TIỂU LUẬN: Công nghiệp hoá-hiện đại hoá - Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay Lời giới thiệu Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ t
Trang 1TIỂU LUẬN: Công nghiệp hoá-hiện đại hoá - Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay
Lời giới thiệu
Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa cao, quan hệ sản xuất mới chưa hoàn thiện Vì vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH- HĐH) là một xu hướng khách quan, phù hợp với xu thế của thời đại và hoàn cảnh đất nước góp phầntạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất
Do CNH-HĐH có ý nghĩa vô cùng to lớn với nước ta nên đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế và cả sinh viên nghiên cứu về đề tài này nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH Trong số các công trình đó
có không ít những công trình có tác dụng lớn đối với quá trình CNH- HĐH ở nước
ta
Đối với tôi, được sinh ra và lớn lên đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH, tôi mong đóng góp phần nào đó công sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Công nghiệp hoá-hiện đạihoá - Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay.”
Trong đề tài có sử dụng và tham khảo nhiều tài liệu và quan điểm của các nhà nghiên cứu khác
A Giới thiệu đề tài
I.Quan niệm về CNH-HĐH trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây âu (ở các nước Anh, Pháp, Đức ), ở Mỹ và ở Nhật Khi đó, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưng do tất cả mọi khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm CNH nói riêng đều mang tính lịch sử nghĩa là luôn
có sự thay đổi và phát triển cùng lịch sử của nền sản xuất xã hội, của khoa học côngnghệ Vì vậy, hiện nay quan niệm về công nghiệp hoá đã có sự thay đổi so với trướcrất nhiều
ở Việt Nam do có sự kế thưà, chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại và rút
ra những bài học kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá và thực tiễn cuộc cách mạng công nghiệp hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ VII khoá VI và đại hội đại biểu toàn quốc thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam xác định: “Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất và kinh doanh ,dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng xuất lao động cao ”
Khái niệm công nghiệp hoá như vậy Đảng ta đã xác định rộng hơn những quan điểm trước đó bao gồm tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và quản
lý kinh tế xã hội được sử dụng bằng các phương tiện tiên tiến hiện đại cùng với kĩ thuật và công nghệ cao Như vậy tư tưởng CNH không bó hẹp trong phạm vi các
Trang 2trình độ lực lượng sản xuất đơn thuần, kĩ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước, CNH ởViệt Nam hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: CNH phải gắn liền với HĐH Sở dĩ như vậy là vì trên thế giới đang diễn
ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ, tiếp cận với kinh tế tri thức để hiện đại hoá những ngành, những khâu, những lĩnh vực có khả năng nhảy vọt
Thứ hai: CNH phải nằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội CNH là tất yếu của các nước nhưng với mỗi nước mục tiêu và tính chất của CNH lại khác ở nước ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc
Thứ ba: CNH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Điều này làm cho CNH trong giai đoạn hiện nay khác với CNH trong giai đoạn đổi mới Trong cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hoá tập trung-hành chính, bao cấp, CNH được thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh của nhà nước Trong cơ chế kinh tế hiện nay nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình CNH Nhưng CNH không xuất phát từ chủ quan nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng các quy luật kháchquan mà trước hết là quy luật thị trường
Thứ tư: CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế
Vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với nước ta hiện nay
CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanh nếu chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế Công nghiệp hoá trong điều kiện”chiến lựơc” kinh tế mở cũng gây ra không ít những trở ngại do những tác dụng tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do trật tự của nền kinh tế thế giới
mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu.Vì thế, CNH-HĐH phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập
II.ý nghĩa của đề tài
1.ý nghĩa trực tiếp của đề tài
Đối với quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam, đề tài có rất nhiều ý nghĩa và tác dụng to lớn Trong đó, một số ý nghĩa nổi bật của đề tài là:
Thứ nhất: đề tài đã phân tích đánh giá chính xác thực trạng xây dựng CNH- HĐH ở Việt Nam hiện nay Đó là những đánh giá, phân tích về tiền đề thực hiện CNH-HĐH
ở nước ta, kết quả thành tựu cũng như những mặt hạn chế yếu kém trong quá trình xây dựng CNH-HĐH đất nước Thêm nữa đề tài đã làm rõ được nguyên nhân dẫn tới thực trạng của CNH-HĐH ở nước ta hiện nay Mục đích của việc này là nhằm hiểu rõ hơn về CNH-HĐH ở Việt Nam để từ đó có thể đưa ra được các giải pháp làm thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở nước ta nhanh hơn
Thứ hai:Với việc đề tài sử dụng quan điểm toàn diện để tìm ra các quan hệ giữa CNH-HĐH với một số yếu tố như (lực lưọng sản xuất, khoa học công nghệ, vốn lao
Trang 3động ) Từ đây, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về CNH-HĐH để có thể đưa ra được các giải pháp có hiệu quả nhất cho CNH-HĐH nước ta
Thứ ba:Đề tài đã đưa ra được một số giải pháp vĩ mô thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá ở nước ta bằng cách sử dụng quan điểm phát triển để vạch ra con đường phát triển.Tất cả các giải pháp trên đều được đặt trong điều kiện cụ thể của đất nước
ta và thế giới Do khi đưa ra các giải pháp đề tài đã quán triệt sử dụng quan điểm lịch sử
Trên đây chỉ là ba ý nghĩa và tác dụng nổi bật của đề tài Ngoài ra, đề tài còn một
số ý nghĩa khác như: đã vận dụng được triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong thực tiễn quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam
2 ý nghĩa của đề tài thông qua ý nghĩa việc xây dựng CNH-HĐH ở Việt Nam
Từ thập niên 60 của thế kỉ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hiểu được tác dụng của CNH-HĐH đối với nước ta rất to lớn Trong đó nổi bật là:
CNH trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa
Đó là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới Xã Hội Chủ Nghĩa
Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội với xuất phát điểm thấp, nền nông nghiệp lạc hậu,bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư sống ở nông thôn có mức thu nhập thấp, sức mua hạn chế Vì vậy, quá trình CNH là quá trình tạo điều kiện vật chất kĩ thuật cần thiết về con người và về khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống văn hoá cho nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trườngsinh thái
Quá trình CNH tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất nhờ
đó nâng cao vai trò của người lao động-nhân tố trung tâm trong nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mang lại là cơ
sở để củng cố khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thưc trong sự nghiệp cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lí kinh tế của nhà nước
Sự nghiệp CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế
Sự nghiệp CNH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn
CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng và
an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá kinh tế xã hội
B Nội dung
Trang 4I.Cơ sở của đề tài
1.Cơ sở lí luận triết học Mac-Lênin
- Nguyên lí mối quan hệ phổ biến
Tất cả các sự vật hiên tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau Mối liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới
Các tính chất của mối liên hệ: Mối liên hệ phổ biến có tính khách quan vì chỉ có duy nhất một thế giới vật chất nên các mối liên hệ cũng là vật chất Vì vậy, nó cũng phải tồn tại khách quan Còn các mối liên hệ tinh thần chỉ là sự phản ánh của các mối liên hệ vật chất vào trong con người Vì vậy, mối liên hệ phổ biến là tồn tại khách quan Mối liên hệ còn mang tính phổ biến do: Thứ nhất: do bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác và không có bất cứ một sự vật, hiện tượng nào không nằm trong mối liên hệ nào cả Mọi sự vật, hiện tượng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua các mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Thứ hai: mối liên hệ biểu hiện dưới nhiều dạng riêng biệt, cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù biểu hiện dưới hình thức nào chúng chỉ biểu hiện mối liên hệ phổ biến chung nhất Ngoài hai tính chất trên mối liên hệ này còn có tính đa dạng, nhiều vẻ của nó Mối liên hệ có thể phân ra các mối liên hệ khác nhau: có mối liên
hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ về nội dung và hình thức Tính đa dạng của các mối liên hệ là do tính đa dạng của sự tồn tại, phát triển và vận động của sự vật
và hiện tượng quy định Mỗi sự vật, hiện tượng là một cấu trúc mở bao gồm các cácmối liên hệ bên trong nó và các mối liên hệ bên ngoài nó Trong các mối liên hệ trênthì mối liên hệ bên trong, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ tất nhiên là các mối liên hệ giữ vai trò quyết định Song, tuỳ vào điều kiện cụ thể, hoàn cảnh cụ thể các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữ vai trò quyết định
- Nguyên lí về sự phát triển: Khác với các quan niệm trước đây, triết học theo quan điểm duy vật biện chứng đã đưa ra quan điểm đúng nhất về sự phát triển: “phát triển
là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ kém hoàn thiện tới hoàn thiện hơn” Sự phát triển có những đặc trưng sau: Thứ nhất: phát triển không chỉ là sự biến đổi về lượng mà trên
cơ sở những biến đổi về lượng để thực hiện những biến đổi về chất ở trình độ cao hơn Thứ hai: phát triển còn là những biến đổi làm thay đổi cấu trúc, cơ chế hoạt động, phương thức tồn tại, chức năng vốn có của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn Như vậy, sự phát triển là trong đó có sự vật mới rađời thay thế cho sự vật cũ, là quá trình không ngừng trong tự nhiên và trong xã hội, trong bản thân con người, trong tư duy Nếu xét từng trường hợp cụ thể thì có cả vận động đi lên và vận động đi xuống, vận động tuần hoàn Nhưng xét cả quá trình vận động với thời gian dài và không gian rộng thì vận động đi lên là xu hướng chung của mọi sự vật Các tính chất của sự phát triển: Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Do nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn phát sinh trong sự tồn tại
và vận động của sự vật Nhờ đó mà sự vật phát triển Vì vậy, sự phát triển là tiến
Trang 5trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngươi dù con người có muốn hay không Sự phát triển bao giờ cũng mang tính phổ biến Vì sự phát triển xảy ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong tự nhiên, trong tưduy ở bất cứ sự vật, hiện tượng khách quan nào của thế giới khách quan Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Với mỗi quá trình phát triển trong các lĩnh vực khác nhau, với mỗi điều kiện hoàn cảnh khác nhau lại diễn ra theo những mô thức khác nhau Điều này nói lên tính đa dạng, phong phú của phương thức phát triển Phương thức của mọi sự phát triển là từ sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất và ngược lại Nguồn gốc của phát triển là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Hình thức biểu hiện là phủ định của phủ định - Các quan điểm vận dụng từ hai nguyên lí trên cho quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam +Quan điểm toàn diện Do bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác, các mối liên hệ này thì đa dạng, phong phú Chính vì vậy, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải sử dụng quan điểm toàn diện,tránh quan điểm phiến diện, chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về tính quy luật hay bản chất của chúng Theo quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức về sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật khác với nó; kể cả những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới hiểu rõ được sự vật Vì vậy, để đưa ra giải pháp cho quá trình CNH-HĐH ở nước ta thì trước hết phải hiểu rõ về CNH-HĐH Muốn có được điều đó thì phải phân tích tất cả các mối liên hệ của nó Đồng thời theo quan điểm này đòi hỏi chúng
ta phải phân biệt các mối liên hệ với nhau Phải biết chú trọng tới các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên Để
từ đó để hiểu rõ được bản chất của sự vật để có các phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao Vì vậy, để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp với CNH-HĐH ở Việt Nam thì chúng ta phải phân biệt được tất cả các mối liên hệ giữa các yếu tố với CNH- HĐH Trong thực tế theo quan điểm này khi tác động vào sự vật, ta phải chú ý tới những mối liên hệ của nó với sự vật khác Phải biết sử dụng đồng bộ các biên pháp, phương tiện khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất Vì vậy,khi thực hiện CNH-HĐH ta phải sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp cùng một lúc
để giải quyết một vấn đề Để quá trình CNH-HĐH ở nước ta thu được nhiều kết quảthì chúng ta phải sử dụng quan điểm toàn diện +Quan điểm phát triển Mọi sự vật đều nằm trong quá trình vận động và phát triển nên trong hoạt động thực tiễn và nhận thức ta phải có quan điểm phát triển để vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hoácủa chúng Theo quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta không chỉ nắm bắt được cái đang tồn tại ở sự vật mà còn thấy được khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy rõ những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi đi xuống Song điều quan trọng là phải khái quát được những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi của sự vật Vì vậy, ta phải thấy rõ xu hướng vận động, phát triển, của quá trình CNH-HĐH ở nước ta trong tương lai và cả những cái đang tồn tại Xem xét sựvật theo quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải phân chia quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn Trên cơ sở đó tìm ra phương pháp nhận thức và tác độngphù hợp thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật Tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại Vì vậy, khi xây dựng CNH-HĐH ta phải chia thành những giai đoạn và trong mỗi giai đoạn ta thực hiện các biện pháp,
Trang 6phương pháp để giải quyết các vấn đề sao cho hiệu quả nhất Để thực hiện sự phát triển trên thì trên cơ sở tích luỹ dần về lượng rồi tiến tới sự biến đổi về chất Đối với
sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta cũng phải tích luỹ dần về lượng sau đó tiến hành những biến đổi về chất Quan điểm này nhằm khắc phực tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của chúng ta + Quan điểm lịch sử Quan điểm này đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phảichú ý tới điều kiện cụ thể, môi trường cụ thể mà sự vật được sinh ra, tồn tại và phát triển Vì vậy, để có thể đưa ra các giải pháp để thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở ViệtNam chúng ta phải phân tích tình hình cụ thể của đất nước, cũng như bối cảnh quốc
tế trong giai đoạn ngày nay Ngoài ra, khi thực hiện các giải pháp chúng ta cũng phải sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể - Đề tài chọn cơ sở triết học vì: Đề tài nhằm mục đích đưa ra được các giải pháp làm thúc đẩy quá trình CNH-HĐH phát triển nhanh hơn và thu được nhiều thành tựu hơn Vì vậy, đề tài dùng quan điểm toàn diện để hiểu rõ về CNH-HĐH Sau đó, dùng quan điểm phát triển để đưa ra các giải pháp thúc đẩy CNH-HĐH Nhưng để các giải pháp phát huy được tác dụng cao nhất thì đề tài đã sử dụng quan điểm lịch sử khi đưa ra các giải pháp 2 Cơ sở thực tiễn -CNH-HĐH ở Việt Nam có tính tất yếu khách quan + CNH-HĐH có tính phổ biến Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể vững chắc trên cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng Cơ sở vật chất kĩ thuật của một xã hội là toàn
bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kĩ thuật tương ứng mà lực lượng lao động sản xuất sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của xã hội Chủ Nghĩa Tư Bản đã tiến hành CNH để xây dựng cơ
sở vật chất kĩ thuật cho chính Chủ Nghĩa Tư Bản và đã thu được nhiều thành công
Đó là lực lượng sản xuất phát triển cao, trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, năng suất lao động cao Do Chủ Nghĩa Xã Hội có phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại dựa trên trình độ khoa học kĩ thuật của lực lượng sản xuất phát triển cao Vì nước ta
đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu nên nước ta phải xây dựng
cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội Trong đó, nền nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, khoa học công nghệ phát triển cao Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng đó chúng ta phải tiến hành CNH tức là chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu sang nền công nghiệp hiện đại +CNH-HĐH là quá trình tạo cơ
sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế quốc dân Xã hội chủ nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một nền kinh tế tăng trưởng, phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Cơ
sở vật chất kĩ thuật của Chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ Cơ sở kĩ thuật đó phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao CNH-HĐH chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở cho nền kinh tế quốc dân + CNH-HĐH là lựa chọn phù hợp với nước ta hiện nay Việt Nam đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
kĩ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất Xã Hội Chủ Nghĩa mới được thiết lập chưa được hoàn thiện Vì vây, quá trình CNH-HĐH sẽ xây dựn
Trang 7Lời Nói ĐầU CNH-HĐH về logic cũng như về lịch sử là một quá trình tất yêu mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải trải qua CNH-HĐH là điều kiện đầu tiên đối với hầu hết các quốc gia muốn vươn lên hàng các quốc gia phát triển có thu nhập đầu người cao Ví dụ: CNH-HĐH là tiền đề cho quá trình tăng trưởng nhanh ở Singapore từ năm 1974 đến năm 1989, cho HongKong những thập niên 70 và 80, Cộng hoà Nam Triều Tiên giai đoạn 1972 -1981 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHKT và xu hướng quốc tế hoá ngày càng mở rộng, đất nước ta đã và đang từng bước CNH-HĐH theo định hướng XHCN Trải qua mấy năm đổi mới, cục diệnđất nước ta đã có nhiều thay đổi, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước làm cho nền kinh tế trong nước phát triển mang nhiều dấu hiệu khởi sắc mới Nền kinh tế hàng hoá tạo ra bề mặt đất nước đa dạng phong phú hơn, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Điều đó thể hiện ở tốc độ GDP tăng đều qua cácnăm bình quân 8,2%/năm Song thực tế cho thấy nước ta vẫn là một nước nghèo nàn lạc hậu, với một nền kinh tế còn tồn tại nhiều yếu kém Theo cách đánh giá của
WB, VN có thể giàu có về nhân lực và lao động có học thức Nhưng những điều kiện cơ bản thì hiện nay vẫn trong tình trạng khó khăn có thể nhận thấy rằng, nếu tamuốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của mộ nước phát triển thì tất yếu phải đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH như là “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội” Bởi lẽ mục tiêu của CNH-HĐH ở nước ta hiện nay như đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kĩthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” Nội DUNG I - Lýluận chung về CNH-HĐH 1 Các quan niệm và khái niệm về CNH-HĐH Thực trạng đất nước ta hiện nay với những điều kiện và phương hướng để áp dụng CNH-HĐH một cách tích cực đem lại hiệu quả kinh tế cao, để đi sâu vào vấn đề này trướchết chúng ta cần phải hiểu CNH-HĐH là gì ? Song khi bàn tới CNH-HĐH, chúng tathường bắt gặp những cách tiếp cận khác nhau như: -CNH-HĐH là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn Cách tiếp cận này đã lẫn lộn giữa kết quả và nội dung CNH-HĐH -CNH-HĐH là một chiến lược phát triển KT-XH, KH-CN trong một thời gian dài ở đây CNH-HĐH được hiểu như một chiến lược phát triển trong đó cóphương hướhg mục tiêu của nền kinh tế mà không nêu được bản chất của quá trình này -CNH-HĐH là quá trình cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng KT-CN tiên tiến để đạt được năng suất lao động xã hội cao Đây có lẽ là một cách tiếp cận đúng bởi nó đã đưa ra mục tiêu CNH-HĐH là tăng năng suất lao động
xã hội - các quy định cho sự tồn tại của một chế độ xã hội Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định nghĩa về CNH-HĐH của hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành TW Đảng khoá VII: “ CNH-HĐH là quá trình chuyểh đổi căn bản, toàn diện các hoạt đọng sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và sự tiến bộ KH-CN tạo ra năng suất lao đọng xã hội cao Việc cơ khí hoá trang thiết bị công nghệ hiện đại cho các ngành KTQD trong điều kiện hiện nay phải được tiến hành theo quan điểm xây dựng nền kinh tế mở, đất nước đang trong
Trang 8quá trình tham gia vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH là từng bước nâng cao và HĐH nền kinh tế trong nước dẫn đến nhưngx biến đổi to lớn cả về kinh tế và chính trị Từ những yêu cầu đặt ra ởtrên các nhà kinh tế học trong nước đã đưa ra quan điểm mới về CNH đó là:”CNH
là quá trình trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành của nền KTQD Cùng quá trình đó hình thành cơ cấu kinh tế mới cho phép khai thác tốt nguồn lực của đất nước nhờ đó tạo nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế cao lâu bền cho toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo tiến bộ xã hội 2 Thực chất CNH-HĐH: Trong điều kiện kinh tế hiện nay, quan niệm về CNH-HĐH dù trên góc độ nào cũng khôngđồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp Tuy quá trình CNH có những nét riêng đối với từng nước nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quy trình có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi CNH là quá trình rộng lớn, phức tạp, thực chất của quá trình này bao gồm các mặt: 2.1-CNH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành KTQD, đặc biệt là ngành chiếm vị trí trọng yếu Thực hiện CNH trong điều kiện cách mạng KH-KT ngày nay, trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền vớiquá HĐHở cả phần cứng và phần mềm Điều đó cũng có nghĩa là xây dựng xã hội công bằng văn minh, cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại làm tăng tốc đọ tăng trưởng KT-XH cải thiện đời sốngvật chất và tinh thần của dân cư Xét trên góc độ KT-KT, HĐH là cái đích cần vươn tới trong quá trình CNH Nhưng sự vươn lên về trình độ công nghệ lại bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm hiệu quả KT-XH Nếu xét toàn cục, HĐH chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình CNH mà thôi 2.2-Quá trình CNH là quá trình bao trùm tất cã các ngành, các lực lượng hoạt độngcủa một nước Đó là lẽ tất yếu vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống thống nhất, các ngành các lĩnh vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau Bởi vậy quá trình CNH cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền KTQD và cơ cấu các ngành kinh tế Xét tổng thể,
cơ cấu kinh tế mỗi nước được cấu thành bởi 3 loại hình tổng hợp: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ nà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mỗi nước trong quá trình CNH-HĐH sẽ trải qua 2 giai đoạn: từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ 2.3- Quá trình CNH trong bất kì giai đoạn nào cũng vừa là quá trình KTKT vừa là quá trình KT-XH Thực hiện CNH-HĐH có kết quả sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu, thấp kém về kinh tế đưa đất nước thoát khỏi “vòng luẩn quẩn “đòng thời cũng sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về
xã hội, nâng cao dân trí, mức sống của dân cư đưa xã hội đén trình đọ văn minh công nghiệp 2.4-Quá trình CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế Trong điều kiện ngày nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc
tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ Việc xây dựng mục tiêu phương thức CNH ở mỗi nước cần phải phân tích và dự đoán được những biến động kinh tế xã hội chung của thế giới đặc biệt là các nước trong khu vực Điều đáng lưu ý ở đây là thực hiện quá trình CNH phải dựa vào các phải dựa vào các nguồn lực trong nước là chủ yếu Song việc khai thác các nguồn lực tự nhiên, phát huy các lợi thế tự nhiên để tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế cần kết hợp với việc tái tạo và bảo tồn các nguồn lực ấy bởi mọi sự lạm dụng “Sức mạnh của con người “để chinh phục tự nhiên theo kiểu bóc lột, huỷ hoại môi
trường, tài nguyên sẽ dẫn con người đến chỗ tàn phá ngay môi trường tồn tại của
Trang 9chính mình 2.5- CNH không phải là một mục đích tự thân mà là một phương thức
có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước Không thể thực hiện có hiệu quả quá trình CNH khi hệ thống chính trị xã hội không ổn định và không được đổi mới Ngược lại cũng không thể giữ được ổn định về chính trị xã hội, chủ quyền của đất nước nếu không thưc hiện có hiệu quả quá trình CNH Từ toàn bộ những vấn
đề đã phân tích trên đây, có thể nói thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ, làquá trình chuyển nền sản xuất xã hội (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) từ trình
độ cong nghệ thấp lên trình độ công nghệ hiện đại Lực lượng lao động sẽ chuyển dịch thích ứng về cơ cấu ngành nghề, về trình độ tay nghề và học vấn 3 Một số môhình chiến lược CNH Từ thực tiễn của nhiêu nước đang phát triển, để thực hiện thành công quá trình CNH, người ta đã khái quát thành 3 loại mô hình chiến lược CNH theo nội dung trọng tâm của mỗi mô hình Chiến lược thay thế nhập khẩu (Hướng nội) Lịch sử cho thấy chiến lược này đã được các nước đi tiên phong trong CNH thực hiện từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX thông qua việc lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh hàng ngoại nhập Tư tưởng
cơ bản của chiến lược này là mỗi nước đang phát triển cần phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng hoá nhất là hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá phải nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển Thực hiện có hiệu quả tư tưởng này không những có thể khai thác được nguồn lực sẵn có đáp ứng các nhu cầu cơ bản, cấp thiết trong nước
mà còn mở rộng thị trường phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề về xã hội, tiết kiệm ngoại tệ Thực hiện nội dung chiến lược này cần chú ý một số điểm cơ bản +Phải xác định được tổng cầu của mỗi loại hàng hoá trong nước qua phân tích và tính toán lượng hàng hoá thực tế phải nhập khẩu, tổng số và cơ cấu dân cư +Khuyến khích các nhà sản xuất trong nước đầu tư
để có thể làm chủ kỹ thuật sản xuất, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sản xuất hoặc cung cấp công nghệ, vốn kỹ năng quản lý +Lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô để trợ giúp sản xuất trong nước tồn tại và phát triển, kích thích đầu tư vào các ngành thuộc mục tiêu ưu tiên Chiến lược hướng nội lấy trọng tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mô hình này các quan hệ kinh tế đối ngoại vẫn được chú ý: nhập khẩu các điều kiện cơ bản để sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu thay thế nhập khẩu lấy thị trường quốc tế làm hướng phấn đấu 3.2 - Chiến lược hướng về xuất khẩu (hướng nội) Trong điều kiện thế giới ngày nay, tất cả các nước ở những mức độ khác nhau, đều bị cuốn hút vào quá trình phân công lao động quốc tế và tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế Để thực hiện CNH với quy mô lớn
và nhịp độ nhanh nhất thiết phải mở rộng thị trường ra ngoài nước Song ở những nước đang phát triển, trình độ kinh tế, kĩ thuật còn thấp kém, thiếu vốn, thiếu kĩ năng quản lý cũng như kinh ngiệm thương mại quốc tế ít ỏi Do đó để thực hiện hướng ngoại, lấy thị trường quốc tế làm trọng tâm, phải phát huy được lợi thế so sánh của đất nước so với nước bạn Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của đất nước Thời gian đầu các nước phát triển tập trung vào phát triển các ngành khai thác và sản xuất sản phẩm thô (công nghiệp khai khoáng
và nông lâm ngư nghiệp), xuất khẩu sang các nước công nghiệp phát triển nhằm phát huy lợi thế về tài nguyên phong phú, nguồn nhân công dồi dào và rẻ Mặc dù
Trang 10cũng đã tạo được một số điều kiện phát triển kinh tế nhưng việc tập trung các ngànhnày lại gặp một số trở ngại: cầu sản phẩm thô trên thị trường quốc tế tăng chậm, điều kiện mậu dịch bất lợi, sự phát triển các ngành này đôi khi phụ thuộc vào sự đầu
tư của các nước công nghiệp phát triển Điều đó cho thấy sự thành công của mô hình chiến lược hướng ngoại phụ thuộc vào một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ: + Chính sách tỉ giá hối đoái linh hoạt bám sát sự biến động của tỉ giátrên thị trường quốc tế và thị trường các nước bạn + Chính sách khuyến khích và trợ giúp xuất khẩu + Chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài + Thành lập và quản lý các khu chế xuất, phát triển tập trung các cơ sở sản xuất, dịch
vụ nhằm phục vụ cho xuất khẩu Mô hình chiến lược này ngày càng có sức hấp dẫn cao với nhiều nước đang phát triển 3.3- Chiến lược hỗn hợp Trong bối cảnh mới, ngoài hai chiến lược nói trên, trên thực tế đã hình thành chiến lược hỗn hợp chiến lược này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các yếu tố của chiến lược hướng nội (coitrọng thị trường trong nước, phát triển sản xuất các sản phẩm mà trong nước có khả năng và sản xuất có hiệu quả)và các yếu tố của chiến lược hướng ngoại (lấy yêu cầucủa thị trường quốc tế làm hướng phấn đấu trong phát triển các ngành trong nước Với mô hình chiến lược này không những khắc phục được yếu điểm của mô hình chiến lược hướng nội và hướng ngoại mà còn điều chỉnh trọng tâm của hai mô hình chiến lược đã nêu trên tránh sự cực đoan trong xác định thị trường và phương hướng phát triển các ngành kinh tế II/ CNH-HĐH ở Việt Nam 1 Sự cần thiết phải CNH-HĐH ở Việt Nam 1.1-Những đặc điểm chủ yếu nền KT-XH ở Việt Nam Thựctiễn ở nước ta trong tình hình hiện nay có những vấn đế nổi cộm mà tất yếu phải thực hiện CNH-HĐH: Là một nước nghèo, tích luỹ tư bản trong nước còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Lãi suất vốn vay chính là giá của vốn Hiện nay ở Việt Nam mức lãi suất tiền vay hơh 20%/năm cao hơn nhiều so với các nước khác (Đài Loan 9,3%/năm; Cộng Hoà Triều Tiên 10%/năm; Singapore 5,5%/năm; các nước phát triển từ 3đến 5%/năm) đã nói lên tình trạng cầu vượt cung về vốn ở nước
ta Do chịu hậu qủa nặng nề của 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nền kinh tế bị tàn phá nghiêm trọng, các trang thiết bị cơ sở hạ tầng, các công trình côngcộng cũng bị phá hoại nặng Trên thực tế chúng ta vẫn chưa giải quyết dứt điểm những hậu quả ấy: đườngô tô loại 1 chỉ có 9,5% tổng chiều dài, đường loại xấu chiếm 36,4%, mạng lưới viễn thông thiếu nghiêm trọng và thiết bị lỗi thời, ở các địaphương vẫn còn những thiết bị trước năm 1939 với phần lớn thao tác bằng tay Nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm tưởng chừng không vượt qua nổi Thiên tai mất mùa lại thường xuyên xảy ra làm cho đời sống nhân dân thêm khổ cực Hơn nữa nước ta lại xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế còn nhiều bấp bênh, sản xuất nhỏ kiểu phong kiến tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giaiđoạn TBCN nên không tránh khỏi những trở ngại trong phát triển kinh tế - xã hội Trên thế giới, nền kinh tế tư bản đã tạo ra một bước nhảy vọt về KHKT và kinh tế, tổng khối lượng giá trị sản phẩm trong 200 năm phát triển TBCN bằng tổng khối lượng giá trị sản phẩm tạo ra trong 1000 năm của xã hội phong kiến, 6000 năm xã hội chiếm hữu nô lệ và 1 vạn năm của xã hội cộng sản ngyên thuỷ Đó là một thiệt thòi lớn đối với chúng ta Nền kinh tế của chúng ta chậm hơn nền kinh tế của các nước tư bản trên thế giới gần 100 năm Trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ kết cấu
hạ tầng và việc ứng dụng thành tựu mới của khoa học vào sản xuất dịch vụ còn thấpkém lạc hậu, hầu hết máy móc thuộc thế hệ 50-60 Chúng ta có một lượng lao động
Trang 11dồi dào, giá rẻ, có tỷ lệ dân số biết chữ khá cao nhưng lại thiếu những nhà kinh tế chuyên sâu, những nhà kinh doanh, những nhà quản lý giỏi Do đó chúng ta chỉ có thể thoát khỏi tình trạng trên bằng cách thực hiện quá trình CNH mới tránh khỏi lạc hậu, lạc lõng và lạc điệu trước bước tiến như vũ bão của thế giới 1.2- Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta Qua mấy chục năm thực hiện CNH chúng ta đã xây dựng được những cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định Song thực trạng CNH ở nước ta vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau: *Các mặt còn hạn chế: + Quá trình CNH diễn ra quá chậm + Năng lực sản xuất công nghiệp còn nhỏ bé chưa đủ sức đầu tư phát triển, tỷtrọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội còn thấp Năm 1992 tổng giá trị tàisản cố định toàn ngành công nghiệp ước khoảng 3,4 tỷ USD chiếm khoảng 25% giátrị tài sản cố định của toàn bộ nền kinh tế (không kể giá trị đất đai, đường xá), tỷ trọng công nghiệp trong GDP chỉ chiếm 22,6%, nông nghiệp chiếm 34,5% và dịch
vụ chiếm 37,9% Năm 1993 tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong GDP tương ứng: 22,7%;30,9%; 40,8% + Ngành công nghiệp vẫn chủ yếu là gia công Ngoại trừ các sản phẩm tiêu dùng phục vụ trong nước hầu hết các sản phẩm xuất khẩu đều được thực hiện dưới hình thức gia công; các ngành công nghiệp mới như chế tạo ô tô, xe máy, điện tử mới chỉ dừng lại ở trình độ lắp ráp GKD, SKD trong
đó các linh kiện đều do nước ngoài cung cấp Hơn nữa, ngoài điện, than, xi măng chúng ta vẫn còn phải nhập khẩu 60% sắt thép, 90% hoá chất (thuốc trừ sâu 100%; phân Kali 100%; phân Đạm 98% ) + Trình độ công nghiệp vẫn còn ở mức lạc hậu, chắp vá, thiếu đồng bộ Hầu hết các ngành kinh tế - kỹ thật trình độ thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với trình độ trung bình của thế giới Đó là hạn chế
cơ bản khiến sản xuất công nghiệp của ta tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng suất lao động thấp mà chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm lại không cao VD: để sản xuất 1kwh điện chạy than các nước khác dùng 1900 kcal, ta tiêu hao
2700 kcal; hiệu suất nhiệt trong các nhà máy nhiệt diện loại này của họ là 35% ta mới đạt 29%; tổn thất điện của họ từ 12-15%, của ta là 22% + Chưa hình thành cácngành công nghiệp mũi nhọn Trong giai đoạn 1991-1995, hầu hết các ngành công nghiệp đều có mức tăng trưởng khá, đặc biệt là công nghiệp quốc doanh chiếm 70%giá trị sản lượng công nghiệp Song trên thực tế, chúng ta vẫn chưa xác định được các ngành công nghiệp mũi nhọn cần tập trung đầu tư, phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển của đất nước + Mức độ cơ khí hoá thấp, tỷ lệ lao động sửdụng máy móc chiếm 10%, lao động thủ công chiếm 90% Lực lượng ngành cơ khí còn nhỏ bé, nhiều năm qua chỉ có khả năng đáp ứng từ 20-30% nhu cầu trong nước,chủ yếu các loại công cụ máy móc ít phức tạp, chất lượng không cao *Bên cạnh những mặt hạn chế đó chúng ta cũng đã có được những thuận lợi cũng như những thành công trước mắt: Trong vòng 10 năm, đặc biệt là giai đoạn 1991-1995 ngành công nghiệp của chúng ta đẵ có nhiều cố gắng, đạt được những tiến bộ đáng tự hào
và ngày càng khẳng định vị trí của mình trong sự phát triển kinh tế đất nước Điều
đó thể hiện ở tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của toàn ngành đạt 13,7%, trong đó công nghiệp TW đạt 16,13% Một số ngành có mức tăng tưởng bình quân cao: thép 25,83%, hoá chất-phân bón 20,1%, dệt may 26,2%, da giầy 22,1% Ngành
cơ khí tuy gặp nhièu khó khăn cũng đạt mức tăng bình quân 16,3% Thêm vào đó ởnước ta hiện nay, tình hình KT-XH đã ổn định một buớc rất quan trọng Vấn đề lương thực được giải quyết tương đối vững chắc, năng lực cung cấp nguyên liệu chocông nghiệp chế biến tăng thêm Một số cơ sở công nghiệp cơ bản và kết cấu hạ