1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN_Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt phân môn Luyện từ và câu

21 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy đã có nhiều giáo viên trăn trở, suy nghĩ, chưa hài lòng vớichất lượng giờ dạy nên đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiến mới,những kinh nghiệm hay nhằm đổi mới phươ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Chiến lược phát triển Tiểu học đã chỉ rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầunhằm nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Giáodục là tạo ra những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tríthức, sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển năng lực cá nhân, đào tạo những conngười lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập nghiệp, có ýthức công dân, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, vănminh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính vì vậy, chúng tacần coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục theo đúng mục tiêu của Đảng và Nhànước đề ra Để đạt được mục tiêu giáo dục thì việc nâng cao chất lượng giảngdạy các môn học trong nhà trường là nhiệm vụ hết sức quan trọng Một trongcác môn học rất quan trọng trong chương trình giáo dục Tiểu học là môn TiếngViệt Học sinh có kỹ năng đọc và nghe tốt thì mới có thể học tốt các môn họckhác

Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành vàphát triển toàn diện nhân cách của con người, tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dântrí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng được nhucầu của đất nước trong mỗi giai đoạn Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu họclà: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt”

Trên cơ sở những tri thức cơ bản nhằm từng bước giúp các em làm chủđược công cụ ngôn ngữ để học tập trong nhà trường và giao tiếp một cách đúngđắn, mạch lạc, tự tin Đó là môi trường xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứatuổi học trò Cuối bậc Tiểu học yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải đạt được là:Đọc thông, viết thạo, sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp, và cónhững kĩ năng sống ban đầu cơ bản trong giao tiếp

Như vậy, giao tiếp là một trong những mục tiêu quan trọng của việc họctiếng Việt Muốn trau dồi được năng lực này, học sinh phải rèn các kĩ năng giaotiếp tức là phải được học tiếng Việt trong giao tiếp và sử dụng tiếng Việt tronggiao tiếp thành thạo

Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách có ý thức để giáo dục trẻ từlúc mới sinh ra Khi chưa đến trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài

xã hội Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà,lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, rèn luyện các emthành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành conngười mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Trang 2

Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàndiện học sinh Trong Tiếng Việt ở Tiểu học, “Luyện từ và câu” là một phân môngiữ vị trí hết sức quan trọng, không thể thiếu được Phân môn “Luyện từ và câu”như một chìa khóa đầu tiên để giúp các em bước vào kho tàng tri thức vô tận củanhân loại như nắm được những kinh nghiệm đời sống, những thành tựu văn hóa,khoa học, tư tưởng, tình cảm,

Chính vì vậy đã có nhiều giáo viên trăn trở, suy nghĩ, chưa hài lòng vớichất lượng giờ dạy nên đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiến mới,những kinh nghiệm hay nhằm đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đặcthù của môn học và phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp các em học tập mộtcách tự giác, nhẹ nhàng, tự nhiên mà lại hiệu quả Đây là một trong những yêucầu cấp thiết của ngành giáo dục nói chung và bậc Tiểu học nói riêng Trong thựctiễn ở trường tôi, việc giảng dạy môn Tiếng Việt đã được coi trọng

Việc giải quyết các dạng bài tập “Luyện từ và câu” trên lớp có hiệu quảđặt ra cho các giáo viên dạy Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản Dovậy, việc tổ chức cho học sinh trong phần thực hành làm các bài tập “Luyện từ

và câu” là vấn đề trăn trở đối với người giáo viên như tôi Trong quá trình giảngdạy, việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, cũng như việc pháthiện học sinh năng khiếu về tiếng Việt nói riêng, trong đó phân môn “Luyện từ

và câu” góp một phần không nhỏ Khi dạy phân môn “Luyện từ và câu”, đặcbiệt các biện pháp tu từ như: nhân hóa, so sánh, từ đơn, từ phức, danh từ, động

từ, tính từ,… học sinh bộc lộ còn rất nhiều hạn chế

2 Mục đích nghiên cứu

"Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 học tôt phân môn Luyện từ và câu”

3 Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Thời gian nghiên cứu

Bắt đầu từ 5/9/2018 đến hết 12/3/2019

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt phân môn Luyện từ và câu

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi chỉ hướng vào nghiên cứu: "Một sốgiải pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt phân môn Luyện từ và câu” và làm các bàitập Luyện từ và câu trong chương trình Tiếng Việt lớp 4

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu,học hỏi, tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)

Trang 3

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.

5 Thực trạng trước khi nghiên cứu đề tài

Qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy kết quả chưa cao là

do nguyên nhân cả hai phía: Người dạy và người học

5.1 Về giáo viên

Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để

học sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơbản về tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ đó nâng caocác kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh Giáo viên là một trong ba nhân tố

cần được xem xét của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết

định sự thành công của quá trình dạy học này Khi nghiên cứu quá trình dạy và

hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4,

tôi thấy thực trạng của giáo viên như sau:

Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn

học sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đếntâm lý một số giáo viên ngại vận dụng và vận dụng còn lúng túng

Giáo viên một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đểkhai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vàođáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này

Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh

Không ít giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn

từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về tiếng Việt

Thực tế trong trường tôi công tác, giáo viên đã tích cực đổi mới phươngpháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này đây là tiền đề trong việc pháttriển, bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảng dạy và hiệu quả

còn bộc lộ không ít những hạn chế.

5.2 Về học sinh

Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân

môn “Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này.

Học sinh không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây là

phân môn vừa “khô” lại “khó”.

Trang 4

Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ đơn, từ phức, danh từ, động

từ, tính từ, câu, biện pháp tu từ, đặc biệt là sử dụng dấu câu chưa chính xác Từ

đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, định hướng làm bài tập còn lệch lạc, việcxác định còn nhầm lẫn nhiều Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện củađầu bài, thường hay bỏ sót, làm chưa đúng hoặc không làm hết yêu cầu của đềbài

Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôichảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài khôngđạt yêu cầu

Kĩ năng đọc đề, phân tích đề của học sinh cũn hạn chế Học sinh đọc đềvội vàng, chưa biết tập trung vào những kiến thức trọng tâm của đề, không chịuphân tích đề khi đọc đề Học sinh chưa được luyện tập thường xuyên, nênthường nhầm lẫn giữa từ đơn, từ phức (từ ghép và từ láy)

- Thực tế trong một tiết dạy 38 phút - 40 phút, vừa dạy bài mới, vừa làmbài tập nên thời gian để luyện tập cho học sinh chưa khắc sâu kiến thức

- Một số học sinh gia đình còn khó khăn nên chưa quan tâm đúng mứcđến việc học của con em mình dẫn đến kết quả học tập còn thấp Học sinh chưa

ý thức việc học của mình

Do vậy ngay khi nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát học sinh Qua khảo sát

ở lớp 4A (thực nghiệm) và lớp 4C (đối chứng) Kết quả khảo sát như sau:

* Bảng số liệu trước khi thực hiện các giảỉ pháp ứng dụng:

TT

Thời

TổngsốHS

Tháng

9

4C(Đối chứng) 42 10 23,8 18 42,9 14 33,3

Điều đáng nói ở đây số lượng hoàn thành tốt chỉ có 7 học sinh, hoàn thành

có 10 học sinh và có tới 25 học sinh chưa hoàn thành Trong quá trình làm bàitôi nhận thấy, học sinh chưa biết trình bày bài khoa học, diễn đạt chưa rõ ràng,câu trả lời chưa đầy đủ, cách làm bài chưa có trình tự, mạch lạc từng bài,…

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang 5

Trong nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Luyện từ và câu ởlớp 4 có số tiết là 2 tiết/ tuần Sau mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt cácbài tập củng cố bài Trong tiết dạy phần việc xác định yêu cầu của bài và hướnggiải quyết còn mang tính thụ động, chưa phát huy triệt để vốn kiến thức khiluyện tập, thực hành Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài:

“Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt phân môn Luyện từ và câu".

1 Vị trí, tầm quan trọng của phân môn “Luyện từ và câu” ở lớp 4

Phân môn “Luyện từ và câu” là một trong những môn học rất quan trọngcủa chương trình Tiểu học Để thực hiện mục tiêu: “Hình thành và phát triển ởhọc sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giaotiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi” Có thể hiểu giao tiếp là hoạtđộng trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, nhằm thiết lập mối quan hệ, sự hiểubiết hoặc sự cộng tác giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp vớinhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọngnhất là ngôn ngữ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 đã tạo ra những môi trườnggiao tiếp có chọn lọc để học simh mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bịnhững tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp

Về nội dung, thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt và đặc biệt làphân môn “Luyện từ và câu”, các kĩ năng nói trên được dạy thông qua nhiều bàitập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên

2 Vai trò của phân môn “ Luyện từ và câu” ở lớp 4

Phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếngViệt và rèn luyện các kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho họcsinh Khác với các lớp dưới, ở lớp 4 bắt đầu có những tiết học dành riêng đểtrang bị kiến thức cho học sinh

Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, việc sử dụng các kĩ năng nghe, nói,đọc, viết tiếng Việt là không thể thiếu Đặc biệt là các công trình nghiên cứukhoa học

Nhìn nhận ở mức độ hẹp, thực tế vùng nông thôn, việc sử dụng các kỹnăng tiếng Việt còn nhiều hạn chế Hơn nữa, thực tế đòi hỏi việc sử dụng các kỹnăng tiếng Việt ngày càng cao hơn phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Với tác dụng lớn lao đó, xét về vai trò của nó trong quá trình nhận thứccủa học sinh lại là vấn đề đặt ra đối với các nhà giáo dục

3 Tổ chức thực nghiệm

Trang 6

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Với đặc trưng của phân môn “Luyện từ và câu” cùng các mâu thuẫn giữa

yêu cầu của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy củagiáo viên, việc học của học sinh Để củng cố nâng cao kiến thức, kỹ năng làm

các bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên cứu và rút ra

được nhiều kinh nghiệm thông qua các tiết dạy trên lớp, tôi đã hướng dẫn họcsinh thực hiện theo các bước sau:

+ Đọc thật kỹ đề bài

+ Nắm chắc yêu cầu của đề bài

+ Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm

+ Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài.+ Kiểm tra đánh giá

Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháprèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” Muốn học sinh làmbài một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó làbước quan trọng cho cả giáo viên và học sinh

Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chứcriêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song vớicác hình thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh.Muốn làm được việc đó, trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội dung

các chủ điểm mà phân môn “Luyện từ và câu” cần cung cấp.

Qua các bài mở rộng vốn từ, học sinh được mở rộng vốn từ theo từng chủđiểm Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa của từ, rèn luyệnkhả năng huy động vốn từ theo chủ điểm, rèn luyện sử dụng từ, sử dụng thànhngữ, tục ngữ,

Ví dụ: Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 học kì I có các chủ điểm:+ Chủ điểm 1: Thương người như thể thương thân- “Nhân hậu - Đoàn kết” + Chủ điểm 2: Măng mọc thẳng- “Trung thực - Tự trọng”

+ Chủ điểm 3: Trên đôi cánh ước mơ - “Thực hiện ước mơ”

+ Chủ điểm 4: Có chí thì nên - “Ý chí - Nghị lực”

+ Chủ điểm 5: Tiếng sáo điều - “Đồ chơi - Trò chơi”

Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo các chủ điểm, phân môn Luyện từ

và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh, đặt biệt là hệ thống từ ngữ Cungcấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng lớp, nhằm tăng cường sự hiểubiết của học sinh về nhiều lĩnh vực của cuộc sống Phần từ loại cung cấp chohọc sinh đầy đủ các kiến thức về từ loại (danh từ, động từ, tính từ)

Trang 7

Cụ thể là khái niệm về danh từ, động từ, tính từ (học xen kẽ gắn với chủđiểm) Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, từng học sinh được: Tìm hiểu vềcấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt đầu từ vấn đề trong văn, thơ.Tìm hiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Học sinhcần hiểu được:

Phần từ loại cung cấp một số kiến thức về các từ loại của danh từ, động

từ, tính từ thông qua các bài tập: nhận diện từ theo từ loại, luyện viết danh từriêng, tìm và phân loại từ theo từ loại, luyện sử dụng từ

Cấu trúc của phần từ loại danh từ, động từ, tính từ lớp 4

Cấu trúc gồm 3 phần:

Phần nhận xét: Cung cấp ngữ liệu thường là những câu thơ, câu văn,

đoạn văn, đoạn thơ có chứa các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu Cung cấp hệthống câu hỏi gợi ý để học sinh tìm ra các đặc điểm có tính chất quy luật củahiện tượng được tìm hiểu

Phần ghi nhớ: Là nội dung kiến thức và quy tắc sử dụng từ và câu được

rút ra sau phần nhận xét để yêu cầu học sinh ghi nhớ Ghi nhớ được đóng khungtrong sách giáo khoa

Phần luyện tập: Gồm hệ thống bài tập nhằm củng cố và vận dụng các

kiến thức đã học vào những tình huống mới Có hai loại bài tập ở phần luyệntập là bài tập nhận diện và bài bài tập vận dụng

Thông qua các bài tập:

+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho

+ Thêm các từ: rất, quá, lắm vào trước hoặc sau tính từ

Trang 8

1 Thái độ khen, chê.

2 Sự khẳng định, phủ định

3 Yêu cầu, mong muốn

3.2 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập “Luyện từ và câu”.

3.2.1 Đối với các dạng bài tập:Mở rộng vốn từ.

Ví dụ: Tìm các từ ngữ:

- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại

- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương

- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại

- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ

Ngoài việc sử dụng mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu học sinh

làm việc theo nhóm (nhóm 4) Mỗi nhóm một yêu cầu Sau khi làm xong, đại

diện nhóm trả lời Nhóm khác nhận xét Giáo viên kết luận, chốt lời giải đúng

Ví dụ: Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ

Nêu ý nghĩa của các từ em tìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viênchốt lại ý kiến đúng Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộcsống, quá trình học tập

3.2.2 Đối với các dạng bài tập: Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ - Tìm danh từ, động từ, tính từ, từ ghép, từ láy.

3.2.2.1 Trước tiên giáo viên giúp học sinh hiểu kiến thức về từ loại sau khi họcsinh nắm chắc kiến thức các em tự vận dụng để làm tốt các bài tập vận dụng

a Danh từ:

Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặcđơn vị)

Ví dụ:

- Danh từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng, sấm, chớp,

- Danh từ chỉ khái niệm: đạo đức, người, kinh nghiệm, cách mạng,

- Danh từ chỉ đơn vị: ông, vị (vị giám đốc), cô (cô Tấm), cái, bức, tấm, ; mét, lít, ki-lô-gam, ; nắm, mớ, đàn,

Khi phân loại danh từ tiếng Việt trước hết, người ta phân chia thành 2loại: Danh từ riêng và danh từ chung

+ Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật (tên người, tên địa phương,tên địa danh, )

+ Danh từ chung là tên của một loại sự vật (dùng để gọi chung cho mộtloại sự vật) Danh từ chung có thể chia thành 2 loại:

+ Danh từ cụ thể là danh từ chỉ sự vật mà ta có thể cảm nhận được bằngcác giác quan (sách, vở, gió, mưa, )

Trang 9

+ Danh từ trừu tượng là các danh từ chỉ sự vật mà ta không cảm nhậnđược bằng các giác quan (cách mạng, tinh thần, ý nghĩa, )

Các danh từ chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị được giảng dạytrong chương trình sách giáo khoa lớp 4 chính là các loại nhỏ của danh từ chung

+ Danh từ chỉ hiện tượng: Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian vàthời gian mà con người có thể nhận thấy, nhận biết được Có hiện tượng tự nhiênnhư: mưa, nắng, sấm, chớp, động đất, và hiện tượng xã hội như: chiến tranh, đóinghèo, áp bức, Danh từ chỉ hiện tượng là danh từ biểu thị các hiện tượng tựnhiên (cơn mưa, ánh nắng, tia chớp, ) và hiện tượng xã hội (cuộc chiến tranh,

sự đói nghèo, ) nói trên

- Cụm danh từ:

+ Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉđịnh ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ Cụm danh từ làloại tổ hợp từ do danh từ và một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành

+ Trong cụm danh từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ các

ý nghĩa về số và lượng Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật màdanh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian

b Động từ:

Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật

Ví dụ:

- đi, chạy, nhảy, (Động từ chỉ hoạt động)

- vui, buồn, giận, (Động từ chỉ trạng thái)

*Mấy lưu ý về động từ chỉ trạng thái:

Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là: nếu nhưđộng từ chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ “xong” ở phía sau (ănxong, đọc xong , ) thì động từ chỉ trạng thái không kết hợp với “xong” ở phíasau (không nói: còn xong, hết xong, kính trọng xong, )

Trong tiếng Việt một số loại động từ chỉ trạng thái sau:

+ Động từ chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có, + Động từ chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,

+ Động từ chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,

+ Động từ chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,

Một số “nội động từ” sau đây cũng được coi là động chỉ trạng thái: nằm,ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn, hồi hộp, bănkhoăn, lo lắng, Các từ này có một số đặc điểm sau:

+ Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi làđộng từ chỉ trạng thái

Trang 10

+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng tháitồn tại)

Ví dụ:

Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu)

Anh ấy đứng tuổi rồi

+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp được với các từchỉ mức độ) Các “ngoại động từ” sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạngthái (trạng thái tâm lí): yêu, ghét, kính trọng, chán, thèm, hiểu, Các từ nàymang đặc điểm ngữ pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ vàtính từ Có một số động từ chỉ hành động dược sử dụng như một động từ chỉtrạng thái Động từ chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữnghĩa giống như tính từ

Ví dụ:

Trên tường treo một bức tranh

Dưới gốc cây có buộc một con ngựa

*Xem thêm về động từ nội động và động từ ngoại động:

- Động từ nội động: là những động từ hướng vào người làm hoạt động(ngồi, ngủ, đứng, ) Động từ nội động không có khả năng có bổ ngữ chỉ đốitượng trực tiếp mà phải có quan hệ từ

Ví dụ: Bố mẹ rất lo lắng cho tôi

(Động từ nội động, quan hệ từ, bổ ngữ)

- Động từ ngoại động: là những động từ hướng đến người khác, vật khác(xây, phá, đập, cắt, )

- Động từ ngoại động có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp

Ví dụ: Bố mẹ rất thương yêu tôi

bổ sung cho động từ các chi tiết về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mụcđích, nguyên nhân, phương tiện và cách thức hành động

c.Tính từ:

Ngày đăng: 15/04/2019, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w