1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu THỰC TIỄN về PHÁT TRIỂN THƯƠNG mại BIÊN GIỚI

63 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 55,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Các nghiên cứu liên quan đến phát triển thương mại biên giới của Việt Nam.Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, 2007 thực hiện nghiên cứu về Hội nhập kinh tế ASEAN – Trung Quốc, trong

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG

MẠI BIÊN GIỚI

Trang 2

và cực tăng trưởng trong các vùng cụ thể Ngoài ra, nghiêncứu này còn phân tích về các nguồn lực phát triển, năng lựcthương mại và chỉ ra được những lợi thế so sánh trong việcđịnh hình phát triển vùng là cần thiết trong việc hoạch định kếhoạch phát triển vùng để từ đó hình thành các đặc khu kinh tế.

Báo cáo “Cross-border trade within the Central Asia:

Trang 3

Regional Economic Cooperation” của World Bank, 2007 đã

phân tích thương mại biên giới ở Trung Á và cho rằng thương

mại biên giới ở khu vực này có một số các đặc thù Thứ nhất,

thương mại biên giới được thực hiện chủ yếu bởi các thươngnhân, cá nhân và các hộ gia đình nhỏ lẻ, thường là thương

nhân và cá nhân ở các địa phương biên giới Thứ hai, khối

lượng hàng hoá buôn bán thông qua thương mại biên giới

thường nhỏ Thứ ba, các loại hàng hoá thường được buôn bán

là hàng nông sản và hàng tiêu dùng Thứ tư, các thương nhân

nhỏ thường sử dụng xe đạp, ô tô nhỏ hoặc đi bộ trong thươngmại biên giới; các thương nhân thường không cần có các xetải lớn do khối lượng buôn bán nhỏ và khoảng cách thương

mại gần Thứ năm, tồn tại chêch lệch về giá cả ở vùng biên

giới của các quốc gia do khối lượng buôn bán quá nhỏ, không

đủ để làm giá cả cân bằng giữa các biên giới Bên cạnh đó còn

có các lý do khác như hàng rào thương mại, các chính sáchcủa chính phủ ở các vùng biên giới, các hình thức thanh toánkhông chính thức ở vùng biên giới, chi phí vận chuyển

Nghiên cứu “Integration Strategies and Barriers to

Co-Operation in Cross-Border Regions: Case Study of the Oresund Region”, Journal of Borderlands Studies của Povlot

Trang 4

và Goren, 2007 chỉ ra rằng các hình thức hợp tác kinh tế biêngiới đã được phát triển và khá phổ biến trên thế giới, thôngqua nghiên cứu về mô hình hợp tác khu vực cửa khẩu giữaĐan Mạch và Thụy Điển của vùng Oresund Khu vực xuyênquốc gia này có dân số 3,6 triệu người, trong đó có 2,4 triệungười ở phía Đan Mạch trên diện tích 9.782 km2, và phíaThụy Điển có diện tích 10.914 km2 Động lực của sự hợp tácnày là cuộc khủng hoảng kinh tế và sự cần thiết phải xây dựngmột chiến lược tăng trưởng kinh tế khu vực để giúp cho cả haiphía cùng nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực và trênthế giới Cả hai chính quyền trung ương đều ủng hộ quá trìnhhợp tác này và hỗ trợ đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông.Chính quyền địa phương của cả hai bên đều có các đại diện vàcác tổ chức tương đương Bên cạnh đó, một số tổ chức phichính thức như Hội đồng kinh doanh, Phòng thương mại…tạo nên diễn đàn hợp tác và cung cấp các tư vấn về luật vàchính sách cho các cơ quan chức năng.

Đề tài nghiên cứu cấp bộ của Nguyễn Thị Kim Dung,

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương : “Những vấn đề

lý luận và thực tiễn trong xây dựng cơ chế chính sách và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu

Trang 5

trên bộ phía Bắc Việt Nam”, 1999 đã khẳng định giao lưu

kinh tế qua biên giới là sự thể hiện xu thế hội nhập kinh tếgiữa các nước gần nhau về vị trí địa lý, thực hiện mục tiêu mởrộng hợp tác kinh tế giữa các nước láng giềng Đồng thờitrong đề tài cũng nêu lên rằng, hoạt động giao lưu kinh tế quacửa khẩu cũng là một yếu tố cấu thành của các hoạt động kinh

tế đối ngoại Việc phát triển giao lưu đó mang lại lợi ích kinh

tế đáng kể thông qua đẩy mạnh các hoạt động thương mại quabiên giới đồng thời cũng để thực hiện chủ trương cải cáchkinh tế của Đảng là khẳng định nguyên tắc độc lập, chủquyền, bình đẳng và cùng có lợi trong phát triển kinh tế đốingoại; đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đốingoại; khai thác có hiệu quả lợi thế trong phân công lao độngquốc tế

Nguyễn Văn Lịch, 2002 Một số giải pháp nhằm phát

triển thương mại hàng hóa Việt Nam-Lào qua biên giới trên

bộ thời kỳ đến 2005 Viện Nghiên cứu thương mại, Đề tài

nghiên cứu cấp Bộ đã phân tích một số đặc điểm của hoạtđộng thương mại hàng hoá qua biên giới nói chung Tác giả

cho rằng thương mại biên giới có những đặc điểm sau Thứ

nhất, thương mại biên giới mang tính địa phương, khu vực.

Trang 6

Thứ hai, thương mại biên giới mang tính bổ sung lẫn nhau Thứ ba, thương mại hàng hoá là phương thức chủ yếu của

thương mại biên giới Thứ tư, thương mại biên giới mang tính lựa chọn song hướng Thứ năm, thương mại biên giới có tính

phân tán, quy mô nhỏ nhưng linh hoạt

- Các nghiên cứu liên quan đến phát triển thương mại biên giới của Canada và Mexico

Cuốn sách “Quan hệ Canada - Mỹ: Những bài học kinhnghiệm” (Học viện Quan hệ quốc tế, 2006) của Vụ châu Mỹ,

Bộ ngoại giao Cuốn sách này khẳng định giữa hai nước cónhiều điểm tương đồng về lịch sử, chính trị và văn hóa, nhưngtương quan so sánh lực lượng giữa hai nước rất chênh lệch,

Mỹ luôn mạnh hơn Canada nhiều lần Những đặc điểm địa lý,lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa này có tác động sâu sắcđến quan hệ giữa Canada và Mỹ Các tác giả cũng đề cập rất

cụ thể các bài học kinh nghiệm của Canada trong ứng xử quan

hệ với Mỹ, đó là: tìm đối trọng với Mỹ để giữa vững độc lập,chủ quyền và đảm bảo an ninh quốc gia; xây dựng khuôn khổquan hệ hòa bình, hợp tác, ổn định với Mỹ và tạo ra lợi íchđan xen giữa hai nước; vừa hợp tác vừa đấu tranh hòa bình

Trang 7

với Mỹ Cuốn sách này có thể tham khảo để hiểu rõ hơn vềquan hệ Canada - Mỹ, trong đó có quan hệ thương mại

Trong bài viết “Quan hệ năng lượng Canada - Mỹ” củaNguyễn Khánh Vân đăng tải trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay

số 7 năm 2008, tác giả nhận định thương mại năng lượngđóng vai trò quan trọng trong hoạt động trao đổi buôn bángiữa hai quốc gia Kim ngạch buôn bán năng lượng với Mỹchiếm tỷ trọng lớn trong tổng xuất khẩu của Canada, vàngược lại, Canada cũng là đối tác quan trọng của Mỹ tronghoạt động trao đổi năng lượng Tác giả cũng có đánh giá tổngthể triển vọng mối quan hệ năng lượng Canada - Mỹ giai đoạn

2010 - 2020, trong đó quan hệ năng lượng giữa hai nước dựatrên những cơ sở vững chắc giữa một quốc gia có nguồn cungứng năng lượng dồi dào và một quốc gia có nhu cầu sử dụngnăng lượng lớn nhất thế giới Nguyễn Thiết Sơn trong bàiviết “Canada: Một nền kinh tế phát triển cao” (Tạp chí Châu

Mỹ ngày nay, Số 5/1998) đã khái quát về nền kinh tế Canada,quan hệ kinh tế Canada - Mỹ và vai trò của kinh tế Canadatrên thế giới Trong đó, tác giả có đề cập: phần lớn xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ của Canada được thực hiện với Mỹ: Mỹchiếm trên 80% giá trị xuất khẩu hàng hoá của Canada, và

Trang 8

cung cấp khoảng 75% giá trị hàng hoá nhập khẩu của Canada.Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ lệ này có xu hướng giảm do cả hainước đều thực hiện chính sách đa dạng hóa đối tác thươngmại Có nhiều vấn đề nổi lên trong mọi lĩnh vực như tranh cãi

về thương mại, làn sóng nhập cư và hợp tác quân sự Đặc biệt,điều luật “Mua hàng Mỹ” của Tổng thống Barack Obama đã

bị Canada và Mexico phản đối kịch liệt và cho rằng đó thựcchất là chủ nghĩa bảo hộ Việc công khai yêu cầu các dự ánxây dựng phải mua sản phẩm công ty Mỹ là sự vi phạmnghiêm trọng NAFTA Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu,chủ nghĩa bảo hộ nổi lên ở tất cả các nước; dự luật này là điểnhình của chủ nghĩa bảo hộ, quy định chỉ được mua hàng sảnxuất trong nước đối với các công trình phục hồi kinh tế sửdụng các gói kích thích của chính phủ Dự luật này tác độngmạnh nhất đến Canada Nhiều xung đột khác còn liên quanđến tình trạng nhập cư và vận tải hàng hoá giữa ba nước Bắc

Mỹ Bài viết “Một số nhân tố tác động đến quan hệ thươngmại Canada - Mỹ trong thập kỷ qua” của nghiên cứu sinh,đăng tải trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 3 năm 2012 phântích các nhân tố khách quan cũng như chủ quan tác động đếnquan hệ thương mại hai nước Đặc biệt tương đồng, khác biệt

Trang 9

giữa kinh tế Canada và Mỹ, khả năng bổ sung lẫn nhau giữahai nền kinh tế tác động mạnh đến quan hệ thương mại giữahai nước Bài viết này mới chỉ dừng lại ở phân tích các nhân

tố chủ yếu tác động đến quan hệ thương mại Canada - Mỹ màchưa đề cập đến thực trạng và triển vọng quan hệ

Thực trạng quan hệ thương mại Canada - Mỹ được thểhiện trong bài tạp chí “Thực trạng quan hệ thương mạiCanada - Mỹ trong thập kỷ qua” của nghiên cứu sinh đăng tảitrên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 9/2012 Quan hệ trong lĩnhvực kinh tế thương mại giữa Canada và Mỹ là thể hiện rõ nétnhất của quy mô hội nhập sâu rộng giữa hai nước Mối quan

hệ thương mại song phương giữa Canada và Mỹ ngày càngphát triển dựa trên cả lịch sử quan hệ lâu dài giữa hai nước,địa lý có chung đường biên giới thuận lợi cho giao thươngkinh tế hai nước cùng phát triển mạnh mẽ Tác giả NguyễnTuấn Minh (2013) trong bài viết “Quan hệ kinh tế xuyên biêngiới Hoa Kỳ - Canada” (Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 11) đềcập đến thực trạng hợp tác kinh tế xuyên biên giới giữa hainước và việc hai nước quản lý hợp tác xuyên biên giới nhưthế nào để phát huy được tối đa lợi ích mang lại từ mối quan

hệ kinh tế này Các bài viết về quan hệ đầu tư của Mỹ tại

Trang 10

Canada và đầu tư của Canada tại Mỹ của tác giả Bùi ThànhNam trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay số 8/2014 (tr 9-17), và

số 3/2015 (tr3-11) đã cho thấy bức tranh tổng thể về quan hệđầu tư song phương trong thập kỷ qua Tác giả cũng đề cậpđến cơ sở hội nhập và pháp lý của quan hệ kinh tế Canada -

Mỹ Đây được xem là cơ sở tốt đẹp cho quan hệ thương mạigiữa hai nước phát triển

Trong bài viết “Tự do thương mại và môi trường,Mexico, hiệp định NAFRA và hơn thế nữa” của KevinP.Gallagher, người dịch Nguyễn Lan Hương viện nghiên cứuchâu Mỹ đăng tải trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 10 năm

2004, Tác giả nhận định việc Mexico ban hành những quyđịnh luật pháp nghiêm ngặt về môi trường và cưỡng chế thứchiện chúng đã mang lại những hiệu quả cao và không làmnguy hại đến việc tiếp cận những nguồn vốn đầu tư từ nướcngoài

Trong bài viết “Vai trò vốn đầu tư nước ngoài ở Mexico”của PGS.TS Phan Huy Đường được đăng trên Tạp chí Châu

Mỹ ngày nay, số 132 năm 2009 đã phân tích những kinhnghiệm của Mexico trong việc sử dụng vốn đầu tư và huy động

Trang 11

vốn đầu tư từ Mỹ trong việc xây dựng và phát triển kinh tế đấtnước.

Trong bài viết “Mexico sau 10 năm khủng hoảng tàichính Tequila” của tác giả Trịnh trọng Nghĩa được đăng trêntạp trí Châu Mỹ ngày nay số 1 năm 2006 Tác giả đã phân tíchviệc Mexico khai thác triệt để mối quan hệ thương mại với Mỹ

đã mang lại những thành tưu to lớn cho Mexico, đưa nước nàytrở thành nước có nền kinh tế phát triển và thu nhập bình quânđầu người thuộc nhóm đầu của thế giới

Trong bài tham luận “Chính sách quản lý thương mạibiên giới Canada-Mỹ và hàm ý cho Việt Nam” của nhóm tácgiả Vũ Thanh Hương, Vũ Văn Tú, Trường Đại học Kinh tếĐại học quốc gia Hà Nội và bài tham luận “Các chính sách vàsáng kiến thúc đẩy thương mại biên giới Mỹ-Mexico và bàihọc kinh nghiệm đối với Việt Nam” của nhóm tác giả NguyễnAnh Thu, Nguyễn thị Minh Phương, Trường Đại học Kinh tếĐại học quốc gia Hà Nội đã phân tích chính sách quản lýthương mại biên giới nổi bật của Mỹ tại biên giới với Canada

và Mexico theo thời gian và trên cơ sở đó rút ra một số bàihọc kinh nghiệm trong phát triển thương mại biên giới đối vớiViệt Nam

Trang 12

-Các nghiên cứu liên quan đến phát triển thương mại biên giới của Việt Nam.

Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, 2007 thực hiện

nghiên cứu về Hội nhập kinh tế ASEAN – Trung Quốc, trong đó

nhấn mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giớiViệt – Trung đóng vai trò trung chuyển hàng hóa giữa ASEAN

và Trung Quốc Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2009 thực hiện

nghiên cứu về Phát triển các Khu hợp tác kinh tế qua biên giới

Việt – Trung cho rằng cần phải phát triển hơn nữa dịch vụ hỗ

trợ tại các khu vực cửa khẩu nhằm tạo thuận lợi cho hoạt độngxuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Việt – Trung

Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện chính sách thương

mại biên giới của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Thương

mại chủ trì năm 2009 Trong đó, đi sâu nghiên cứu về chínhsách TMBG của Việt Nam, cụ thể là chính sách TMBG củaViệt Nam với TQ, chưa đi sâu nghiên cứu hoạt động TMBGcủa các tỉnh biên giới

Ngoài ra, Bộ Công Thương, 2012 đã tổng kết tình hình

hoạt động thương mại biên giới của 7 tỉnh phía Bắc giáp Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang,

Trang 13

Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu) trong giai đoạn 2006-2010 Bộ

Công Thương cho rằng hoạt động thương mại biên giới khôngngừng gia tăng về giá trị với tốc độ tăng trưởng nhanh(26,6%) Bộ Công Thương cũng đã đề cập và phân tích cáckhó khăn và thách thức trong hoạt động thương mại biên giớiViệt - Trung Mất cân bằng cán cân thương mại là vấn đề nổicộm trong thương mại 7 tỉnh biên giới phía Bắc giáp với TrungQuốc Cơ cấu mặt hàng XNK qua các cửa khẩu của 7 tỉnh nàyvẫn chủ yếu là mặt hàng nguyên liệu thô chưa qua chế biến,giá trị hàng hóa xuất khẩu chưa cao, sức cạnh tranh kém, dễ bịđối tác ép giá Hệ thống hạ tầng thương mại phục vụ phát triểnthương mại biên giới ở khu vực cửa khẩu phía Việt Nam thiếuđồng bộ Đường giao thông ở một số nơi chật hẹp, xuống cấp,chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa Còn xảy ra tìnhtrạng ùn tắc tại các cửa khẩu (tỉnh Lạng Sơn là một ví dụ).Chính sách thương mại biên giới của Trung Quốc thườngxuyên thay đổi và áp dụng linh hoạt cho từng cửa khẩu, khuvực, địa phương trong khi việc quản lý cửa khẩu giữa ViệtNam và Trung Quốc chưa đồng nhất nên trao đổi hàng hóa phụthuộc rất nhiều vào phía Trung Quốc, gây bị động cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam

Trang 14

Hoạt động thương mại biên giới Việt -Trung 6 tháng đầunăm cũng đã được phân tích khá chi tiết trong báo cáo của BộCông Thương (2014) Theo Bộ Công Thương (2014), trongbối cảnh gần đây có nhiều diễn biến phức tạp nhưng hoạtđộng thương mại biên giới Việt – Trung vẫn duy trì được đàphát triển với mức tăng trưởng bình quân 4%/tháng Quy môcủa thương mại biên giới Việt - Trung chiếm trên 24% trongtổng kim ngạch thương mại hai chiều Tuy nhiên, hoạt độngthương mại qua biên giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn, xuấtkhẩu nông sản qua biên giới còn nhiều vướng mắc, chưa xâydựng được hệ thống cơ sở hạ tầng bến bãi phù hợp để thúcđẩy phát triển thương mại vùng biên… Để tháo gỡ khó khăn,

Bộ Công thương (2014) cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơchế về hoạt động thương mại biên giới, xây dựng các phương

án xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi qua biên giới một số mặthàng nông sản theo hướng linh hoạt và tạo điều kiện cho xuấtkhẩu; xem xét thành lập Ban quản lý cửa khẩu mang tính đặcthù tại địa phương; tăng cường xúc tiến thương mại ở khu vựcbiên giới Việt – Trung

"Đề án phát triển biên mậu Việt Nam - Trung Quốc thời

kỳ 2006 - 2010" của Bộ Thương mại nhận định: Trung Quốc là

Trang 15

một nước đang phát triển có dân số lớn nhất thế giới, kinh tếphát triển thuộc nhóm nhanh nhất thế giới Ngay từ nhữngngày đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có một chiến lượckhá toàn diện trong việc phát triển thương mại biên giới, chođến ngày nay đang tham gia sâu vào thể chế kinh tế thế giớinhưng về cơ bản vẫn duy trì những chính sách đó Các chínhsách thương mại biên giới của Trung Quốc đã trở thành một

bộ phận quan trọng trong chính sách thương mại, và là mộtđộng lực thúc đẩy kinh tế vùng biên giới, miền núi phát triển,góp phần xóa đói giảm nghèo; đồng thời Trung Quốc luônnắm thế chủ động trong thương mại với các nước có chungbiên giới Đối với Việt Nam, mặc dù Nhà nước ta vẫn cónhững văn bản điều chỉnh chính sách về thương mại biên giới,nhưng nhìn chung do chưa có một cơ quan chuyên trách vềthương mại biên giới nên những chính sách về thương mạibiên giới thường không đồng bộ Mặt khác, việc Việt Namchưa có một chiến lược thương mại lâu dài với Trung Quốc sẽdẫn đến tình trạng quan hệ thương mại biên giới luôn bị động,không có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi củanền kinh tế Trung Quốc để có thể khai thác tối đa lợi thế sosánh và hạn chế rủi ro

Trang 16

Ngày 20/03/2015, tại Hà Giang, Ban Kinh tế Trungương, Bộ Công thương phối hợp với UBND tỉnh Hà Giang tổ

chức Hội thảo “Phát triển thương mại biên giới tạo động lực

cho phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới đất liền của tỉnh

Hà Giang” Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới có lợi thế về

địa chính trị - kinh tế, hoạt động thương mại biên giới đượctỉnh Hà Giang xác định là một trong các tiềm năng, thế mạnhcủa địa phương Để phát huy, khai thác lợi thế, tỉnh Hà Giang

đã ban hành các Nghị quyết, Chương trình hành động về pháttriển thương mại biên giới trên cơ sở vận dụng linh hoạt các

cơ chế, chính sách và quy định của Nhà nước về thương mại

Ban chỉ đạo Thương mại biên giới – Bộ Công Thương,

2014 Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động thương mại biên

giới Việt – Trung giai đoạn 2006-2014 Báo cáo đã đánh giá

vai trò địa – kinh tế quan trọng của tuyến biên giới đất liềnViệt – Trung khi triển khai các giải pháp đẩy mạnh hoạt độngthương mại biên giới, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động xuấtkhẩu sang Trung Quốc Thương mại biên giới Việt – Trungđược chỉ ra trong các nghiên cứu có liên quan đến hợp táckinh tế - thương mại nói chung giữa ASEAN với Trung Quốccũng như giữa Việt Nam với Trung Quốc

Trang 17

Hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung đã được đềcập tại nhiều công trình nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam.

Do gần gũi về địa lý và có những nét tương đồng trong phongtục tập quán, truyền thống văn hóa và xã hội, các hoạt độnggiao lưu thương mại biên giới là một tất yếu khách quan khôngthể thiếu trong lịch sử phát triển của Việt Nam và Trung Quốc.Trung Quốc không chỉ là nước láng giềng mà còn là một thịtrường lớn, đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Chính vìvậy, ngoài những công trình nghiên cứu của Bộ Công thươngnhư đã nêu trên có nhiều nghiên cứu của các cá nhân khác cóliên quan đến thương mại biên giới Việt- Trung, điển hình như:

Phạm Thị Cải, 2003 Một số giải pháp nhằm phát triển

thương mại hàng hóa Việt Nam – Trung Quốc qua biên giới trên bộ thời kỳ đến 2005 Đề tài cấp bộ Nghiên cứu cho thấy:

Phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc quabiên giới trên bộ là chủ trương của cả Chính phủ Trung Quốc

và Chính phủ Việt Nam Chủ trương mở cửa thị trường khuvực biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc của cácChính phủ đã được không chỉ các tỉnh có chung biên giới Việt

- Trung mà cả các tỉnh khác của hai nước rất quan tâm Thựchiện định hướng phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa biên

Trang 18

giới, phát triển thị trường khu vực biên giới trên bộ giữa hainước của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc, cácdoanh nghiệp của cả hai nước đang từng bước tăng cườnghoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới trên bộ vớimục tiêu phát triển kinh tế thương mại của các địa phương cóbiên giới, đồng thời phát triển kinh tế thương mại của các tỉnhkhác trong cả nước Việt Nam và Trung Quốc cũng như đẩymạnh thương mại hàng hóa để phát triển quan hệ kinh tếthương mại giữa hai nước.

Nguyễn Đăng Ninh, 2004 Đổi mới quản lý nhà nước về

hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc Hà Nội: NXB Khoa học – Xã hội Tác

giả đã khẳng định, cùng với quá trình cải cách và mở cửa, trên

cơ sở nhận thức vai trò của hoạt động kinh tế biên giới màtrọng tâm là việc thúc đẩy giao lưu kinh tế qua các cửa khẩutrên bộ, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt các chínhsách có liên quan để hỗ trợ cho quá trình này Các chính sáchthúc đẩy thương mại biên giới đã có tác động tích cực tới sựphát triển kinh tế của các tỉnh biên giới; trong đó các khu kinh

tế cửa khẩu có vai trò nổi bật đối với việc thúc đẩy các hoạtđộng thương mại, dịch vụ, du lịch; do đó đã có những đóng

Trang 19

góp to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của các khu vực này.

Nguyễn Văn Lịch có các công trình: “Phát triển thương

mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng” (2005), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ

“Định hướng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt

Nam – Trung Quốc giai đoạn đến 2015” (2007) và Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng các giải

pháp khai thác chiến lược “phát triển một trục hai cánh” nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam với Trung Quốc” (2008) Các công trình này đều tập trung phân tích

xuất khẩu hàng hóa qua cá cửa khẩu biên giới Việt –Trung lànội dung chủ yếu và quan trọng trong các chương trình hợptác kinh tế - thương mại biên giới giữa Việt Nam và TrungQuốc; và giá trị chiến lược của hai hành lang một vành đaikinh tế Việt – Trung trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóaqua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung

Đỗ Tiến Sâm và Hà Thị Hồng Vân trong “Nghiên cứu về

tình hình buôn bán biên giới ở vùng Tây Bắc Việt Nam”, Viện

Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2007 đã nghiên cứu vềtình hình buôn bán biên giới ở vùng Tây Bắc, phân tích thựctrạng phát triển kinh tế xã hội nói chung và hoạt động thương

Trang 20

mại qua biên giới nói riêng, sau đó nêu lên một số quan điểm

và giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở 04 tỉnh thuộcvùng Tây Bắc bao gồm Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, HoàBình Đồng thời nhấn mạnh các địa phương biên giới cần hợptác với nhau như thế nào, doanh nghiệp cần nâng cao sứccạnh tranh ra sao; cũng như các địa phương, các vùng sảnxuất trong nội địa của hai nước làm thế nào để đưa sản phẩmhàng hóa ra biên giới góp phần tăng trưởng đầu tư và quan hệthương mại hai nước

“Quan hệ kinh tế - Thương mại cửa khẩu biên giới Việt –

Trung với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh vùng núi phía Bắc” do PTS Phạm Văn Linh chủ biên – Nhà xuất bản

Thống kê, Hà Nội năm 1999 Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò

và tiềm năng kinh tế của các cửa khẩu biên giới Việt Trung,phân tích sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng tớiquan hệ thương mại ở các cửa khẩu đối với việc phát triển kinh

tế hàng hoá, tìm ra giải pháp thích hợp nhằm mở rộng thịtrường, tăng cường trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biêngiới, tạo đà cho việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa –hiện đại hóa ở khu vực này

Trang 21

Luận án Tiến sĩ kinh tế “Đổi mới quản lý Nhà nước vềhoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn các tỉnh biên giới ViệtNam - Trung Quốc” của Lương Đăng Ninh thực hiện tại ViệnNghiên cứu Thương mại năm 2002 Trong đó, nghiên cứu sâu

về QLNN đối với hoạt động XNK hàng hóa trên địa bàn cáctỉnh biên giới phía Bắc, chưa đề cập đến QLNN đối với hoạtđộng thương mại nói chung trên địa bàn các tỉnh biên giới

Đề tài khoa học cấp Bộ “Chiến lược một trục hai cánhtrong chính sách hướng Nam của Trung Quốc, gợi ý một sốđối sách với Việt Nam” do Trường Đại học Ngoại Thươngchủ trì thực hiện năm 2009

Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khoa học, cuốn sách, bàiviết nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các bài tham luận tại hộithảo trong nước và quốc tế đề cập đến sự phát triển kinh tế - xãhội các tỉnh miền núi phía Bắc, hợp tác “Hai hành lang, mộtvành đai kinh tế” Việt Nam - TQ, ACFTA, nghiên cứu môhình Khu hợp tác kinh tế biên giới Việt Nam - TQ,… vớinhiều nội dung khác nhau

Chu Chấn Minh - Viện nghiên cứu Đông Nam Á - ViệnKhoa học Xã hội Vân Nam - TQ có công trình nghiên cứu

Trang 22

“Đáp ứng tình hình mới cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự

án “Hai hành lang, một vành đai” (năm 2007)

Đổng Chí Vân - Phó trưởng phòng Phòng Nghiên cứu,Chính phủ nhân dân tỉnh Vân Nam - TQ có công trình nghiêncứu “Tích cực thúc đẩy xây dựng Hai hành lang, một vành đaiTrung - Việt cùng tạo ưu thế trong hợp tác giữa Vân Nam vàViệt Nam” (năm 2007)

Lưu Kiến Văn, Viện Khoa học xã hội Quảng Tây – TQ

có công trình nghiên cứu “Nhanh chóng thúc đẩy tiến trìnhxây dựng Khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia Trung - Việt”(năm 2007), phân tích ý nghĩa của việc xây dựng các khu hợptác kinh tế biên giới Trung - Việt, trường hợp Khu kinh tếbiên giới Đông Hưng - Móng Cái

Dự án RETA 7356 “Phát triển các Khu Hợp tác kinh tếbiên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” do Ngân hàng pháttriển Châu Á (ADB) thực hiện năm 2011, đã nghiên cứu, đánhgiá hiện trạng các khu kinh tế biên giới Việt - Trung, trong đó

có Lào Cai - Hà Khẩu (TQ) và đề xuất các định hướng pháttriển các khu hợp tác kinh tế biên giới Việt - Trung trongtương lai

Trang 23

- Kết luận

Dù tiếp cận dưới góc độ lý luận hay thực tiễn, các côngtrình nghiên cứu trên đã đề cập và phản ánh được nhiều góccạnh về phát triển thương mại biên giới của Canada vàMexico Một là, một số nghiên cứu đã cho thấy bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế toàn cầu đã làm cho thương mại quốc tếnói chung và quan hệ thương mại biên giới giữa các quốc gianói riêng có những biến đổi nhất định Hai là, một số côngtrình đã cho thấy thực trạng và thách thức trong việc pháttriển thương mại biên giới của Mexico và Canada Ba là,nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến sự phụ thuộc lẫnnhau giữa nền kinh tế và tác động của quan hệ thương mạiđến phát triển kinh tế của của Mexico và Canada với Mỹ Bốn

là, một số nghiên cứu đã phân tích cơ chế giải quyết tranhchấp giữa hai nước, cho thấy mặc dù Canada, Mexico và Mỹ

có hệ thống luật và thể chế giải quyết bất đồng hiệu quả, bêncạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế

Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về pháttriển quan hệ thương mại Việt - Trung cũng như phát triểnquan hệ thương mại biên giới hai nước Việt - Trung Tuy

Trang 24

nhiên, các nghiên cứu về phát triển thương mại biên giới Việt

- Trung còn một số hạn chế sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phântích cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng và đề xuất các giảipháp quản lý đối với hoạt động phát triển thương mại biêngiới tiểu ngạch hay dưới hình thức mua bán, trao đổi hàng hóacủa cư dân biên giới, hoạt động tại chợ biên giới, chợ cửakhẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt - Trung

Thứ hai, hoạt động thương mại biên giới Việt - Trungđược nghiên cứu chung với hoạt động xuất khẩu hàng hóasang Trung Quốc hoặc trong khuôn khổ các chương trình hợptác kinh tế như “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế” hoặc

“Một trụ hai cánh” Các nghiên cứu này chưa nghiên cứu vềlợi thế cạnh tranh của Việt Nam với những điều kiện địa -kinh tế đặc thù của tuyến biên giới đất liền Việt - Trung

Thứ ba, các nghiên cứu đều cho rằng trong quan hệthương mại biên giới Việt - Trung, Việt Nam luôn luôn ở thếyếu, lúng túng bị động từ những điều chỉnh chính sách “biênmậu linh hoạt” của Trung Quốc, Việt Nam không có nhiều lợithế trong xuất khẩu hàng hóa qua biên giới Việt -Trung Do

Trang 25

vậy, các giải pháp đưa ra thường mang tính tình thế, đối phó,nhanh chóng không còn phù hợp với quá trình phát triểnthương mại qua biên giới Việt - Trung Chưa có nghiên cứusâu và toàn diện về lợi thế và tiềm năng của các tỉnh biên giớiViệt Nam nói chung và lợi thế của các tỉnh Tây Bắc nói riêngđối với việc phát triển thương mại biên giới.

Nhìn chung, các công trình trên đây là những tư liệutham khảo rất có giá trị mà Luận văn sẽ kế thừa và trên cơ sở

đó có những phát triển mới trong bối cảnh hiện nay

- Cơ sở lý luận phát triển thương mại biên giới.

Thương mại biên giới được cấu thành bởi nhiều yếu tố,trong đó mỗi yếu tố đóng một vai trò quan trọng nhất định.Trong đó gồm các thành phần cần được xem xét đầy đủ, đúngmức như biên giới, thương mại biên giới và các thành phầnliên quan như đặc điểm, tính chất cũng như tính tất yếu củahoạt động thương mại biên giới Trong đó, mỗi thành phầncần được xem xét, phân tích các đặc điểm riêng cũng như mốiquan hệ giữa các yếu tố với nhau, từ đó có cách hiểu đúngđắn, đầy đủ về hoạt động thương mại biên giới

- Một số khái niệm liên quan tới thương mại biên giới

Trang 26

Khái niệm thương mại biên giới

Hoạt động TMBG là sự lưu chuyển hàng hóa và dịch vụqua biên giới đất liền trong phạm vi vùng biên giới hoặc giatăng giá trị dịch vụ vùng biên giới giữa các nước láng giềng.Hay hoạt động TMBG có thể được hiểu là các hoạt động buônbán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở khu vực biên giới giữa cácnước láng giềng, là hình thái mở đầu của hoạt động TMQT, là

bộ phận quan trọng trong hoạt động ngoại thương của mỗinước

Theo nghĩa rộng, hoạt động TMBG giữa hai nước lánggiềng không chỉ đơn thuần là hoạt động buôn bán tại các CKbiên giới mà nó có phạm vi rộng hơn, bao trùm các hoạt độngXNK hàng hóa và dịch vụ được diễn ra trên toàn bộ khu vựcbiên giới của hai nước, bao gồm cả thương mại chính ngạch,thương mại tiểu ngạch và hoạt động mua bán của cư dân hainước dọc biên giới

Hoạt động TMBG, trước hết là một hoạt động TMQT, vìvậy, nó mang đầy đủ các hoạt động chung của hoạt độngTMQT Ngoài ra, hoạt động TMBG còn có đặc điểm riêng củahoạt động thương mại tại khu vực biên giới

Trang 27

Theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại vềhoạt động mua, bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lýmua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài,Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủtướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động TMBG với cácnước có chung biên giới và Quyết định số 139/2009/QĐ-TTgngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sungmột số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg, thì hoạtđộng TMBG có phạm vi rất rộng, bao gồm:

Hoạt động mua, bán hàng hóa quốc tế và các hoạt độngđại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nướcngoài khác theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP

Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biêngiới;

Buôn bán tại chợ biên giới, chợ CK, chợ trong khuKTCK;

Hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới theo các phươngthức được thỏa thuận trong Hiệp định Thương mại song

Trang 28

phương giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàcác nước có chung biên giới.

Hoạt động TMBG là một cơ chế thương mại đặc biệt,đặc thù, một ngoại lệ, không bị ràng buộc và được quy định rõràng trong các điều khoản riêng lẻ của WTO Điều XXIV

Hiệp định GATT nêu rõ “Các điều khoản của Hiệp định này

sẽ không được diễn giải nhằm ngăn cản các ưu đãi mà một bên ký kết dành cho quốc gia láng giềng nhằm tạo thuận lợi cho TMBG’’ Trong Quy chế Tối huệ quốc (MFN), Điều 25 -

Điều khoản Tối huệ quốc về ưu đãi nhằm tạo thuận lợi cho

TMBG đã nêu: “Quốc gia được hưởng mà không phải nước

láng giềng thì không được hưởng những ưu đãi thuận lợi mà quốc gia kia dành cho một nước láng giềng thứ ba để nhằm tạo thuận lợi cho TMBG” Hoạt động TMBG đa dạng, phong

phú và có tính linh hoạt cao về điều kiện kinh doanh, chủ thểkinh doanh, quy mô, mặt hàng kinh doanh, phương thức kinhdoanh, phương thức thanh toán, đặc biệt là những hình thứcdịch vụ, bao gồm:

Hoạt động lưu chuyển hàng hóa qua biên giới, gồm: 1)Hoạt động XNK hàng hóa qua các CK, lối mở biên giới đấtliền được hưởng những ưu đãi thuận lợi theo thỏa thuận giữa

Trang 29

các nước có chung biên giới hoặc những ưu đãi thuận lợi domột nước có chung biên giới đơn phương áp dụng; 2) Hoạtđộng mua, bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ CK,chợ trong khu KTCK; và 3) Hoạt động mua, bán, trao đổihàng hóa của cư dân biên giới.

Hoạt động dịch vụ hỗ trợ tại khu vực biên giới, gồm:+ Các dịch vụ công: Xuất nhập cảnh người và phươngtiện, kê khai hải quan, kiểm dịch, cấp Giấy chứng nhận xuất xứ(C/O) và các chứng nhận tiêu chuẩn XK khác

+ Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận vậnchuyển hàng hóa qua biên giới (logistics): kho vận, kiểm tra,gia công, đóng gói, phân phối…nhằm liên kết giữa các nhàsản xuất và các nhà XNK

+ Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâmnhập thị trường: nghiên cứu thị trường, tư vấn, môi giới, đại

lý mua bán, ủy thác XNK, chuyển khẩu, quảng cáo, hội chợ…

+ Các dịch vụ lao động tại khu vực biên giới: phiên dịch,bốc dỡ, vận chuyển vệ sinh, bảo vệ…

Trang 30

+ Các dịch vụ về tài chính, tiền tệ: đổi tiền, gửi tiền,chuyển khoản, thanh toán…

+ Các dịch vụ điện, nước, xử lý chất thải và đặc biệt làvấn đề bảo vệ môi trường sinh thái khu vực biên giới

Hoạt động cung cấp dịch vụ qua biên giới, gồm: Dịch vụbưu chính viễn thông, điện thoại, internet…; dịch vụ ăn uống,nghỉ ngơi…; dịch vụ văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí…; dịch

vụ chăm sóc y tế, làm đẹp, cắt tóc, sửa chữa…; và dịch vụ tổchức nghi lễ (hiếu, hỉ và các sự kiện liên quan đến gia đình)

Khái niệm Chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu

Theo quyết định 245/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 củaThủ tướng chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biêngiới với các nước có chung biên giới thì chợ biên giới là chợđược lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền thuộc lãnh thổViệt Nam Chợ cửa khẩu là chợ được lập ra trong khu vựcbiên giới trên đất liền thuộc lãnh thổ Việt Nam gắn với cáccửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá nhưng không thuộcKhu kinh tế cửa khẩu Chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu là chợđược lập ra trong Khu kinh tế cửa khẩu theo Quyết định số

Trang 31

53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướngChính phủ về chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biêngiới.

- Đặc điểm và hình thức thương mại biên giới

- Đặc điểm của Thương mại biên giới

Hoạt động thương mại qua biên giới là một phần tronghoạt động thương mại quốc tế, do đó nó mang đầy đủ các đặcđiểm chung của hoạt động thương mại quốc tế, ngoài ra nócòn có đặc điểm riên của hoạt động thương mại tại các đườngbiên giới Việt nghiên cứu và phân tích các đặc điểm của hoạtđộng thương mại biên giới sẽ tạo cơ sở vưng chắc để đưa racác biện pháp thích hợp nhằm phát triển hoạt động thươngmại biên giới trong điều kiện cụ thể nhất định Có thể nêu ramột số đặc điểm chính của hoạt động này như sau:

Thứ nhất, khu vực biên giới của các nước thường cách

xa trung tâm kinh tế - chính trị quốc gia Do đó, nhà nướcthường có những chính sách ưu đãi dành cho cá khu vực biêngiới để tạo điều kiện và cơ hội phát triển thương mại khu vựcbiên giới

Ngày đăng: 15/04/2019, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w