồ 4.2 Tác động của phối hợp oxaliplatin 10 mg/kg, 5-FU 100 mg/kg,
trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm
Trang 374.1.1.3 Oxaliplatin 5 mg/kg (ngày 0) + 5-Fluorouracil 150 mg/kg (ngày 0, 1)
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm trên 5 chuột với liều oxaliplatin giảm xuống còn 5 mg/kg Sau khi tiêm thuốc, chuột được cân và lấy máu theo dõi mỗi ngày Thể trạng chuột nhanh chóng suy sụp, trọng lượng chuột giảm nhanh Chuột bị tiêu chảy, rụng lông Ngày 4 có 1 chuột chết, ngày 6 chỉ còn 1 chuột sống nhưng thể trạng rất yếu Như vậy liều này cũng quá độc, không thích hợp để khảo sát
Bảng 4.3 Thể trọng và tổng lượng bạch cầu/mm3
trước và sau khi tiêm thuốc
Trước khi tiêm
Trang 38Biểu đồ 4.3 Tác động của phối hợp oxaliplatin 5 mg/kg, 5-FU 150 mg/kg,
trên thể trọng và tổng lượng bạch cầu ở lô thử nghiệm