DANH MỤC CÁC BẢNG 3.2 Các loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây chè tại các điểm điều tra 3.4 Nồng độ, liều lượng thuốc được người trồng chè sử dụng 3.9 Tình hình sử dụng thuốc BVTV để trừ
Trang 1VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -
NGUYỄN MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NHỆN ĐỎ NÂU Oligonychus coffeae Nietner
(Acarina: Tetranychidae) TRÊN CÂY CHÈ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -
NGUYỄN MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NHỆN ĐỎ NÂU Oligonychus coffeae Nietner
(Acarina: Tetranychidae) TRÊN CÂY CHÈ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 9 62 01 12
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã được sự cảm ơn
Hà Nội, ngày…… tháng …… năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Minh Đức
Trang 4Xin cảm ơn đề tài: “Nghiên cứu tính kháng thuốc của nhện đỏ hại cây ăn quả
có múi, chè và biện pháp quản lý ở Việt Nam” thuộc chương trình Đề tài nghiên
cứu cấp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Xin cảm ơn KS Nguyễn Thị Me
đã giúp đỡ và hướng dẫn phương pháp nghiên cứu về tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cây chè Chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong Nhóm kháng thuốc, nơi mà tôi đang công tác, sinh hoạt chuyên môn đã luôn chia sẻ kinh nghiệm quí báu trong nghiên cứu và giúp đỡ tôi trên mọi phương diện Luận án được thực hiện tại Bộ môn Thuốc, Cỏ dại và Môi trường, Viện Bảo vệ thực vật Tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật; Tập thể cán bộ Bộ môn Thuốc, Cỏ dại và Môi trường trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quí báu đã dành cho tôi.Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Ban đào tạo Sau đại học cùng tập thể cán bộ và quí thầy cô đã giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Minh Đức
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.2.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây
1.2.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, quy luật phát sinh của nhện đỏ
1.2.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây
1.3.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây
1.3.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, tình hình phát sinh phát triển 21
Trang 7của nhện đỏ nâu
1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây
1.3.2.2 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ côn trùng và nhện nhỏ hại cây
Trang 82.4 Phương pháp nghiên cứu 33 2.4.1 Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng
2.4.2 Nghiên cứu xác định mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với
2.4.2.1 Phương pháp tạo và duy trì nòi nhện đỏ nâu mẫn cảm từ quần thể
2.4.2.2 Phương pháp tạo nòi nhện đỏ nâu kháng thuốc từ quần thể mẫn cảm 35
2.4.3 Đánh giá tốc độ phát triển tính kháng thuốc và khả năng kháng chéo
của nhện đỏ nâu đối với một số loại thuốc trừ nhện thường sử dụng trong
sản xuất chè
38
2.4.3.1 Phương pháp đánh giá tốc độ phát triển tính kháng của nhện đỏ nâu
2.4.3.2 Phương pháp đánh giá mức độ suy giảm tính kháng của nhện đỏ
2.4.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng phát triển tính kháng chéo của nhện
2.4.4 Nghiên cứu một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ
2.4.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến mật độ nhện đỏ nâu 41
Trang 92.4.4.4 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để trừ nhện đỏ nâu 44 2.4.5 Xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của
2.4.5.1 Phương pháp xây dựng mô hình quản lý tính kháng thuốc của nhện
2.4.5.2 Đề xuất giải pháp kỹ thuật quản lý tính kháng theo hướng tổng hợp 51
3.1 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ nhện đỏ nâu
3.1.1 Thành phần côn trùng, nhện nhỏ hại cây chè tại Thái Nguyên, Phú
3.1.1.2 Thành phần côn trùng, nhện nhỏ hại cây chè qua điều tra thực địa 54
3.1.2.4 Tình hình sử dụng thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu tại một số địa
3.2 Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với một số hoạt chất thuốc
Trang 103.2.1 Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu với một số họat chất thuốc 70
3.3 Sự phát triển tính kháng thuốc và khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu hại chè
3.3.1 Sự tăng tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu
75
75
3.3.2 Sự giảm tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu khi không tiếp xúc với
3.3.3 Khả năng phát triển tính kháng chéo của nhện đỏ nâu với một số hoạt chất 77
3.3.3.1 Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu đã kháng hoạt chất
Trang 113.4.3.2 Ảnh hưởng của thuốc đối với thiên địch của nhện đỏ nâu trên cây chè 88
3.4.4.1 Xác định bộ thuốc bảo vệ thực vật để phòng chống nhện đỏ nâu 90
3.5 Xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của
3.5.3 Đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt Diễn giải
N.longispinosus Neoseiulus longispinosus
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Các loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây chè tại các điểm điều tra
3.4 Nồng độ, liều lượng thuốc được người trồng chè sử dụng
3.9 Tình hình sử dụng thuốc BVTV để trừ nhện đỏ nâu trên cây chè tại
3.10 Tình hình sử dụng thuốc BVTV để trừ nhện đỏ nâu trên cây chè tại
3.11
Mức độ kháng của nhện đỏ nâu thu trên chè ở Thái Nguyên đối
với một số hoạt chất thuốc đang được dùng tại vùng nghiên cứu
(Viện Bảo vệ thực vật, 2014)
72
3.12
Mức độ kháng của nhện đỏ nâu thu trên chè tại Phú Phọ đối với
một số hoạt chất thuốc đang được dùng tại vùng nghiên cứu (Viện
Bảo vệ thực vật, 2014)
75
3.13 Giá trị LC50 của một số hoạt chất đối với nhện đỏ nâu sau 12 thế hệ
Trang 143.14 Giá trị LC50 của một số hoạt chất đối với nhện đỏ nâu sau 5 thế hệ
3.15
Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu thế hệ thứ 12 đã kháng hoạt
chất Abamectin với một số hoạt chất khác trừ nhện nhỏ (tại Viện
Bảo vệ thực vật, 2016)
79
3.16
Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu thế hệ thứ 18 đã kháng hoạt
chất Abamectin với một số hoạt chất khác trừ nhện nhỏ (tại Viện
Bảo vệ thực vật, 2016)
80
3.17
Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu thế hệ thứ 23 đã kháng hoạt
chất Propargite với các hoạt chất khác dùng trừ nhện nhỏ (tại Viện
Bảo vệ thực vật, 2016)
82
3.18 Thành phần thiên địch của nhện đỏ nâu trên cây chè (La Bằng, Đại
3.19 Ảnh hưởng của một số thuốc đối với thiên địch của nhện đỏ nâu
3.20 Hiệu lực của một số thuốc sinh học đối với nhện đỏ nâu trong
3.21 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với nhện đỏ nâu
3.22 Hiệu lực một số thuốc sinh học đối với nhện đỏ nâu trong nhà lưới
3.23 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với nhện đỏ nâu trong nhà
3.24 Hiệu lực của một số thuốc sinh học đối với nhện đỏ nâu ngoài
3.25
Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với nhện đỏ nâu trên cây
chè ở ngoài đồng ruộng (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, tháng
11/2014)
96
Trang 1573EC để hiệu quả đối với nhện đỏ nâu (La Bằng, Đại Từ, Thái
3.29 Hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật với nhện non tuổi 2 nhện đỏ
3.30 Hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật đối với nhện non tuổi 3 nhện
3.31 Hiệu lực của thuốc đối với trưởng thành nhện đỏ nâu (tại Viện Bảo
3.32 Hiệu quả luân phiên thuốc trong quản lý tính kháng thuốc của
nhện đỏ nâu (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)
107
3.33 Số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè ở trong mô hình
3.34
Mức độ kháng với một số thuốc BVTV của nhện đỏ nâu trước và
sau 2 năm thực hiện mô hình (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên,
2014- 2016)
114
3.35 Hiệu lực của một số thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè năm
3.36 Hiệu quả kinh tế của mô hình quản lý tính kháng thuốc của nhện
Trang 16DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Mật độ nhện đỏ nâu trên các giống chè được trồng không dùng
3.2 Ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ nhện đỏ nâu trên giống
3.3 Tác động của đốn cành đến quần thể nhện đỏ nâu trên giống chè
3.4 Diễn biến nhện đỏ nâu trên giống chè Trung Du ở các nền phân
3.5 Diễn biến nhện đỏ nâu ở các mặt lá chè Trung Du (La Bằng, Đại
3.6 Diễn biến mật độ nhện đỏ nâu ở các tầng tán lá chè giống Trung
3.7 Diễn biến mật độ nhện đỏ nâu trên giống chè Trung Du ở trong mô
Trang 17MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là một trong những cây công
nghiệp được trồng từ lâu đời ở nước ta, là cây thức uống có nhiều giá trị về dược liệu Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây chè bị nhiều loại sâu bệnh phá
hại Trong đó, nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Nietner là một trong số các loài
sinh vật hại quan trọng trên cây chè Nhện đỏ nâu thường phát sinh gây hại trên lá bánh tẻ và lá già, với mật độ nhện từ 4 - 6 con/lá thì tỷ lệ lá bị hại đạt 20 - 40% và nương chè bị biến vàng Khi nhện đỏ nâu phát sinh với mật độ cao từ 6 con/lá trở lên sẽ làm lá chè có màu từ nâu đỏ đến màu đồng hun, thậm chí làm cây bị rụng lá, gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây và làm giảm đáng kể năng suất búp chè (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
Để hạn chế tác hại của nhện đỏ nâu và các sinh vật hại khác, người trồng chè
đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ cây chè, trong đó chủ yếu sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật (BVTV) Trong một năm, người trồng chè tiến hành trung bình khoảng
13 - 16 lần phun thuốc phòng trừ sinh vật hại, thậm chí tới 5 lần phun trong thời gian sinh trưởng của một lứa hái chè (35 - 45 ngày) và đã sử dụng tới 31 loại hoạt chất thuốc BVTV khác nhau (Nguyễn Văn Toàn và cs., 2007; Nguyễn Văn Toàn và Phạm Văn Lầm, 2014) Việc sử dụng thường xuyên và lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất chè đã gây hiện tượng sinh vật hại quen dần với thuốc và dần hình thành tính kháng, làm suy giảm số lượng của quần thể các loài thiên địch, gây hiện tượng tái phát và tạo điều kiện cho những loài sâu hại mới xuất hiện Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khoẻ người lao động và để lại dư lượng thuốc độc hại trong sản phẩm (Nguyễn Công Thuật, 1995; Nguyễn Văn Hùng và Đoàn Hùng Tiến, 2000) Nhiều loại thuốc trước đây có hiệu lực cao đối với nhện đỏ nâu, nay đã giảm hiệu lực một cách nhanh chóng Nguyễn Hữu Giảng (2001) ghi nhận tại tỉnh Lâm Đồng liều lượng sử dụng thuốc Comite 73EC năm
2001 đã tăng gấp đôi so với năm 1994, nhưng hiệu quả trừ nhện đỏ nâu chỉ đạt tương đương
Vì vậy, việc sử dụng thuốc BVTV trên cây chè không thể tách rời với quản
lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu và các sinh vật hại khác, đòi hỏi phải có sự
Trang 18quan tâm đúng mức, áp dụng đồng bộ với các biện pháp khác như biện pháp canh tác, biện pháp sinh học Tuy nhiên, để sử dụng thuốc hóa học hợp lý cần có những nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ thực trạng và tốc độ phát triển tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu và các sâu hại khác Từ đó, xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp tính
kháng thuốc có hiệu quả kinh tế cao và an toàn môi trường
Trên thế giới, tính kháng thuốc của các sinh vật hại đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu Ở Việt Nam, mới có các nghiên cứu tính kháng thuốc với sâu tơ và rầy nâu, nhưng chưa có nghiên cứu tính kháng thuốc của nhện nhỏ nói chung và nhện
đỏ nâu hại chè nói riêng Xác định hiện trạng và khả năng kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè, làm cơ sở để xây dựng hệ thống các giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu một cách hiệu quả là yêu cầu cấp bách hiện nay Vì vậy, nghiên
cứu sinh lựa chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính kháng thuốc bảo vệ thực vật
của nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Nietner (Acarina: Tetranychidae) trên cây chè
và biện pháp khắc phục ở miền núi phía Bắc Việt Nam”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Nghiên cứu xác định mức độ kháng thuốc và tốc độ hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu với các nhóm thuốc đang được sử dụng phổ biến trong sản xuất Từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè ở miền núi phía Bắc
2.2 Yêu cầu
Đánh giá được thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu hại và nhện
đỏ nâu trên cây chè tại Thái Nguyên và Phú Thọ là vùng sản xuất chè điển hình của miền núi phía Bắc
Xác định mức độ kháng thuốc và tốc độ hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu với các nhóm thuốc trừ nhện đỏ nâu đang được dùng phổ biến tại vùng chè Thái Nguyên và Phú Thọ
Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phòng trừ nhện đỏ nâu theo hướng quản
lý sinh vật hại tổng hợp trên cơ sở sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 19Cung cấp các thông tin, dẫn liệu khoa học mới về mức độ phát sinh, chỉ số kháng thuốc, tốc độ hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với 8 nhóm thuốc bảo vệ thực vật (Avermectin, điều hòa sinh trưởng, Este sulfite, lân hữu cơ, Pyrazol, Pyrethroid, Pyridazinon, thuốc thảo mộc) hiện đang được dùng phổ biến trên chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học trong xây dựng giải pháp quản lý tính kháng của nhện đỏ nâu và biện pháp quản lý tổng hợp sinh vật hại trên cây chè
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cở sở khoa học xây dựng giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trong quản lý tổng hợp sinh vật hại trên cây chè, góp phần sử dụng thuốc BVTV an toàn và bền vững trong sản xuất chè
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu (O coffeae Nietner) hại chè
Một số biện pháp giảm thiểu tính kháng thuốc (biện pháp canh tác, sinh học
và sử dụng hợp lý thuốc BVTV) tại vùng chè Thái Nguyên
5 Những đóng góp mới của luận án
- Lần đầu cung cấp các dẫn liệu khoa học một cách hệ thống về mức độ kháng thuốc và tốc độ hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè đối với
11 hoạt chất thuốc BVTV (Abamectin, Azadirachtin, Dimethoate, Emamectin benzoate, Fenpyroximate, Fenpropathrin, Hexythiazox, Matrine, Propargite,
Pyridaben, Rotenone) đang được sử dụng phổ biến trên cây chè ở miền núi phía Bắc
- Bổ sung dẫn liệu mới về hiệu quả của một số biện pháp hạn chế sự phát sinh của nhện đỏ nâu và đề xuất biện pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cây chè
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nhện đỏ nâu (O coffeae Nietner) là một trong số các loài sinh vật hại phổ
biến trên cây chè ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam Khi bị nhện đỏ nâu gây hại, cây chè sinh trưởng phát triển kém làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè búp
Để phòng trừ nhện đỏ nâu, người trồng chè đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật Việc lạm dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến một số hậu quả không mong muốn như hình thành tính kháng thuốc ở côn trùng và nhện nhỏ hại cây trồng, ảnh hưởng đến các loài thiên địch, làm cho các loài sinh vật vô hại trở thành sinh vật hại và để lại dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm (Rahman et al., 2012a)
Tính kháng thuốc của các loài côn trùng và nhện nhỏ đối với thuốc trừ sâu hoặc thuốc trừ nhện đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu Tính đến năm 1986 trên thế giới đã có tới 447 loài côn trùng và nhện nhỏ kháng thuốc, trong đó có 264 loài gây hại trong nông nghiệp (dẫn theo Nguyễn Công Thuật, 1995)
Các nhà khoa học cho rằng do bản năng sinh tồn của sinh vật, các cá thể sống sót sau khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trở nên có sức sống mạnh hơn và có sức sinh sản cao hơn, nhất là những loài có thời gian vòng đời ngắn (Nguyễn Công Thuật, 1995) Đặc điểm sinh vật học của các loài nhện nhỏ hại cây trồng là yếu tố rất quan trọng liên quan tới khả năng hình thành tính kháng thuốc của chúng Nhện nhỏ hại cây trồng có thời gian vòng đời ngắn, hoàn thành nhiều thế hệ trong năm, sức sinh sản cao nên phát triển tính kháng thuốc càng nhanh do mật độ cá thể kháng thuốc được tích luỹ nhiều hơn, nhanh hơn (Nina, 2001)
Sự sử dụng thuốc trừ nhện thường xuyên cùng với tiềm năng sinh học của nhện đỏ nâu đã thúc đẩy loài sinh vật hại này phát triển tính kháng nhiều loại thuốc trừ nhện khác nhau nên việc phòng trừ nhện đỏ nâu trên cây chè thường bị thất bại
(Masahiro et al., 2009)
Trang 22Nauen và Konanz (2005) nhấn mạnh để ngăn chặn và làm chậm sự phát triển tính kháng thuốc của nhện nhỏ hại cây trồng cần thực hiện các khuyến cáo của Ủy ban Hành động tính kháng trong đó có việc phát triển các thuốc trừ nhện với kiểu
tác động mới.Theo Stavrinides et al (2010), cần sử dụng luân phiên các thuốc có
kiểu tác động khác nhau để hạn chế sự phát triển tính kháng thuốc của nhện nhỏ hại cây trồng Dùng các biện pháp quản lý sinh vật hại kháng thuốc là giải pháp có hiệu quả nhất Muốn vậy, phải phối hợp chặt chẽ các biện pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sinh vật hại (cơ giới, canh tác, sinh học, v.v…) và giảm sự phụ thuộc vào thuốc BVTV trong phòng trừ sinh vật hại (Nguyễn Trần Oánh, 2012)
Như vậy, việc quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu trên cơ sở sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý trong hệ thống đồng bộ với các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học là vấn đề cần quan tâm đúng mức Trước hết, phải có những nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và khả năng hình thành, phát triển tính kháng thuốc của chúng Từ đó, xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu có hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, an toàn môi trường
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại
1.2.1.1 Nhện đỏ nâu và tác hại của nó trong sản xuất chè
Theo Jeppson et al (1975), nhóm nhện nhỏ hại cây trồng thuộc bộ ve bét
Acarina (lớp Arachnida) Trong đó, có hơn 10 họ hại thường gặp trên nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, chỉ có các loài thuộc 4 họ gây hại cây trồng nặng hơn cả, gồm họ nhện chăng tơ thật (Tetranychidae), họ nhện chăng tơ giả (Tenuipalpidae), họ nhện
u sần (Eriophytidae) và họ Tarsonemidae
Các loài nhện nhỏ hại chè được coi là những sinh vật hại nghiêm trọng nhất
ở các vùng trồng chè trên toàn thế giới Oomen et al (1982) ghi nhận 4 loài nhện
nhỏ gây hại chính trên cây chè ở hầu hết các nước ở Đông Nam Á Đó là nhện sọc
trắng Calacarus carinatus, nhện hồng Acaphylla theae, nhện đỏ tươi Brevipalpus
californicus và nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Nhện đỏ nâu (O coffeae Nietner)
thuộc họ Tetranychidae Theo CABI (1997), ký chủ chính của nhện đỏ nâu là cây
Trang 23chè và cây cà phê Ngoài ra, nhện đỏ nâu còn bắt gặp trên cây đay, bông, sắn, xoài, long não, dâu tằm, cọ dầu, bạch đàn và đào lộn hột
Nhện đỏ nâu có phân bố rộng rãi ở một số nước khác như Bangladesh, Ấn
Độ, Sri-Lanka, Đài Loan, Trung Quốc, Burundi, Kenya, Malawi, Uganda, và Zimbabwe, v.v Ở Indonesia, loài nhện đỏ nâu được xếp thứ 2 sau loài nhện đỏ
tươi về mức độ tác hại trên cây chè (Jeppson et al., 1975; Roy et al., 2010a)
Trong các loại nhện nhỏ hại cây chè Ấn Độ, nhện đỏ nâu O coffeae được ghi
nhận lần đầu tiên vào năm 1868 ở vùng Assam, được xem là sinh vật hại chè nghiêm trọng nhất, xuất hiện ở tất cả các vùng trồng chè và là nguyên nhân gây mất
mùa cho người trồng chè ở Ấn Độ (Muraleedharan et al., 2005; Roy et al., 2014b; Roy et al., 2016) Nhện đỏ nâu chiếm khoảng 20% trong tổng số sinh vật hại cây
chè ở vùng Terai, Tây Bengal, Ấn Độ (Sarkar và Kabir, 2016) Nhện đỏ nâu gây tổn
thất từ 14 đến 18% cho người trồng chè ở Ấn Độ (Muraleedharan et al., 2005)
1.2.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, quy luật phát sinh của nhện đỏ nâu
Trong điều kiện phòng thí nghiệm ở miền Nam Ấn Độ, trên giống chè UPASI-10 ở nhiệt độ 25 ± 2oC, ẩm độ 85 ± 5% thời gian ấu trùng tuổi 1 đến tuổi 3 của nhện đỏ nâu trung bình là 8,10 ± 1,65 ngày Thời gian sống của trưởng thành đực là 12,60 ± 2,15 ngày, thời gian sống của trưởng thành cái là 24,20 ± 3,50 ngày
Tỷ lệ đực: cái là 1:2,25 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 120,80 ± 13,80 trứng/cái (Sudarmani, 2004) Tuy nhiên, theo Ahmet và Sana (1990), sức đẻ trứng của trưởng thành cái nhện đỏ nâu đạt thấp hơn, chỉ trung bình là 80 trứng/cái trong thời gian đẻ trứng là 3,0 - 6,5 ngày
Dutta (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 3 giống chè (TV1, TV6 và TV10) đến đặc điểm sinh học của nhện đỏ nâu vào thời gian tháng 4 - 5, tháng 6 - 7 và tháng 8 - 9 Thời gian vòng đời của nhện đỏ nâu khi nuôi trên các giống chè thí nghiệm nêu trên tương ứng kéo dài 12,39 ngày, 14,36 ngày và 13,47 ngày
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ đến sự sinh trưởng và phát triển của nhện đỏ nâu cho thấy điều kiện thích hợp cho nhện đỏ nâu phát triển là 20 -
30oC và 49 - 94% ẩm độ (Jeppson et al (1975) Yếu tố thời tiết đóng một vai trò
Trang 24chính trong sự thay đổi quần thể theo mùa Nhện đỏ nâu ở vùng Đông Bắc Ấn Độ phát sinh mạnh từ tháng 3 đến tháng 6, sau đó giảm dần và tiếp tục tăng lên vào tháng 9 - 10 hàng năm Thời tiết khô kéo dài trong suốt giai đoạn đầu mùa ra lộc non ở cây chè thường làm tăng mức độ phát sinh của nhện đỏ nâu Nhện đỏ nâu ưa thích ánh sáng mặt trời, những cây chè không được che bóng thường bị nhiễm nhện
đỏ nâu nặng hơn (Das, 1959b) Ở miền Nam Ấn Độ, nhện đỏ nâu xuất hiện quanh năm và thường gối lứa nhau Quần thể nhện đỏ nâu đạt đỉnh cao số lượng vào tháng
3 - 4 hàng năm Nhiệt độ thấp, ẩm độ cao và mưa nặng hạt có ảnh hưởng bất lợi đến quần thể nhện đỏ nâu (Sudarmani, 2004)
1.2.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
Tại vùng chè Shizuoka (Nhật Bản), người trồng chè đã phun thuốc trung bình 16,9 - 21,6 lần/năm để trừ sâu hại và 4,1 - 8,1 lần/năm để trừ bệnh (Takafuji và Amano, 2001)
Trong những năm gần đây, việc áp dụng thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu
và thuốc trừ nhện nhỏ) trên cây chè đã tăng lên ở Bắc Bengel, Ấn Độ Thuốc trừ
nhện nhỏ được sử dụng từ tháng 1 đến tháng 6 chiếm 85% (Roy et al., 2008)
Ở Ấn Độ, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè đã theo xu hướng chung của thế giới Các thuốc trừ sâu phổ biến dùng trên cây chè ở quốc gia này gồm Propagite 57EC (Omite, Allmite, Simbaa), Fenpropathrin 30EC (Meothrin), Fenpropathrin 10EC (Danitol), Dicofol 18.5EC (Kelthane, Colonel-S), lưu huỳnh 80% (Thiovit 80%, Ultrasulf 80%), Lime sulphur, Deleltamethrin và Endosulfan 30EC (Muralidharan và Radhakrishnan, 2007) Nhìn chung, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên chè ở Ấn Độ có 13 hoạt chất trừ sâu (Azadirachtin, Deltamethrin, Diflubenzuron, Dimethoate, Fenvalerate, Fenpropathrin, Flufenoxuron, Fluvalinate, Phosalone, Profenophos, Quinalphos) và 5 hoạt chất trừ nhện (Dicofol, Ethion,
Fenazaquin, Propagite, Sulfur) (Gurusubramanian et al., 2008)
Trong các thuốc trừ nhện nhỏ hại cây trồng, nhóm lân hữu cơ được sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là nhóm clo hữu cơ và Pyrethroid Anathakrishnam và Krishnamurthy (1964) đã khảo nghiệm các thuốc có triển vọng đối với nhện đỏ nâu
Trang 25O coffeae hại chè trong phòng thí nghiệm ở Nam Ấn Độ Cây chè được xử lý 2 lần
cách nhau 15 ngày để trừ nhện đỏ nâu Các thuốc Binapacryl (Acricid), Formothion (Anthio), Carbophenothion (Trithion), Orthodibrom, Dicofol (Kelthane) và Thiocron ở nồng độ 0,1%, thuốc Phosphamidon (Dimecron) ở nồng độ 0,02% và Phenthoate (Cidial) ở nồng độ 0,2% cho hiệu quả phòng trừ rất cao đối với nhện đỏ
nâu hại chè Thuốc Binapacryl và Dicofol duy trì hiệu lực đối với nhện đỏ nâu O
coffeae tới 65 ngày sau phun lần đầu tiên
Các loại hoạt chất trừ nhện như Dicofol, Ethion, Propagite, lưu huỳnh, v.v được người trồng chè sử dụng để phòng trừ nhện đỏ nâu Trong đó, Ethion và Dicofol được ưa chuộng nhất Azadirachtin được dùng phối hợp với thuốc Ethion
hay Dicofol cho hiệu quả cao đối với nhện đỏ nâu (Rahman et al., 2007b)
Các loại hoạt chất mới như Pyridaben, Diafenthiuron, Spirodiclofen, Etoxazole, Accquinocyle và Bifenzile được sử dụng phổ biến trong kiểm soát nhện
đỏ nâu (Hazarika et al., 2009) Trong những năm gần đây, một số thuốc trừ nhện
mới như Propagite, Fenpyroximate, Hexythiazox, Bifenthrin, Fenazaquin và Spiromesifen được sử dụng để phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè (Anonymous, 2012;
Babu và Muraleedharan, 2010; Roy et al., 2014a)
Ở Ấn Độ cho phép sử dụng 13 loại thuốc trừ nhện trên cây chè là Dicofol 18.5EC, Ethion 50EC, Fenazaquin 10EC, Fenpyroximate 5EC/SC, Hexythiazox 5.45EC, Propagite 57EC, Sulfur 80WG, Wettable sulphur 40WP, Micronised liquid sulphur 52%, Lime sulphur- Polysulphide-S, Spiromesifen 22.9, Bifenthrin 8SC (Anonymous, 2014)
1.2.3 Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Việc sử dụng thuốc trừ nhện lặp đi lặp lại đã làm gia tăng sự gây hại trầm trọng của nhện đỏ nâu đối với cây chè trong những năm qua Sự giảm tính mẫn cảm của nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc trừ nhện có thể là một trong những nguyên
nhân làm tăng mật độ quần thể trên đồng ruộng (Roy et al., 2008; Sarker và Mukhopadhyay, 2008; Shahoo et al., 2003)
Trang 26Tổng kết tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè ở Nhật Bản trong các năm 1970 - 1998 cho thấy các thuốc có khả năng tồn lưu bền, phổ rộng thường dễ gây cho sinh vật hình thành tính kháng thuốc như các thuốc trừ sâu thông dụng thuộc nhóm Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Carbamat, Pyrethroid, điều hòa sinh trưởng Cường độ sức ép chọn lọc bao gồm số lần phun thuốc nhiều, nồng độ và liều lượng thuốc cao, quy mô dùng thuốc càng lớn thì càng thuận lợi cho sự hình thành tính kháng thuốc của sâu hại Chè là cây trồng được nông dân quá lạm dụng thuốc BVTV và đã tạo nên sức ép chọn lọc lớn, nhện đỏ nâu càng dễ hình thành tính kháng thuốc (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
Ở Ấn Độ, đối với quần thể nhện đỏ nâu ở Terai và Dooars, thuốc Ethion, Dicofol có giá trị LC50 >300 ppm; giá trị LC50 của Propagite lần lượt là 46,246 và 97,110; các thuốc Fenazaquin và Fenpropathrin có giá trị LC50 < 10 ppm (Roy et
al., 2009) Theo Roy et al (2010a), trong những áp lực sinh vật hại mà cây chè phải
đối mặt, nhện đỏ nâu là một thách thức lớn trong những năm gần đây Sự khác biệt
về tính độc của các loại thuốc trừ nhện thường dùng đối với nhện đỏ nâu đã được quan sát ở các vùng chè thuộc Bắc Bengal (Ấn Độ) Giá trị LC50 của các thuốc trừ nhện khác nhau đối với nhện đỏ nâu thay đổi theo vùng Quần thể nhện đỏ nâu ở Tây Terai và Nam Terai ít mẫn cảm hơn so với các loại thuốc trừ nhện được thí nghiệm ở tây Dooars Quần thể nhện ở trung tâm, Tây và Bắc vùng Terai có mức độ mẫn cảm trung bình với các loại thuốc trừ nhện đỏ nâu Thuốc Ethion có hiệu quả thấp nhất đối với nhện đỏ nâu ở các vùng trồng chè Bắc Bengal Hiệu quả của các thuốc trừ nhện nhỏ được so sánh bằng giá trị LC95 và có dấu hiệu giảm độ mẫn cảm đối với Ethion và Dicofol đã quan sát được ở các quần thể thí nghiệm
Ở Bắc Bengal (Ấn Độ) đã đánh giá tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu với 5 hoạt chất trừ nhện Ethion, Dicofol, Propargite, Fenazaquin và Fenpropathrin Kết quả cho thấy các quần thể nhện đỏ nâu ở vùng Terai ít mẫn cảm hơn với cả 5 loại thuốc thí nghiệm so với các quần thể nhện đỏ nâu thu từ vùng Dooars Mức mẫn cảm với các thuốc trừ nhện sử dụng trừ nhện đỏ nâu ở 2 vùng này cho thấy sức ép
chọn lọc quần thể kháng thuốc gây ra bởi các thuốc trừ nhện (Roy et al., 2010a)
Trang 27Theo Roy et al (2012), trong phòng thí nghiệm giá trị LC50 của Ethion, Dicofol, Profenofos, Propargite, Fenpropathrin, Fenazaquin và Abamectin đối với nhện đỏ nâu ở Đông Bắc Ấn Độ lần lượt là 687,18 ppm; 534,04 ppm; 241,684 ppm; 90,256 ppm; 12,549 ppm; 4,319 ppm và 2,405 ppm Trong các loại thuốc trừ nhện nhỏ, Abamectin độc nhất và Ethion ít độc nhất Giá trị LC50 giảm dần đối với thuốc diệt trứng là Fenazaquin, tiếp đến là Profenofos, Propagite, Fenpropathrin, Ethion, Dicofol và Abamectin
Sự phát triển tính kháng với hoạt chất Fenpropathrin đã được kiểm tra đối
với quần thể nhện đỏ nâu O coffeae từ các vùng trồng chè khác nhau ở Nam Ấn Độ
và so sánh với quần thể mẫn cảm trong phòng thí nghiệm dựa trên sinh học độc chất, hoạt động enzyme giải độc, phân tích Acetylcholine esterase gen (AChE, 2064 bp) và biểu hiện của chúng bằng cách sử dụng RT-PCR Các kết quả này đòi hỏi nghiên cứu ở mức độ phân tử và đảm bảo việc giám sát liên tục tính mẫn cảm và khả năng chịu đựng của nhện đỏ nâu với thuốc trừ nhện nhỏ để phân tích tính hữu dụng của gen AChE như là mục tiêu phát triển chiến lược kiểm soát sinh vật hại thay thế và quản lý tính kháng thuốc trừ sâu trong hệ sinh thái cây chè (Amsalingam
et al., 2016)
Ở Terai (Ấn Độ), có giá trị LC50 đối với quần thể nhện đỏ nâu của nhóm thuốc lân hữu cơ (Ethion) ở nơi sử dụng thường xuyên thuốc trừ nhện nhỏ đạt cao hơn 79 - 100 lần so với nơi không sử dụng thuốc trừ nhện nhỏ Tương tự, giá trị
LC50 của nhóm cúc tổng hợp (Fenpropathrin) đối với quần thể nhện đỏ nâu ở nơi thường xuyên sử dụng thuốc trừ nhện nhỏ đạt cao hơn 73 - 108 lần so với nơi không
sử dụng thuốc trừ nhện nhỏ (Soma et al., 2017)
Roobakkumar et al., (2011) đã nghiên cứu hoạt động Esterase ở 2 quần thể nhện đỏ nâu O coffeae: quần thể ở nương chè có dùng thuốc BVTV và quần thể ở
nương chè hữu cơ không dùng thuốc BVTV Kết quả cho thấy hoạt động Esterase của nhện đỏ nâu ở nương chè có dùng thuốc BVTV đạt cao hơn có ý nghĩa so với hoạt động Esterase của nhện đỏ nâu ở nương chè hữu cơ không dùng thuốc BVTV
Trang 28Roobkkumar et al (2012) đã nghiên cứu sự thay đổi độc tính của hoạt chất Fenpropathrin đối với 8 quần thể nhện đỏ nâu O coffeae ở các vùng trồng chè tại
Nam Ấn Độ Kết quả cho thấy quần thể nhện đỏ nâu có mức độ kháng cao ở Vandiperiyar (Ri= 2,13) so với quần thể nhện đỏ nâu mẫn cảm Hoạt động của men Esterase hoạt động bề mặt nhiều hơn ở quần thể thu thập ngoài đồng ruộng so với quần thể mẫn cảm trong phòng thí nghiệm Sự tăng hoạt động men glutathione-S-transferase (GST) được phát hiện ở quần thể nhện đỏ nâu thu thập ngoài đồng ruộng bằng việc sử dụng 1-chloro-2,4-dinitrobenzene như chất hoạt động bề mặt và chỉ số kháng dao động giữa 1,11 và 1,86
1.2.4 Quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
1.2.4.1 Biện pháp canh tác
Sử dụng giống chè chống chịu nhện đỏ nâu
Trên các giống chè Trung Quốc, loài nhện đỏ nâu hại nặng hơn trên giống chè Assam Việc sử dụng các dòng chè kháng nhện đỏ nâu sẽ làm giảm đáng kể sự phát triển và tác hại của nhện đỏ nâu trên cây chè (Thirugnanasuntharan và Amarasinghe, 1990) Ở Kenya ghi nhận giống chè TN14-3 và SFS150 kháng nhện
đỏ nâu; các giống chè 6/8, 56/89, 31/8, 12/12, 12/19, S15/10 và 303/216 kháng trung bình với nhện đỏ nâu; giống chè 303/178 và 54/40 mẫn cảm với nhện đỏ nâu Một vài dòng chè có thể làm giảm khả năng sinh sản và giảm tỷ lệ phát triển của nhện đỏ nâu như dòng BBLK 152, dòng số 6/8 và dòng số 7/9 Trong khi đó, một số dòng chè chống chịu trung bình và một số dòng chè khác lại tỏ ra mẫn cảm với loài nhện đỏ nâu (Sudoi, 1992)
Ở miền Nam Ấn Độ, Sudarmani (2004) đánh giá mức độ mẫn cảm của 10 giống chè đối với nhện đỏ nâu và ghi nhận giống chè UPASI-10, ATK-1 mẫn cảm nhất với nhện đỏ nâu; giống chè UPASI-1, 2, 6, 7, 9 và 17 mẫn cảm trung bình với nhện đỏ nâu; còn giống chè UPASI-3, TRI-2024 ít mẫn cảm nhất với nhện đỏ nâu
Trồng cây che bóng
Ánh sáng trực xạ kích thích sự phát triển ở nhện đỏ nâu Trên nương chè có ít hay không trồng cây che bóng thì bị nhện đỏ nâu phát sinh mạnh hơn (Das và Das,
Trang 291967) Theo Sudarmani (2004), bóng mát có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự phong phú của nhện đỏ nâu Tỷ lệ lá chè bị nhiễm nhện đỏ nâu cao hơn ở những cánh đồng chè không có cây che bóng, do nhiệt độ cao và thời gian chiếu sáng nhiều vào lá chè Cây chè được che bóng phát triển thuận lợi, hạn chế được nhện đỏ nâu
Đốn chè
Đốn đau và loại bỏ nhiều lá già trên bụi chè thì làm giảm nhện đỏ nâu (Das
và Das, 1967) Ở Ấn Độ, theo Sudarmani (2004), việc đốn chè sẽ loại bỏ phần lớn nhện đỏ nâu, những nương chè được đốn sớm có số lượng nhện đỏ nâu nhiều hơn đốn muộn
Tưới tiêu hợp lý
Nơi thoát nước kém hoặc ngập úng làm tăng sự nhiễm nhện đỏ nâu của cây
chè so với nơi được thoát nước tốt (Das, 1959a; Hazarika et al., 2009) Nhưng đất
khô hạn thì cũng bị nhện đỏ nâu nhiễm nặng đến rất nặng (Das và Das, 1967)
Tiêu diệt cỏ dại là ký chủ của nhện đỏ nâu
Cỏ dại canh tranh với cây chè về dinh dưỡng, đất, ánh sáng, không gian và là nơi ẩn náu sâu và bệnh Có khoảng 22 loài cỏ dại là ký chủ của nhện đỏ nâu trên nương chè ở vùng Đông Bắc Ấn Độ (Das, 1965)
Tiêu diệt bộ phận cây chè bị nhiễm nhện đỏ nâu
Theo Jeppson et al (1975), sau thời gian thu hoạch, tất cả các pha của nhện
đỏ nâu đều hiện diện trên các lá già và các lá nhỏ ở gốc cây chè Việc loại bỏ các lá này sẽ làm giảm đáng kể nguồn nhện đỏ nâu trong vụ chè tiếp theo
1.2.4.2 Biện pháp sinh học
a Lợi dụng thiên địch tự nhiên của nhện đỏ nâu
Để lợi dụng thiên địch tự nhiên trong hạn chế nhện đỏ nâu cần điều tra thành phần và đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế nhện đỏ nâu Ở Kenya, các
loài nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius idaeus, A maai, A taiwanicus, Phytoseiulus
persimilis là thiên địch của nhện đỏ nâu, thường tấn công tất cả các pha phát triển
của nhện đỏ nâu Ở Ghinee, đã phát hiện 2 loài bọ rùa là Stethorus exspectatus và S
exsultabilis tấn công mọi pha phát triển của nhện đỏ nâu Ở các vùng chè của Ấn
Trang 30Độ đã ghi nhận được các loài thiên địch phổ biến, phân bố rộng của nhện đỏ nâu
trên cây chè gồm bọ cánh ngắn Oligota pygmaea, bọ rùa đen nhỏ hai chấm
Stethorus gilvifrons, bọ mắt vàng Chrysopa madestes, Mallada boninensis, bọ xít
bắt mồi Geocoris ochropterus, các loài nhện nhỏ bắt mồi như Agistemus,
Amblyseius herbicolus, Bdella sp., Cuxana, Euseus ovali, Neoseiulus herbicolus, N longispinosus, N rhabdus, Tydeius sp Chúng tấn công hầu hết các pha phát triển
của nhện đỏ nâu, đặc biệt là pha trứng và trưởng thành (CABI, 1997; Rahman, 2011; Sudarmani, 2004)
Tại Ấn Độ, Rahman et al (2012a) khi nghiên cứu hiệu quả bắt mồi của nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus đã cho rằng nhện nhỏ bắt mồi là tác nhân sinh học có
triển vọng để nhân nuôi, thả ra đồng ruộng trong phòng trừ nhện đỏ nâu trên chè
Sarkar et al (2007, 2009) ghi nhận nhóm nhện nhỏ bắt mồi trên cây chè có 2 cao
điểm: cao điểm thứ nhất từ tháng 3 đến tháng 4 và cao điểm thứ hai từ tháng 10 đến
tháng 11 Saha et al (2001) cho rằng nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius coccosocius là
loài bắt mồi thích hợp đối với nhện đỏ nâu hại chè ở Đông Bắc Ấn Độ Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự phong phú của các loài nhện nhỏ bắt mồi trên cây chè là biện pháp sinh học tự nhiên hạn chế nhện đỏ nâu hại chè
Rahman (2011) đánh giá khả năng ăn mồi của nhện nhỏ bắt mồi Neoseiulus
longispinosus ghi nhận các pha phát triển của nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus
đều ưa thích nhện non tuổi 1 - tuổi 3 hơn các pha khác của nhện đỏ nâu Rahman et
al (2012b) nghiên cứu khả năng bắt mồi của nhện nhỏ N longispinosus đối với
nhện đỏ nâu O coffeae trong phòng thí nghiệm Kết quả cho thấy nhện nhỏ bắt mồi
N longispinosus ăn nhiều nhện non hơn trưởng thành
Perumalsamy et al (2010) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học và hiệu quả bắt mồi của bọ rùa đen Stethorus gilvifrons trong phòng thí nghiệm Xác định được thời
gian từ trứng đến trưởng thành là 19,2 ngày Thời gian tiền đẻ trứng là 5,3 ngày, mỗi trưởng thành cái đẻ trung bình 149,3 trứng Cao điểm mật độ của bọ rùa đen
nhỏ S gilvifrons trùng với sự phong phú của nhện đỏ nâu O coffeae trên nương chè Hiệu quả bắt mồi của bọ rùa đen nhỏ S gilvifrons tăng nhanh trong khoảng thời
Trang 31gian nhện non tuổi 1 đến trưởng thành của nhện đỏ nâu Trong một ngày, một
trưởng thành cái bọ rùa đen nhỏ S gilvifrons ăn được 205,0 trứng; 92,2 nhện non
tuổi 1; 81,8 nhện non tuổi 2 và tuổi 3 hoặc 52,4 trưởng thành nhện đỏ nâu
Trong phòng thí nghiệm ở Assam (Ấn Độ), tỷ lệ thích hợp giữa trưởng thành
nhện bắt mồi S aptus và nhện đỏ nâu O cofeae là 1:50 và giữa nhện non cuối tuổi 2 của nhện bắt mồi S aptus và nhện đỏ nâu là 1:25 (Barua, 2016)
Người trồng chè ở Đài Loan đã nuôi nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius
longispinosus để trừ nhện đỏ nâu O coffeae và nhện đỏ Tetranychus kanzawai Khi
cây đậu hà lan mọc được 10 - 15 ngày thì thả nhện nhỏ hại cây trồng, sau thả nhện nhỏ hại cây trồng được 5 - 10 ngày thì thả nhện nhỏ bắt mồi Sau đó 10 - 15 ngày đưa những cây đậu hà lan này vào nương chè để chúng tự phát tán và tiêu diệt nhện
đỏ nâu trên cây chè (Chen, 1988) Tại Thái Lan, người trồng chè cũng đã nhân thả
loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus để trừ nhện đỏ nâu O coffeae (Chen, 1998)
Kẻ thù tự nhiên của nhện đỏ nâu có nhiều loài nhưng không có hiệu quả cao
Vì vậy, Banerjee và Cramham (1985) cho rằng cần nghiên cứu nhập nội các loài bắt mồi của nhện đỏ nâu để việc quản lý loài nhện nhỏ hại này có thể đạt hiệu quả cao
b Sử dụng nấm gây bệnh phòng trừ nhện đỏ nâu
Ở Assam (Ấn Độ), trong phòng thí nghiệm nấm gây bệnh Didymostilbe,
Penicillium citrinum và Aspergillus niger là tác nhân sinh học phòng trừ có hiệu
quả nhện đỏ nâu Pha trưởng thành, nhện non tuổi 3, nhện non tuổi 2 mẫn cảm với
nấm gây bệnh hơn so với nhện non tuổi 1 (Mazid, 2016) Nấm Penicillium
purpurogenum (107 - 108 bào tử/ml) gây chết 100% nhện đỏ nâu sau 24 giờ thí
nghiệm Tiếp theo là các loại nấm Metarhizium anisopliae, Beauveria bassiana,
Verticillrum lecanu, Trichoderma harzanum, Paecilomyces lilacinus Nấm Penicillium purpurogenum và Metarhizium anisopliae có tiềm năng lớn để phát
triển thành thuốc nấm trừ nhện đỏ nâu hại chè (Baruah, 2008)
1.2.4.3 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Đối với sản xuất chè hữu cơ, thuốc thảo mộc là một công cụ quan trọng và được xem là sản phẩm thay thế trong bảo vệ cây trồng đặc biệt đối với quản lý sự
Trang 32phát triển tính kháng của sinh vật hại (Hazarika et al., 2009) Sau 2 đợt thí nghiệm
khác nhau ở vùng Terai (bắc Bengal, Ấn Độ) dầu Neem 0,03% (Multineem) giảm quần thể nhện đỏ nâu vào 7 ngày sau phun thuốc lần lượt là 11,28% và 12,02%;
vào 14 ngày sau phun thuốc là 18,80% và 19,86% (Sarka et al., 2016)
Theo Duraikannu et al (2013), thuốc Azter (Azadirachtin 0,15% EC) ở 3
nồng độ khác nhau (1.125; 2.250 và 3.375 ml/ha) được đánh giá để phòng trừ nhện
đỏ nâu trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng Các nồng độ thuốc đều có hiệu lực đạt 100% trong phòng thí nghiệm Khi xử lý thuốc Azter để trừ trứng ở trên lá chè,
số lượng trứng nở thấp hơn có ý nghĩa so với lá chè không xử lý
Theo Ali và Haq (1973), thuốc Dicofol phòng trừ có hiệu quả cao đối với
nhện đỏ nâu hại chè tại Bangladesh Theo Gopal et al (1987), thuốc Fluvalinate làm
giảm được tới 98,3% mật độ quần thể nhện đỏ nâu sau phun 2 tuần, nhưng quần thể nhện đỏ nâu lại có khả năng phục hồi lại sau 3 tuần phun thuốc
So sánh sự mẫn cảm đối với hóa chất trừ nhện của trứng và trưởng thành nhện đỏ nâu cho thấy trứng có khả năng kháng thuốc trừ nhện cao hơn so với trưởng thành Điều này chứng tỏ việc phòng trừ trưởng thành nhện đỏ nâu đạt hiệu
quả cao hơn (Gotoh et al., 2001) Giá trị LC50 đối với trứng nhện đỏ nâu O coffeae
thấp nhất là của hoạt chất Fenazaquin, tiếp theo là Profenophos, Propargite, Fenpropathrin, Ethion, Dicofol, Abamectin và cuối cùng là Azadirachtin Đây là cơ
sở cho việc lựa chọn và sử dụng thuốc trừ nhện trong các chương trình quản lý tổng
hợp nhện đỏ nâu hại chè (Roy et al., 2010a)
Theo Rahman et al (2007a), ở Ấn Độ thuốc Propargite 57% EC (pha tỷ lệ
1:400) cho hiệu quả giảm số lượng nhện đỏ nâu 69,62 - 100% tương đương với Dicofol (76,13 - 100,0%) và Ethion (80,13 - 100,0%)
Babu et al (2007) đánh giá hiệu lực của thuốc Hexythiazox (0,66; 0,88 và
1,11 mg/l) đối với pha trứng, nhện non tuổi 1 - tuổi 3 và trưởng thành ở trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Ấn Độ Thuốc Hexythiazox có hiệu lực 50% đối với trưởng thành và có hiệu quả cao hơn đối với trứng, nhện non
Trang 33Ở Ấn Độ, thuốc Fenpyroximate 5% SC có hiệu quả cao đối với trứng, nhện non tuổi 1 - tuổi 3 và trưởng thành nhện đỏ nâu ở phòng thí nghiệm Hiệu quả đối với nhện non, trưởng thành đạt 100% và trứng không nở khi phun Fenpyroximate
5% SC ở các liều lượng 300 ml/ha, 400ml/ha, 500ml/ha (Babu et al., 2009)
Theo Radhakrishnan et al (2015), thuốc Pyridaben 20WP ở liều lượng 500 và
625 g/ha có hiệu quả cao hơn đáng kể so với các loại thuốc Propagite 57EC (100 ml/ha) và Fenpyroximate 5EC (400 ml/ha) Thuốc Pyridaben 20WP được đánh giá
là tương đối an toàn đối với kẻ thù tự nhiên và không độc đối với chè
Ahmed et al (2011) đã đánh giá hiệu lực các thuốc chứa lưu huỳnh trong hạn
chế nhện đỏ nâu tại Bangladesh Kết quả cho thấy thuốc Kumulus 80 DF có hiệu lực cao nhất (83,1%), sau đó là các thuốc Ronovit 80WP (82,35%), Sulfox 80WDG (81,74%) và Multixed 80WG (81,14%) và hiệu lực kéo dài đến 12 tuần Theo
Karmakar et al (2014), thuốc Etoxazole 10% SC (liều lượng 40, 50 và 80g a.i/ha)
có hiệu quả cao trừ trứng và nhện non tuổi 1 - tuổi 3 của nhện đỏ nâu tại Darjeeling (Tây Bengal, Ấn Độ)
Để phòng trừ nhện đỏ nâu, các nhóm thuốc Clo hữu cơ, lân hữu cơ, Pyrethroids, Carbamat và một số nhóm thuốc khác được sử dụng từ những năm
1960 để trừ nhện đỏ nâu ở Bangladesh Các hoạt chất hiện đang được sử dụng gồm các thuốc Sulphur, Ethion, Quinalphos, Propargite, Abamectin, Dimethoate, Fenvalerate, Fenpropathrin, Fenazaquin, Bifenthrin, Hexythiazox, Spiromesifen và
Fenpyroxymate (Mamun et al., 2014a)
Nghiên cứu hiệu lực của thuốc Hexythiazox 5.45% EC (Dimite) trong phòng trừ nhện đỏ nâu ở vùng Terai và Bắc Bengal (Ấn Độ) cho thấy quần thể nhện đỏ nâu giảm lần lượt là 19,31% và 18,03% ở sau 7 ngày phun thuốc, ở 14 ngày sau
phun thuốc là 30,29% và 29,75% (Sarka et al., 2016)
Tác động của thuốc đối với thiên địch của nhện đỏ nâu
Khi sử dụng một số loại thuốc trừ sâu DDT, Carbaryl mật độ nhện đỏ nâu tăng có thể do các loại thuốc này tiêu diệt thiên địch hoặc kích thích sinh sản của nhện hoặc do cả 2 nguyên nhân trên (Banarjee và Cramham, 1985)
Trang 34Việc sử dụng các thuốc trừ nhện không chọn lọc sẽ làm giảm thấp đáng kể mật độ của các loài nhện bắt mồi Biện pháp sinh học sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu
sử dụng thuốc trừ sâu có chọn lọc để phòng trừ sâu hại (Muraleedhara et al., 1988)
Rahman (2011) đã đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ nhện đối với nhện nhỏ bắt mồi
Neoseiulus longispinosus ở phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Xác định được
thuốc Fenpyroximate gây độc cao đối với nhện nhỏ bắt mồi Neoseiulus
longispinosus, còn các thuốc trừ nhện Propagite, Ethion và Hexythiazox ít độc hơn
đối với nhện nhỏ bắt mồi Barua (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của các thuốc
Bifenthrin, Propagite và Hexythiazox đối với nhện nhỏ bắt mồi S aptus trong
phòng thí nghiệm ở Assam (Ấn Độ) Kết quả ghi nhận thuốc Bifenthrin là độc nhất, tiếp đến là Propagite và Hexythiazox Khi sử dụng thuốc Azter (Azadirachtin 0,15%
EC) không gây ảnh hưởng đến các loài Mallada desjardinsi và Oligota pygmaea là thiên địch của nhện đỏ nâu
1.2.4.4 Quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè trên cơ sở sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý
Sự phát triển và sử dụng hợp lý các thuốc hóa học trừ sinh vật hại mới trong chương trình quản lý tính kháng thuốc tổng hợp là một cách tiếp cận để giải quyết vấn đề kháng thuốc của nhện nhỏ hại thực vật
Theo Masahiro et al (2009), trong hệ thống phòng trừ tổng hợp nhện nhỏ hại
cây trồng ở các nước trên thế giới, biện pháp sử dụng thuốc BVTV vẫn giữ vai trò quan trọng với việc sử dụng những hoạt chất có tính chọn lọc cao, có nguồn gốc sinh học, ít độc hại với động vật và con người Thiết lập một chiến lược quản lý nhện nhỏ hại là cách tốt nhất để quản lý tính kháng thuốc của chúng Muốn vậy, cần thực hiện các biện pháp giảm áp lực chọn lọc của thuốc đối với quần thể nhện nhỏ hại, ưu tiên sử dụng tất cả các biện pháp phi hóa học, trong đó có việc phát triển các công nghệ mới để quản lý các kẻ thù tự nhiên của nhện nhỏ, phát triển biện pháp nhân nuôi hàng loạt và thả bổ sung các loài thiên địch ra đồng ruộng
Roy et al (2010a) khuyến cáo sử dụng thuốc trừ trứng nhện đỏ nâu hại chè là
một trong các chiến lược quản lý tính kháng thuốc Đối với trứng nhện đỏ nâu, giá
Trang 35trị LC50 thấp nhất được xác định là của Fenazaquin, sau đó là của Profenofos, Propargite, Fenpropathrin, Ethion, Dicofol, Abamectin và cuối cùng là của
Azadirachtin (Roy et al., 2010b)
Theo Gurusubramanian et al (2008), quy trình sử dụng thuốc quản lý nhện
nhỏ hại (gồm nhện đỏ nâu, nhện hồng, nhện đỏ tươi, nhện sọc trắng) trên cây chè theo các tháng trong năm ở ở Assam và Tây Bengal (Ấn Độ) được thực hiện như sau: tháng 1 - 2 sử dụng các thuốc Dicofol, Neem extract 5%; tháng 3 - 4 sử dụng
các thuốc Fenpropathrin, Phosalone, Clerodendron infortunatum; tháng 5 - 6 sử dụng các thuốc Fenazaquine, Profenofos, Polygonum hydropiper; tháng 7 - 8 sử
dụng các thuốc Propargite, Neem extract 5%; tháng 9 - 10 sử dụng các thuốc
Dimethoate, Neem extract 5%, Acorus calmaus; tháng 11 - 12 sử dụng các thuốc Ethion, Sulfur, Polygonum hydropiper
Quy trình phòng trừ nhện đỏ nâu gồm: 1) Biện pháp được áp dụng (2 lần
phun thuốc với khoảng cách 15 ngày) khoảng thời gian tháng 12 và tháng 1, chè
búp non và chưa đốn; đốn phớt chè tháng 2; đốn chè đầu tháng 3; 2) Sau khi nhện
gây hại lần thứ hai phải theo khoảng thời gian 7 - 10 ngày (tháng 4 đến tháng 10: 7
ngày; tháng 11 đến tháng 3: 10 ngày); 3) Tránh áp dụng hóa chất lưu huỳnh trong khoảng thời gian nắng nóng và khô hanh; 4) Thu gom lá chè trên bề mặt; 5) Phun thuốc cả mùa vụ tại chỗ; 6) Đốn chè sau khi hái; 7) Không phun thuốc vào buổi trưa khi trời nắng; 8) Tránh phối hợp thuốc trừ nhện với phân bón lá, thuốc trừ sâu và
thuốc khác để giữ độc tính thuốc trừ nhện và phòng trừ các phần gây hại của nhện
đỏ nâu; 9) Nhổ bỏ cây bị gây hại nặng; 10) Tưới phun ướt tầng trên, giữa và dưới
bụi chè là bắt buộc để giết chết quần thể nhện còn sót lại (Das, 1960; Gurusubramanian và Borthakur, 2005)
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại
1.3.1.1 Thành phần sâu, nhện hại trên cây chè
Các nhà khoa học bảo vệ thực vật đã nghiên cứu và phát hiện trên cây chè có hơn 40 loài côn trùng và nhện nhỏ hại, trong đó có một số loài thường hay xuất hiện
Trang 36trên diện rộng và gây thiệt hại lớn cho người trồng chè như rầy xanh hại chè, bọ xít muỗi hại chè, bọ cánh tơ hại chè, nhện đỏ nâu và nhện đỏ tươi (Nguyễn Thị Phương Mai và Đặng Thị Đáp, 2006)
Nguyễn Văn Đĩnh (1994) ghi nhận cây chè có 3 loài nhện nhỏ hại là nhện đỏ tươi, nhện đỏ nâu và nhện trắng Trong đó, nhện đỏ nâu là loài hại quan trọng hơn
cả Kết quả điều tra sinh vật hại cây chè của 90 hộ trồng chè ở 3 xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) ghi nhận tỷ lệ nương chè bị nhện đỏ nâu gây hại của 3 xã trên lần lượt là 46,7%; 45,0% và 40,0% (Ngô Văn Giới, 2016)
Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006) đã chỉ ra khi mật độ nhện đỏ nâu tăng cao lên 4 - 6 con/lá thì tỷ lệ các lá bị hại tăng lên 20 - 40% làm cho toàn bộ
lô chè hơi biến vàng, các ổ nhện đỏ nâu riêng lẻ đã liên kết với nhau, lác đác đã có những lá chè biến màu đồng hun, xác nhện lột xác màu trắng nằm rải rác trên bề mặt lá chè Bắt đầu có những biểu hiện ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây chè và suy giảm năng suất búp chè Đây chính là thời điểm sử dụng thuốc hóa học có hiệu quả kinh tế nhất hay nói cách khác nên tiến hành phun thuốc trừ nhện đỏ nâu khi điều tra thấy mật độ nhện đỏ nâu bình quân là 4 - 6 con/lá thì tỷ lệ lá bị hại tương ứng trên dưới 30%
Nguyễn Thái Thắng (2000) ghi nhận nhện đỏ nâu tập trung sống ở mặt trên các lá bánh tẻ và lá già của cây chè Nhện đỏ nâu không sống ở trên cành, cuống lá chè Theo Đào Trọng Ánh (2002), có 91,9% nông dân trồng chè Thái Nguyên và Phú Thọ ghi nhận nhện đỏ nâu trước đây không phải là đối tượng quan trọng, nhưng
từ những năm cuối thế kỷ 19 ở nhiều nơi nhện đỏ nâu đã phát triển thành dịch
1.3.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, tình hình phát sinh phát triển của nhện đỏ nâu
Trang 370,05 - 0,07 mm Trứng có hình cầu dẹt, kích thước 0,09 - 0,12 mm, ngay chính giữa quả trứng có một chiếc lông cong nhỏ dài và mảnh Trứng mới đẻ có màu hồng nhạt, sau chuyển màu nâu đỏ, lúc sắp nở có màu nâu sẫm Nhện non mới nở có thân màu hồng nhạt, kích thước 0,13 - 0,15 mm x 0,10 - 0,12 mm với 3 đôi chân (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học
Nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và khả năng sinh sản của nhện đỏ nâu hại chè Ở điều kiện nhiệt độ thấp, dưới 20oC thời gian trứng kéo dài 5,9 ngày; thời gian từ nhện non tuổi 1 đến trưởng thành kéo dài 13,5 ngày; tiền đẻ trứng là 2,2 ngày; thời gian vòng đời là 21,4 ngày Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 94,2 trứng/cái Ở điều kiện nhiệt độ 20 - 25oC thời gian trứng kéo dài 4,8 ngày; thời gian từ nhện non tuổi 1 đến trưởng thành là 11,5 ngày; tiền đẻ trứng
là 1,4 ngày; thời gian vòng đời 17,9 ngày Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 107 trứng/cái Ở điều kiện nhiệt độ 25 - 30oC thời gian trứng kéo dài 3,4 ngày; thời gian
từ nhện non tuổi 1 đến trưởng thành là 7,2 ngày; tiền đẻ trứng là 1,2 ngày; thời gian vòng đời 21,4 ngày Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 89,4 trứng/cái (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2009)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006), ở 85%
ẩm độ khi nhiệt độ cao (30oC) thì thời gian vòng đời là 11,2 ngày, nhưng ở nhiệt độ thấp hơn (25oC) thì thời gian vòng đời là 12,8 ngày Thời gian sống của trưởng thành cũng kéo dài hơn ở nhiệt độ thấp Sức sinh sản của nhện đỏ nâu chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ và độ ẩm không khí Trong điều kiện 80 - 85% ẩm độ với
30oC, sức đẻ trứng của trưởng thành cái thường cao hơn rõ rệt so với ở 25oC Mỗi trưởng thành cái thường đẻ 80 - 105 trứng Sức đẻ trứng theo ngày của trưởng thành cái nhện đỏ nâu cũng thay đổi theo thời gian đẻ trứng: trong 10 ngày đầu tiên sau khi hóa trưởng thành (nhất là ngày thứ 3 - 7 sau khi bắt đầu đẻ), mỗi ngày một trưởng thành cái đẻ trung bình hơn 5 trứng/cái, có những con có thể đẻ đến 10 trứng Sau ngày thứ 10, sức đẻ trứng theo ngày bắt đầu giảm đi đáng kể
Trang 38Trong phòng thí nghiệm (trung bình 27,5oC, 81,6% ẩm độ) thời gian vòng đời của nhện đỏ nâu nuôi bằng giống Trung Du Xanh và PH1 lần lượt là 10,7 ngày
và 10,86 ngày (Phạm Thị Mai, 2010) Theo Nguyễn Thái Thắng (2000), thời gian vòng đời của nhện đỏ nâu từ 11,2 đến 12,8 ngày tùy theo điều kiện môi trường nhất
là nhiệt độ Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ được 79 trứng, sức đẻ trứng theo ngày cao nhất thường quan sát được trong vòng 5 - 10 ngày đầu sau khi đẻ trứng Thời gian đẻ trứng kéo dài 20 ngày Ở 30oC, thời gian vòng đời rút ngắn còn 11,2 ngày
so với 12,8 ngày ở 25oC Nguyễn Văn Đĩnh (1994) cho rằng nhện đỏ nâu hại chè có thời gian vòng đời ngắn (11,53 ngày), hệ số nhân trong một thế hệ cao (27,32), tỷ lệ tăng tự nhiên cao (r = 0,232) Vì vậy, khả năng phát sinh của nhện đỏ nâu là rất lớn
Sự phát sinh phát triển của nhện đỏ nâu
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Tiến (1994) xác định nhện đỏ nâu thường có 2 đợt phát sinh rộ trong năm: đợt 1 trong thời gian tháng 2 - 5 và đợt 2 trong thời gian tháng 9 - 11 Theo Phạm Thị Vượng và Nguyễn Văn Hành (1990),
nhện đỏ nâu O coffeae trong năm phát sinh 2 đợt: đợt 1 từ tháng 5 đến tháng 8 và
đợt 2 từ tháng 10 đến tháng 11 (tháng 10 nhện đỏ nâu thường phát sinh mạnh nhất)
1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
1.3.2.1 Một số nhóm thuốc trừ nhện phổ biến ở Việt Nam
Các sản phẩm trong “Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam” đăng ký để trừ nhện nhỏ hại cây trồng gồm 6 nhóm Theo Lê Trường và cs (2005), phương thức tác động của các nhóm thuốc này như sau:
Nhóm Avermectin (hoạt chất Abamectin): Sau khi tiếp xúc với hoạt chất
Abamectin, nhện ngừng ăn ngay và chết vì đói Abamectin kích thích hoạt động của gamma aminobutyric axít Có tác động vị độc và tiếp xúc, mang tính chất nội hấp yếu Thấm nhanh vào biểu bì nhờ men translamilasa, nên thuốc ít bị ngoại cảnh tác động, hiệu lực của thuốc kéo dài
Nhóm điều hòa sinh trưởng của nhện (hoạt chất Hexythiazox): Thuốc trừ
nhện tiếp xúc và vị độc, trưởng thành cái bị trúng thuốc sẽ đẻ trứng lép Thuốc có
Trang 39khả năng kìm hãm sự tạo chitin của da nhện nhỏ dẫn đến nhện non không lột xác được và chết
Nhóm Este sulfit (hoạt chất Propagite): Thuốc trừ nhện có tác động tiếp xúc
là chính và vị độc, hiệu lực của thuốc kéo dài Đặc biệt thuốc có hiệu lực với nhện nhỏ đã di chuyển
Nhóm Pyrazol (hoạt chất Fenpyroximate): Thuốc trừ nhện có tác dụng tiếp
xúc và vị độc Hiệu lực cao với nhện non và trưởng thành Ngoài ra, còn ức chế sự lột xác của nhện non và ức chế sự vận chuyển điện tử trong ty thể của tế bào cơ thể
Nhóm thuốc Pyridazinon (hoạt chất Pyridaben): Thuốc trừ nhện tiếp xúc,
quật ngã và gây chết nhanh, hiệu lực dài Tác động đến các pha phát triển từ nhện non đến trưởng thành Trong cơ thể, thuốc kìm hãm sự vận chuyển điện tử trong ty thể ở hệ I làm ảnh hưởng đến quá trình tạo năng lượng, gây chết cho nhện nhỏ hại
Nhóm thuốc thảo mộc (hoạt chất Matrine): Thuốc gây tê liệt hệ thần kinh
trung ương, bịt lỗ thở của nhện nhỏ làm cho nhện nhỏ không hô hấp được và bị chết nhanh chóng Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc và thấm sâu, không có tác dụng nội hấp và xông hơi
1.3.2.2 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ côn trùng và nhện nhỏ hại cây chè
Từ năm 1995 - 1997, phỏng vấn nông dân ở 9 xã trồng chè tại Thái Nguyên cho thấy số lần phun thuốc trong một năm trên cây chè rất khác nhau Tại xã Hóa Trung, phun ít nhất là 4 lần/năm, phun nhiều nhất tới 45 lần/năm Ở xã Vô Chanh, phun ít nhất là 12 lần/năm, nhiều nhất là 20 lần/năm Xã Tức Chanh và Vô Chanh
có số lần phun thuốc trên chè trong một năm nhiều nhất, tương ứng là 16,7 và 16,2 lần/năm Trong đó có 2/3 số người được hỏi phun dưới 15 lần/năm, 1/3 số người được hỏi phun trên 16 lần/năm, có khoảng 10,1% số người được hỏi phun hơn 20 lần/năm (Phạm Văn Lầm và cs., 2003)
Phỏng vấn nông dân ở vùng chè tại Thái Nguyên từ năm 2005- 2006 ghi nhận có tới 28,8 - 33,3% số người được hỏi phun dưới 16 lần/năm và 60,0 - 66,7%
số người được hỏi phun 16 - 20 lần/năm Tại xã Vô Chanh, trong số những người được hỏi, không có ai phun dưới 11 lần/năm Xã Phú Xuân và Vân Cù là nơi có số
Trang 40lần phun thuốc thấp nhất (11,2 - 11,8 lần/năm) Công tác bảo vệ thực vật được các doanh nghiệp sản xuất chè tổ chức khác nhau Công ty Chè Phú Bền (Phú Thọ) giao việc phòng trừ sâu bệnh hại cây chè cho các hộ nông dân Người sản xuất chè tự thực hiện mọi khâu trong phòng trừ sâu bệnh hại cây chè Người trồng chè ở đây phun thuốc khoảng 11 lần trong một năm, với chi phí trung bình là 1.350.000 đ/ha Việc sử dụng thuốc BVTV như vậy sẽ rất khó khăn trong kiểm soát chủng loại và liều lượng thuốc bảo vệ thực vật đã được sử dụng cũng như thời gian cách ly (Nguyễn Văn Toàn và Phạm Văn Lầm, 2014)
Theo Nguyễn Thị Bích Thủy (2009), ở Ba Vì người trồng chè chủ yếu sử dụng thuốc hóa học để phun phòng trừ nhện nhỏ với một số ít chủng loại thuốc trừ nhện, rất ít thuốc thảo mộc, sinh học, nhiều trong số đó là thuốc trừ sâu và không được đăng ký sử dụng trừ nhện nhỏ hại chè Người dân chưa quan tâm đến việc sử dụng luân phiên các thuốc với nhau Số lần phun thuốc ở các điểm trồng chè trọng điểm của Ba Vì là 9 - 16 lần/năm, tỷ lệ người phun thuốc định kỳ còn cao, một số điểm lên đến trên 75% và hầu hết là phun thuốc không theo nguyên tắc 4 đúng
Thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng về chủng loại, phong phú về sản phẩm 785 hoạt chất với 1.682 tên thương phẩm thuốc trừ sâu, 617 hoạt chất với 1.280 tên thương phẩm thuốc trừ bệnh được phép sử dụng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018)
Các loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên cây chè ở Tân Cương (Thái Nguyên) gồm nhóm độc I chiếm 12,5%, nhóm độc II chiếm 56,2%, nhóm độc III chiếm 18,8%, nhóm độc IV chiếm 12,5% Trong tổng số 16 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên cây chè, có cả các loại thuốc cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng như Wofatox, Monitor, Kelthan (Hà Minh Trung và cs., 2000)
Ở một số vùng chuyên canh chè, chỉ có 32,9% nông dân sử dụng đúng nồng
độ khuyến cáo, 25,9% nông dân tăng nồng độ lên 1 - 2 lần, 26,3% nông dân tăng nồng độ lên 2 - 3 lần, 14,9% nông dân tăng nồng độ lên 3 - 4 lần Có 30,4% người trồng chè thường mua thuốc tại cửa hàng đại lý của các công ty kinh doanh thuốc BVTV và 19,3% người trồng chè mua thuốc tự do ngoài chợ Có 43,7% người trồng