Trong lý thuyết này, Ricardo đã so sánh chi phí đểsản xuất các mặt hàng khác nhau giữa các quốc gia, quốc gianào sản xuất mặt hàng có chi phí tương đối rẻ hơn so với quốcgia khác thì nên
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở VIỆT
NAM
Trang 2- Cở sở lý luận về xuất khẩu
- Khái niệm về xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Tiền tệ ở đây có thể dùng là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia
Thực tế cho thấy, đối với các quốc gia khác trên thế giớihoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò không thể thiếu được
do mục tiêu phát triển đất nước Nếu mỗi quốc gia chỉ đóngcửa phát triển, áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì khôngthể có cơ hội vươn lên củng cố thế lực của mình và nâng caođời sống nhân dân
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt độngmua bán trao đổi hàng hoá vượt ra ngoài biên giới một quốcgia Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi thìcác quốc gia đều quan tâm đến việc mở rộng hoạt động này
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoạithương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển Hoạtđộng xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh
Trang 3tế từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến hành hoá tư liệusản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kĩ thuật cao.Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục tiêu là đem lại ngoại
tệ cho các quốc gia
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng cả về không gian
và thời gian Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặckéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ mộtquốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau
Nền kinh tế mỗi nước đều có những nguồn lực nhất định(đất đai, khoáng sản, tiền vốn, kỹ thuật lao động…), tuy nhiêncác nguồn lực này không phải là bất tận thậm chí là khanhiếm Để sản xuất ra mặt hàng nào đó với số lượng bao nhiêuthì nền kinh tế phải có sự lựa chọn để phân bổ các nguồn lực
đó một cách hợp lý Dưới góc độ hiệu quả kinh tế, các nước
sẽ lựa chọn những mặt hàng có lợi thế so sánh để thông quatrao đổi thương mại tận dụng và phát huy các lợi thế so sánhsẵn có và tiết kiệm được nguồn lực, nâng cao hiệu quả sảnxuất
- Lý thuyết lợi thế so sánh
Trang 4"Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn
là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tếhọc Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đềuphải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh
tế của chính mình." Đó là điều mà Paul Samuelson 2009) nói về Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo(1772-1823)
(1915-Lý thuyết lợi thế so sánh được David Ricardo nghiêncứu và chỉ ra quy luật lợi thế so sánh vào năm 1817 Theoông, chuyên môn hóa quốc tế sẽ đem lại lợi ích cho tất cả cácquốc gia Trong lý thuyết này, Ricardo đã so sánh chi phí đểsản xuất các mặt hàng khác nhau giữa các quốc gia, quốc gianào sản xuất mặt hàng có chi phí tương đối rẻ hơn so với quốcgia khác thì nên chuyên môn hóa sản phẩm ấy
Các giả định mà David Ricardo đưa ra là:
Chi phí vận chuyển hàng hoá bằng không
Chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô.Chỉ có hai nước sản xuất hai loại sản phẩm
Những hàng hoá trao đổi giống hệt nhau
Các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo
Trang 5Không có thuế quan và rào cản thương mại.
Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người muađều biết nơi có hàng hoá rẻ nhất trên thị trường quốc tế
Với những giả định này, ông chứng minh rằng với môhình 2x2 gồm 2 quốc gia A và B, sản xuất 2 mặt hàng X và Yvới chi phí của từng đơn vị như sau:
Trang 6Mở rộng
Hai quốc gia, nhiều mặt hàng: Khi có nhiều hàng hoávới chi phí không đổi và có hai quốc gia thì lợi thế so sánhcủa từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ hànghoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế sosánh thấp nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất nhữngmặt hàng có lợi thế so sánh từ cao nhất đến cao ở mức cânbằng Ranh giới mặt hàng nào là có lợi thế so sánh cao ở mứccân bằng sẽ do cung cầu trên thị trường quốc tế quyết định
Để so sánh bằng số liệu tính toán, ta thường dùng chỉ sốlợi thế so sánh hiện hữu RCA Công thức:
Trang 7t- tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới
Chỉ số này đưa ra cách xác định mức độ lợi thế so sánh
từ quan điểm cục bộ và cách nhìn có tính đơn lẻ mặc dù đã cóbước tiến đáng kể trong việc khắc phục viêc xem xét lợi thế
so sánh chỉ từ góc độ nguồn cung tạo ra lợi thế so sánh Giá trịcủa RCA càng lớn thì nước đó càng có lợi thế so sánh trongsản xuất mặt hàng
RCA>2,5: Sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao
1<RCA< 2,5: Sản phẩm có lợi thế so sánh
RCA<1: Sản phẩm bất lợi thế so sánh
Nhiều quốc gia: có thể gộp chung tất cả các nước khácthành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và nhữngphân tích trên vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó Lợi thế
so sánh không những áp dụng trong trường hợp thương mạiquốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trong một quốcgia một cách hoàn toàn tương tự
Thực tế các nhân tố sản xuất không dịch chuyển hoànhảo
Những người sản xuất rượu vang của Anh có thể không
dễ dàng tìm được việc làm (chuyển sang sản xuất lúa mỳ) khinước Anh không sản xuất rượu vang nữa và sẽ thất nghiệp
Trang 8Nền kinh tế sẽ không toàn dụng nhân công làm cho sản lượnggiảm sút
Chính vì thế mặc dù nguyên tắc lợi thế so sánh có thểđược tổng quát hoá cho bất kỳ quốc gia nào, với nhiều loạihàng hoá, nhiều loại đầu vào, tỷ lệ các nhân tố sản xuất thayđổi, lợi suất giảm dần khi quy mô tăng và là nền tảng củathương mại tự do nhưng những hạn chế như ví dụ vừa nêu lại
là lập luận để bảo vệ thuế quan cũng như các rào cản thươngmại
Thể hiện rõ nhất của nguyên tắc lợi thế so sánh ở việc sosánh giá các yếu tố đầu vào, đặc biệt là công nghệ và laođộng:
Giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối
so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang pháttriển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê
tư bản Các nước phát triển có cung yếu tố đầu vào về tư bảnnhiều hơn các nước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bảntrên mỗi nhân công lớn hơn Ngược lại số nhân công trên mộtđơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn cácnước phát triển Cho nên, các nước phát triển có lợi thế so
Trang 9sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợithế so sánh về giá thuê nhân công.
Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tốđầu vào mà mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đốithì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợithế so sánh về những hàng hóa này
Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sảnphẩm thô (dầu thô, than đá ) hoặc hàng hóa có hàm lượngnhân công cao như dệt may, giày dép còn nhập khẩu máymóc, thiết bị từ các nước phát triển
Ngành thủy sản là một ngành yêu cầu nguồn tài nguyênlớn và nhân lực có kinh nghiên đánh bắt, chế biến thủy sản.Việt Nam là một quốc gia có diện tích biển rộng lớn, chiếm ¾tổng diện tích lãnh thổ, người dân đã có kinh nghiệm đánh bắt
từ lâu đời Cho nên, Việt Nam có lợi thế so sánh khi sản xuấtxuất khẩu thủy sản
- Lý thuyết Heckscher-Ohlin
Lý thuyết Heckscher-Ohlin, gọi tắt là lý thuyết H-O, hay
mô hình H-O, được 2 nhà kinh tế người Thụy Điển EliHeckscher và Bertil Ohlin phát triển dựa trên lý thuyết lợi thế
Trang 10so sánh của David Ricardo Ở mô hình này, ngoài 2 quốc gia,
2 mặt hàng, Heckscher và Ohlin đã bổ sung thêm 2 loại yếu tốsản xuất là tư bản và lao động (2 yếu tố nội sinh) Vì thế, banđầu, mô hình được gọi là mô hình 2x2x2
Các đặc điểm thị trường mà H-O đưa ra trong mô hìnhgồm:
Sản xuất:
Tính thâm dụng yếu tố sản xuất của sản phẩm là khôngthay đổi: Một sản phẩm sẽ thâm dụng cùng một yếu tố sảnxuất tại 2 quốc gia
Công nghệ sản xuất như nhau tại 2 quốc gia: Nếu giá sosánh các yếu tố sản xuất là như nhau tại hai quốc gia, thì cácnhà sản xuất sẽ sử dụng cùng một số lượng lao động và tư bảncho mỗi đơn vị của cùng 1 sản phẩm tại 2 quốc gia
Chuyên môn hoá hoàn toàn không thể xảy ra
Lợi suất theo quy mô không đổi trong sản xuất (constantreturns to scale) : Sự gia tăng về cả lao động và tư bản trongsản xuất bất cứ sản phẩm nào sẽ dẫn tới sự gia tăng tương ứngđầu ra của sản phẩm đó
Yếu tố sản xuất
Tự do di chuyển trong khuôn khổ quốc gia
Trang 11Không di chuyển giữa các quốc gia.
Các yếu tố sản xuất là có giới hạn, sử dụng hoàn toàn Thị trường
Thị trường là cạnh tranh hoàn hảo: đối với cả sản phẩm vàyếu tố sản xuất
Thương mại quốc tế là tự do hoàn toàn
dư thừa về vốn Việc đánh giá sự dư thừa trên dựa vào so sánhgiá lao động (tiền lương - w) và giá của tư bản (lãi suất - r)trên mối quan hệ cung cầu yếu tố sản xuất, giá tương đối củalao động so với tư bản ở quốc gia 1 rẻ hơn so với quốc gia 2 (
Trang 12thuyết cho rằng quốc gia dồi dào yếu tố nào thì chuyên mônhóa sản xuất và xuât khẩu mặt hàng thâm dụng nhiều yếu tố
ấy Điều đó giải thích cho lợi thế so sánh từ việc giá thành yếu
tố sản xuất rẻ hơn
Lý thuyết Heckscher-Ohlin dự báo rằng các nước sẽ xuấtkhẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng nhữngnhân tố dồi dào tại nước đó và nhập khẩu những hàng hóa mà
sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố khan hiếm tại nướcđó
Lý thuyết H-O đã có sức ảnh hưởng rất rộng trên nềnkinh tế thế giới Tuy nhiên, khi nghiên cứu các số liệu củaHoa Kỳ năm 1953, Wassily Leontief đã chỉ ra kết quả thực tếkhác với những gì mà mô hình H-O đã dự báo Theo H-O,Hoa kỳ là quốc gia dồi dào về vốn nên sẽ xuất khẩu nhữngmặt hàng thâm dụng vốn, nhập khẩu những mặt hàng thâmdụng lao động Nhưng nghiên cứu đã phát hiện ra rằng hànghóa xuất khẩu của Hoa Kỳ lại kém thâm dụng vốn hơn hànghóa nhập khẩu
Hiện nay vẫn chưa có câu giải thích rõ ràng cho nghịch
lý Leontief nhưng có nhiều nghiên cứu ở một số lớn các nước
Trang 13khác có xu hướng khẳng định sự tồn tại của nghịch lýLeontief Giải pháp mà hiện nay người ta đưa ra để giải thích
là đưa về lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo để giảithích dựa trên năng suất lao động
Một hạn chế của lý thuyết H-O là cho rằng công nghệ ởcác quốc gia là như nhau trong khi thực tế không phải nhưvậy, đặc biệt là trong thời đại công nghệ đua tranh phát triểnnhư hiện nay
Mặc dù những hạn chế trên, lý thuyết này cũng giúp giảithích cụ thể hơn tại sao chi phí sản xuất các mặt hàng củaquốc gia này rẻ hơn quốc gia khác Việt Nam có nguồn nhânlực dồi dào, rẻ, trong khi nguồn lực vốn lại hạn hẹp nên có lợithế trong phát triển các ngành nông, lâm, thủy sản
- Lý thuyết thương mại mới
Những lý thuyết trên được xếp vào nhóm “lý thuyếtthương mại cũ” (đặc điểm chính: Quốc gia này khác quốc giakia về năng suất của từng công nghiệp, và về các nguồn lực(vốn, lao động, v.v.) mà quốc gia ấy sở hữu) Những “lýthuyết thương mại cũ” đã dẫn giải được hầu hết cơ cấu thươngmại trên thế giới nhưng vẫn có một số hiện tượng mà nó chưa
Trang 14giải thích được Chẳng hạn, mặc dù 2 nước Pháp và Đức gầnnhư giống nhau về các điều kiện tự nhiên (tài nguyên, khí hậu)nhưng lại có khối lượng thương mại giữa 2 nước rất lớn, tương
tự với trường hợp Mỹ và Canada Hơn nữa, các nước phát triểncùng buôn bán một thứ (Ví dụ, Mỹ vừa xuất khẩu, vừa nhậpkhâu ô tô)… Những thắc mắc này đã được giải thích trong Lýthuyết thương mại mới
Lý thuyết thương mại mới (new trade theory) của PaulKrugman (nhà kinh tế học người Hoa Kỳ - Nôben kinh tế2008) là một trong những lý thuyết về thương mại quốc tếmới nhất có ảnh hưởng lớn trên thế giới Nếu như “lý thuyếtthương mại cũ” phân tích chủ yếu đến tài nguyên và sựchuyên biệt của quốc gia, thì lý thuyết “mới” đã đi gần hơnđến các doanh nghiệp Trong lý thuyết này, Paul Krugman đãđưa ra hai đặc tính quan trọng là: Lợi thế do quy mô sản xuất,
và sự ưu thích đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng
Theo lý thuyết của Paul Krugman, có những ngành côngnghiệp khi sản xuất với quy mô lớn sẽ làm cho chi phí giảmdần nhờ “tính tiết kiệm do quy mô” Ví dụ vua ô tô HenryFord có thể quyết định xây nhiều nhà máy sản xuất phân bốrộng khắp nước Mỹ để giảm bớt chi phí vận chuyển Nhưng
Trang 15Ford đã quyết định chỉ tập trung sản xuất ở một nhà máy ởMichigan, tuy rằng chi phí chuyên chở đến khách hàng là cao,tận dụng “lợi thế do quy mô” giảm chi phí sản xuất xuống rấtthấp, từ đó giá bán sẽ rẻ hơn là sản xuất ở nhiều nhà máy nhỏ.
Krugman chỉ ra rằng: những địa phương trở thành trungtâm sản xuất ban đầu thường do sự tình cờ Những người đầutiên lựa chọn một vùng đất phù hợp Sau đó, những ngườikhác đến mở rộng sản xuất, dần dần tạo nên thị trường vànguồn cung lao động Ví dụ về thung lũng Silicon (SiliconValley, trung tâm công nghiệp điện tử của Mỹ) sở dĩ đượcnhư ngày nay cũng vì William Hewlett và David Packard(sáng lập viên đại công ty Hewlett-Packard), bắt đầu sựnghiệp của họ trong gara ở một ngôi nhà vùng đó Thành phốNew York là thủ phủ đồ may mặc của nước Mỹ, phần lớn là
vì số lượng mậu dịch về hàng vải đã sẵn có ở đây, và vì đôngđảo khách hàng đang sống ở thành phố (lớn nhất nước Mỹ)này
Sự lựa chọn vùng tập trung sản xuất này có phụ thuộcvào một số yếu tố như ở địa phương ấy số lao động chuyênmôn về một ngành nào đó thì đặc biệt hùng hậu, hoặc là ở nơi
Trang 16ấy có nhiều nguồn cung cấp một loại dầu vào mà nơi kháckhông có.
Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thương mạiquốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nước có lợi thế tươngđối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ
Mỹ và châu Âu cùng có lợi thế tương đối về vốn và côngnghệ nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford và nhập xe BMW từchâu Âu Hay giải thích tại sao khối lượng thương mại giữanhững quốc gia có đặc điểm tương đồng như Pháp và Đức,
Mỹ và Canada lại rất lớn Nguyên nhân là các công ty cóđược lợi thế từ việc trở nên độc quyền về nhãn hiệu của mình
Do đó, mặc dù ở hai quốc gia có sự tương đồng về nguồn lựcnhưng nhờ có sự đa dạng về nhãn hiệu mà thương mại hóavẫn diễn ra với khối lượng lớn
Hạn chế của lý thuyết này là chi phí vận chuyển lớn khitập trung hóa sản xuất Đối với nhiều công ty, chi phí vậnchuyển sẽ là quá lớn so với lợi ích nhận được từ việc tập trunghóa Cho nên, trước khi quyết định tập trung hóa sản xuất haykhông thì các công ty nên có sự phân tích cẩn thận và chínhxác những lợi ích có thể nhận được
Trang 17Qua việc phân tích lý thuyết thương mại mới của PaulKrugman, ta thấy được tầm quan trọng của việc tăng quy môsản xuất và lợi thế từ việc độc quyền nhãn hiệu Việc tăng quy
mô sản xuất của mặt hàng thủy sản cũng mang lại lợi thế,nhưng cũng đi kèm với rủi ro lớn nếu không tiêu thụ đượchàng Do đó, điều quan trọng bây giờ là cần phải xác lập đượcnhưng thương hiệu thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế,chính là cái mà ngành thủy sản Việt Nam đang còn thiếu
Ngày nay xu thế hội nhập và tự do hóa thương mại diễn
ra mạnh mẽ, nó tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế nhưng nócũng đặt ra thách thức rất lớn về sự cạnh tranh giữa các nềnkinh tế Về nguyên lý, lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh đượcxét và đánh giá bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế và nó thuầntúy ở dạng tiềm năng Các tiềm năng này sẽ không tạo thànhsức mạnh đột phá nếu không có một kế hoạch khai thác hiệuquả, điều này cũng giống như một nước với tiềm năng tựnhiên rừng vàng biển bạc nhưng vẫn nghèo đói nếu không cómột giải pháp hữu hiệu để khai thác các tiềm năng đó Muốnkhai thác các tiềm năng, chúng cần được đặt trong mối quan
hệ với các vấn đề chính trị và các chính sách kinh tế Chỉ trên
cơ sở khai thác hiệu quả các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Trang 18gắn với cục diện chính trị và các định hướng chiến lược mớitạo ra sức mạnh tổng hợp trong sản xuất và xuất khẩu Điềunày đặc biệt quan trọng trước sự phát triển như vũ bão củakhoa học công nghệ, lợi thế so sánh không thể tồn tại cố định
mà sẽ có sự chuyển hóa thay đổi qua các giai đoạn Do vậyviệc xác định lợi thế cạnh tranh sẽ làm cho mỗi quốc gia cóthể chủ động khai thác lợi thế và tiềm lực của nền kinh tếtrong sản xuất và xuất khẩu
Như vậy lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện tính trội của
mặt hàng đó về chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường tạo nên sức hấp dẫn cho sản phẩm và thuận tiện cho khách hàng Ngoài ra lợi thế cạnh tranh còn được thể hiện
trên các mặt: giá sản phẩm, khối lượng sản phẩm, thời giangiao hàng, tính chất về sự khác biệt của sản phẩm hàng hóa.Lợi thế cạnh tranh còn bao gồm chi phí cơ hội và năng suấtlao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, đạt tiêu chuẩn quốc tế
và thị hiếu tiêu dùng trên các thị trường cụ thể, nguồn cungcấp ổn định, môi trường thương mại thông thoáng, thuận lợi
Do vậy lợi thế cạnh tranh của một đất nước là những nội dungmang tính giải pháp về chiến lược và sách lược của một đấtnước trong qua trình sản xuất trao đổi và thương mại, nó giúp
Trang 19phát huy những lợi thế sẵn có của chính mình để tạo thành ưuthế hàng hóa trong cạnh tranh nói chung và trong hoạt độngngoại thương nói riêng
- Cơ sở thực tiễn của việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam
- Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam
- Cơ hội thị trường
Theo VASEP, tính đến T1/2016, Sản phẩm thủy sảnViệt nam đã có mặt tại 165 thị trường lớn nhỏ thế giới trong
đó có những thị trường rất lớn như Nhật Bản, Mỹ và kể cả thịtrường EU, thị trường được coi là khó tính nhất đối với cácdoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt nam thì ngày 16 tháng
11 năm 1999, ủy ban EU đã ra quyết định 831/1999/EECcông nhận 18 doanh nghiệp thủy sản Việt nam vào danh sáchcác nước được phép xuất khẩu vào EU và theo Báo cáo củaVASEP, tính đến ngày 26/1/ 2016 thì con số này đã lên tớihơn 400 doanh nghiệp Ngoài ra, cho đến nay đã có hơn 300đơn vị áp dụng HACCP, đáp ứng tiêu chuẩn ngành đủ điềukiện xuất hàng vào thị trường Mỹ[1] Dân số thế giới tiếp tụcgia tăng, nhu cầu đối với nhiều loại sản phẩm thủy sản mà
Trang 20Việt nam có khả năng sản xuất đang và sẽ còn tăng mạnh, mấtcân đối cung cầu của thị trường thủy sản thế giới ngày cànggay gắt theo hướng cầu nhiều hơn cung, là điều kiện thuận lợilâu dài và quan trọng để phát triển xuất khẩu thủy sản trongnhững năm đầu thế kỷ 21.
Cơ hội thị trường là lợi thế mà Ngành thủy sản phải nắmbắt nhanh Còn một lợi thế khác mà ngành có được một cáchhết sức thuận lợi, đó chính là nguồn nhân lực
- Lợi thế về nguồn nhân lực
Lao động nghề cá Việt nam có số lượng dồi dào, thôngminh, khéo tay, chăm chỉ, có thể tiếp thu nhanh chóng và ápdụng sáng tạo công nghệ tiên tiến Hiện ngành này đã tạo công
ăn việc làm cho hơn 4 triệu lao động [5] Trong những năm tớigiá cả sức lao động Việt nam trong lĩnh vực thủy sản vẫn còntương đối thấp so với khu vực và thế giới, vì vậy có đầy đủ khảnăng để đón trước sự đổi dòng của các luồng đầu tư trực tiếp
từ các nước, tiến tới hình thành sự phân công lao động quốc tếmới trong bối cảnh hợp tác của khu vực
Tuy nhiên, đa phần lao động trong nghề cá có trình độvăn hoá thấp, nên tuy số lượng lao động nghề cá, về cơ bản,