Ý nghĩa khoa học Cung cấp các thông tin, dẫn liệu khoa học mới về mức độ phát sinh, chỉ số kháng thuốc, sự hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc BVTV hiện đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
****************************
NGUYỄN MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NHỆN ĐỎ NÂU Oligonychus coffeae Nietner
(Acarina: Tetranychidae) TRÊN CÂY CHÈ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 9 62 01 12
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi …… giờ …… phút ngày …… tháng … năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam
2 Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
3 Thư viện Viện Bảo vệ thực vật
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner) là loài gây hại phổ biến, làm giảm
năng suất, chất lượng chè búp Hiện nay, người trồng chè chủ yếu là sử dụng thuốc BVTV để phòng chống nhện đỏ nâu Nhiều loại thuốc trước đây có hiệu lực cao đối với nhện đỏ nâu, nay đã nhanh chóng giảm hiệu lực Những hiểu biết về hiện trạng sử dụng thuốc và tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cây chè là cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu Do đó, tiến hành
đề tài “Nghiên cứu tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của nhện đỏ nâu Oligonychus
coffeae Nietner (Acarina: Tetranychidae) trên cây chè và biện pháp khắc phục ở miền núi phía Bắc Việt Nam” là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thời sự
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Nghiên cứu xác định mức độ kháng thuốc và tốc độ hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu với các nhóm thuốc đang được sử dụng phổ biến trong sản xuất Từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè ở miền núi phía Bắc
2.2 Yêu cầu
Đánh giá được thực trạng sử dụng thuốc BVTV trừ sâu hại và nhện đỏ nâu trên chè ở Thái Nguyên, Phú Thọ Xác định mức độ kháng thuốc và sự hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với các thuốc trừ nhện đỏ nâu đang được dùng phổ biến tại vùng chè Thái Nguyên, Phú Thọ Đánh giá hiệu quả một số biện pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo hướng quản lý tổng hợp trên cơ sở sử dụng thuốc BVTV hợp lý
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp các thông tin, dẫn liệu khoa học mới về mức độ phát sinh, chỉ số kháng thuốc, sự hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc BVTV hiện đang được dùng phổ biến trên chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cở sở khoa học xây dựng giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trong quản lý tổng hợp sinh vật hại trên cây chè, góp phần
sử dụng thuốc BVTV an toàn và bền vững trong sản xuất chè
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu O coffeae Nietner hại chè
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Lần đầu cung cấp các dẫn liệu khoa học một cách hệ thống về mức độ hình
Trang 4thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên chè đối với 11 hoạt chất thuốc BVTV (Abamectin, Azadirachtin, Dimethoate, Emamectin benzoate, Fenpyroximate, Fenpropathrin, Hexythiazox, Matrine, Propargite, Pyridaben, Rotenone) đang được
sử dụng phổ biến trên cây chè ở miền núi phía Bắc
- Bổ sung dẫn liệu mới về hiệu quả của một số biện pháp hạn chế sự phát sinh của nhện đỏ nâu và đề xuất biện pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cây chè
6 Cấu trúc luận án
Luận án có 120 trang, gồm phần mở đầu, phần nội dung (3 chương), kết luận
và đề nghị với 36 bảng số liệu, 7 hình Tham khảo 125 tài liệu, trong đó có 41 tài liệu tiếng Việt, 82 tài liệu tiếng Anh, 2 tài liệu trên Internet
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Việc sử dụng thuốc BVTV trên cây chè rất không giống nhau ở các nước khác nhau dẫn đến sự hình thành tính kháng thuốc ở nhện nhỏ nâu cũng rất khác nhau ở các nước trồng chè Các biện pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cây chè cũng sẽ khác nhau ở các nước trồng chè Vì vậy, phải có những nghiên cứu về tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu ở từng điều kiện cụ thể
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại
Trong điều kiện phòng thí nghiệm ở miền Nam Ấn Độ, trên giống chè
UPASI-10 ở nhiệt độ 25 ± 2oC, ẩm độ 85 ± 5% thời gian ấu trùng tuổi 1 đến tuổi 3 của nhện
đỏ nâu trung bình là 8,10 ± 1,65 ngày Thời gian sống của trưởng thành đực là 12,60
± 2,15 ngày, thời gian sống của trưởng thành cái là 24,20 ± 3,50 ngày Tỷ lệ đực: cái
là 1:2,25 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 120,80 ± 13,80 trứng/cái (Sudarmani, 2004) Nhện đỏ nâu ưa thích ánh sáng mặt trời, những cây chè không được che bóng thường bị nhiễm nhện đỏ nâu nặng hơn (Das, 1959b) Ở miền Nam Ấn Độ, nhện đỏ nâu xuất hiện quanh năm và thường gối lứa nhau Quần thể nhện đỏ nâu đạt đỉnh cao
số lượng vào tháng 3 - 4 hàng năm Nhiệt độ thấp, ẩm độ cao và mưa nặng hạt có ảnh hưởng bất lợi đến quần thể nhện đỏ nâu (Sudarmani, 2004)
1.2.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
Người trồng chè ở Shizuoka (Nhật Bản) đã phun thuốc 16,9 - 21,6 lần/năm để trừ sâu hại và 4,1 - 8,1 lần/năm để trừ bệnh (Takafuji and Amano, 2001) Các thuốc Propagite, Fenpyroximate, Hexythiazox, Bifenthrin, Fenazaquin, Spiromesifen được
sử dụng để trừ nhện đỏ nâu hại chè (Anonymous, 2012; Babu and Muraleedharan, 2010;…)
1.2.3 Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Việc sử dụng thuốc trừ nhện lặp đi lặp lại đã làm gia tăng sự gây hại trầm trọng của nhện đỏ nâu đối với cây chè trong những năm qua Sự giảm tính mẫn cảm của nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc trừ nhện có thể là một trong những nguyên nhân
làm tăng mật độ quần thể trên đồng ruộng (Roy et al., 2008; Sarker và Mukhopadhyay, 2008; Shahoo et al., 2003) Ở Ấn Độ, đối với quần thể nhện đỏ nâu
Trang 5ở Terai và Dooars, thuốc Ethion, Dicofol có giá trị LC50 >300 ppm; giá trị LC50 của Propagite lần lượt là 46,246 và 97,110; các thuốc Fenazaquin và Fenpropathrin có giá trị LC50 < 10 ppm (Roy et al., 2009) Ở Bắc Bengal (Ấn Độ) đã đánh giá tính kháng
thuốc của nhện đỏ nâu với 5 hoạt chất trừ nhện Ethion, Dicofol, Propargite, Fenazaquin và Fenpropathrin Kết quả cho thấy các quần thể nhện đỏ nâu ở vùng Terai ít mẫn cảm hơn với cả 5 loại thuốc thí nghiệm so với các quần thể nhện đỏ nâu thu từ vùng Dooars Mức mẫn cảm với các thuốc trừ nhện sử dụng trừ nhện đỏ nâu ở
2 vùng này cho thấy sức ép chọn lọc quần thể kháng thuốc gây ra bởi các thuốc trừ
nhện (Roy et al., 2010a)
Theo Roy et al (2012), trong phòng thí nghiệm giá trị LC50 của Ethion, Dicofol, Profenofos, Propargite, Fenpropathrin, Fenazaquin và Abamectin đối với nhện đỏ nâu ở Đông Bắc Ấn Độ lần lượt là 687,18 ppm; 534,04 ppm; 241,684 ppm; 90,256 ppm; 12,549 ppm; 4,319 ppm và 2,405 ppm Trong các loại thuốc trừ nhện nhỏ, Abamectin độc nhất và Ethion ít độc nhất Giá trị LC50 giảm dần đối với thuốc diệt trứng là Fenazaquin, tiếp đến là Profenofos, Propagite, Fenpropathrin, Ethion, Dicofol và Abamectin
Ở Terai (Ấn Độ), có giá trị LC50 đối với quần thể nhện đỏ nâu của nhóm thuốc lân hữu cơ (Ethion) ở nơi sử dụng thường xuyên thuốc trừ nhện nhỏ đạt cao hơn 79 -
100 lần so với nơi không sử dụng thuốc trừ nhện nhỏ Tương tự, giá trị LC50 của nhóm cúc tổng hợp (Fenpropathrin) đối với quần thể nhện đỏ nâu ở nơi thường xuyên
sử dụng thuốc trừ nhện nhỏ đạt cao hơn 73 - 108 lần so với nơi không sử dụng thuốc
trừ nhện nhỏ (Soma et al., 2017)
1.2.4 Quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Ở miền Nam Ấn Độ, Sudarmani (2004) ghi nhận tỷ lệ lá chè bị nhiễm nhện đỏ nâu cao hơn ở những cánh đồng chè không có cây che bóng, do nhiệt độ cao và thời gian chiếu sáng nhiều vào lá chè Cây chè được che bóng phát triển thuận lợi, hạn chế được nhện đỏ nâu
Roy et al (2010a) khuyến cáo sử dụng thuốc trừ trứng nhện đỏ nâu hại chè là
một trong các chiến lược quản lý tính kháng thuốc Đối với trứng nhện đỏ nâu, giá trị
LC50 thấp nhất được xác định là của Fenazaquin, sau đó là của Profenofos, Propargite, Fenpropathrin, Ethion, Dicofol, Abamectin và cuối cùng là của
Azadirachtin (Roy et al., 2010b)
Quy trình phòng trừ nhện đỏ nâu gồm: 1) Biện pháp được áp dụng (2 lần phun
thuốc với khoảng cách 15 ngày) khoảng thời gian tháng 12 và tháng 1, chè búp non
và chưa đốn; đốn phớt chè tháng 2; đốn chè đầu tháng 3; 2) Sau khi nhện gây hại lần
thứ hai phải theo khoảng thời gian 7 - 10 ngày (tháng 4 đến tháng 10: 7 ngày; tháng
11 đến tháng 3: 10 ngày); 3) Tránh áp dụng hóa chất lưu huỳnh trong khoảng thời gian nắng nóng và khô hanh; 4) Thu gom lá chè trên bề mặt; 5) Phun thuốc cả mùa vụ tại chỗ; 6) Đốn chè sau khi hái; 7) Không phun thuốc vào buổi trưa khi trời nắng; 8)
Tránh phối hợp thuốc trừ nhện với phân bón lá, thuốc trừ sâu và thuốc khác để giữ
độc tính thuốc trừ nhện và phòng trừ các phần gây hại của nhện đỏ nâu; 9) Nhổ bỏ cây bị gây hại nặng; 10) Tưới phun ướt tầng trên, giữa và dưới bụi chè là bắt buộc để
giết chết quần thể nhện còn sót lại (Das, 1960; Gurusubramanian và Borthakur, 2005)
Trang 61.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại
Nguyễn Văn Đĩnh (1994) ghi nhận cây chè có 3 loài nhện nhỏ hại là nhện đỏ tươi, nhện đỏ nâu và nhện trắng Trong đó, nhện đỏ nâu là loài hại quan trọng hơn cả
Trưởng thành nhện đỏ nâu có 4 đôi chân, chân phân đốt có nhiều lông gai nhọn rải rác Cơ thể chia thành hai phần khá rõ rệt, phần thân có kích thước từ 0,25 - 0,31
mm x 0,17 - 0,24 mm; phần đầu hơi thon đều, kích thước 0,06 - 0,09 mm x 0,05 - 0,07 mm Trứng có hình cầu dẹt, kích thước 0,09 - 0,12 mm, ngay chính giữa quả trứng có một chiếc lông cong nhỏ dài và mảnh Trứng mới đẻ có màu hồng nhạt, sau chuyển màu nâu đỏ, lúc sắp nở có màu nâu sẫm Nhện non mới nở có thân màu hồng nhạt, kích thước 0,13 - 0,15 mm x 0,10 - 0,12 mm với 3 đôi chân (Nguyễn Văn Hùng
và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
Trong phòng thí nghiệm (trung bình 27,5oC, 81,6% ẩm độ) thời gian vòng đời của nhện đỏ nâu nuôi bằng giống Trung Du Xanh và PH1 lần lượt là 10,7 ngày và 10,86 ngày (Phạm Thị Mai, 2010) Theo Nguyễn Thái Thắng (2000), thời gian vòng đời của nhện đỏ nâu từ 11,2 đến 12,8 ngày tùy theo điều kiện môi trường nhất là nhiệt
độ Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ được 79 trứng, sức đẻ trứng theo ngày cao nhất thường quan sát được trong vòng 5 - 10 ngày đầu sau khi đẻ trứng Thời gian đẻ trứng kéo dài 20 ngày Ở 30oC, thời gian vòng đời rút ngắn còn 11,2 ngày so với 12,8 ngày ở 25oC Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Tiến (1994) xác định nhện đỏ nâu thường có 2 đợt phát sinh rộ trong năm: đợt 1 trong thời gian tháng 2 - 5 và đợt 2 trong thời gian tháng 9 - 11
1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
Số lần phun thuốc ở các điểm trồng chè trọng điểm của Ba Vì là 9 - 16 lần/năm, tỷ lệ người phun thuốc định kỳ còn cao, một số điểm lên đến trên 75% và hầu hết là phun thuốc không theo nguyên tắc 4 đúng (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2009) Phỏng vấn nông dân ở vùng chè tại Thái Nguyên từ năm 2005- 2006 ghi nhận có tới 28,8 - 33,3% số người được hỏi phun dưới 16 lần/năm và 60,0 - 66,7% số người được hỏi phun 16 - 20 lần/năm (Nguyễn Văn Toàn và Phạm Văn Lầm, 2014)
1.3.3 Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu chưa được nghiên cứu ở Việt Nam, mặc dù
có sự ghi nhận sự giảm hoặc không có hiệu lực đối với nhện đỏ nâu của một số thuốc
và sự phát triển mạnh hơn trước của nhện đỏ nâu (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
1.3.4 Quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Chưa có nghiên cứu chuyên sâu về tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên chè
ở Việt Nam Có một số nghiên cứu biện pháp phòng chống nhện đỏ nâu trên chè (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994; Lương Thị Huyền, 2017; Nguyễn Trần Oánh, 2012; Nguyễn Thái Thắng, 2000; Nguyễn Thị Thu và cs., 2016; Vũ Thị Thương và cs., 2015;…)
Trang 7CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các nghiên cứu trong phòng, nhà lưới được tiến hành tại Viện Bảo vệ thực vật Các nghiên cứu ngoài đồng được thực hiện tại Thái Nguyên, Phú Thọ Thời gian thực hiện từ 2014 - 2018
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Các loại thuốc BVTV các giống chè, trang thiết bị phục vụ thí nghiệm trong phòng và trên nương chè
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ nhện đỏ nâu trên cây chè tại 2 tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ
- Nghiên cứu xác định mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với một số loại thuốc trừ nhện thường sử dụng trong sản xuất chè
- Đánh giá tốc độ phát triển tính kháng thuốc, khả năng kháng chéo của nhện
đỏ nâu đối với một số thuốc trừ nhện thường sử dụng
- Nghiên cứu một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè theo hướng tổng hợp
- Xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo hướng tổng hợp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng thuốc BVTV chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ được điều tra theo phương pháp chung (Đào Trọng Ánh, 2002)
Nhân nuôi nòi nhện đỏ nâu mẫn cảm từ nhện đỏ nâu thu ở nương chè theo phương pháp Helle và Sabelis (1985) Xác định mức độ kháng thuốc và khả năng
kháng chéo của nhện đỏ nâu theo phương pháp của IRAC (2009), Sato et al (2005)
Điều tra mật độ nhện đỏ nâu và hiệu quả của biện pháp canh tác đối với nhện
đỏ nâu được thực hiện theo QCVN 01-118 của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Sudarmani (2004), Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006)
Điều tra thành phần thiên địch trên cây chè theo phương pháp của Phạm Văn Lầm (1997) Đánh giá hiệu quả của thuốc đối với nhện đỏ nâu theo phương pháp của
Kumari et al (2012), Knight et al (1990)
Chọn thuốc luân phiên trong quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo Lê Trường và cs (2005), Nguyễn Trần Oánh (2012)
Xây dựng mô hình, đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo hướng tổng hợp được dựa vào kết quả nghiên cứu của đề tài và qui trình quản lý cây chè tổng hợp (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Hiệu lực của các thuốc đối với nhện đỏ nâu được tính theo công thức Abbott
(1925), Sarmah et al (1999), Henderson-Tilton (1955) Giá trị LC50 được tính bằng chương trình Probit của Finney (1971) Chỉ số kháng thuốc (Ri) được xác định theo FAO (1980) Số liệu được xử lý bằng chương trình IRRISTAT 5.0
Trang 8CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ nhện đỏ nâu trên cây chè tại 2 tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ
3.1.1 Thành phần côn trùng, nhện nhỏ hại cây chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ
3.1.1.1 Côn trùng và nhện nhỏ hại chính trên cây chè qua phỏng vấn
Tại 2 vùng nghiên cứu, tầm quan trọng của rầy xanh hại chè và bọ xít muỗi hại chè được đánh giá khá tương đồng nhau Tỷ lệ người trồng chè coi rầy xanh hại chè
là quan trọng ở Thái Nguyên, Phú Thọ tương ứng là 99,8% và 97,1% Chỉ tiêu này đối với bọ xít muỗi hại chè tương ứng là 77,1% và 70,9% Nhện đỏ nâu được coi là quan trọng ở Thái Nguyên đạt tỷ lệ khá cao (trung bình là 81,0%), cao hơn hẳn so với
ở Phú Thọ (trung bình chỉ là 67,3%)
3.1.1.2 Thành phần côn trùng, nhện nhỏ hại cây chè qua điều tra thực địa
Điều tra thực địa trong năm 2014 đã phát hiện được 13 loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây chè ở Thái Nguyên, Phú Thọ Các loài rất phổ biến (có tần suất bắt gặp đạt trên 50%) ở tỉnh Thái Nguyên gồm rầy xanh hại chè, bọ xít muỗi chè, nhện đỏ nâu và ở tỉnh Phú Thọ chỉ có bọ xít muỗi và nhện đỏ nâu
3.1.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè
3.1.2.1 Số lần sử dụng thuốc trên cây chè trong một năm
Năm 2014, phỏng vấn tại xã Hòa Bình, La Bằng và Phấn Mễ (Thái Nguyên) ghi nhận người trồng chè trong một năm đã phun thuốc 14,4 lần (12,37 - 16,89 lần)
Ở Phú Thọ, phỏng vấn tại xã Phú Hộ, Tiên Phú và Võ Miếu cho thấy người trồng chè
ở tỉnh này phun ít thuốc hơn người trồng chè ở tỉnh Thái Nguyên, trong một năm chỉ phun thuốc trung bình 12,0 lần/năm (9,82 - 14,16 lần)
3.1.2.2 Nồng độ, liều lượng thuốc sử dụng
Người trồng chè ở Thái Nguyên, Phú Thọ áp dụng đúng nồng độ, liều lượng thuốc theo khuyến cáo đạt tỷ lệ khá cao, tương ứng đạt 71,27% và 78,15% Ở Thái
Nguyên, số người trồng chè sử dụng nồng độ, liều lượng thuốc BVTV tăng gấp 2 - 3 lần chiếm tỷ lệ 8,39% người được hỏi Chỉ tiêu này ở Phú Thọ chiếm tỷ lệ 5,68% người được hỏi Số người trồng chè sử dụng nồng độ, liều lượng thuốc tăng hơn
khuyến cáo ở Thái Nguyên đạt cao hơn ở Phú Thọ
Bảng 3.4 Nồng độ, liều lượng thuốc được người trồng chè sử dụng
trong năm 2014
Sử dụng nồng độ, liều lượng so với
khuyến cáo (lần)
Tỷ lệ người trồng chè áp dụng (%) Thái Nguyên1 Phú Thọ2
Trang 93.1.2.3 Chủng loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng
Hoạt chất Abamectin và Emamectin benzoate (nhóm Avermectin) được sử dụng phổ biến nhất để phòng trừ sâu hại trên chè ở các điểm điều tra Tỷ lệ hộ nông dân trồng chè sử dụng hoạt chất Abamectin đạt 21,32% tại Thái Nguyên và ở Phú Thọ là 26,93% Tỷ lệ hộ sử dụng hoạt chất Emamectin benzoate tại 2 tỉnh này tương ứng là 10,19% và 18,15% Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ nông dân sử dụng đạt rất thấp, chỉ là 0,14 - 6,34% ở Thái Nguyên và 0,02 - 5,16% ở Phú Thọ Thuốc BVTV hỗn hợp được sử dụng nhiều nhất trên cây chè ở Thái Nguyên là hỗn hợp Abamectin với Emamectin benzoate (tỷ lệ hộ sử dụng là 3,67%) và thuốc BVTV hỗn hợp được sử dụng nhiều nhất trên cây chè ở Phú Thọ là hỗn hợp Fenitrothion với Trichlorfon (tỷ lệ hộ sử dụng là 5,16%)
Bảng 3.7 Các thuốc BVTV đơn hoạt chất được sử dụng để trừ nhện đỏ nâu trên
cây chè năm 2014
Nhóm thuốc Hoạt chất được sử dụng
Nhóm độc*
Tỷ lệ hộ sử dụng (%) Thái
Nguyên1
Phú Thọ2
Điều hòa sinh
Ghi chú: * : Phân nhóm độc theo WHO, - : Người trồng chè không sử dụng
1 Điều tra tại các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ); La Bằng (Đại Từ); Phấn Mễ (Phú Lương)
(Thanh Sơn)
Hoạt chất Abamectin được sử dụng nhiều nhất để trừ nhện đỏ nâu trên chè Tỷ
lệ hộ nông dân sử dụng hoạt chất này để trừ nhện đỏ nâu đạt 19,16% ở Thái Nguyên
và 26,37% ở Phú Thọ Đứng thứ 2 (sau hoạt chất Abamectin) về số người sử dụng là hoạt chất Propargite ở Thái Nguyên và Emamectin benzoate ở Phú Thọ (tương ứng với tỷ lệ 10,18% và 15,02% hộ sử dụng) Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ nông
Trang 10dân sử dụng đạt thấp, chỉ là 0,13 - 8,45% ở Thái Nguyên và 2,78 - 9,47% ở Phú Thọ (bảng 3.7)
Bảng 3.8 Các thuốc BVTV hỗn hợp nhiều hoạt chất được sử dụng để trừ nhện
đỏ nâu trên cây chè năm 2014
Nhóm thuốc được sử dụng Hoạt chất Nhóm độc*
Ghi chú: * : Phân nhóm độc theo phân cấp của WHO , - :Người trồng chè không sử dụng
1 Điều tra tại các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ); La Bằng (Đại Từ); Phấn Mễ (Phú Lương)
2 Điều tra tại xã Phú Hộ (Thị xã Phú Thọ); Tiên Phú (Phù Ninh); Võ Miếu (Thanh Sơn)
Trang 11Tại các điểm điều tra ở Thái Nguyên, thuốc BVTV hỗn hợp được sử dụng nhiều nhất để trừ nhện đỏ nâu trên cây chè là hỗn hợp Abamectin + Alpha-cypermethrin với tỷ lệ hộ sử dụng đạt 4,85%; sau đó là các hỗn hợp Abamectin + Acetamiprid (tỷ lệ hộ sử dụng là 3,78%) và hỗn hợp Emamectin benzoate + Matrine với tỷ lệ hộ sử dụng là 3,54% tổng số hộ điều tra; có 0,27% số hộ sử dụng thuốc BVTV hỗn hợp gồm 3 hoạt chất Tại các điểm điều tra ở Phú Thọ, thuốc BVTV hỗn hợp 2 hoạt chất được sử dụng nhiều nhất (với tỷ lệ hộ dùng 4,07%) để trừ nhện đỏ nâu là hỗn hợp Abamectin + Petroleum oil; sau đó là các hỗn hợp Abamectin + Matrine và Emamectin benzoate + Matrine với tỷ lệ hộ sử dụng tương ứng là 3,58%
và 3,27% (bảng 3.8)
3.1.2.4 Tình hình sử dụng thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu tại một số địa phương
Tại xã La Bằng (Thái Nguyên) có 14 hoạt chất thuộc 10 nhóm thuốc BVTV được sử dụng để phòng trừ nhện đỏ nâu Hoạt chất Abamectin có tỷ lệ hộ sử dụng nhiều nhất (28,31%) Hoạt chất Emamectin benzoate có tỷ lệ hộ sử dụng là 16,39% Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ ở xã này sử dụng là 0,64 - 12,37% Xã Phú Hộ (Phú Thọ) có 10 hoạt chất thuộc 9 nhóm thuốc BVTV được sử dụng để trừ nhện đỏ nâu Hoạt chất được sử dụng nhiều nhất là Abamectin với 43,1% số hộ sử dụng Hoạt chất Emamectin benzoate, Fenpyroximate, Propargite có tỷ lệ hộ sử dụng tương ứng
là 14,57%; 15,44% và 12,76% Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ ở xã này sử dụng là 0,14 - 4,73%
3.2 Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với một số hoạt chất thuốc được
sử dụng trong sản xuất chè
3.2.1 Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu với một số hoạt chất
3.2.1.1 Đối với nguồn nhện đỏ nâu thu tại Thái Nguyên
Nhện đỏ nâu trên chè ở Thái Nguyên có chỉ số kháng thuốc Ri đối với hoạt chất Dimethoate đạt cao nhất trong các hoạt chất thí nghiệm và là 14,3 Chỉ số kháng thuốc Ri của nhện đỏ nâu này đối với hoạt chất Fenpropathrin, Propargite, Abamectin
và Emamectin benzoate đạt thấp hơn, tương ứng là 11,6; 11,3; 11,3 và 11,2 Đối với hoạt chất Fenpyroximate và Pyridaben, nhện đỏ nâu thu từ Thái Nguyên có chỉ số kháng thuốc Ri đều đạt 10,3 Nhện đỏ nâu trong thí nghiệm có chỉ số kháng thuốc Ri
đối với các hoạt chất Azadirachtin, Matrine, Rotenone và Hexythiazox đạt rất thấp, tương ứng chỉ là 3,2; 5,3; 3,7 và 4,6 (bảng 3.11)
Như vậy, nhện đỏ nâu thu trên chè ở Thái Nguyên đã biểu hiện tính kháng thuốc cao nhất đối với hoạt chất Dimethoate; mới biểu hiện tính kháng thuốc đối với hoạt chất Fenpropathrin, Propargite, Abamectin và Emamectin benzoate; biểu hiện tính kháng thuốc chưa rõ đối với hoạt chất Fenpyroximate, Pyridaben; chưa biểu hiện tính kháng thuốc đối với hoạt chất Matrine, Rotenone, Azadirachtin và Hexythiazox
Trang 12Bảng 3.11 Mức độ kháng của nhện đỏ nâu thu trên chè ở Thái Nguyên đối với
một số hoạt chất thuốc đang được dùng tại vùng nghiên cứu
(Viện Bảo vệ thực vật, 2014)
Tên hoạt chất
được đánh giá
Tên thương phẩm
LC50 (ppm) và giá trị giới hạn 95% Chỉ
số kháng
Ri
Nhện đỏ nâu thu tại Thái
Nguyên
Nòi nhện đỏ nâu mẫn cảm Dimethoate Bini-58
40EC
1228,8634 (1041,4096-1437,7701)
85,9345 (74,0815-99,6840) 14,3 Fenpropathrin Danitol
10EC
159,0812 (137,6135-183,7388)
13,7139 (11,8838-15,8258) 11,6 Fenpyroximate Ortus
5SC
42,134 (38,6907-45,8841)
4,0907 (3,7598-4,4507) 10,3 Hexythiazox Nissorun
5EC
14,0742 (12,7715-15,4957)
3,0596 (2,7815-3,3656) 4,6 Propargite Comite
73EC
181,1582 (158,7714-206,7015)
16,0317 (14,0629-18,2761) 11,3 Pyridaben Alfamite
15EC
29,9091 (26,7726-33,0650)
2,9038 (2,5766-3,2726) 10,3 Abamectin Catex
1.8EC
0,7865 (0,7098-0,8714)
0,0696 (0,06287-0,0770) 11,3 Azadirachtin Trutat
0.32EC
2,3642 (2,1745-2,5538)
0,7388 (0,6937-0,7839) 3,2 Emamectin
benzoate
Tasieu 1.9EC
0,8538 (0,7706-0,9460)
0,07623 (0,0688-0,0845) 11,2 Matrine 0.36SL Sokupi (2,9870-4,1415) 3,5187 (0,5645-0,7807) 0,6639 5,3 Rotenone Trusach
2.5EC
2,8251 (2,6360-3,0143)
0,7636 (0,7436-0,7835) 3,7
Ghi chú: Đánh giá tính kháng thuốc đối với nhện đỏ nâu trưởng thành
Thu mẫu đánh giá vào tháng 10-11/2014
3.2.1.2 Đối với nguồn nhện đỏ nâu thu tại Phú Thọ
Nhện đỏ nâu thu trên chè từ Phú Thọ có chỉ số kháng thuốc Ri đạt không cao đối với hoạt chất Propargite, Abamectin, Fenpyroximate và tương ứng là 11,5; 11,3
và 10,2 Chỉ số kháng thuốc Ri của nhện đỏ nâu thí nghiệm đối với hoạt chất Matrine, Azadirachtin đều đạt thấp, tương ứng chỉ là 4,8 và 4,6 (bảng 3.12)
Như vậy, nhện đỏ nâu thu trên chè từ Phú Thọ mới biểu hiện tính kháng thuốc
đối với hoạt chất Propargite và Abamectin; biểu hiện tính kháng chưa rõ ràng đối với hoạt chất Fenpyroximate và chưa biểu hiện tính kháng thuốc đối với hoạt chất Azadirachtin, Matrine
Trang 13Bảng 3.12 Mức độ kháng của nhện đỏ nâu thu trên chè tại Phú Phọ đối với một
số hoạt chất thuốc đang được dùng tại vùng nghiên cứu (Viện Bảo vệ thực vật,
2014)
Hoạt chất được
đánh giá
Tên thương phẩm
LC50 (ppm) và giá trị giới hạn 95% Chỉ
số kháng
5SC
39,5301 (35,1267-44,6843)
3,8755 (3,2794-4,4561) 10,2 Propargite Comite
73EC
183,8344 (160,2341-203,8748)
15,9856 (13,3480-17,3285) 11,5 Abamectin Catex
1.8EC
0,7084 (0,6538-0,8861)
0,06269 (0,0579-0,07156) 11,3 Azadirachtin Trutat
0.32EC
3,3562 (2,8794-3,7653)
0,7296 (0,6128-0,8463) 4,6
0.36SL
3,4262 (2,6583-4,0285)
0,7138 (0,5166-0,8041) 4,8
Ghi chú: Đánh giá tính kháng thuốc đối với nhện đỏ nâu trưởng thành
Thu mẫu đánh giá vào tháng 10 - 11/2014
3.3 Sự phát triển tính kháng thuốc và khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu hại chè
3.3.1 Sự tăng tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu
Sau 12 thế hệ (12 lần) được tiếp xúc với một hoạt chất thuốc thì giá trị LC50
của các hoạt chất thí nghiệm đối với nhện đỏ nâu đều tăng lên rõ rệt Giá trị LC50 của hoạt chất Abamectin đối với nhện đỏ nâu tăng nhanh nhất, tăng tới 15,4 lần Hoạt chất Hexythiazox có giá trị LC50 đối với nhện đỏ nâu tăng chậm nhất, chỉ tăng 4,6 lần Còn các hoạt chất Pyridaben, Propargite và Fenpyroximate có giá trị LC50 tăng tương ứng là 7,0; 7,3 và 11,5 lần (bảng 3.13)
Bảng 3.13 Giá trị LC 50 của một số hoạt chất đối với nhện đỏ nâu sau 12 thế hệ
tiếp xúc (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2014 - 2016)
Sau thí nghiệm
3.3.2 Sự giảm tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu khi không tiếp xúc với thuốc
Sau 5 thế hệ không tiếp xúc với thuốc, giá trị LC50 của hoạt chất Abamectin đối với nhện đỏ nâu bị giảm nhiều nhất, giảm 9,3 lần Giá trị LC50 của hoạt chất Pyridaben, Fenpyroximate, Hexythiazox tương ứng chỉ giảm 6,7; 5,7 và 5,3 lần Giá
trị LC50 của hoạt chất Propargite bị giảm ít nhất, chỉ giảm 4,6 lần (bảng 3.14) Điều