4. Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập trong tiết bài tập, ôn tập, ôn tập chương phát huy tích cực và phát triển năng lực cho học sinh Bài tập, ôn tập, ôn tập chương được tiến hành bằng hai khâu chính: Ôn tập ở lớp; Ôn tập ở nhà (trước và sau giờ ôn tập ở lớp). Dù chương trình quy định bài ôn tập trên lớp là một hay nhiều tiết, thì cấu trúc của bài ôn tập chương vẫn có 2 phần chủ yếu đó là : + Hệ thống kiến thức và kĩ năng. + Bài tập rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực. Trong đó có: Bài tập vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng (bài tập định tính), bài tập vận dụng kiến thức và các phép toán để giải (bài tập định lượng). Tuy nhiên phải căn cứ vào thời lượng bài trên lớp mà phân phối và cơ cấu 2 phần của một bài tự ôn tập có hướng dẫn cho cân đối. Dưới đây là các biện pháp kĩ thuật dạy học theo tiến trình bài ôn tập. 4.1.Tổ chức hoạt động luyện tập, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức trên cơ sở bảng biểu và sơ đồ Trong mục này chỉ gồm một hoạt động tôi gọi đây là hoạt động khởi động. Hoạt động 1: Khởi động: Học sinh thuyết trình kiến thức theo sơ đồ mà mỗi học sinh đã tự xây dựng sẵn ở nhà. Giáo viên trình chiếu từ khóa yêu cầu học sinh lên bảng treo sơ đồ rồi thuyết trình nhanh, hoặc học sinh chuẩn bị sơ đồ tư duy bằng phần mềm Imindmap hặc bằng sơ đồ bảng biểu sẵn chiếu lên, học sinh dưới lớp lắng nghe để nhận xét, bổ sung, hoàn thiện. Sau đó giáo viên trưng bày thêm một vài sơ đồ tư duy khác, cùng với sơ đồ tư duy giáo viên đã vẽ bằng sự hỗ trợ của phần mềm.
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI:
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NĂNG LỰC CHO HỌC SINH QUA TIẾT HỌC ÔN TẬP, BÀI TẬP MÔN
VẬT LÍ THCS.
(Môn: Vật lí)
Tên tác giả: NGUYỄN QUỲNH GIANG
Thuộc tổ khoa học tự nhiên
Năm thực hiện: năm học 2016-2017
Số điện thoại cá nhân: 0914 789 161
Số phách:
Số phách:
Trang 2PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I) LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theohướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹnăng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tậptrung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cậpnhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớpsang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trongdạy và học” và “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực vàsáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đócũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông
Xuất phát từ những yêu cầu trên, trong những năm học qua, việc đổi mớiphương pháp dạy học ở các cấp học nói chung và cấp THCS nói riêng đã và đangđược áp dụng phổ biến ở tất cả các môn học trong đó có môn Vật lí Do tính chất đặcthù của môn học được coi là khoa học thực nghiệm như Vật lí thì việc cần thiết phảiđổi mới phương pháp dạy và học là một yêu cầu quan trọng và phải thực hiện ngay
Trong quá trình dạy học môn Vật lí ở trường Trung học cơ sở, việc vận dụngcác phương pháp dạy học Vật lí theo hướng phát huy tính tích cực học tập của họcsinh được chia ra 4 phương pháp dạy học cơ bản sau:
- Phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí
- Phương pháp dạy học một đại lượng Vật lí
- Phương pháp dạy học một định luật Vật lí
- Phương pháp dạy học tiết bài tập, ôn tập Vật lí
Trong 4 phương pháp dạy học nêu trên thì phương pháp dạy học một tiết bàitập, ôn tập hoặc tổng kết chương là một trong những phương pháp dạy học mà đa sốgiáo viên đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức lớp học, soạn giáo án, phân
bố thời gian…sao cho vừa đảm bảo về mặt kiến thức, vừa đảm bảo về mặt thời gian
Trang 3của một tiết học và phải phù hợp với yêu cầu đổi mới Bởi lẽ, trong tiết học này bảnthân giáo viên phải đưa ra dạng kiến thức tổng quát cả về lí thuyết lẫn bài tập thựchành, theo đúng trọng tâm của chương, trọng tâm từng tiết bài tập, tiết ôn tập và cũngnhất thiết giúp HS tự hệ thống hoá kiến thức đã học theo một trình tự logic từ kháiquát đến cụ thể và ngược lại, từ đó HS vận dụng để có thể giải được các dạng bài tập
cơ bản nhất Thậm chí có khi tiết ôn tập bị xem là một tiết dạy học làm, chữa bài tậptrong đó không có sự trao đổi, thảo luận của các học sinh trong quá trình giải mỗi bàitập, từng học sinh loay hoay giải bài tập, sau đó giáo viên trình bày lời giải của mìnhtrên bảng và cho học sinh ghi lại, hoặc bản thân giáo viên cũng đã rất đầu tư chuẩn bịứng dụng công nghệ trong tiết ôn tập, bài tập nhưng chỉ mới ở mức giáo viên trìnhchiếu và học sinh nhìn không đọng lại kiến thức cách dạy học như vậy sẽ rất tẻnhạt, nhàm chán không chỉ với học sinh khá, giỏi mà ngay cả đối với học sinh yếukém vì không có tác dụng giúp các em hiểu sâu sắc hơn các kiến thức và kỹ năng cầnvận dụng, không giúp họ phát triển khả năng tự lực, tích cực và sáng tạo trong việcgiải quyết các tình huống mà bài tập đề ra Đối với HS, hầu như các em rất sợ tiết bàitập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương Bởi vì ở tiết học này không chỉ tổng hợp rấtnhiều kiến thức học mà còn đòi hỏi ở các em sự nhạy bén và linh hoạt trong việc lựachọn giải pháp hợp lí khi giải toán Trên thực tế khi dạy dự giờ mà gặp các tiết ôn tâp,bài tập môn vật lí có nhiều giáo viên còn lúng túng trong cách tổ chức, hoặc còn ngạikhi dạy loại tiết học này Nhằm giúp cho bản thân khi dạy các tiết bài tập, ôn tập vật
lí thể hiện đúng hướng và giúp cho học sinh chủ động trong mọi nhiệm vụ, có kĩnăng nhạy bén linh hoạt, phát huy được tính tích cực, phát triển được những năng lựcquan trọng cho người học Cùng với sự đục rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạycũng như kết hợp học hỏi từ các tài liệu tham khảo về đổi mới phương pháp dạy họccủa Bộ Giáo dục và Đào tạo, và từ sự góp ý của đồng nghiệp Nên tôi mạnh dạn viếtsáng kiến về cách tổ chức một tiết học bài tập, ôn tập trong chương trình vật lí THCS
sao cho hiệu quả: “ Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực cho học sinh
bằng cách tổ chức các hoạt động học tập qua tiết học bài tập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương môn vật lí THCS.”
II) ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đây là đề tài “ Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực cho học sinh
bằng cách tổ chức các hoạt động học tập qua tiết học bài tập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương môn vật lí THCS.”
nên tôi tập trung nghiên cứu việc ứng dụng vào dạy học tiết bài tập, ôn tập, ôn tậptổng kết chương trong chương trình môn vật lí THCS
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
ôn tập và cũng nhất thiết giúp HS tự hệ thống hoá kiến thức đã học theo một trình tựlogic từ khái quát đến cụ thể và ngược lại, từ đó HS vận dụng để có thể giải được cácdạng bài tập cơ bản nhất Vai trò của người thầy phải bồi dưỡng phương pháp tự học,phải tạo cơ hội tốt nhất để học sinh được thỏa sức sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh với bộ môn Tôi cho rằng hoạt động luyện tập để rèn kĩ năng giải bàitập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn là cơ hội tốt để phát triển tư duy sáng tạo chocác em Vậy dạy học bài tập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương môn vật lí thế nào để họcsinh phát triển được tư duy sáng tạo, tích cực, phát huy được năng lực là câu hỏi màtôi phải trăn trở
Trang 5Với số tiết bài tập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương chiếm rất đáng kể như vậy và thực
tế để dạy loại bài học này thành công theo hướng tích cực, phát huy được năng lực của học sinh là vấn đề không dễ
Hiện nay, khi dạy các bài ôn tập Vật lý, giáo viên thường gặp hai khó khăn cơ bảnsau:
- Chọn nội dung cần ôn tập theo chuẩn kiến thức kỹ năng
- Tổ chức các hoạt động cho học sinh theo đúng yêu cầu đổi mới
Ở các tiết dạy kiến thức mới thì đây là việc làm không mấy khó khăn đối vớigiáo viên, tuy nhiên đối với một tiết ôn tập, tổng kết chương thì rất nhiều giáo viêncòn lúng túng, nếu chọn hết nội dung theo sách giáo khoa thì không đảm bảo về mặtthời gian, kiến thức cần củng cố quá nhiều, bên cạnh đó một số tiết ôn tập thuộc tiếtthêm không có trong sách giáo khoa và sách giáo viên thì việc lựa chọn này càng khókhăn hơn, nếu không có sự đầu tư, nghiên cứu thì đa số giáo viên đều soạn lại một sốcâu hỏi hoặc bài tập trước đó học sinh đã làm để nhắc lại trong tiết ôn tập, việc làmnày dễ gây nhàm chán ở học sinh, không phân loại được đối tượng Khó khăn thứ hai
là việc tổ chức các hoạt động cho học sinh, nếu không có sự chuẩn bị tốt thì tiết ôn tập
sẽ trở thành tiết học dò lại bài cũ, hay liệt kê lại kiến thức mà chưa làm rõ, chưa kháiquát cũng như hệ thống lại được toàn bộ nội dung hoặc mối liên hệ của những kiếnthức có trong chương, nói cách khác là dạy học theo kiểu tư duy một chiều, chưa phùhợp với yêu cầu đổi mới Một vấn đề nữa đó là đối tượng học sinh của chúng tathường rất đa dạng, ít đồng đều về mặt nắm bắt kiến thức, đây là một vấn đề tác độngkhông nhỏ trong quá trình dạy tiết bài tập, ôn tập
Vậy thì khó ở đây là khó như thế nào? Tôi phân loại ra thành 2 dạng;
1)Đối với tiết bài tập
1- Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khảnăng tiếp thu của học sinh, của chương trình Nếu không xác định đúng mục tiêu rất
dễ đi vào sự đơn điệu
2- Thiết kế tiết dạy thường không có sự khái quát, kết luận về từng vấn đề, nên họcsinh khó có thể nêu lên được phương pháp giải bài tập liên quan
3- Đa số bài tập ở sách giáo khoa chỉ dừng lại ở mức độ củng cố, và còn thiếu so vớilượng kiến thức đã nêu trong lý thuyết Do đó dẫn đến tình trạng: học sinh khá giỏikhông thể phát huy được khả năng, học sinh ở mức độ trung bình trở xuống thì bế tắckhi gặp dạng bài tập khác
Trang 64- Tiết bài tập trong phân phối chương trình môn vật lí THCS còn ít.
5- Kĩ năng vận dụng kiến thức Toán cho việc giải bài tập vật lí còn hạn chế đối vớimột bộ phận không nhỏ học sinh, hoặc không biết vận dụng kiến thức vật lí, khôngnắm được bản chất, hiện tượng vật lí chuyển thành giải toán
6- Trong sách giáo khoa một số đơn vị kiến thức không trình bày nhưng lại cho bàitập trong sách bài tập, nếu giáo viên không chịu tìm hiểu thì học sinh không biết đâu
mà giải khi gặp loại bài tập như vậy
2) Đối với kiểu bài ôn tập, ôn tập tổng kết chương:
Trong chương trình Vật Lý THCS các tiết ôn tập - Tổng kết chương có hai loại
hình : loại thứ nhất: đã có hệ thống câu hỏi trong SGK và gợi ý trả lời trong SGV; loại thứ hai: không có hệ thống câu hỏi, GV phải tự soạn nội dung ôn tập Do
vậy GV thường dạy rập khuông đối với loại hình 1, lúng túng đối với các tiết loại hình
2 HS thường trả lời các câu hỏi một cách máy móc, khó ghi nhớ, khó hệ thống đượckiến thức, không rèn dược khả năng tự học
Đa số các tiết học ôn tập, bài tập môn vật lí đều không thành công với một số
lý do sau:
* Học sinh: Khả năng hệ thống hóa kiến thức vật lí của học sinh bậc trung học cơ
sở thấp, các em chưa tự tìm được mối quan hệ giữa các kiến thức trong chươngnên các tiết ôn tập, bài tập môn vật lí ở các em chỉ dừng lại việc ghi lại kiến thức đãhọc vì thế các em chỉ giải được các bài tập có tính “ khuôn mẫu” còn các bài tập phảivận dụng kiến thức tổng hợp hoặc hệ thống kiến thức thì các em không thể thựchiện (các kỳ thi khảo sát, kiểm tra; thi học sinh giỏi huyện, tỉnh kết quả còn thấp, chủyếu cao là của học sinh trường trọng điểm)
* Giáo viên: - Thường sai lầm về phương pháp:
+ Tiết bài tập, luyện tập: thường biến tiết bài tập, luyện tập thành tiết sửa bài tập màchưa hoàn thiện được các kiến thức vừa cung cấp cho học sinh trong các tiết họctrước, chưa giúp học sinh khắc sâu và nhớ những vấn đề lý thuyết đã học và trongmột chừng mực nào đó chưa hoặc không bao giờ nâng cao lí thuyết
+ Tiết ôn tập, ôn tập tổng kết chương: biến tiết ôn tập thành tiết liệt kê những kiếnthức đã học mà chưa thể giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa các đơn vịkiến thức trong chương
* Nguyên nhân: Theo tôi cho rằng:
+ Về học sinh:
Trang 7- Việc vận dụng kiến thức vật lí của học sinh để giải các bài tập cụ thể trong môn học
không tốt từ đó việc vận dụng kiến thức đã học để giải các bài toán trong đời sống
là không thể thực hiện được Từ đó học sinh không ham thích học bộ môn, dễ chán nản và không tích cực học tập
- Chưa nắm được phương pháp học tập các tiết học luyện tập hoặc ôn tập
- Tiết bài tập, ôn tập tổng hợp nhiều kiến thức lại là các kiến thức đã học rồi nên đa
số các em nhất là tiết ôn tập thường không tập trung nhiều cho tiết học , từ đó dẫnđến các em không chủ động tư tư duy để giải quyết vấn đề tiết học yêu cầu
+ Về giáo viên:
- Chưa nắm vững phương pháp giảng dạy đặc trưng của tiết học luyện tập, ôn tập
- Chưa phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong tiết dạy - Giáo viên vừachủ động vừa chủ đạo trong tiết học khiến tiết học trở thành tiết học chỉ tác độngmột chiều
Để khắc phục những khó khăn trên, trong quá trình dạy học kiểu bài ôn tập,tổng kết Vật lý ở trường trung học cơ sở, bằng nhiều biện pháp cũng như thay đổicách dạy theo hướng đổi mới, tôi đã thu được nhiều kết quả cao Sau đây là nhữngvấn đề chung cần nắm đối với giáo viên khi dạy học kiểu bài ôn tập, tổng kết môn vật
lí phát huy tính tích cực, năng lực cho học sinh và các bước cơ bản được rút ra từnhững kinh nghiệm của bản thân khi dạy học kiểu bài này
III) BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1)Vị trí của tiết bài tập, ôn tập:
Tiết bài tập, ôn tập vật lí có một vị trí khá quan trọng không chỉ vì nó chiếm sốtiết đáng kể mà điều chủ yếu là:
+ Nếu như tiết học lí thuyết cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu thìtiết bài tập có tác dụng hoàn thiện các kiến thức đó, nâng cao lí thuyết trong chừngmực có thể, làm cho học sinh có thể nhớ và khắc sâu hơn những vấn đề lí thuyết đãhọc Còn tiết ôn tập thì tổng kết, hệ thống hóa các kiến thức trong chương
+ Tiết bài tập, ôn tập học sinh có điều kiện thực hành, vận dụng kiến thức đã học vàoviệc giải quyết các bài tập cả định tính và định lượng trong thực tế, các bài tập có tácdụng rèn kĩ năng chuyển bài tập từ bản chất hiện tượng vật lí thành dạng tính toán,rèn các thao tác tư duy để phát huy khả năng sáng tạo sau này
Để dạy bài luyện tập (bài tập), ôn tập chương bộ môn vật lí thành công theo tôi
Trang 82) Những cơ sở để xác định cấu trúc và nội dung bài soạn bài tập, ôn tập, ôn tập tổng kết chương môn vật lí
Để có thể tổ chức được tiết dạy bài tập, ôn tập có hiệu quả đòi hỏi người dạy phảiđầu tư về nhiều mặt, với một giáo án dạy ôn tập, bài tập tổng hợp thì sự đầu tư lạicàng phải nhiều hơn về cả công sức lẫn trí lực
Trước hết việc căn cứ vào các cơ sở để xác định cấu trúc nội dung bài soạn là hết sứccần thiết Theo tôi chúng ta cần dựa vào những cơ sở sau đây:
2.1 Mục tiêu, yêu cầu cần đạt được của các tiết dạy ôn tập, bài tập.
Đây có thể hiểu là cơ sở quan trọng nhất có tính định hướng cho việc chọn nộidung và cấu trúc bài soạn
Giáo viên trước hết phải xác định được mục tiêu của tiết học: đó là xác định trọng tâm , kiến thức cơ bản của tiết bài tập, phần ôn tập, của chương Và bài
ôn tập cần bám sát tư tưởng chủ đạo là :
- Củng cố, bổ sung, hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ cho phép đối với phần lí
thuyết của tiết học trước, hoặc một số tiết học trước, thông qua một hệ thống bài tập
đã được sắp xếp hợp lí theo kế hoạch lên lớp Hoặc tổng kết, hệ thống hóa kiến thức
- Rèn luyện cho học sinh các phương pháp suy nghĩ, kĩ năng vận dụng vào bài tập
định tính, định lượng, nguyên tắc giải bài tập dạng nào dựa trên cơ sở nội dung líthuyết đã học và phù hợp với đa số học sinh một lớp, thông qua hệ thống bài tập đãđược sắp xếp
- Nhìn lại kiến thức và kĩ năng cơ bản của phần học, phân biệt kiến thức và kĩ năng
chủ yếu
- Thông qua phương pháp và nội dung rèn luyện cho học sinh nề nếp làm việc có tính
khoa học, phương pháp tư duy cần thiết
2.2 Thời lượng cho phép ôn tập, bài tập thực hiện được.
Về thời lượng ôn luyện tập thì phân phối chương trình đã quy định, tuy nhiên vì
những lý do mà có thể bổ sung thêm một cách hợp lý để đạt được mục tiêu ôn luyện
đề ra
2.3 .Phân loại các kiến thức, kỹ năng trọng tâm trọng điểm trong phần bài tập, ôn
tập.
Trang 9Ngoài kiến thức kỹ năng trọng tâm, cũng cần phân biệt kiến thức kỹ năng cũ và mới
so với chương trình của các khối lớp đã và đang học ; cần có sự liên hệ để học sinhnăm được vấn đề tốt hơn
2.4 Mức độ tiếp thu, lực học của đối tượng học sinh.
Đây là cơ sở để chọn số lượng, mức độ, thời gian dự kiến các hoạt động cần thiết
và các phương án giải quyết vấn đề trong các hoạt động mà chúng ta đưa ra hay dự
kiến bổ sung… đáp án
Sau khi căn cứ vào các cơ sở để xác định được mục tiêu bước tiếp theo là chuẩn bị
3 Chuẩn bị cho tiết bài tập, ôn tập:
Khối lượng kiến thức, kĩ năng trong tiết bài tập ít hơn so với tiết ôn tập để chuẩn bịkiểm tra định kì hoặc tiết ôn tập chương Do vậy việc dạy bài ôn tâp, ôn tập chươngnhất thiết phải trở thành bài tự ôn của học sinh (ở nhà cũng như ở lớp, trước, trong
và sau bài ôn tập) Do đó rất cần có sự định hướng của giáo viên cho học sinh cáccông việc:
3.1 Chuẩn bị của học sinh:
- Trả lời câu hỏi ôn tập trong sách giáo khoa (phần tự kiểm tra) yêu cầu này là đối vớiloại bài ôn tâp chương (đã có sẵn câu hỏi hệ thống ôn tập trong sách giáo khoa)
- Lập sơ đồ tư duy để tổng hợp kiến thức kĩ năng theo gợi ý từ khóa của giáo viên ,yêu cầu này có thể dùng cho cả 3 loại bài là tiết bài tập, tiết ôn tập và tiết ôn tậpchương đều rất hữu ích, rèn kĩ năng tổng hợp , tự học cho học sinh Ví dụ: Trong tiết
17 và 18: Ôn tập (vật lí 8) tôi đã phân công các nhóm tự vẽ sơ đồ tư duy trên giấy A3
hoặc dùng phần mềm Imindmap vẽ sơ đồ tư duy với từ khóa “cơ học”
-Phân công các nhóm tự đặt câu hỏi, đáp án theo từng phần kiến thức giáo viên giaonhiệm vụ theo nhóm sau đó nộp lại cho giáo viên kiểm định
Ví dụ: Trong tiết 17 và 18: Ôn tập (vật lí 8) tôi đã giao nhiệm vụ cho nhóm, tổ soạnthảo các câu hỏi sẵn theo từng mảng kiến thức gv giao cho (cụ thể: nhóm I: Chuyểnđộng, quán tính, cân bằng lực; Nhóm II: Áp suất; Nhóm III: Lực dẩy ác si mét- sựnổi) với mức độ thông hiểu và vận dụng cấp độ thấp
*Lưu ý : +Phần công việc ở nhà của học sinh không nên giao quá nhiều, tràn lan
+ Bài tập ôn nên theo hệ thống từ dễ đến khó ; có chọn lọc phù hợp với chủ đề của tiết
ôn tập
Trang 10+ Các bảng tổng kết, sơ đồ tư duy giáo viên cần có gợi ý từ khóa và thiết kế sơ lược trước phù hợp với nội dung ôn tập.
- Ngoài ra cá nhân học sinh chuẩn bị thêm bút màu, nhóm chuẩn bị bảng nhóm, bút viết bảng
Để bảo đảm tối đa các hoạt động của giáo viên và học sinh , tránh sự đơn điệu, nhàm chán, thụ động của các giờ ôn tập Giáo viên cần xác định rõ trọng tâm, định lượng
kiến thức cần hệ thống và rèn luyện kỹ năng Sau đó nên mã hoá bằng bảng hoăc sơ đồ.
3.2 Chuẩn bị của giáo viên:
Để tổ chức các hoạt động học tập có hiệu quả phát huy được tính tích cực, phát triểnnăng lực cho học sinh thì sự chuẩn bị của giáo viên cực kì quan trọng và rất công phuthì đối với tiết bài tập, ôn tập lại càng cần hơn thế nữa và sự chuẩn bị càng kĩ càngchu đáo thì mức độ thành công càng cao
- Ngoài việc chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ: phương tiện dạy học như máy tính, máychiếu, các phần mềm tin học ứng dụng
- Thì khâu chuẩn bị, lựa chọn các bài tập đưa ra trong tiết học để yêu cầu học sinhthực hiện trên lớp lại càng công phu hơn bởi bài tập đưa ra phải có tác dụng pháttriển ở học sinh khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng với các cấp độ phù hợp vớicác đối tượng học sinh trong lớp để giải quyết các tình huống cụ thể ở mỗi bài tập,nghĩa là để giải được bài tập này học sinh phải tích cực và sáng tạo Nói cách khác làtrong những bài tập để ôn tập thì nội dung của nó phải phủ kín toàn bộ những kiếnthức cơ bản của các phần hoặc chương đã được học và phù hợp với mọi trình độ họcsinh của lớp để là dù học sinh thuộc đối tượng nào cũng đều được phát huy năng lực
sở trường của mình tạo niềm tin, sự hứng thú cho các em Điều này cũng đòi hỏi giáoviên phải nắm vững trình độ học sinh ở mỗi lớp để từ đó đề ra nhưng phương án hợp
lý trong việc lựa chọn những kiến thức để đưa vào tiết học Một mặt GV phải nắm rõchương trình, lựa chọn đúng loại bài tập thì cần hiểu rằng:
Bài tập vật lý cần lựa chọn ở các tiết ôn tập là một câu hỏi hoặc một vấn đề học tập được đặt ra cho học sinh tìm câu trả lời hoặc lời giải, trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kỹ năng vật lý, tiến hành các suy luận logic hoặc toán học Đối với cấp THCS, các bài tập vật lý thường được ra chủ yếu dưới dạng bài tập định tính, bài tập định lượng hoặc kết hợp cả hai và được thể hiện bằng hình thức trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận Cụ thể về từng dạng bài tập vật lý thể hiện như sau:
- Dạng bài tập định tính:
Trang 11Đây là dạng bài tập thường bắt đầu bằng những câu hỏi xuất phát từ các hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày, dạng bài tập này học sinh chỉ cần trả lời thông qua diễn
đạt ngôn ngữ (ít khi phải dùng đến biểu thức toán) Nét cơ bản của dạng bài tập này là
giúp cho các em cách sắp xếp ý tưởng và trình bày những suy nghĩ của mình một cách
rõ ràng, mạch lạc
Ví dụ: Nhận biết hoặc giải thích các hiện tượng như: Quá trình tạo mưa trong tự
nhiên, cầu vồng, Tại sao vỏ của máy bay, tàu vũ trụ, xe chở xăng dầu thường được sơn màu sáng?…
Dạng bài tập này phổ biến nhiều ở các khối 6 và 7
- Dạng bài tập định lượng:
Là loại bài tập vật lý mà muốn giải quyết nó ta phải thực hiện một loạt các phép tính Dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành 2 loại cơ bản sau:
Bài tập dượt: Là loại bài tập đơn giản được sử dụng ngay khi nghiên cứu một khái
niệm hay một quy tắc vật lý nào đó để học sinh vận dụng kiến thức vừa mới tiếp thu
Ví dụ: Cho điện trở R= 10 , hiệu điện thế đặt vào hai đầu điện trở đó là 12V Tính cường độ dòng điện chạy qua điện trở đó?
+ Bài tập tổng hợp: Là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương hoặc ở các lớp học khác nhau
Ví dụ: Một khối sắt đặc dạng hình lập phương có cạnh a = 10 cm, biết trọng lượng
riêng của sắt là ds = 78000N/m3
a) Tính trọng lượng của khối sắt?
b) Đặt khối sắt trên mặt sàn nằm ngang Tính áp suất do khối sắt gây ra trên mặt sàn?c) Thả khối sắt trên vào một bình nước, tính độ lớn lực đẩy ác si mét tác dụng lên khối sắt? Biết trọng lượng riêng của nước là dn = 10000N/m3
Đặc biệt khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu học sinh phải nhớ kết quả cuối cùng đã được chứng minh trước đó để giải nó một cách nhanh chóng Vì vậy yêu cầu học sinh phải hiểu bài một cách sâu sắc để vậndụng kiến thức ở mức độ cao
Ví dụ: Một quả cầu bằng sắt nổi trên mặt nước Có thể kết luận:
A Trọng lượng riêng của sắt nhỏ hơn trọng lượng riêng của nước
Trang 12B Khối lượng riêng của sắt nhỏ hơn khối lượng riêng của nước.
C Quả cầu sắt bị rỗng
D Quả cầu bị rỉ sét
Nói tóm lại: Giáo viên một mặt cần chọn các bài tập để tạo ra cơ hội cho học sinh
trao đổi, thảo luận nhóm, tạo ra các tương tác giữa học sinh với học sinh và giữa giáoviên với học sinh, nhưng mặt khác làm việc theo nhóm lại đòi hỏi có nhiều thời giannên sẽ rất hạn chế trong khoảng thời gian 45 phút của một tiết học Mâu thuẫn này đòihỏi giáo viên có sự cân đối thời gian sao cho hợp lí các hoạt động học tập của họcsinh, trong đó tùy theo từng đối tượng học sinh của mỗi lớp mà ưu tiên loại hoạt độngnào
Trong tiết dạy trên giáo viên phải đảm bảo mục tiêu của tiết dạy theo chuẩn kiến thức
kĩ năng, phù hợp đối tượng HS, dạy học phân loại được đối tượng HS và phải có kĩ năng dạy ứng dụng công nghệ thông tin thành thạo, đảm bảo kết hợp nhuần nhuyễn giữa nói, viết và trình chiếu…
4 Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập trong tiết bài tập, ôn tập, ôn tập chương phát huy tích cực và phát triển năng lực cho học sinh
Bài tập, ôn tập, ôn tập chương được tiến hành bằng hai khâu chính:
* Ôn tập ở lớp;
* Ôn tập ở nhà (trước và sau giờ ôn tập ở lớp)
Dù chương trình quy định bài ôn tập trên lớp là một hay nhiều tiết, thì cấu trúc của bài
ôn tập chương vẫn có 2 phần chủ yếu đó là :
+ Hệ thống kiến thức và kĩ năng.
+ Bài tập rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực.
Trong đó có: Bài tập vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng (bài tập định tính),
bài tập vận dụng kiến thức và các phép toán để giải (bài tập định lượng) Tuy nhiên phải căn cứ vào thời lượng bài trên lớp mà phân phối và cơ cấu 2 phần của một bài tự
ôn tập có hướng dẫn cho cân đối Dưới đây là các biện pháp kĩ thuật dạy học theo tiếntrình bài ôn tập
4.1.Tổ chức hoạt động luyện tập, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức trên cơ sở bảng biểu và sơ đồ
Trong mục này chỉ gồm một hoạt động tôi gọi đây là hoạt động khởi động
Trang 13Hoạt động 1: Khởi động: Học sinh thuyết trình kiến thức theo sơ đồ mà mỗi học
sinh đã tự xây dựng sẵn ở nhà.
- Giáo viên trình chiếu từ khóa yêu cầu học sinh lên bảng treo sơ đồ rồi thuyết trình nhanh, hoặc học sinh chuẩn bị sơ đồ tư duy bằng phần mềm Imindmap hặc bằng sơ đồbảng biểu sẵn chiếu lên, học sinh dưới lớp lắng nghe để nhận xét, bổ sung, hoàn thiện Sau đó giáo viên trưng bày thêm một vài sơ đồ tư duy khác, cùng với sơ đồ tư duy giáo viên đã vẽ bằng sự hỗ trợ của phần mềm
Ở hoạt động này bằng việc khởi động chỉ cần khoảng 10 phút là có thể hệ thống, liên kết các kiến thức ôn tập theo lý thuyết nhưng là hoạt động hoàn toàn do học sinh chủ động tự trình bày vấn đề của mình, tự học sinh đánh giá nhận xét, bổ sung, còn giáo viên chỉ đóng vai trò điều khiển Ở hoạt động này tôi nhận thấy rõ một điều rằng lúc đầu khi mới áp dụng, với yêu cầu thuyết trình thì em nào cũng ái ngại, sợ nhưng sau nhiều lần thì rất nhiều em trong nhóm mạnh dạn giành quyền được thuyết trình trước lớp tạo cho sự tự tin, phát huy được năng lực trình bày một vấn đề trước tập thể của học sinh Và ở tôi cũng rất chú trọng đến hoạt động đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm,
cá nhân học sinh rèn cho các em kĩ năng biết lắng nghe, biết phản biện trước những
vấn đề chung Ở hoạt động này rèn cho học sinh năng lực tự học, năng lực hợp
tác, giao tiếp, trình bày một vấn đề trước lớp.
Hình ảnh học sinh đại diện một nhóm lên hệ thống kiến thức theo sơ đồ tư duy
trong tiết học ôn tập
Trang 14Phương pháp cần thiết là kiểm tra việc chuẩn bị của HS GV giúp HS cùng nhau hoàn chỉnh sơ đồ, bảng hệ thống kiến thức đã học và dùng hệ thống câu hỏi hoặc giao việc
để HS tự củng cố (Các bảng và sơ đồ theo mẫu sau )
Ví dụ 1: Sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức ôn tập cho tiết 17: Ôn tập (vật lí 8)
Sơ đồ lược và sơ đồ chi tiết (Giáo viên trình chiếu sau khi học sinh thuyết trình rồi cáyêu cầu cầu cá nhân học sinh hoàn thiện bổ sung nhanh vào sơ đồ tư duy đã chuẩn bịsẵn ở nhà
Giáo viên trình chiếu sơ đồ tư duy hoàn thiện để học sinh tham khảo (Vì khối lượng kiến thức trong chương khá lớn nên giáo viên không yêu cầu học sinh phải hoàn thành
sơ đồ ngay tại lớp mà có thể về nhà tiếp tục bổ sung nhánh sau khi lĩnh hội thêm kiếnthức các bài còn lại trong chương
Sơ đồ tư duy dạng lược cho tiết 17: Ôn tập ( vật lí 8)
Trang 15Ví dụ 2: Sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức chương điện học ôn tập cho tiết 36: Bài 30 Tổng kết chương III: Điện học ( Vật lí 7)
Sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức dạng chi tiết ở tiết 18 Ôn tập ( vật lí 8)
Trang 16Ví dụ 3: Sơ đồ hệ thống kiến thức về thấu kính hội tụ ôn tập cho tiết 49: Bài tập về thấu kính hội tụ ( vật lí 9):
Tôi đã tạo thói quen và rèn cho học sinh năng lực tự học khi học tiết bài tập, hay
ôn tập là các em phải tự hệ thống được kiến thức theo từng mảng , từng vấn đề sẵn ởnhà mà giáo viên không phải dặn trước Từ đó rèn đươc kĩ năng tự học, tự làm việc và
Trang 17hơn hết là phát huy được điểm mạnh của những học sinh có óc sáng tạo thiết kế Vàchính bản thân học sinh thấy yêu thích hứng thú hơn, học sinh có cảm giác được làmchủ, không bị động theo định hướng của giáo viên hay của bạn.
Ví dụ 4: Sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức trong tiết : Bài tập quang hình học (Vật lílớp 9)
Trang 18đưa ra có bài cá nhân học sinh hoạt động, có bài phải cần đến sự hợp tác của nhóm lớn, nhóm nhỏ khác nhau Có những bài tự cá nhân học sinh trình bày vào vở, hoặc cónhững bài cá nhân học sinh lên trình bày ở bảng và có thể có những bài dành cho học sinh khá giỏi nêu định hướng và yêu cầu học sinh về nhà hoàn thiện một cách đầy đủ nhất
Ví dụ 1: khi dạy tiết 17: Ôn tập (phần cơ học vật lí 8) trong phần 2 này tôi đã tổ chức các hoạt động học tập như sau cho học sinh:
Hoạt động 2: Vượt chướng ngại vật: Vận dụng kiến thức làm bài tập trắc