Đối với Việt Nam, cuộc CMCN 4.0 sẽ mang lại những cơ hội cũng như thách thức không nhỏ cho lao động xuất khẩu của Việt Nam. Bài viết sẽ sơ lược qua về cuộc CMCN 4.0, phân tích tác động của cuộc CMCN 4.0 đến xuất khẩu lao động của Việt Nam và qua đó đề xuất một số biện pháp để chủ động thích ứng trước những tác động của cuộc CMCN 4.0 đến xuất khẩu lao động nước ta.
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 TỚI
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
Tóm tắt đề tài
Con người đang bước vào giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) Đây là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử, nó được dự đoán là sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh trong cuộc sống chúng ta, trong đó có thị trường xuất khẩu lao động Đối với Việt Nam, cuộc CMCN 4.0 sẽ mang lại những cơ hội cũng như thách thức không nhỏ cho lao động xuất khẩu của Việt Nam Bài viết sẽ sơ lược qua về cuộc CMCN 4.0, phân tích tác động của cuộc CMCN 4.0 đến xuất khẩu lao động của Việt Nam và qua
đó đề xuất một số biện pháp để chủ động thích ứng trước những tác động của cuộc CMCN 4.0 đến xuất khẩu lao động nước ta
1 Đặt vấn đề
Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn nhân loại, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Với đặc trưng cơ bản là
sự kết hợp giữa các hệ thống thực và ảo, các hệ thống kết nối Internet vạn vật dựa trên nền tảng công nghệ, kỹ thuật số Trước bối cảnh như vậy, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế về nguồn nhân lực, trao đổi hàng hoá “Sức lao động” Xuất
khẩu lao động là một hình thức của phân công lao động quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong phân phối lao động giữa các quốc gia Chính vì vậy, xuất khẩu lao động không những là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mà còn là một chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu lao động nước ta đang gặp rất nhiều những thách thức cũng như chịu tác động rất lớn từ cuộc CMCN 4.0 Nhận thức được vai trò và những ảnh hưởng, tác động to lớn của cuộc CMCN 4.0 đến lĩnh vực kinh tế nói chung cũng như đối với hoạt động xuất
khẩu lao động nói riêng, tôi xin chọn đề tài: “Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tới xuất khẩu lao động của Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 22 Nội dung chính
2.1 Sơ lược về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
Sau ba cuộc cách mạng lớn trong lịch sử, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư (CMCN 4.0) đã và đang phát triển hơn bao giờ hết với tác động làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên 3 lĩnh vực chính là:
Kỹ thuật số: Bao gồm dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối Internet (IoT), trí
tuệ nhân tạo (AI)
Công nghệ sinh học: Ứng dụng trong nông nghiệp, ngành thủy sản, y học, chế
biến thực phẩm, môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu
Vật lý: Robot thế hệ mới, xe tự lái, các vật liệu mới, công nghệ nano,…
Có thể thấy cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng tạo tiền đề cho nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động chi phí thấp sang nền kinh tế tri thức Đặc biệt, CMCN 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung – cầu lao động không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả toàn thế giới
Theo lời cảnh báo của các nhà kinh tế và khoa học tại Diễn đàn Kinh tế thế giới diễn ra vào năm 2016 tại Thụy Sĩ, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động Nếu nền kinh tế với trình độ tự động hóa cao và có tính sáng tạo, đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự đổi mới của sản xuất nếu không sẽ bị đào thải, dẫn tới thất nghiệp
Tại khu vực Châu Á, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập giúp thị trường lao động trong khối hoạt động sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên Tuy nhiên, do trình độ phát triển không đồng đều nên hiện nay, lao động có tay nghề và kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore, Malaysia và Thái Lan Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng Khảo sát của Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại 10 quốc gia ASEAN cho thấy, doanh nghiệp trong khối hiện đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề
Trang 3và kỹ năng trước sự ra đời của ACE Trong bối cảnh đó, các yêu cầu về trình độ, kỹ năng của người lao động để đáp ứng yêu cầu việc làm, thị trường lao động sẽ gặp những thách thức lớn về chất lượng, cung, cầu và cơ cấu lao động Những vấn đề này không chỉ đe dọa tới việc làm của người lao động trình độ thấp mà lao động có kỹ năng bậc trung trở lên cũng sẽ bị ảnh hưởng nếu họ không tự trang bị cho mình những
kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết cho “cơn bão 4.0” này
2.2 Tình hình xuất khẩu lao động tại Việt Nam các năm gần đây
Theo đánh giá của các chuyên gia, những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu tăng trưởng khá mạnh, thu nhập của người lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước tăng dần qua các năm, tiếp tục góp phần quan trọng vào công tác giảm nghèo bền vững
và xây dựng nông thôn mới
Thống kê số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hiện nay có khoảng 500.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn
40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước nhận số lượng lớn lao động Việt Nam như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản
Bảng 2.1 Xuất khẩu lao động của Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm
Đơn vị: Người
Năm Tổng lao động xuất khẩu Lao động xuất khẩu theo thị trường
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐTB & XH
Từ số liệu trên chúng ta có thể thấy số lượng người tham gia xuất khẩu lao động qua các năm đều tăng mạnh Trong giai đoạn 2012 - 2016, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bình quân mỗi năm đạt 87.500 người, tăng khoảng 4,2% mỗi năm.1
1 Đàm Trung, (2018) Những nét mới trong xuất khẩu lao động năm 2018.
Trang 4Đặc biệt trong những năm gần đây, số lao động làm việc ở nước ngoài đạt hơn 100.000 người/năm, trong đó năm 2016 đạt hơn 26.000 người, tăng 8,9% so với năm
2015 Tỷ lệ lao động đi làm việc ở nước ngoài đã qua đào tạo chiếm trên 30%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 15% năm 2015
Năm 2017, mục tiêu đề ra là đưa 105.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, tuy nhiên, kết quả thực hiện năm 2017 đạt trên 130.000 người, vượt gần 24% so với kế hoạch đề ra và đạt có số kỷ lục từ trước đến nay trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Trong đó, Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản được ghi nhận là 2 thị trường có
tỉ lệ người lao động xuất khẩu lớn nhất Với đặc thù gần về khoảng cách địa lý, các điều kiện không qua khắt khe, chi phí rẻ lại có nhiều lao động Việt Nam đang làm việc Cùng với đó là sự đa dạng về ngành nghề mà nước ta có khả năng đáp ứng tốt đã thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng lao động đến hai thị trường này
Xu hướng xuất khẩu lao động tăng cao trong cuối năm 2017 và vẫn tiếp tục tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm 2018 Điều này chứng tỏ sức hấp dẫn của thị trường việc làm đối với lao động Việt Nam Cụ thể: Theo Báo cáo kết quả công tác xuất khẩu lao động , trong 8 tháng đầu năm 2018, có hơn 75.000 lao động Việt xuất cảnh sang quốc gia khác làm việc, con số này tăng gần 12% so với cùng kì năm 2017 Với chỉ tiêu đưa 110.000 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong 8 tháng đầu năm 2018, cả nước đã có 78.938 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 29.496 lao động nữ), đạt 75,16% kế hoạch năm 2018, bằng 106% so với cùng kỳ năm ngoái Một số thị trường chính mà lao động Việt Nam hướng tới là: Đài Loan (với 30.882 người, nâng tổng số lao động Việt Nam đang làm việc tại đây lên 213.000 lao động); Nhật Bản (hiện có 126.000 lao động), Hàn Quốc (38.000 lao động),…2
Đi kèm với những kết quả đạt được rất đáng khích lệ về số lượng lao động được ra nước ngoài làm việc luôn là những lo lắng tình trạng lao động bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp tăng cao Điển hình như thực trạng người lao động bỏ trốn vượt ngưỡng tại thị trường Hàn Quốc đã khiến chính phủ nước này ngưng tiếp nhận lao động Việt Nam từ năm 2012 Đây là lý do những năm gần đây có rất ít lao động tham gia làm việc tại thị trường này
2 Cục Quản lý lao động ngoài nước, (2018) 9.989 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong
tháng 8 năm 2017.
Trang 5 Thực trạng chất lượng của các lao động xuất khẩu Việt Nam
Đánh giá mức độ đáp ứng của lao động xuất khẩu Việt Nam với các tiêu chuẩn giáo dục – đào tạo
Người lao động chủ yếu là lao động thủ công, tay nghề chưa cao Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo xuất khẩu của nước ta đạt 30%, trong đó lao động đào tạo trình độ trung cấp đạt 20% và lao động đạt trình độ đại học là khoảng 10% Đây là một tỷ lệ quá thấp so với tổng số lao động xuất khẩu được liệt kê ở trên Bên cạnh đó, điểm yếu nhất của lao động Việt Nam là khả năng ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, ) Tại những thị trường đầy tiềm năng như thị trường Nhật Bản, Đức hay các nước Châu Âu đòi hỏi về tay nghề lẫn ngoại ngữ cao và rất ít lao động Việt Nam đáp ứng được điều này
Đánh giá mức độ đáp ứng của lao động xuất khẩu Việt Nam với các tiêu chuẩn
về hiểu biết, ý thức xã hội
Hiện nay, theo đánh giá của nhiều quốc gia sử dụng lao động nhập khẩu, tính
kỷ luật trong môi trường công nghiệp của lao động xuất khẩu Việt Nam thuộc loại trung bình thấp Tính kỷ luật trong môi trường công nghiệp còn yếu, nhiều trường hợp người lao động ý thức kém vi phạm hợp đồng, thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động Nguyên nhân chính là do lao động xuất khẩu Việt Nam đa số xuất thân từ nông thôn, trình độ thấp, chưa quen tác phong làm việc công nghiệp
Đánh giá mức độ đáp ứng của lao động xuất khẩu Việt Nam với các tiêu chuẩn
về thể lực
Về chiều cao và sức khỏe so với thế giới thì lao động nước ta thuộc loại trung bình thấp, chiều cao trung bình của nam khoảng 163cm, nữ là khoảng 153cm, thấp hơn lao động các nước trong khu vực là Thái Lan, Singapore Điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng và vận hành các loại máy móc hiện đại, hạn chế năng suất lao động, buộc người lao động phải gắng sức nhiều hơn khi làm việc
Độ tuổi là lợi thế nổi bật của lao động xuất khẩu Việt Nam, phần lớn người lao động nằm trong khoảng từ 18 – 35 tuổi, đây là độ tuổi mà các nước nhập khẩu lao động thường lựa chọn trong giai đoạn hiện nay
Trang 6 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam
Nhiều doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã và đang từng bước chủ động tìm kiếm và phát triển thị trường lao động ngoài nước, đầu tư bài bản trong công tác tạo nguồn và đào tạo lao động về tay nghề và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh, cũng như tác phong, kỷ luật lao động và ý thức chấp hành kỷ luật khi làm việc ở nước ngoài, điển hình là công tác đưa lao động sang thực tập kỹ năng, hộ lý và điều dưỡng tại Nhật Bản Các doanh nghiệp cũng đã tập trung, chú trọng đầu tư nhiều hơn trong việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác xuất khẩu lao động
Bên cạnh đó vẫn còn nhiều khuất mắt vẫn đang diễn ra Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐTB & XH, Việt Nam cho tới nay có 247 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Tuy nhiên hàng loạt công ty không được không được cấp giấy phép hoạt động vẫn thông báo tuyển dụng người lao động đi làm việc tại Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore,…
Tình trạng tuyển lao động nhưng không đưa được lao động đi hay không có hợp đồng xuất khẩu lao động ngày càng diễn ra phổ biến Một số doanh nghiệp còn thiếu nghiêm túc trong tổ chức các lớp định hướng, bồi dưỡng các thông tin cần thiết cho người lao động trước khi ra nước ngoài làm việc (kỹ năng, thông tin luật pháp, văn hóa nước sở tại,…)
Năm 2017, Bộ LĐTB & XH đã nêu tên 46 doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị thu hồi giấy phép hoạt động Hầu hết, những doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép là do
vi phạm quy định về xuất khẩu lao động như: không trực tiếp tuyển dụng lao động, cho người khác sử dụng giấy phép, lợi dụng hoạt động đưa người lao động người lao động đi làm việc ở nước ngoài để thu tiền trái phép; đưa lao động ra nước ngoài làm việc nhưng không đăng ký hợp đồng cung ứng lao động…
Việc vi phạm của các doanh nghiệp không chỉ xâm hại quyền lợi của người lao động mà còn ảnh hưởng tới uy tín của lao động Việt Nam với đối tác nước ngoài Đây cũng chính là lý do mà lao động xuất khẩu Việt Nam vẫn chưa được các nước nhập khẩu lao động đánh giá cao
Trang 72.3 Những tác động của cuộc CMCN 4.0 tới xuất khẩu lao động của Việt Nam
Những cơ hội
Khi CMCN 4.0 diễn ra một cách sâu rộng và nhanh chóng sẽ mang lại nhiều cơ hội cho thị trường xuất khẩu lao động tại Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, nguồn lao động trẻ, dồi dào là lợi thế của nước ta và đây cũng là
nhóm lực lượng có khả năng hấp thụ tốt nhất về khoa học, công nghệ, máy móc
Thứ hai, CMCN 4.0 diễn ra đã tạo điều kiện thúc đẩy Việt Nam thiết lập cơ cấu
lao động theo định hướng thị trường, tạo cơ hội cho lao động Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào phân công hợp tác lao động quốc tế
Thứ ba, cơ hội việc làm được mở rộng rất nhiều khi CMCN 4.0 diễn ra, đặc biệt
là những người sở hữu chuyên môn cao, kỹ năng thành thạo Đây chính là nhóm nhân lực có nhu cầu tuyển dụng rất lớn tại các nước, điều quan trọng đặt ra chúng ta có đủ nguồn lực như vậy để đáp ứng nhu cầu thị trường hay không
Thách thức
Bên cạnh những cơ hội mà CMCN 4.0 mang đến còn có những thách thức gay gắt đối với thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam
So với các nước Đông Nam Á, Việt Nam có ưu thế là lực lượng lao động trẻ, dồi dào và chi phí thấp Tuy nhiên, dưới sự tác động của cuộc CMCN 4.0 thì đây không còn là thế mạnh nữa Không những nhu cầu lao động đặc biệt là lao động chưa qua đào tạo hoặc trình độ thấp ở ngay thị trường Việt Nam sẽ giảm mà theo dự báo nhu cầu ở các quốc gia như: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và một số quốc gia ở Trung Đông cũng giảm mạnh Dự báo trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế 4.0 là lao động có trình độ
và đã qua đào tạo để có khả năng vận hành các thành tựu khoa học công nghệ mới Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thị trường Việt Nam được đánh giá là thấp Hiện nay, theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2017 cả nước có 28,05 triệu người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chiếm 51,64% tổng lực lượng lao động, trong khi với cách tính của Tổng cục Thông kê, thì số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 10,56 triệu người, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng lực lượng lao động
Trang 8chiếm 20,78% tổng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Trong khi Tính đến quý I/2017, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 138,8 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm này là 2,79% Nhóm trình độ cao đẳng có 104,2 nghìn người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp nhóm này là 6% Nhóm trình độ trung cấp
có 83,2 nghìn người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp là 3,08%3
Qua số liệu trên phản ánh một thực trạng rằng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp và lao động qua đào tạo thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao Như vậy, thị trường lao động Việt Nam là lao động trẻ, nhân công rẻ không còn là thế mạnh ngay cả trong nước nhà và đặc biệt là thị trường nước ngoài Để tăng cường xuất khẩu lao động trong nền kinh tế 4.0 thì phải sớm nắm bắt cơ hội tiến hành đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Thứ hai, một số nhóm ngành nghề chủ yếu sang các thị trường nước ngoài như
cơ khí, chế biến thủy sản, xây dựng, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, dệt may,… Tuy nhiên CMCN 4.0 cũng tác động mãnh mẽ đến nhu cầu sử dụng lao động các ngành nghề này Vì vậy, dự báo trong thời gian tới hoạt động xuất khẩu lao động sang các quốc gia khác hết sức khó khăn
Thứ ba, năng suất lao động thấp Theo Báo cáo Năng suất lao động Việt Nam
năm 2017, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Singapore; 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phillippines và 48,8% của Indonesia Nói cách khác, một người Singapore có năng suất gần bằng 23 người Việt Nam, một người Malaysia gần bằng 6 người Việt Nam
Số liệu thống kê cho thấy năng suất lao động Việt Nam là thấp so với các quốc gia trong khu vực Đây là một trong những hạn chế của lao động Việt Nam nói chung và lao động xuất khẩu nói riêng cả trong thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế
Thứ tư, tay nghề và các kỹ năng mềm khác còn yếu Theo thống kê cho thấy
hiện nay có tới 64 trung tâm dịch vụ việc làm do Bộ LĐTB & XH quản lý đã tổ chức
336 phiên giao dịch trên khắp các tỉnh thành với hơn 780.000 lượt người được tư vấn nhưng chỉ có 242.000 lượt nhận được việc làm Điều này cho thấy kỹ năng tìm kiếm việc làm và các kỹ năng khác của lao động Việt Nam còn rất hạn chế Đồng thời phần
3 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, (2017): Bản tin thị trường lao động, số 13, quý I/2017, tr 4
Trang 9nào phản ánh tính tích cực và chủ động của người lao động trên thị trường lao động còn rất yếu
Thứ năm, nguồn lao động nước ta có tác phong làm việc rất chậm chạp, tinh
thần trách nhiệm chưa cao Trình độ tay nghề vẫn còn rất yếu, chưa đáp ứng được hoàn toàn yêu cầu của chủ sử dụng lao động do hạn chế về năng lực chuyên môn, khả năng giao tiếp, không có khả năng ngoại ngữ, ít hiểu biết về các yếu tố văn hóa cũng như hệ thống pháp luật của nước nhập khẩu lao động
3 Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
Với những bất cập trên tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
3.1 Về phía nhà nước
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật một cách đầy đủ hơn, chặt chẽ
hơn, đồng thời ban hành chính sách, văn bản pháp luật về phòng chống, xử lý các hành
vi vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động với các chế tài xử lý thật sự nghiêm minh và hiệu quả
Thứ hai, cơ quan chức năng ở địa phương có các trụ sở của các doanh ngiệp
dịch vụ xuất khẩu lao động phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động, diễn biến tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp này Nắm bắt một cách kịp thời tình hình thực hiện pháp luật cũng như phát hiện sớm các sai phạm
Thứ ba, đối với việc thành lập các tổ chức hoạt động xuất khẩu lao động phải có
những quy định chặt chẽ hơn để hạn chế những đơn vị không có đủ điều kiện những vẫn cố ý tổ chức hoạt động Việc thanh lọc các đơn vị này sẽ giúp hạn chế các hành vi tiêu cực xảy ra
Thứ tư, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền Các cấp chính quyền cần
tăng cường hợp tác chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng để có thể thông tin đầy đủ, kịp thời tới người lao động để họ chủ động đầu tư học tập nâng cao trình độ tay nghề và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế
Thứ năm, hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động cần có sự phối hợp
giữa các quốc gia có mối quan hệ xuất khẩu lao động Trong quá trình hợp tác này,
Trang 10chúng ta cần phải ký kết các thỏa ước quốc tế nhằm tạo sự thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động, cũng như có những cơ chế hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của lao động Việt Nam lao động tại nước ngoài
3.2 Về phía các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyển chọn, tuân thủ các tiêu chuẩn trong tuyển
chọn và đào tạo,…
Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác đào tạo giáo dục định hướng nhằm hạn
chế tình trạng lao động bỏ trốn, duy trì và phát triển thị trường trọng điểm
Thứ ba, xây dựng nội dung, chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp
với yêu cầu về kỹ năng nghề, ngoại ngữ,…
Thứ tư, đầu tư vốn, cơ sở vật chất phục vụ xuất khẩu lao động, bổ sung đội ngũ
giáo viên có trình độ cao
3.3 Về phía người lao động
Người lao động cần phải chủ động nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề và khả năng ngoại ngữ; tìm hiểu các quy định về xuất khẩu lao động nhằm nâng cao hiểu biết Ý thức tổ chức kỷ luật, tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình sống
và làm việc tại nước ngoài
4 Kết luận
Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới
và ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam Đây là cơ hội lớn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tuy nhiên, nó cũng tạo ra một sức ép rất lớn cho hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta Bài viết đã làm rõ sự tác động của cuộc CMCN 4.0 tới xuất khẩu lao động của Việt Nam, phân tích thách thức và cơ hội của cuộc cách mạng này tới hoạt động xuất khẩu lao động nước ta hiện nay Bài viết cũng
đã đưa ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0