Ngày nay bệnh tim mạch có nguồn gốc mạch vành ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Nguyên nhân chính là do sự gia tăng bất thường của lipid máu, do nhiều yếu tố nguy cơ như di truyền, tiểu đường , hoặc do sự gia tăng của bệnh béo phì, …. trong số đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng lipid máu. Tại Việt Nam, tần suất của bệnh này có khuynh hướng gia tăng nhanh chóng cùng với sự đa dạng trong thức ăn hàng ngày. Việc cần thiếtlà phải đưa mức cholesterol và triglycerid trở về bình thường. Do đó, nhu cầu hiện tại là phải tiến hành những nghiên cứu để tìm ra những phương thuốc mới có hiệu quả trong lĩnh vực điều trị bệnh này cũng như cần có những mô hình thực nghiệm liên quan đến tăng lipid huyết. Trong những nghiên cứu trước đây được thực hiện tại khoa Dược Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã sử dụng chất tẩy rửa Triton 1339Tyloxapol để gây tăng lipid huyết trên chuột. Mô hình này rất có hiệu quả trong vòng 24 giờ sau khi tiêm Tyloxapol. Tuy nhiên, 48 giờ sau khi tiêm nồng độ cholesterol và triglycerid giảm đáng kể. Do đó, việc tăng lipid huyết gây bởi Tyloxapol chỉ thích hợp trong trường hợp chọn lọc sớm những hoạt chất hoặc những thuốc có tác dụng hạ lipid huyết (screening). Vì vậy, mục tiêu chính của nghiên cứu này là xây dựng một mô hình tăng lipid huyết thực nghiệm bằng chế độ ăn giàu lipid để tạo ra một tình trạng bệnh lý kéo dài hơn, ổn định hơn trên chuột. Nghiên cứu này được tiến hành tại Bộ môn Dược lýDược lâm sàng – Khoa Dược, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm những mục tiêu chuyên biệt sau đây: Gây tăng lipid huyết bằng chế độ ăn giàu lipid trên chuột Đánh giá tính khả dụng của mô hình thử nghiệm với việc sử dụng tác nhân làm hạ lipid huyết (Simvastatin)
Trang 11 LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay bệnh tim mạch có nguồn gốc mạch vành ngày càng trở nên phổ biếntrên thế giới Nguyên nhân chính là do sự gia tăng bất thường của lipid máu, donhiều yếu tố nguy cơ như di truyền, tiểu đường , hoặc do sự gia tăng của bệnhbéo phì, … trong số đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giatăng lipid máu Tại Việt Nam, tần suất của bệnh này có khuynh hướng gia tăngnhanh chóng cùng với sự đa dạng trong thức ăn hàng ngày Việc cần thiết làphải đưa mức cholesterol và triglycerid trở về bình thường Do đó, nhu cầu hiệntại là phải tiến hành những nghiên cứu để tìm ra những phương thuốc mới cóhiệu quả trong lĩnh vực điều trị bệnh này cũng như cần có những mô hình thựcnghiệm liên quan đến tăng lipid huyết
Trong những nghiên cứu trước đây được thực hiện tại khoa Dược- Đại học YDược thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã sử dụng chất tẩy rửa Triton 1339-Tyloxapol để gây tăng lipid huyết trên chuột Mô hình này rất có hiệu quả trongvòng 24 giờ sau khi tiêm Tyloxapol Tuy nhiên, 48 giờ sau khi tiêm nồng độcholesterol và triglycerid giảm đáng kể Do đó, việc tăng lipid huyết gây bởiTyloxapol chỉ thích hợp trong trường hợp chọn lọc sớm những hoạt chất hoặcnhững thuốc có tác dụng hạ lipid huyết (screening) Vì vậy, mục tiêu chính củanghiên cứu này là xây dựng một mô hình tăng lipid huyết thực nghiệm bằng chếđộ ăn giàu lipid để tạo ra một tình trạng bệnh lý kéo dài hơn, ổn định hơn trênchuột
Trang 2Nghiên cứu này được tiến hành tại Bộ môn Dược lý-Dược lâm sàng – KhoaDược, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm những mục tiêuchuyên biệt sau đây :
- Gây tăng lipid huyết bằng chế độ ăn giàu lipid trên chuột
- Đánh giá tính khả dụng của mô hình thử nghiệm với việc sử dụng tác
nhân làm hạ lipid huyết (Simvastatin)
4 KẾT QUẢ
4.1 THĂM DÒ MÔ HÌNH GÂY TĂNG LIPID HUYẾT BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN GIÀU LIPID
Giai đoạn 1 : Chuột thử nghiệm được chia làm 2 nhóm :
Nhóm chứng : được nuôi theo chế độ ăn bình thường
Nhóm tăng lipid huyết : được nuôi bằng chế độ ăn đặc biệt giàu lipid
Sau 2, 3 và 4 tuần, những chuột thử nghiệm sẽ được lấy máu để xác định nồngđộ cholesterol và nồng độ triglycerid huyết tương
Nồng độ cholesterol và triglycerid huyết của những chuột thử nghiệm trong 2nhóm này được thể hiện trong những bảng sau đây :
Bảng 7 Nồng độ cholesterol máu ở những nhóm thử nghiệm sau 2,3 và 4 tuần
theo chế độ ăn
Bảng 8 Nồng độ triglycerid máu ở những nhóm thử nghiệm sau 2,3 và 4 tuần theo
Trang 3n: số lượng chuột trong mỗi nhóm
Sau 2 tuần theo chế độ ăn giàu lipid, nồng độ cholesterol huyết của nhóm thửbắt đầu tăng nhưng không khác biệt so với nhóm chứng Ở tuần lễ thứ 3, sự khácbiệt này đã có ý nghĩa rõ rệt Việc duy trì chế độ ăn trong một tuần sau đókhông làm thay đổi đáng kể nồng độ cholesterol máu ở cả 2 nhóm
Số lượng chuột tăng lipid huyết vào tuần lễ thứ 3 của chế độ ăn vào khoảng 60
%, tỷ lệ này vẫn không thay đổi vào tuần lễ thứ 4 của nghiên cứu
Giai đoạn 2: Mục tiêu là để đánh giá tính ổn định của mô hình sau khi
ngưng chế độ ăn giàu lipid
Những chuột thử nghiệm đã tăng nồng độ cholesterol huyết vào tuần lễ thứ 4được chọn và chia thành 2 nhóm sau đây :
Nhóm 1 : Quay trở lại chế độ ăn bình thường
Nhóm 2 : Duy trì chế độ ăn giàu lipid
Xác định nồng độ cholesterol và triglycerid sau 3 tuần
Bảng 9 Nồng độ lipid máu ở những nhóm thử nghiệm
Chol : Cholesterol huyết, TG : Triglycerid huyết
Trong nhóm chuột được duy trì chế độ ăn giàu lipid (nhóm 2), nồng độcholesterol huyết vẫn ở mức cao, trong khi đó mức cholesterol huyết đã tăng cao
Trang 4ở nhóm 1 vẫn không thay đổi sau 3 tuần ngưng chế độ ăn giàu lipid Những kếtquả này cho thấy tính ổn định của mô hình
Từ những kết quả thu được, chúng tôi quyết định tiến hành giai đoạn đánh giátính khả dụng của mô hình theo tiến trình sau đây :
- Gây tăng lipid huyết
- Chọn dân số thử nghiệm vào tuần lễ thứ 3 dựa theo những tiêu chuẩn lựa chọnđã đề cập ở trên (mức cholesterol > 150 mg%)
- Sử dụng một tác nhân làm hạ lipid huyết để đánh giá tính khả dụng của môhình này
3.2.1 ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ DỤNG CỦA MÔ HÌNH THỬ NGHIỆM BẰNG CÁCH ÁP DỤNG TÁC NHÂN LÀM HẠ LIPID HUYẾT
Trọng lượng
Trọng lượng của chuột xấp xỉ nhau ở nhóm chứng và nhóm thử Trong
thời gian thử nghiệm, trọng lượng chuột gia tăng tự nhiên không phụthuộc vào chế độ ăn giàu lipid và cũng như không phụ thuộc vào việcđiều trị với Simvastatin
Cholesterol et triglycerid huyết
Bảng 10 Nồng độ lipid máu sau 3 tuần theo chế độ ăn giàu lipid
Trang 5Nhận xét :Sau 3 tuần theo chế độ ăn giàu lipid, chúng tôi ghi nhận được sự khác
biệt có ý nghĩa (p < 0.05) về nồng độ cholesterol huyết giữa nhóm thử so vớinhóm chứng nhưng không có sự khác biệt về nồng độ triglycerid huyết
Hình 5 Nồng độ cholesterol huyết sau 3 tuần theo chế độ ăn giàu lipid
Nhóm 1: simvastatin liều 8mg/kg 1 lần/ngày.
Nhóm 2: simvastatin liều 16mg/kg 1 lần/ngày.
*
0 50 100 150 200 250
Tuần
Chứng Thử
[C] mg%
Trang 6 Nhóm 3 (không điều trị): nước cất (0.1 ml /10 g chuột).
Việc lấy máu được thực hiện vào tuần lễ thứ 1 và thứ 2 sau điều trị (Bảng 10 và11) Chúng tôi nhận thấyï nồng độ cholesterol huyết sau 1 tuần điều trị đã bắtđầu giảm Tuy nhiên giá trị này lại tăng nhanh vào tuần lễ thứ 2 của đợt điều trị.Hiện tượng này có thể là do cơ chế bù sinh lý, thông qua việc tăng số lượngLDL-R dưới tác động hạ lipid huyết của thuốc Do đó, chúng tôi quyết định chianhóm thứ 2 thành 2 nhóm nhỏ mà trong đó một nhóm vẫn tiếp tục điều trị vớiliều 16 mg/kg và nhóm còn lại với liều 40 mg/kg Máu chuột được lấy 1 tuần sauđó
ED1 148.06±28.9
6
114.9±16.48
53.46±3.84
57.13±6.7 121.46±33.55
Sim 1 148.06±28.9 90.47±11.0 60.71±6.0 57.86±4.45 67.89±9.24
thời gian (tuần)
Gây tăng lipid
huyết Thời gian điều trị
Trang 7Nhận xét : Sau 6 tuần thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy nồng độ triglycerid huyết
dao động một cách tự nhiên không những không phụ thuộc vào chế độ ăn giàulipid mà cũng không phụ thuộc vào chế độ trị liệu bằng simvastatin Tuy nhiên,sự khác nhau về nồng độ triglycerid huyết giữa nhóm chứng và nhóm thử làkhông có ý nghĩa
Hình 7 So sánh nồng độ cholesterol huyết giữa nhóm điều trị với simvastatin ở
liều 8 mg/kg và nhóm không điều trị
ED 1: nhóm không điều trị
Sim 1: nhóm điều trị với Simvastatine liều 8 mg/kg trong 3 tuần
Nhận xét : Biểu đồ này cho thấy sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0,05) về nồng độ
cholesterol huyết giữa nhóm không điều trị (ED1) và nhóm điều trị (Sim 1) sau 3tuần điều trị
0.00 50.00 100.00 150.00 200.00 250.00
Trang 8Hình 8 So sánh nồng độ cholesterol huyết giữa nhóm điều trị với Simvastatin
liều 16 mg/kg và nhóm không điều trị
Sim 2: nhóm điều trị với liều 16 mg/kg trong suốt 3 tuần
Nhận xét :Sau 3 tuần điều trị, chúng tôi ghi nhận được sự khác nhau có ý nghĩa
(p < 0,05) về nồng độ cholesterol huyết ở nhóm không điều trị (ED1) và nhómđiều trị (Sim 2)
Chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù nồng độ cholesterol huyết ở 2 nhóm điều trị (8mg/kg và 16 mg/kg) có giảm sau 3 tuần điều trị nhưng vẫn chưa có sự khác biệtcó ý nghĩa về nồng độ cholesterol huyết khi so sánh với nhóm không điều trị
0.00 50.00 100.00 150.00 200.00 250.00
Tuần
[C ] m
Sim 2
Trang 9Hình 9 So sánh nồng độ cholesterol huyết giữa nhóm điều trị với simvastatine ở
liều 16 40 mg/kg và nhóm không điều trị
Sim 3: nhóm điều trị với Simvastatin ở liều 16 mg/kg trong 2 tuần đầu, và ở liều 40 mg/kg
vào tuần lễ thứ ba.
Nhận xét : Nồng độ cholesterol huyết gần như đã xuống ở mức bình thường
sau 1 tuần điều trị với simvastatin ở liều 40 mg/kg Dường như liều này hiệu quảhơn liều 8 và 16 mg/kg
Lipoprotein
Bảng 13 Nồng độ LDL-C huyết
0.00 50.00 100.00 150.00 200.00 250.00
Trang 10ED1 Sim 1 Sim 2 Sim 3
Trang 11(*) p < 0.05
Nhận xét : Chúng tôi nhận thấy có một sự giảm có ý nghĩa về nồng độ LDL-C ở
những nhóm điều trị so với nhóm không điều trị Đối với HDL-C, nhìn chung,không có sự thay đổi nào có ý nghĩa về nồng độ của nó
Abstract:
In a recent study,we have established a hyperlipidemic model in mice usingTyloxapol – Triton WR 1339 This model is suitable for preliminary screening ofremedies or compounds potential for hypolipidemic activity becausehypercholesterolemia occurs only about 24h after tyloxapol injection To evaluatebetter about an hypolipidemic agent, it demand a method causing a prolonged andstable pathologocal state Therefore, the aim in this study was to establish ahyperlipidemic model in mice under high lipids fed condition and usingsimvastatine (cholesterol and triglycerides lowering drug) as a reference drug Micewere fed a diet which contains 1% cholesterol, 0,2% taurocholate, 5% fat every day.The results show that after 3 weeks of diet, cholesterol level increased considerablyand about 60% of experimental mice had hypercholesterolemia Cholesterol levelsdecreased in Simvastatine treated groups (8mg/kg and 16 mg/kg) after 1 weektreatment but increased after 2 weeks Thus, we divided simvastatine at dose of 16mg/kg treated group into 2 sub-groups: one group remained the dose and anothergroup used the augmented dose (from 16 mg/kg to 40 mg/kg) Interestingly,treatment with simvastatine at dose of 40 mg/kg reduced cholesterol level near tothe normal values after only 1 week treatment
This ratio did not change after 1 week remained the diet
* 0
5 10 15
Tuần
ED1 Sim 1 Sim 2 Sim 3
[C]
mg%
Trang 125 BÀN LUẬN
Mục tiêu chung của nghiên cứu chúng tôi là xây dựng một mô hình tăng lipidhuyết thực nghiệm để được áp dụng vào việc đánh giá tác động hạ lipid huyếtcủa nhiều thuốc khác nhau
Những kết quả thu được của nghiên cứu cho thấy mô hình này chỉ ảnh hưởngđến mức cholesterol huyết mà không ảnh hưởng đến mức triglycerid huyết.Những kết quả này phù hợp với những nghiên cứu trước đây [23] Việc tăngcholesterol huyết đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh mạch vành(Masserg et al.,2002) [36] Cholesterol huyết của những chuột trong nhóm thửnghiệm gia tăng một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng sau 3 tuần gây bệnh.Việc ngưng chế độ ăn giàu lipid sau 3 tuần không gây ra sự thay đổi nào đối vớimức cholesterol huyết đã tăng cao, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổnđịnh của mô hình Những kết quả này cho chúng ta thấy tiềm năng áp dụng môhình này để gây ra một tình trạng bệnh lý thích hợp áp dụng vào những nghiêncứu hiệu lực của thuốc hoặc những hoạt chất có hoạt tính mà hiệu quả của thuốcthể hiện chậm
Về việc đánh giá tính khả dụng của mô hình thử nghiệm, chúng tôi sử dụng mộttác nhân làm hạ lipid huyết, simvastatin thuộc những dẫn chất statin đã được sửdụng như một thuốc đối chứng trong những mô hình tăng lipid huyết thử nghiệmkhác Cơ chế của simvastatin là ức chế HMG CoA reductase
Sau 3 tuần điều trị, chúng tôi nhận thấy một sự giảm có ý nghĩa nồng độcholesterol huyết của nhóm điều trị với simvastatin liều 8 mg/kg và 16 mg/kgkhi so sánh với nhóm không điều trị Tuy nhiên, lại không tồn tại sự khác biệt có
ý nghĩa giữa nhóm điều trị với liều 8 mg/kg và nhóm điều trị với liều 16 mg/kg
Trang 13Chúng tôi cũng nhận thấy mặc dù tồn tại một sự giảm cholesterol huyết ở 2nhóm điều trị (8 mg/kg et 16 mg/kg) sau 3 tuần điều trị, nhưng chúng tôi lạikhông nhận được sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ cholesterol huyết so vớithời điểm bắt đầu điều trị Hiện tượng này có thể là do thời gian điều trị điều trịchưa đủ để hiệu quả của thuốc có thể thể hiện rõ hơn Do đó, cần thời gian điềutrị dài hơn với 2 liều này.
Tác động hạ lipid huyết của simvastatin dường như phụ thuộc liều Quả vậy,trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ cholesterol giảm đáng kể khi tăng liềusimvastatin từ 16 mg/kg lên 40 mg/kg vào tuần lễ thứ 3 Trong nhóm này, nồngđộ cholesterol huyết giảm một cách đáng kể vào cuối đợt điều trị và dẫn đếnmột sự khác biệt có ý nghĩa không những so với nhóm chứng mà còn so với thờiđiểm bắt đầu điều trị
Đối với các lipoprotein, kết quả đã chứng tỏ có sự giảm nồng độ HDL-C và tăngLDL-C sau 3 tuần theo chế độ ăn giàu lipid Vào cuối thử nghiệm, nồng độLDL-C giảm đáng kể so với nhóm không điều trị trong khi chúng tôi không ghinhận sự thay đổi có ý nghĩa về nồng độ HDL-C mặc dù theo đặc tính trị liệu củastatin, simvastatin có tác động lên HDL-C
XÂY DỰNG MƠ HÌNH GÂY TĂNG LIPID HUYẾT
TRÊN CHUỘT NHẮT BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN GIÀU LIPID
Mai Phương Mai, Nguyễn Ngọc Văn , Huỳnh Ngọc Trinh
Bộ mơn Dược Lý – Dược Lâm Sàng Khoa Dược, ĐH Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
ĐT : 0913.888.053
Trang 15Abstract
Study of high lipids diet induced hyperlipidemic mice
Mai Phuong Mai, Nguyen Ngoc Van, Huynh Ngoc Trinh
Department of Pharmacology, Faculty of Pharmacy, University of Medicine and Pharmacy at Hochiminh city.
In a recent study,we have established a hyperlipidemic model in mice usingTyloxapol – Triton WR 1339 This model is suitable for preliminary screening ofremedies or compounds potential for hypolipidemic activity becausehypercholesterolemia occurs only about 24h after tyloxapol injection To evaluatebetter about an hypolipidemic agent, it demand a method causing a prolonged andstable pathologocal state Therefore, the aim in this study was to establish ahyperlipidemic model in mice under high lipids fed condition and usingsimvastatine (cholesterol and triglycerides lowering drug) as a reference drug Micewere fed a diet which contains 1% cholesterol, 0,2% taurocholate, 5% fat every day.The results show that after 3 weeks of diet, cholesterol level increased considerablyand about 60% of experimental mice had hypercholesterolemia Cholesterol levelsdecreased in Simvastatine treated groups (8mg/kg and 16 mg/kg) after 1 weektreatment but increased after 2 weeks Thus, we divided simvastatine at dose of 16mg/kg treated group into 2 sub-groups: one group remained the dose and anothergroup used the augmented dose (from 16 mg/kg to 40 mg/kg) Interestingly,treatment with simvastatine at dose of 40 mg/kg reduced cholesterol level near tothe normal values after only 1 week treatment
Tóm tắt
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu mô hình gây tăng lipid huyết bằng chế độ ăngiàu lipid nhằm tạo một tình trạng bệnh ổn định và kéo dài Chuột được cho ăn thực
0.2% taurocholate, 5% mỡ Kết quả cho thấy nồng độ cholesterol tăng đáng kể sau
3 tuần và có khoảng 60% chuột thử nghiệm có nồng độ cholesterol tăng cao Tuynhiên, tỉ lệ này không tăng sau 1 tuần duy trì tiếp chế độ ăn Trị liệu vớisimvastatine (8mg/kg và 16 mg/kg) cho thấy nồng độ cholesterol giảm mạnh sau 1tuần nhưng lại tăng nhanh sau 2 tuần Do đó chúng tôi đã tăng liều simvastatine từ16mg/kg lên 40 mg/kg Sau 1 tuần điều trị với liều này, nồng độ cholesterol gầnnhư giảm xuống mức bình thường
1 MỞ ĐẦU
Ngày nay, bệnh tim mạch có nguồn gốc mạch vành ngày càng trở nên phổ biến trênthế giới Nguyên nhân chính là do sự gia tăng bất thường của lipid máu, do nhiềuyếu tố nguy cơ như di truyền, tiểu đường , hoặc do sự gia tăng của bệnh béo phì, ….trong số đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng lipidmáu