Có thể nói,Chính phủ Mỹ sử dụng BIT như một công cụ để khuyến khíchcác nhà đầu tư Mỹ đầu tư ra nước ngoài phù hợp với địnhhướng của Chính phủ.Các công trình nghiên cứu trong nước
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỮU THỰC TIỄN VỀ QUẢN
LÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 2Cơ sở lý luận
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Đây là nội dung nghiên cứu được nhiều học giả nướcngoài quan tâm nhiều nhất và có nhiều công trình nghiên cứunhất Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này bao gồm:
Nghiên cứu của De Mello (1999) lấy mẫu ở 16 nước pháttriển và 17 nước đang phát triển, ông đã chỉ ra rằng: FDI ròngcủa các doanh nghiệp có hiệu quả tích cực và quan trọng đốivới tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1970 - 1990 Song, đối với cácnước đang phát triển thì FDI có tác động đến tăng trưởng kinh
tế lớn hơn, còn đối với các nước phát triển thì nhỏ hơn
Nghiên cứu của Campos và Kionoshita (2002) với mẫunghiên cứu nhỏ hơn, bao gồm 25 nước Trung và Đông Âu, cùngcác nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ, cáctác giả cho rằng “FDI của các doanh nghiệp có tác động tích cựcđến tăng trưởng kinh tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyểnđổi” Bởi vì, tại các nước đang chuyển đổi có quá trình CNHdiễn ra mạnh mẽ hơn và họ có lực lượng lao động được đào tạotốt hơn
Trang 3Nghiên cứu của các học giả Berthelemy và Demurger(2000); Graham và Wada (2001) và Buckey et al (2002), sửdụng số liệu FDI phân theo địa phương của Trung Quốc chothấy, FDI các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Các tỉnh ven biển, nơithu hút phần lớn FDI của Trung Quốc đã sử dụng FDI có hiệuquả hơn so với các tỉnh khác.
Nghiên cứu của Borensztein et al (1995 - 1998) sử dụng
số liệu của 69 nước đang phát triển giai đoạn 1970 - 1989 đểhồi quy Kết quả cho thấy FDI ròng chỉ có ảnh hưởng nhẹ đếntăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân của FDI với trình độcủa lực lượng lao động làm biến độc lập thì biến này có hệ sốdương và ý nghĩa thống kê Ông kết luận, FDI chỉ mang lại tácđộng tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi nước nhận đầu tư cólực lượng lao động đạt đến trình độ nhất định Dưới mức đó,FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng kinh tế
Borensztein et al (1995), lại cho rằng, tốc độ tăng trưởngcủa các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếpnhận và hấp thụ công nghệ mới Họ cũng đồng ý rằng sự đónggóp chính của FDI từ các doanh nghiệp là thúc đẩy tiến bộ vềcông nghệ của nước sở tại Hermes và Lensink cho rằng, để
Trang 4khai thác tối đa hiệu quả của FDI, nước tiếp nhận đầu tư cầnphát triển thị trường tài chính Hệ thống tài chính cần phát triểnđến một trình độ nhất định để huy động tiết kiệm, khuyến khíchcác doanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới công nghệ Có nhưvậy, doanh nghiệp trong nước mới tận dụng được công nghệ từcác doanh nghiệp FDI nhiều hơn.
Nghiên cứu của Ramirez (2000) sử dụng số liệu vốn FDItích luỹ ước lượng đóng góp FDI đến tăng trưởng kinh tế củaMexico giai đoạn 1960 - 1995 Ông thấy rằng, vốn FDI tácđộng tích cực đến xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông quanăng suất lao động Ramirez (2000) đưa ra kết luận, để FDI tácđộng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cần phải nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực thì mới có thể tiếp nhận được công nghệmới và kinh nghiệm quản lý
Nghiên cứu của Li và Liu (2005) qua khảo sát 88 quốc gia
có tiếp nhận FDI (bao gồm cả nước phát triển và đang pháttriển) đã chỉ ra rằng, FDI và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệmật thiết với nhau Theo các tác giả FDI từ các doanh nghiệpkhông những trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà cònthúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và công nghệ Một điểmđáng lưu ý trong nghiên cứu này là, nước nhận FDI phải có
Trang 5nguồn nhân lực và công nghệ đạt tới trình độ nhất định Nếunước nhận FDI có trình độ nguồn nhân lực và công nghệ thấphơn nước đầu tư thì sẽ tác động tiêu cực đến nước nhận FDI
Aizenman, J and Noy, I (2006) trong nghiên cứu
“Examination of U.S inbound and outbound DirectInvestment” [27, tr.3] đã chỉ ra các nguye ̂n nhân khác khiếncác nhà đầu tư Mỹ phải đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm lợinhuận và tránh những rủi ro do phải cạnh tranh ngay tại Mỹ
Có cùng quan điểm trên là các tác giả khác: Douglas HotlzEaki và cộng sự (2005) trong nghiên cứu “Why Does U.S.Investment Abroad Earn Higher Returns Than ForeignInvestment in the United States?” [30, tr.1]; MarcelaMeirelles Aurelio (2006) “Going Global: The ChangingPattern of U.S Investment Abroad” [31] các tác giả này chỉ rarằng để tối đa hoá lợi nhuạ ̂n, các công ty xuyên quốc gia(TNC) sẽ tìm cách tăng giảm báo cáo lợi nhuận của công tycon tại những nước có mức thuế cao nhằm tối đa hoá lợinhuận
Ngoài ra, trong các nghiên cứu của James K.Jackson(2008, 2011, 2012) [29] còn cho rằng FDI của Mỹ ra nước
Trang 6ngoài một phần là tận dụng lợi thế chi phí lao động thấp hơn,còn phần lớn là hướng tới phục vụ thị tru ̛ờng mà họ đạ ̆t chinhánh và đẩy mạnh xuất khẩu của công ty họ ra nước ngoài.
Nghiên cứu của Buckley et al (2002) là một trong rất ítcác nghiên cứu cho rằng FDI tác động đến tăng trưởng kinh tếthấp hơn so với đầu tư trong nước của Trung Quốc Nghiên cứu
đi đến kết luận FDI không có tác động tích cực đến tăng trưởngkinh tế bằng các nguồn vốn khác trong nước
Khi nghiên cứu dòng vốn FDI các doanh nghiệp Hoa Kỳđầu tư sang các nước đang phát triển, Nunnenkamp và Spatz(2003) đã đưa ra quan điểm rằng, FDI không có tác động đáng
kể nào đến tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư,thậm chí FDI còn có tác động tiêu cực Đặc biệt ở các quốc gia
có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, trình độ lực lượnglao động không cao, độ mở cửa nền kinh tế thấp thì càng thuhút nhiều FDI càng ảnh hưởng xấu đến chất lượng tăng trưởngkinh tế
Kết quả nghiên cứu của Buckley et al 2002 cũng tương tựkết quả nghiên cứu của Dutt (1997), khi ông kiểm định về hiệu
Trang 7quả của FDI đầu tư từ các nền kinh tế phương Bắc vào các nềnkinh tế phương Nam
Fukao et al (2003) đã phân tích các thay đổi gần đây tronghoạt động thương mại của các nước Đông Á và phân tích vai tròcủa FDI trong những thay đổi đó trong giai đoạn 1988 - 2000.Phân tích của họ cho thấy rằng trao đổi thương mại giữa cácdoanh nghiệp cùng ngành của các nước Đông Á đã tăng lênnhanh chóng trong thời gian nghiên cứu Đặc biệt là trongtrường hợp ngành công nghiệp điện tử nói chung và ngành côngnghiệp máy móc chính xác nói riêng Họ cũng thấy rằng vốnFDI có tác động rất tích cực trong trao đổi thương mại trongngành công nghiệp thiết bị điện Cuối cùng, họ kết luận rằngtrong khu vực Đông Á, FDI của các doanh nghiệp đóng vai tròquan trọng trong sự gia tăng nhanh chóng của trao đổi thươngmại giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành
Aizenmen và Noy (2006) nghiên cứu mối quan hệ haichiều giữa FDI và thương mại của hai nhóm nước khác nhau:các nước phát triển và các nước đang phát triển Họ chỉ ra rằngmối quan hệ hai chiều giữa thương mại và FDI mạnh hơn ở cácnước đang phát triển so với các nước phát triển FDI thúc đẩyxuất khẩu mạnh hơn là xuất khẩu hàng hoá
Trang 8Trong nghiên cứu của James K.Jackson (2008) về “U.SDirect Investment Abroad: Trends and Current Issues” [29,tr.2] đã cho rằng giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2007 tổng sốtiền đầu tư ra nước ngoài của Mỹ trung bình nhiều gấp 2 lầnđầu tư cho nền kinh tế Mỹ, nó phản ánh giai đoạn nền kinh tế
Mỹ tăng trưởng chậm và việc làm trong nước của họ giảm sút
do các công ty xuyên quốc gia của Mỹ bị mất dần thị phầntrong nước khi tăng đầu tư mở rộng chi nhánh ở nước ngoài.Nhưng ở một nghiên cứu khác của James K.Jackson (2011)[29], hầu hết các nhà kinh tế Mỹ đều kết luạ ̂n rằng xét mộtcách tổng thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không dẫn đếnviệc làm ít hơn hoặc thu nhập thấp hơn cho người dân Mỹ vàphần lớn việc làm bị mất giữa các công ty sản xuất của Mỹtrong thập kỷ qua là phản ánh viẹ ̂c tái cơ cấu ngành côngnghiệp chế tạo Mỹ mọ ̂t cách rất sâu rộng Một nghiên cứukhác của nhóm tác giả Harvard College như Mihir A Desai,
C Fritz Foley, and James R Hines Jr (2011) [28] nghiên cứu
về “Tax Policy and the Efficiency of US Direct InvestmentAbroad” cũng kết luận rằng hoạt động của FDI ra nước ngoàicủa Mỹ trong thời gian trước 2011 không hiệu quả khi họ so
Trang 9sánh giữa khoản đầu tư ra nước ngoài với khoản lợi nhuận thu
về nước trong năm 2010, do vậy, chính sách thuế hiện hànhcủa Mỹ đang ưu đãi đối với các doanh nghiệp FDI tại Mỹ[28]
U.S Chamber of Commerce (2015) trong “Secure U.S.Investment Overseas” [31] cho rằng các TNC khi tiến hànhFDI ra nước ngoài cũng gián tiếp tạo thêm việc làm cho laođộng Mỹ Đa số các công việc này là do các TNC đầu tư vàocác hoạt động nghiên cứu và phát triển, là công việc dành chocác chuyên gia Mỹ có kỹ năng cao với mức lương tương ứng.Ngoài ra, U.S Chamber of Commerce còn cho biết thêm rằngChính phủ Mỹ khá chú trọng tới đàm phán các hiẹ ̂p định đầutư song phương (BIT) nhằm bảo đảm lợi ích và bảo vệ nhàđầu tư Mỹ khi đầu tư ra nước ngoài BIT được Chính phủ Mỹthực hiện không chỉ với mục đích bảo vệ tài sản của các nhàđầu tư Mỹ ở nu ̛ớc ngoài mà còn nhằm tạo ra sân chơi bìnhđẳng cho các nhà đầu tư Mỹ bằng cách nghiêm cấm hoặc hạnchế tối đa phân biệt đối xử với các công ty Mỹ Ngoài ra, BITcòn đảm bảo tính minh bạch đối với luật và các quy định liênquan đến đầu tư, BIT đưa ra các giải pháp trong tranh chấp
Trang 10đầu tư trong trường hợp bị tước quyền sở hữu Có thể nói,Chính phủ Mỹ sử dụng BIT như một công cụ để khuyến khíchcác nhà đầu tư Mỹ đầu tư ra nước ngoài phù hợp với địnhhướng của Chính phủ.
Các công trình nghiên cứu trong nước
Đỗ Hoàng Long (2006) có công trình: “Tác động của
toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” - Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Đề tài nghiên cứu tiến trìnhtoàn cầu hoá kinh tế và tác động của tiến trình này đối với sựvận động của dòng vốn FDI trên thế giới và Việt Nam; vớiphạm vi những tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với giátrị và cơ cấu của dòng vốn FDI vào Việt Nam trong khoảngthời gian từ giữa thập kỷ 1980 tới cuối năm 2006 Đề tài đã hệthống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của tiến trình toàn cầuhoá kinh tế và khẳng định toàn cầu hoá kinh tế là một xu thếkhách quan, vừa có tính hệ thống, kế thừa, vừa có tính độtbiến của nền kinh tế thế giới Phân tích tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam và cơ hội đối với Việt Namtrong việc tiếp cận với thị trường vốn quốc tế, trong đó có
Trang 11nguồn vốn FDI; phân tích tác động của toàn cầu hoá kinh tếđối với việc cải thiện môi trường thu hút vốn FDI của ViệtNam, đối với giá trị và cơ cấu FDI vào Việt Nam qua cáckênh môi trường đầu tư, thị trường và các yếu tố nguồn lựcsản xuất; phân tích một số bất cập trong quá trình thu hút FDIcủa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc Việt Nam đã chưathành công trong việc sử dụng các yếu tố nội lực để thu hút vàđịnh hướng dòng FDI vào những lĩnh vực mong muốn và đểphát huy được lợi thế so sánh của mình; trên cơ sở các phântích về tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với sự vận độngcủa dòng FDI vào Việt Nam trong thời gian qua và một số dựbáo về xu hướng vận động của dòng FDI trên thế giới thờigian tới, Luận án gợi ý một số giải pháp nhằm đẩy mạnh côngtác thu hút FDI vào Việt Nam thông qua cải thiện môi trườngđầu tư, thị trường và nguồn lực sản xuất
Công trình của Phạm Thị Thanh Phương (2006): “Giải
pháp tăng cường thu hút và triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Thái Nguyên” - Luận văn thạc sỹ
kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Đề tàinghiên cứu hoạt động thu hút và hỗ trợ triển khai các dự ánFDI trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 1993-2006 Đề tài
Trang 12đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về thu hút và triển khaicác dự án FDI, phân tích và đánh giá thực trạng quá trình thuhút và triển khai các dự án FDI tại tỉnh Thái Nguyên Trên cơ
sở đó, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến những vấn đề còn tồntại và đề xuất một số giải pháp nhằm giúp tỉnh Thái Nguyênhoàn thành tốt các mục tiêu về thu hút và triển khai các dự ánFDI
Công trình của Nguyễn Ngọc Quang (2007): “Giải pháp
tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh” - Luận văn thạc sỹ kinh tế,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Đề tài nghiên cứuhoạt động thu hút FDI vào ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2007 Đề tài đã hệthống hoá và góp phần làm rõ một số vấn đề lý thuyết về FDI
và thu hút FDI; phân tích, đánh giá những thành công, nhữngbất cập còn tồn tại trong hoạt động thu hút FDI vào ngànhcông nghiệp tỉnh Bắc Ninh, qua đó đề xuất các giải pháp tíchcực tăng cường thu hút FDI vào phát triển ngành công nghiệpcủa tỉnh Bắc Ninh
Đề tài của Nguyễn Văn Duân (2014): “Đầu tư nước
ngoài tại tỉnh Bắc Giang” - Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường
Trang 13Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội Đề tài nghiên cứu đầu tưtrực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2009-
2014 Đề tài đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản vềđầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó đã đề xuất một số giảipháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địabàn tỉnh Bắc Giang
Công trình đã đề cập đến vấn đề thu hút vốn FDI tại tỉnhBắc Giang, công trình này mới chỉ nghiên cứu những vấn đề
lý luận cơ bản về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàthực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnhBắc Giang, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang,nhưng đề tài chưa đi sâu, tập trung nghiên cứu có hệ thống vềhoạt động thu hút, triển khai các vốn FDI vào tỉnh Bắc Giang
để làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng tới nền công nghiệp
sử dụng công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao vị thế của tỉnh
và thời gian nghiên cứu chỉ đến năm 2006, trước khi ViệtNam gia nhập WTO
Tác giả Nguyễn Hải Đăng, 2013 có công trình: “Đầu tư
của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quôc tế” Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại
Trang 14học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội Luận án đã khái quát và hệ thốnghóa cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như các kháiniệm, hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; lý thuyết vềĐTRNN, tính tất yếu của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của cácnước đang phát triển; mục tiêu ĐTRNN của các doanh nghiệp
và những nhân tố ảnh hưởng; tác động của đầu tư trực tiếp ranước ngoài
Trên cơ sở khái quát kinh nghiệm về đầu tư trực tiếp ranước ngoài của một số quốc gia và một số công ty xuyên quốcgia, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam và công tác quản lý ĐTRNN ở nước ta.Luận án đã khái quát về quá trình hội nhập và hệ thống pháp lýcủa Việt Nam về ĐTRNN; khái quát và phân tích được thựctrạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Namtheo thời gian, địa bàn, lĩnh vực, hình thức, chủ thể đầu tư; đisâu phân tích những lợi ích của hoạt động ĐTRNN đối vớidoanh nghiệp và lợi ích của đất nước;phân tích những hạn chếcủa các doanh nghiệp Việt Nam và của Nhà nước trong hoạtđộng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đồng thời phân tích và chỉ
rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến những thành công và hạnchế đó trêncơ sởkhái quát bối cảnh kinh tế trong nước, quốc tế,
Trang 15dự báo xu thế, những thuận lợi, khó khăn đối với hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trongthời gian tới, luận án đã xác định mục tiêu, đưa ra các quanđiểm, định hướng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài củadoanh nghiệp Việt Nam Luận án đã đề xuất các nhóm giảipháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi đểnâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanhnghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài để đảm bảo lợi ích chung của đất nước
Như vậy, cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiêncứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề ĐTRNN nóichung, đầu tư của các doanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên, chođến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,toàn diện và cập nhật về ĐTRNN của Tập đoàn Viettel theocách tiếp cận của khoa học quản lý kinh tế, từ vấn đề hoạchđịnh, chính sách phát triển, đến vấn đề tổ chức thực hiện đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Đây là khoảng trốngkhoa học mà luận văn này tập trung giải quyết
Quản lý đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp
Khái niệm
Trang 16Đầu tư ra nước ngoài
ĐTRNN là phương thức đầu tư vốn và tài sản ở nướcngoài, để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mụcđích kiếm lợi nhuận và mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.Dưới góc độ tài chính quốc tế thì đó là sự chuyển một luồngvốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh vớimục đích là kiếm lợi nhuận cao
ĐTRNN bao gồm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp:Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là hình thức đầu tư ranước ngoài dưới hình thức mua, bán chứng khoán, các giấy tờ
có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứngkhoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức đầu tư dàihạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằngcách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công tynước ngoài đó sẽ nắm quyền điều hành, quản lý cơ sở sảnxuất kinh doanh này nhằm mục đích thu lợi nhuận
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 78/2006/NĐ-CP củaChính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, thì đầu
Trang 17tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốnĐTRNN để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham giaquản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài
Bản chất của của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là sự dichuyển một khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữacác quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao hơn Đó chính là hìnhthức xuất khẩu tư bản để thu lợi nhuận cao Do đi kèm vớiđầu tư vốn là đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nênhình thức này thúc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở các nước nhận đầu tư
Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa haihay nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định tráchnhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiếnhành kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới
Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia haybên hợp doanh là nước nhận đầu tư, hợp đồng này khác vớihợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách
Trang 18nhiệm của các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng không ápdụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sảnphẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác khôngphân chia lợi nhuận Nội dung chính của hợp đồng này baogồm:
Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bênhợp danh
Mục tiêu và phạm vi kinh doanh
Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụsản phẩm trong nước
Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh
Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quảkinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng
Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh đượcphép thỏa thuận thành lập ban điều phối để theo dõi giám sátcông việc thực hiện hợp đồng, những ban điều phối khôngphải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh Mỗi bên hợpdoanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trướcpháp luật và có nghĩa vụ tài chính tùy theo bên nước nhận đầu
Trang 19tư quy đình Trong quá trình hoạt động các bên hợp doanh đượcquyền chuyển nhượng vốn cho các đối tượng khác nhưng cũngphải ưu tiên cho đối tượng đang hợp tác
Hình thức này có đặc điểm:
Hai bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồngphân định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi
Thời hạn hợp đồng do hai bên thỏa thuận
Vấn đề nguồn vốn kinh doanh không nhất thiết phải đềcập trong bản hợp đồng
Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Hình thức doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinhdoanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau.Trên cơ sở góp vốn cùng kinh doanh, nhằm thực hiện cam kếttrong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp liêndoanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư.Nhiều công ty thâm nhập thị trường nước ngoài bằng cáchxây dựng một liên doanh với những công ty đóng tại thịtrường đó Hầu hết các liên doanh cho phép hai công ty tậndụng được các lợi thế so sánh tương đối riêng của chúng trong
Trang 20một đề án nhất định Chẳng hạn hãng General Mill tiến hànhliên doanh với Nestle SA, nhờ đó ngũ cốc được General Millsản xuất có thể bán ra nước ngoài thông qua mạng lưới phânphối bán hàng do Néstle thiết lập Hãng Xerox và Fuji củanhật đã tiến hành một liên doanh cho phép Xerox thâm nhậpvào thị trường nhật và cho phép Fuji tham gia vào kinh doanhPhotocopy.
Hình thức này có đặc điểm:
Về pháp lý: Hình thức liên doanh là một pháp nhân của
nước nhận đầu tư Hoạt động theo luật pháp của nước nhậnđầu tư Hình thức liên doanh do các bên tự thỏa thuận, phùhợp với các quy định của luật pháp của nước nhận đầu tư.Như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm vôhạn, các hiệp hội góp vốn… Quyền lợi và nghĩa vụ của cácbên và quyền quản lý Doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc vàotỷ lệ góp vốn và được ghi trong hợp đồng liên doanh và điều
lệ của doanh nghiệp
Về tổ chức: Hội đồng quản trị của doanh nghiệp là mô
hình chung cho mọi doanh nghiệp liên doanh, không phụ
Trang 21thuộc vào quy mô, lĩnh vực, ngành nghề Đây là cơ quan lãnhđạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh.
Về kinh tế: Luôn có sự gặp gỡ và phân chia lợi ích giữa
các bên trong liên doanh và cả các bên đứng phía sau các liêndoanh Đây là vấn đề hết sức phức tạp
Điều hành sản xuất kinh doanh: Quyết định sản xuất
kinh doanh dựa vào các quy định pháp lý của nước nhận đầu
tư về việc vận dụng nguyên tắc nhất trí hay quá bán
Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài: Doanh nghiệp
có 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh quốc tế
có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đónggóp 100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn vềkết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm cơ bản của hình thức này là:
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một pháp nhâncủa nước nhận đầu tư nhưng toàn bộ doanh nghiệp lại thuộc
sở hữu của người nước ngoài Hoạt động sản xuất kinh doanhtheo nước nhận đầu tư và điều lệ của doanh nghiệp Hình thứcpháp lý của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do nhà đầu
Trang 22tư nước ngoài lựa chọn trong khuôn khổ của pháp luật Quyềnquản lý doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài hoàn toànchịu trách nhiệm
Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp Phần kết quả của doanh nghiệp sau khihoàn thành nghĩa vụ tài chính với nước sở tại là thuộc sở hữuhợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài
Nhà đầu tư nước ngoài tư nước ngoài tự quyết định cácvấn đề các vấn đề trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan
để kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ củapháp luật cho phép
Ngoài ra, tùy từng quốc gia có thể có các hình thức đầu
tư trực tiếp khác như hình thức BOT; BTO; BT; Hình thứccho thuê - bán thiết bị; công ty cổ phần; công ty quản lý vốn
ĐTTTRNN là một hình thức đầu tư quốc tế, đưa vốn ranước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh vớinhiều mục đích khác nhau, có thể mục đích lợi nhuận hay mộtmục đích chính trị nào khác Nó có một số đặc điểm như sau:
Trang 23Thứ nhất, nguồn vốn ĐTTTRNN có đặc điểm khác với
các nguồn vốn khác với các nguồn vốn đầu tư trong nước khác
là việc xuất các nguồn vốn này không phải là một hình thứccho vay Đây không phải là một nguồn nợ đối với nước nhậnvốn đầu tư Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạtđộng của nguồn vốn Thay vì nhận được lãi suất trên vốn đầu
tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án đầu tư hoạt động có hiệu quả
Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc
tham gia quản lý và điều hành quá trình thực hiện và vận hành
dự án đầu tư tùy theo tỷ lệ góp vốn
Thứ ba, vốn đầu tư trực tiếp bao gồm vốn góp để hình
thành vốn pháp định, vốn vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuậncủa doanh nghiệp để triển khai, mở rộng dự án
Thứ tư, thông qua vốn đầu tư của doanh nghiệp, nước
tiếp nhận vốn có thể tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ thuậttiến tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước đi đầu tưhoặc là nước đi đầu tư sẽ tận dụng được sự phát triển củanước nhận đầu tư về nguồn nhân lực trình độ cao, cơ sở hạtầng phát triển, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại… Tạo
Trang 24mọi điều kiện thuận lợi mà bên trong nước của chủ đầu tưkhông có được hoặc yêu cầu của dự án cần nền tảng tươngthích mới có thể phát triển được.
ĐTRNN có vai trò rất lớn đối với cả nhà đầu tư và đốivới nơi thu hút đầu tư Đối với doanh nghiệp ĐTRNN:
Một là, tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực tài chính của doanh nghiệp
ĐTRNN là hình thức luân chuyển vốn dư thừa tương đốitrong nước ra nền kinh tế khác ở nước ngoài Nó giải quyếtđược vấn đề sử dụng số vốn thừa tương đối này sao cho cóhiệu quả cao nhất… Việc mở rộng và phát triển hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc dichuyển các nguồn lực ra khỏi phạm vi của một quốc gia, vớimột phạm vi rộng hơn và môi trường khác hơn đó là trên bìnhdiện quốc tế Trong môi trường đó các nhà đầu tư có thể lựachọn môi trường và lĩnh vực ĐTRNN có lợi nhuận cao hơnđầu ở trong nước
Hai là, ĐTRNN tạo cơ hội mở rộng thị trường kinh
doanh, tăng cường học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, nâng vịthế hình ảnh của doanh nghiệp đầu tư trên thị trường quốc tế
Trang 25Khi ĐTRNN thì sẽ có cơ hội cung ứng sản phẩm sảnxuất của doanh nghiệp mình tại nước sở tại một cách hợppháp, dễ dàng và không chịu các điều kiện ràng buộc ngặtnghèo khi xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phải chịu Đây là điềukiện tốt để thâm nhập sâu vào thị trường nội địa của nước sởtại, mở rộng thị trường tiêu thụ Khi đầu tư vào một nước pháttriển, với cơ sở vật chất và điều kiện hiện đại, tác phong côngnghiệp Đây là cơ hội tốt để hoàn thiện phương cách quản lýhiện đại của doanh nghiệp mà trong nước không có điều kiện
áp dụng, học tập cơ chế quản lý hiện đại
Ba là, thúc đẩy doanh nghiệp nhanh chóng hội nhập vào
nền kinh tế thế giới
Ngày nay, khu vực hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế
đã trở thành xu thế mang tính thời đại Mở rộng đa phươnghóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hộinhập quan hệ kinh tế quốc tế Việc mở rộng hợp tác quốc tếnhằm mục đích kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tốnước ngoài và khai thác các có hiệu quả nguồn lực ngoài nướcphục vụ cho sự phát triển DN của mỗi quốc gia Việc tiếnhành hoạt động ĐTRNN giữa của DN dẫn đến sự di chuyểncác nguồn lực tài chính từ các quốc gia này sang quốc gia
Trang 26khác Hay nói cách khác thông qua hoạt động đầu tư giữa cácnước với nhau các nguồn tài chính được phân phối trên phạm
vi thế giới, có tác động tích cực tới DN Các nguồn lực dichuyển không chỉ là vốn mà DN có thể có thể tranh thủ đượccông nghệ, kỹ thuật tiên tiến, giải quyết được vấn đề laođộng…
Đối với Việt Nam, xuất phát từ tình hình ĐTRNN củacác doanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua, có thểkhẳng định rằng hoạt động ĐTRNN đang là một xu hướng tấtyếu của các nhà đầu tư Khi chuyển hướng hoặc mở rộngĐTRNN sẽ giúp nhà đầu tư khai thác được lợi thế so sánh củacác nước tiếp nhận đầu tư Cụ thể: Các doanh nghiệp khaithác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư,qua đó tận dụng được chi phí sản xuất thấp của nước tiếpnhận đầu tư để sản xuất những sản phẩm có giá thành hạ hơn
so với sản phẩm sản xuất trong nước, giảm được chi phí vậnchuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu củanước tiếp nhận đầu tư, nhờ đó nâng cao hiệu quả đầu tư; Giúpcác nhà đầu tư Việt Nam mở rộng được thị trường tiêu thụ sảnphẩm, kéo dài chu kì sống của sản phẩm mới tạo ra trongnước; Tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi
Trang 27dào, ổn định và giá rẻ; Tránh được hàng rào thuế quan củanước tiếp nhận đầu tư; Qua đó, mang về cho đất nước mộtlượng ngoại lệ đáng kể góp phần vào công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH.
Hiện nay, Luật Đầu tư đã có những quy định thôngthoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ĐTRNN Cácđiều kiện về “tính khả thi” của dự án ĐTRNN và “năng lực tàichính” của nhà đầu tư đã được gỡ bỏ, các nhà đầu tư chỉ cònphải đáp ứng một số điều kiện mang tính chất nghiệp vụ dướigóc đô quản lý nhà nước và đảm bảo cho hoạt động đầu tưđược hiệu quả Theo đó điều kiện ĐTRNN được quy địnhtương ứng với hình thức đầu tư mà nhà đầu tư lựa chọn
Căn cứ theo điều 76, Luật đầu tư năm 2014 để đượcĐTRNN theo hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư phải cócác điều kiện sau đây:
Có dự án ĐTRNN;
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhànước Việt Nam;
Trang 28Được cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp Giấy chứngnhận đầu tư.
Quản lý đầu tư ra nước ngoài
Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mụcđích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thểquản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt đượccác mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật
Như vậy, từ nội hàm của quản lý kinh tế nói trên, chúng
ta có thể hiểu:
Quản lý ĐTRNN là sự tác động có tổ chức và bằng phápquyền của chủ thể quản lý lên các chủ thể đầu tư nhằm đảmbảo cho hoạt động ĐTRNN phát triển theo quy định, chủđộng phối hợp mục đích riêng của từng doanh nghiệp nhằmđạt tới mục đích chung của nền kinh tế và của doanh nghiệp
Đầu tư nói chung, đặc biệt là ĐTRNN luôn hàm chứayếu tố rủi ro, do vậy, đòi hỏi các chủ đầu tư cần đặc biệt quantâm tới công tác quản lý hoạt động này Mục đích của hoạtđộng quản lý là nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao
Trang 29hiệu quả kinh tế, xã hội mà các dự án đầu tư mong muốnhướng tới.
Nội dung quản lý
- Hoạch định đầu tư
ĐTRNN của doanh nghiệp được thực hiện trước hếtthông qua việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch và dự ánĐTRNN để định hướng các doanh nghiệp theo đúng mục tiêuphát triển của DN và của nền kinh tế đất nước
Chiến lược là hệ thống các quan điểm, các mục đích vàcác mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, các chính sách nhằm
sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế và cơ hội củadoanh nghiệp để đạt được các mục tiêu đề ra trong một thờigian nhất định
Chiến lược ĐTRNN của doanh nghiệp là tổng hợp cácmục tiêu dài hạn, các giải pháp lớn về đầu tư sản xuất, về kinhdoanh, về tài chính và về nhân tố con người nhằm đưa hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài phát triểnlên một trạng thái mới cao hơn về chất Chiến lược ĐTRNNcủa doanh nghiệp là chiến lược nhằm đảm bảo sự thành công
Trang 30của doanh nghiệp khi mở rộng đầu tư, mở rộng thị trường ranước ngoài Chiến lược ĐTRNN của doanh nghiệp xác địnhnhững định hướng của tổ chức trong dài hạn nhằm hoàn thànhnhiệm vụ, đạt được các mục tiêu tăng trưởng Trên cơ sởchiến lược, các tổ chức trong doanh nghiệp sẽ triển khai chiếnlược theo kế hoạch riêng của mình.
Kế hoạch của doanh nghiệp bao gồm: kế hoạch ngắn hạn
và kế hoạch dài hạn Kế hoạch dài hạn thường được doanhnghiệp xây dựng cho giai đoạn 5 năm, hướng tới mục tiêuchiến lược ĐTRNN Hàng năm doanh nghiệp xây dựng kếhoạch ĐTRNN
Trong mỗi kế hoạch, trên cơ sở đánh giá thực trạng, tiềmnăng, cùng với dự báo các nhân tố tác động, doanh nghiệp xácđịnh các chỉ tiêu kế hoạch ngắn hạn và dài hạn
Trong chiến lược ĐTRNN phải thể hiện được quyết tâmcao, mục tiêu tương xứng với yêu cầu, quảng bá thương hiệu,
mở rộng thị trường sản xuất, tạo điều kiện thu được nhiềuhiệu quả hơn từ hoạt động sản xuất kinh doạnh Chiến lượcĐTRNN là cơ sở để xây dựng kế hoạch đầu tư theo ngành vàvùng lãnh thổ cần đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp
Trang 31Do đó, việc xây dựng chiến lược, kế hoạch ĐTRNN cần phải
có tính động, không khép kín mà phải mang tính hợp pháp, cótính đến tiềm năng, lợi thế và nguồn lực sẵn có của doanhnghiệp Chiến lược ĐTRNN của doanh nghiệp thường gồm:Chiến lược thâm nhập thị tru ̛ờng; Chiến lược mở rọ ̂ng thịtrường; Chiến lược phát triển sản phẩm; Chiến lược đa dạnghoá đầu tư…
Để xây dựng chiến lược, kế hoạch ĐTRNN, doanhnghiệp phải xác định được sứ mệnh của doanh nghiệp, phântích điểm mạnh yếu của mình và đưa ra các phương án lựachọn chiến lược Sứ mệnh của doanh nghiệp là một khái niệmdùng để chỉ mục đích của doanh nghiệp, lý do và ý nghĩa của
sự ra đời và tồn tại của nó Sứ mẹ ̂nh của doanh nghiệp chính
là bản tuyên ngôn của doanh nghiệp đối với xã hội, nó chứngminh tính hữu ích của doanh nghiệp đối với xã hội Thực chấtbản tuyên bố về sứ mệnh của doanh nghiệp tập trung làm sáng
tỏ một vấn đề hết sức quan trọng: “Công việc kinh doanh củadoanh nghiệp nhằm mục đích gì?”
Với việc phân tích môi trường nội bộ và môi trường bênngoài của doanh nghiệp, các mặt mạnh doanh nghiệp có thể là
Trang 32các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế mà doanh nghiệp cóđược hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh Những mạ ̆t yếu củadoanh nghiệp thể hiện ở những thiếu sót hoặc nhược điểm vềnguồn nhân lực hay các yếu tố hạn chế na ̆ng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp, mạng lưới phân phối kém hiệu quả, sảnphẩm lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh.
- Xây dựng chính sách đầu tư ra nước ngoài
Các chính sách là công cụ quản lý chủ yếu của cấp quản
lý can thiệp vào các hoạt động đầu tư, nhằm duy trì, phát triểnhoạt động đầu tư của doanh nghiệp, khắc phục tác động tiêucực của nó đảm bảo cho hoạt động đầu tư đạt hiệu quả cao vàphát triển bền vững
Mục tiêu cuối cùng của chính sách ĐTRNN của doanhnghiệp là đảm bảo khả năng thực hiện thành công mục tiêuđầu tư với kết quả cao nhất, chi phí thấp nhất Có nhiều mụctiêu, có mục tiêu trước mắt, có mục tiêu lâu dài, có mục tiêuđược thể hiện bằng các chỉ tiêu định lượng, định tính
Trên thực tế, có rất nhiều chính sách được sử dụng đểnâng cao hiệu quả ĐTRNN của doanh nghiệp, tiêu biểu như
Trang 33một số chính sách sau:
Chính sách huy động và sử dụng vốn
Gồm các định hướng về quy mô và nguồn hình thànhvốn cho đầu tư, về huy động và sử dụng có hiệu quả cácnguồn vốn hiện có để thực hiện mục tiêu đề ra Chính sách tàichính bao gồm các nội dung: Lựa chọn kênh huy động vốn,lựa chọn phương thức huy động vốn, quản lý vốn, mục tiêudoanh thu, mục tiêu lợi nhuận, lựa chọn tăng giảm thu chi tiềnmặt, lựa chọn tự làm hay thuê ngoài để đưa ra quyết định đầutư…
Chính sách nguồn nhân lực
Nhằm xác định quy mô, cơ cấu và yêu cầu chất lượnglao động ứng với chiến lược đầu tư đã xác định Chất lượngnguồn nhân lực ảnh hưởng lớn đối với hoạt động ĐTRNN của
DN Nếu nhân lực yếu kém, không được đào tạo thì hạn chếtrong việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới,trình độ ngoại ngữ yếu, hạn chế năng suất, chất lượng và hiệuquả đầu tư
Vấn đề tổ chức nguồn nhân lực giữ vai trò rất quan
Trang 34trọng, nó phụ thuộc vào trình độ nhận thức và quản lý của độingũ lãnh đạo cấp cao của DN, quyết định đến việc làm sao đểthực hiện được các chiến lược kinh doanh một cách hiệu quảnhất Các nhà quản lý cần được luôn luôn bồi dưỡng, nângcao kiến thức quản lý kinh doanh trong cơ chế thị trường,nâng cao năng lực điều hành DN đảm bảo sự phát triển bềnvững.
Đối với doanh nghiệp ĐTRNN, sử dụng nguồn nhân lựcnào là vấn đề cần được quan tâm và phải có chính sách phùhợp
Chính sách marketing
Chức năng marketing của một tổ chức đóng vai trò quantrọng trong việc theo đuổi lợi thế cạnh tranh bền vững.Marketing được định nghĩa là một quá trình đánh giá và đápứng các nhu cầu và mong muốn của cá nhân hoặc của nhómngười bằng cách tạo ra, cung cấp và trao đổi các sản phẩm cógiá trị Hai yếu tố quan trọng nhất trong marketing là kháchhàng và đối thủ cạnh tranh Chính sách marketing của một tổchức đều nhằm vào việc quản lý có hiệu quả hai nhóm này.Các chính sách marketing chính bao gồm thị trường phân
Trang 35đoạn hoặc thị trường mục tiêu, dị biệt hóa, xác định vị trí vàcác quyết định chính sách marketing phối hợp.
Chính sách đãi ngộ, bao gồm chính sách tiền lương,thưởng, chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến… Đây là nhữngchính sách khuyến khích đầu tư hiệu quả của doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện đầu tư
Sau khi được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhậnĐTRNN, các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư trên cácquốc gia có dự án được đã ký kết Trong quá trình thựcĐTRNN, các doanh nghiệp chuyển vốn đầu tư bằng tiền vàcác tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tưtheo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối sau khi dự
án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền của nước, vùng lãnhthổ đầu tư chấp thuận Bên cạnh đó, doanh nghiệp ĐTRNNđược hưởng các ưu đãi về đầu tư theo quy định của pháp luật
và tuyển dụng lao động sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinhdoanh do nhà đầu tư thành lập ở nước ngoài
Trong quá trình đầu tư ở nước ngoài, các doanh nghiệpphải tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Chuyển lợinhuận và các khoản thu nhập từ việc ĐTRNN về nước theo
Trang 36quy định của pháp luật Ngoài ra, các doanh nghiệp phải thựchiện chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt động đầu tư
ở nước ngoài; Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối vớiNhà nước Khi kết thúc đầu tư ở nước ngoài, chuyển toàn bộvốn, tài sản hợp pháp về nước theo quy định của pháp luật.Trường hợp nhà đầu tư chưa chuyển về nước vốn, tài sản, lợinhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài theoquy định thì phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động đầu tư
Việc tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng; qua thanhtra, kiểm tra cấp trên, các cơ quan chức năng, các cơ quan bảo
vệ pháp luật sẵn sàng vào cuộc khi có dấu hiệu để tìm ra, ngănchặn, xử lý những sai phạm, từ đó làm cho hoạt động ĐTRNNcủa doanh nghiệp được thực hiện theo đúng quỹ đạo, hiệu quả,lành mạnh
Mục đích của thanh, kiểm tra, giám sát:
Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của chiến lược, các cơ chếchính sách ĐTRNN của doanh nghiệp