hay không thì cần phải có chính sách đào tạo và phát triển cho lực lượng lao độngcủa mình để đuổi kịp với xu hướng của xã hội… Do đó vai trò “con người” trở nên rất quan trọng quyết định
Trang 1Vì vậy, đào tạo và phát triển là một nhu cầu không thể thiếu được với bất kỳ mộtloại hình thức tổ chức nào Một xã hội có tồn tại được hay không là do đáp ứngđược với sự thay đổi đó không Một doanh nghiệp có đứng vững và phát triển được
Trang 2hay không thì cần phải có chính sách đào tạo và phát triển cho lực lượng lao độngcủa mình để đuổi kịp với xu hướng của xã hội…
Do đó vai trò “con người” trở nên rất quan trọng quyết định đến sự thành công củadoanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh
Đề tài: “ Đánh giá sự tác động của đào tạo đối với sự thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế của công ty may Thành Công”
Bài viết được sự giúp đỡ của thầy nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Emrất mong được sự giúp đỡ của thầy và các bạn giúp đỡ để bài thảo luận của nhóm
7 được hoàn thiện hơn
A: Cơ sở lí thuyết
I Vốn nhân lực và sự hình thành vốn nhân lực
1.1.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành vốn nhân lực
- Vốn nhân lực là tổng thể kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn mà ngườilao động tích lũy được Nó thể hiện khả năng làm việc với một trình độ nhất địnhcủa người lao động Với người sử dụng lao động, nó được đánh giá cao khi mức độđầu tư và phát triển vốn nhân lực gắn liền với khả năng tăng năng suất lao động.Với người lao động, nó rất được coi trọng vì đầu tư cho vốn nhân lực được coi làmột phương cách hiệu quả để gia tăng thu nhập trong tương lai
Cũng như vốn vật chất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng , vốn nhân lực là kếtquả của hoạt động đầu tư diễn ra trong quá khứ nhằm mục đích gia tăng thu nhậptrong tương lai Đầu tư cho vốn nhân lực là đầu tư cho tương lai Để có được mộttrình độ học vấn, kiến thức nhất định, để có được một số kỹ năng làm việc nào đó
mà xã hội hiện đại đòi hỏi, người ta cần phải đầu tư Việc đi học ở các bậc họckhác nhau, có thể nhận được các bằng cấp khác nhau, tham gia vào các khóa đàotạo, huấn luyện nghề khác nhau chính là thể hiện những mức độ đầu tưkhác nhau ở những người lao động Để học hành và tham gia các khóa đào tạo vàhuấn luyện khác nhau đó, người ta phải bỏ ra nhiều khoản chi phí: một phần đó lànhững chi phí trực tiếp hay chi phí kế toán như tiền học phí , tiền mua sách vở,
Trang 3máy tính ; một phần khác, đó chính là khoản thu nhập mà người lao động phải hysinh do không đi thể làm sớm hơn vì lựa chọn con đường học hành thêm Nhữngchi phí bỏ ra ấy chỉ có ý nghĩa nếu chúng đem lại cho người lao động một khoảnthu nhập cao hơn hay một công việc làm dễ chịu hơn, có giá trị hơn trong tươnglai, bù đắp được các chi phí đầu tư
- Các yếu tố cấu thành vốn nhân lực
Một số tác giả sau này cũng thống nhất khái niệm vốn nhân lực Henrich Von Thunen viết: “Một dân tộc có nhiều người được học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hơn là một dân tộc không được học tập Một dân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản lớn hơn, lao động đó đem lại nhiều sản phẩm hơn” Alfred Marshall cũng chấp nhận khái niệm vốn nhân lực: “Chúng ta thường định nghĩa tài sản của cá nhân trước hết bao gồm năng lượng, năng lực và tài năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất công nghiệp Những thứ
đó được coi là tài sản, là tư bản”.
Do đó vốn nhân lực là tập hợp kiến thức, khả năng, kỹ năng mà mỗi con người tích lũy được.
Muốn có vốn nhân lực, gia đình (trong đó có bản thân mỗi người) và xã hội phải đầu tư, vốn đó sẽ giúp con người kiếm sống suốt đời và góp phần làm giàu cho xã hội Đó chính
là giá trị của sức lao động.
Thật vậy, bất cứ cá nhân hay tập thể nào khi tham gia hoạt động kinh tế đều phải tính đến hiệu quả kinh tế mà biểu hiện tập trung nhất ở lợi nhuận Muốn có lợi nhuận cao, trước hết, họ phải đầu tư, hay bỏ vốn ra và kết quả họ phải tính được giữa cái thu về và cái họ
bỏ ra Nguồn nhân lực cá nhân hay xã hội cũng vậy Một người lao động sẵn sàng đầu tư
Trang 4tiền bạc, sức lực và thời gian của mình để có được chất lượng nguồn nhân lực nhất định với hy vọng sẽ làm tăng thu nhập cho bản thân sau này Người sử dụng lao động đầu tư cho đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức của mình để thu thêm lợi nhuận.
Gary beckez là nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới ( Giải Nobel về kinh tế năm 1992) đã có những đóng góp quan trọng, nhất là về vốn nhân lực Theo ông, vốn nhân lực, yếu tố đầu vào của sản xuất một phần nằm trong con người Con người có thể đầu tư vào chính bản thân mình, biểu hiện thông qua việc chi tiêu cho giáo dục và đào tạo để có thể thu nhập nhiều hơn trong tương lai Một người chịu bỏ qua một số năm làm việc có thu nhập, vượt khó khăn học tập để đáp ứng yêu cầu của công việc là do tin tưởng sau này sẽ có thu nhập cao hơn bù lại thời kỳ đi học Việc đầu tư vài kỹ năng gắn liền với bản thân người lao động người ta gọi đó là đầu tư vào vốn con người.
.
1.1.3 Các thước đo của vốn nhân lực
-Khả năng giao tiếp bao gồm khả năng đọc, viết, nghe, nói không chỉ bằng tiếng mẹ đẻ
mà bao gồm cả ngoại ngữ
- Khả năng số học, hay là những kỹ năng đòi hỏi tính logic của toán học
-Khả năng tự thấu hiểu, điều chỉnh chính bản thân mình như sự kiên trì, sự tiênphong, khả năng tự học, tự điều tiết bản thân, khả năng đánh giá sự việc dựa trênnhững chuẩn mực đạo đức nhất định và mục tiêu sống của chính cá nhân người đó
- Khả năng thấu hiểu người khác bao gồm khả năng làm việc theo nhóm và khảnăng lãnh đạo
-Các phẩm chất khác bao gồm kiến thức tiềm ẩn, khả năng giải quyết vấn đề, khảnăng làm việc chân tay, thao tác tốt đối với các thiết bị công nghệ thông tin
1.1.4 Mối quan hệ giữa phát triển con người và phát triển vốn nhân lực
Phát triển con người( đầu tư vào giáo dục và đào tạo) nhằm tích luỹ những kỹnăng và kiến thức (một phần phát triển của vốn nhân lực)
Phát triển con người toàn diện, trong sự hội nhập của con người vào xã hội vàtrong sự phát huy cá nhân con người, trên bình diện tinh thần, giá trị đạo đức , giátrị thể chất, vật chất
Quá trình phát triển người phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của giá trị nhân vănnhân
Nguyên tắc nhân văn nhân đạo chỉ đạo các con đường phát triển
Trang 5Phát triển người tập chung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trịđạo đức, giá trị thẻ chất, vật chất
Cụ thể hơn, con người được xem xét như một tài nguyên, một nguồn lực, cho nênphát triển người hoặc phát triển nguồn lực con người trở thành một lĩnh vực nghiêncứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các vốn nhân lực, như vật lực, tàilực, nhân lực, trong đó nguồn lực giữ vai trò trung tâm, cũng theo hướng này, kháiniệm hai loại vốn của ngân hàng thế giới: vốn con người và vốn vật chất, trong đó
sự phát triển vốn con người quyết định sự phát triển của vốn khác
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo đại hội VIII, lấy việc pháthuy vốn nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bến vững.Quan điểm này đặt ra cho lĩnh vực phát triển vốn nhân lực phát triển vốn nhân lực
ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn và mới mẻ Như trên đã nói, phát triển nguồn nhânlực được hiểu hết về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạođức, trí tuệ , kỹ năng, tâm hồn , thể lực làm cho con người trở thành những ngườilao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêucầu to lớn của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, của sự công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
II Ảnh hưởng của giáo dục, đào tạo vốn nhân lực đến sự phát triển kinh tế
- Thứ nhất, giáo dục mang lại cho mỗi cá nhân ở một trình độ nhất định việc làm
và thu nhập (lợi ích cá nhân) Người có học vấn cao có cơ hội tìm được việc làmtốt hơn và ít có nguy cơ thất nghiệp Nghiên cứu của Krueger và Lindahl (1999)cho thấy nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5 -15% (OECD, 2001) Ví dụ ở New Zealand và Đan Mạch, những người có bằng cấpđại học thu nhập 15% cao hơn so với những người chỉ tốt nghiệp phổ thông trongsuốt quãng đòi làm việc của họ (OECD, 2007) Nghiên cứu của Becker trước đócũng công bố kết quả tương tự nhưng ông nhấn mạnh thêm giữa những người cócùng trình độ, thu nhập trung bình cũng khác nhau tuỳ thuộc vào giới tính vàchủng tộc
- Thứ hai, vốn nhân lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Dĩ nhiên, sự tăng trưởngnày phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản kiểu nhưnếu sản xuất được nhiều hàng hoá thì sẽ bán được nhiều, sẽ thu được nhiều lãi thìtrong dây chuyền sản xuất, con người là một yếu tố không thể thiếu Nếu trước kia,sản xuất phụ thuộc vào cơ bắp, người ta không chú trọng đến việc anh học giỏi đến
Trang 6mức nào, chỉ cần anh có sức khoẻ là được thì ở giai đoạn công nghiệp hoá, với dâychuyền sản xuất hiện đại, nhân công cần có kiến thức để hiểu việc mình đang làm,
để có thể vận hành máy móc, hoặc để khắc phục sự cố nơi công xưởng Thậm chítrong tương lai, khi tất đều được thay thế bằng robot thì người ta vẫn cần những cáiđầu vĩ đại để tạo ra những con robot tốt hơn nhằm tăng gia sản xuất Nhiều nghiêncứu đã chỉ rõ trong một tổ chức nếu các cá nhân càng có năng lực thì khả năng tạo
ra sự cải tiến, sự sáng tạo trong sản xuất càng cao Vậy rõ ràng, chất lượng nguồnlao động (tức là vốn con người) có yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng kinh
và Putnam đưa ra kết quả nghiên cứu cho thấy ở những nước có nền giáo dục tốt,
sự tin tưởng lẫn nhau và sự tham gia vào các hoạt động chính trị gia tăng (OECD,2001) Người có tri thức thích tham gia vào các hoạt động xã hội và ít phạm pháphơn Những điều này góp phần làm giảm sự chi tiêu lợi tức xã hội như lương trợcấp thất nghiệp, chi phí điều trị bệnh, chi phí cho việc đảm bảo an ninh trật tự Vàgần gũi nhất, nếu cha mẹ có học vấn cao thì con cái cũng ít có nguy cơ thất học vàchúng nhận được sự quan tâm chăm sóc nhiều hơn Bỏ qua những bằng chứng đãtìm được chứng minh tầm quan trọng của việc đầu tư vào nguồn vốn nhân lực,chúng ta vẫn thấy một số điểm không hợp lý.Lý thuyết trên được hình thành trênhai cơ sở.Trước hết, nó tách rời nền kinh tế và xã hội và trở nên một lý thuyết cục
bộ, không tồn tại trên thực tế.Ví dụ những hợp đồng kinh tế luôn luôn dựa trên sựthấu hiểu về văn hoá và quy phạm pháp luật, là những sản phẩm của lịch sử xã hội.Các nhà kinh tế biết rõ điều này nhưng họ lờ đi và xem chúng như những yếu tố cóthể cắt bỏ một cách an toàn mà không làm ảnh hưởng gì đến tính chính xác củamẫu hình lý thuyết họ tạo ra Tiếp đến, trong lý thuyết này tồn tại sự giả định các
cá nhân đều hành động có ý thức, có lựa chọn để đạt đến lợi ích tối đa.Dĩ nhiên, aicũng thích bỏ ra ít nhưng lại hưởng lợi nhiều nhất nhưng đặt ngược lại, chuyện gì
sẽ ra nếu một cá nhân đã đầu tư nhiều nhất nhưng lại không đạt được lợi ích caonhất? Ví dụ, một sinh viên tốt nghiệp ngành viết phần mềm nhưng anh ta không thểtìm được việc làm thích hợp ở một công ty nơi anh ta có thể bán trí tuệ với mứclương cao đơn giản chỉ vì thị trường lao động cho ngành mà anh được đào tạo chưaphát triển đủ và vì những yếu tố chính trị khiến anh không thể sang nước khác làmviệc Và dĩ nhiên, sau khi đã đầu tư cho việc học, để mưu sinh anh ta phải chấp
Trang 7nhận một công việc với mức lương thấp hơn so với mặt bằng chung mà lẽ ra anhphải được hưởng từ sự đầu tư vào giáo dục của mình
III Đầu tư cho giáo dục đào tạo
Tri thức con người không phải tự nhiên mà có; trái lại, phải thông qua giáo dục
và đào tạo mới có được.Chức năng của giáo dục và đào tạo là biến những giá trịvăn hóa của xã hội thành tài sản của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.Từ những tàisản riêng đó, mỗi người lại góp phần nhân lên những tài sản văn hóa của xã hội,nâng cao trình độ trí tuệ cho cả cộng đồng Chính vì thế mà có thể nói rằng, giáodục và đào tạo là khuôn đúc con người, là nguyên nhân trực tiếp quyết định chấtlượng nguồn lực con người, là nguyên nhân sâu xa làm gia tăng hàm lượng chấtxám trong cơ cấu giá trị sản phẩm của lao động Nâng cao dân trí, bồi dưỡng vàphát triển nguồn lực con người là yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xãhội
Phát triển kinh tế tri thức được thúc đẩy bởi giáo dục và đào tạo Sở dĩ như vậy là
vì, giáo dục và đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động đến việc nâng cao trí tuệ,nâng cao sự hiểu biết và vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuấtcủa con người Trong thời đại ngày nay, giáo dục và đào tạo là con đường tốt nhất
để con người luôn luôn tiếp cận kịp thời những thông tin mới nhất, cập nhật, làmgiàu thêm nguồn tri thức và năng lực sáng tạo của mình; chỉ có thông qua giáo dục
và đào tạo mới tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực trong
xã hội, trước hết là nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó,muốn tạo động lực cho sự phát triển kinh tế tri thức phải chấn hưng giáo dục vàđào tạo Chấn hưng giáo dục và đào tạo là bí quyết để thúc đẩy sự phát triển củakinh tế tri thức
Giáo dục và đào tạo giúp cho người lao động nâng cao trình độ học vấn, cáchứng dụng và sáng tạo công nghệ tốt hơn Chính vì vậy, giáo dục và đào tạo là yếu
tố quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.Đảm bảo sự phát triểnkinh tế - xã hội bền vững cũng chính là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trithức.Trong kinh tế tri thức, tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất; sự tăng trưởngcủa kinh tế là do tích lũy tri thức đem lại.So với các yếu tố khác của sản xuất, trithức khi tham gia vào quá trình sản xuất, nó không những không bị hao mòn, cạnkiệt, mà còn luôn được nâng cao.Khi chia sẻ và chuyển giao tri thức cho ngườikhác, người sở hữu tri thức vẫn giữ nguyên tri thức của mình.Theo đó, nguồn vốntri thức - yếu tố chủ yếu của sản xuất - được tăng gấp bội và sử dụng một cách hiệuquả nhất, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tri thức được
Trang 8tăng gấp bội và sử dụng một cách có hiệu quả là nhờ giáo dục và đào tạo Chínhtrên ý nghĩa đó mà giáo dục và đào tạo trở thành động lực cho sự phát triển kinh tếtri thức.
IV Đánh giá hiệu quả đào tạo
Giáo dục và đào tạo không chỉ làm tăng hàm lượng chất xám và nguồn vốn trithức trong quá trình sản xuất, làm tăng chất lượng nguồn nhân lực, mà còn tạo cơ
sở để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnhtranh và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh Không chỉ thế, giáo dục và đào tạo cònlàm tăng hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội; gia tăng tính bềnvững trong quá trình phát triển kinh tế; nâng cao tính tích cực và năng lực sáng tạocủa con người, tạo cơ sở để giải quyết việc làm, chuyển đổi ngành nghề, chuyểndịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế; tăng tính thích nghi của nguồn lực conngười và tính linh hoạt của nền kinh tế trong điều kiện cạnh tranh ngày càng quyếtliệt; tăng sức hút đối với các nguồn lực bên ngoài; tăng sức mạnh nội lực và tínhhiệu quả trong việc chủ động hội nhập quốc tế Tất cả những điều này đã tạo độnglực cho sự phát triển kinh tế tri thức Do vậy, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, đểđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, chúng
ta phải phát triển giáo dục và đào tạo để giải phóng và thúc đẩy sự phát triển củalực lượng sản xuất và lấy đó làm khâu đột phá cho chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội không chỉ trong giai đoạn hiện nay, mà còn cho cả những năm tiếp theo
B: Liên hệ vào công ty may Thành Công
I: Giới thiệu công ty
• Giới thiệu chung:
Công ty Cổ phần Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công (Thành CôngGroup) là một trong những công ty dệt may hàng đầu tại Việt Nam được thành lậpngày 16/08/1976 Với quy trình sản xuất khép kín từ Dệt – Nhuộm May, các sảnphẩm sợi, vải dệt, vải đan và sản phẩm may mặc mang xuất xứ Thành Công đãkhẳng định được uy tín – chất lượng trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 9- Tháng 8/1976: được tiếp quản thành xí nghiệp quốc doanh với tên gọi làNhà máy Dệt Tái Thành.
- Tháng 02/2000: Công ty được phát triển thành Công ty Dệt May ThànhCông
- Tháng 07/ 2006: Công ty Dệt may Thành Công chính thức chuyển đổi hìnhthức hoạt động sang doanh nghiệp cổ phần hóa với tên gọi Công Ty Cổ PhầnDệt May Thành Công
- Tháng 01/ 2009: Công ty Cổ Phần Dệt May Thành Công chính thức chuyểnđổi hình thức hoạt động sang doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề với têngọichính thức Công Ty Cổ Phần – Đầu Tư –Thương Mại Thành Công,
- Tháng 06/ 2009: TCG phát hành thành công hơn 10 triệu cổ phiếu cho cổđông chiến lược E-land Asia Holdings (Singapore) thuộc tập đoàn E-Land(Hàn Quốc) Theo nghị quyết HĐQT năm 2009, E-land không những trởthành cổ đông chiến lược mà còn tham gia quản lí điều hành hoạt động củaTCG
Sản phẩm của công ty CP Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công đãđược phân phối tới hơn 50 khách hàng ở nhiều nước trên thế giới Vớidoanh thu hàng năm là 1,000 tỷ đồng từ năm 2006 đến nay, trong đó có
Trang 10600.000.000.000 đồng thu được từ xuất khẩu, chúng tôi là một đối tác đángtin cậy trong hợp tác.
Tên gọi Thành Công như một sứ mệnh lớn của công ty, để mang đến thànhcông cho mọi người, bao gồm khách hàng, cổ đông, đối tác, cán bộ côngnhân và cộng đồng Chúng tôi chỉ thực sự thành công khi bạn hài lòng vớisản phẩm, dịch vụ cũng như hoạt động minh bạch của công ty
5 Từ 2006, doanh thu của TCG là trên 1,000 tỷ đồng (khoảng 60 triệu USD), trong
đó khoảng 70% là từ xuất khẩu
Sản phẩm:
- Sản phẩm sợi: 100% Cotton CM, CD, OE chi số 20-40; Viscose, Covi chi số 40; CVC 60/40, 80/20; T/R, T/C 65/35, 80/20 chi số 20-40; 100% Spun Polyester (PE) chi số 20-40; Sợi Slub
30 Sản phẩm vải: vải đan, vải dệt, vải thời trang, vải đồng phục, vải có tính năng đặcbiệt,
- Sản phẩm may: Polo - Shirt, T- shirt, trang phục thể thao, trang phục công sở, trang phục mặc nhà, trang phục dạo phố, trang phục trẻ em, trang phục y tế, hàng thời trang, hàng đồng phục, các loại trang phục sử dụng chất liệu có tính năng đặc biệt…
Trang 11II: Công tác đào tạo công nhân viên trong công ty may Thành Công hiện nay:2.1 Thực trạng:
Trong những năm qua các nhà quản lý công ty đã chú tâm đến công tác đào tạonguồn nhân lực của mình, họ đã đưa ra rất nhiều các biện pháp tích cực nhằm đàotạo và quản lý nguồn nhân lực một cách hiệu quả.Trong xu thế hội nhập toàn cầuthì vai trò của nguồn lực là hết sức quan trọng nó quyết định sự thành bại của sảnphẩm trên thị trường Vì vậy để đuổi kịp thời đại thì bộ phận nhân sự của công ty
đã có rất nhiều ý tưởng nhằm nâng cao năng lực quản lý đội ngũ nhân viên laođộng, nắm bắt kịp thời các biến động trên thị trường, đưa nguồn nhân lực cua công
ty lên một tầm cao mới Công ty đã xây dựng các kế hoạch nhằm đào tạo, bồidưỡng và nâng cao trình độ tay nghề cũng như tiếp thu nguồn công nghệ mới chocông nhân viên.Cụ thể như sau:
• Đối với nhân viên:
Với phương châm: “Nơi làm việc cũng là trường học về tri thức và nhân
cách”, Thành Công thiết kế một lộ trình đào tạo & học tập xuyên suốt quá trình
làm việc nhằm tạo điều kiện cho nhân viên có thể hội nhập một cách nhanh nhất,trau dồi và phát triển nền tảng sự nghiệp và khả năng lãnh đạo qua 5 phần chính:
Công ty đã tiến hành mời các chuyên gia nước ngoài tập huấn thực hành tạicông ty cho đội ngũ nhân viên về tất cả các lĩnh vực Cử các học viên xuất sắc đi
Trang 12tham gia các lớp nghiệp vụ xuất nhập khẩu, quản trị kinh doanh, quản trị sản xuất,
…
• Đối với công nhân may:
Tiến hành giám sát tại chỗ, chỉnh sửa và nâng cao tay nghề cho các công nhâncòn yếu hay chưa quen việc Thường xuyên mở thêm các lớp đào tạo tay nghề cơbản và nâng cao cho công nhân trong phân xưởng Thăm dò thị trường và có kếhoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn cho công nhân phù hợp với sự biến động thay đổicủa khách hàng
Các hình thức đào tạo của công ty:
a. Đào tạo mới:
- Đối tượng, tiêu chuẩn: Những người mới tuyển để bổ nhiệm vào các vị trítrong dây chuyền sản xuất
- Hình thức đào tạo: Đào tạo kèm cặp tại chỗ hoặc gửi đi đào tạo tại cáctrường đào tạo công nhân kỹ thuật
- Thời gian đào tạo: 6 tháng, 9 tháng hoặc 1 năm
b. Đào tạo kiêm nghề
- Đối tượng tiêu chuẩn: công nhân đã được đào tạo một nghề trong dâychuyền sản xuất, cần phải đào tạo thêm 1,2 lĩnh vực phù hợp đáp ứng nhucầu sử dụng lao động khi cần thiết
- Hình thức đào tạo: kèm cặp trong dây chuyền sản xuất
- Nội dung đào tạo của công ty phù hợp với từngbộ phận, tương đương vớithợ bậc 1
c. Đào tạo chuyển nghề, thêm nghề
-Đốitượng:
+ Do chủ quan: Người lao động không đảm đương được công việc đang làm
do không phù hợp với khả năng, trinh độ tay nghề và không thể bồi dưỡngđào tạo lại, phải bố trí chuyển bộ phận khác cho phù hợp
+ Do khách quan: Sau khi sắp xếp lại dây chuyền sản xuất , bố trí lại laođộng, một số lao động dôi dư phải chuyển lĩnh vực khác
Trang 13- Hình thức đào tạo : Có thể đào tạo kèm cặp trực tiếp trong dây chuyềnsản xuất, có thể gửi đào tạo tại các trường đào tạo công nhân.
- Nội dung: nội dung đào tạo lý thuyết và thực hanh được soạn thảo tươngđương với thợ bậc 1
d. Đào tạo nâng cao tay nghề đối với công nhân tay nghề yếu:
- Đối tượng: Đối với công nhân tay nghề yếu, công nhân có diện thi tuyển
có nghề vào làm việc ngay, Công ty có kế hoạch đào tạo một cách toàndiện về lý thuyết chuyên môn cũng như tay nghề để đáp ứng yêu cầu sảnxuất kinh doanh
- Nội dung: Bồi dưỡng lý thuyết chuyên môn và tay nghề theo đề cươngtổng giám đốc duyệt
- Hình thức đào tạo: Kèm cặp trong sản xuất
e. Đào tạo bồi dưỡng nâng bậc công nhân:
Bổ túc lý thuyết chuyên môn kho công nhân trong diện xét nâng bậcmiễn thi và nâng bậc phải thi
- Đối tượng: công nhân các ngành nghề theo quy định của công ty
+ Miễn thi: Công nhân công nghê, công nhân phục vụ, xâydựng,thaotác…
+ Nâng bậc phải thi: Công nhân cơ điện, cơ khí, bảo toàn
- Hình thức vừa học vừa làm, công nhân theo học các lớp công ty tự tổchức
- Nội dung:
+ Công nhân từ bậc 1 đến bậc 4( trừ công nhân mới tuyển) được đào tạo
về lý thuyết chuyên môn cơ sở theo bộ phận
+ Công nhân từ bậc 5 trở lên được đào tạo về lý thuyết chuyên môn nângcao theo ngành nghề
Tổ chức kèm cặp tay nghề cho công nhân :
Cán bộ kĩ thuật và công nhân bậc cao của các đơn vị hướng dẫn, kèm cặpnghề cho công nhân trong diện nâng bậc tại các đơn vị theo tiêu chuẩncấp bậc thợ
Tổ chức thi nâng bậc cho công nhân trong diện thi nâng bậc hàng năm :Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ơ từng thời kỳ nhất định công ty sẽ lựachọn hình thưc, đối tượng đào tạo cho phù hợp, các hình thức đào tạo nàyđược sử dụng đan xen và bổ sung nhau nhằm phát huy tối đa ưu điểm, tácdụng của mỗi hình thứcđàotạo
Trang 14Đối với nhân viên để nâng cao năng lực chuyên môn cũng như phát triểnnhững năng lực của bản thân phát huy kĩ năng lãnh đạo, quản lý.Công ty có ưu tiêncác nhân viên tham gia lớp đào tạo quản lý và được hưởng lương như đi làm.
Đối với ngành nghề mới mà công ty mới mở rộng thêm, đỗi ngũ nguồn nhânlực chưa quen với công việc chưa có kinh nghiệm thì đi học thêm để truyền bá chonhân viên công ty về lĩnh vực đó
2.2 Đánh giá công tác đào tạo:
Ưu điểm:
• Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân phốihợp làm nhóm đối với những công việc cần thiết để tạo ra năng suất và hiệuquả cao
• Đã có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho nhân viên về chuyên mônnghiệp vụ Bên cạnh đó, có những hoạt động thường xuyên như nhân viênđược tiếp cận các lĩnh vực mới nhằm mở rộng quy mô và lĩnh vực sản xuấtmới của công ty
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty vẫn gặp một số khó khăn và tồn đọngsau:
• Nguồn nhân lực mới tuyển chưa đáp ứng được yêu cầu của công ty, cần cóthời gian chỉ dẫn làm quen với công việc
• Số công nhân có tay nghề và kinh nghiệm chưa cao đội ngũ nhân viên cònmỏng
• Việc đưa nhân viên đến các cơ sở để đào tạo thêm sẽ dẫn tới tình trạng họcxong có thể rút lui, nghỉ việc ở công ty gây lãng phí nguồn nhân lực tốn kémchi phí tuyển dụng và đào tạo lại nếu không có các chính sách tạo động lựchợp lí
Trang 15III: Công tác đào tạo cán bộ quản lí cho doanh nghiệp may.
Công tác đào tạo cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung cho các doanh nghiệp may:
Cán bộ quản lý cấp cao như hội đồng quản trị, ban giám đốc ; cán bộ cấp trung
là trưởng các phòng ban chức năng được đào tạo tại các trường chính quy về quảnlý
Để các cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung có thể làm tốt công tác lãnh đạo củamình thì ngoài các kỹ năng quản lý chung, đội ngũ cán bộ quản lý này cần phải cóthêm một số kiến thức về kỹ thuật chuyên ngành may như kỹ năng quản lý dâychuyền may, quản lý chất lượng sản phẩm may… Những kiến thức chuyên ngànhnày chính là khoảng trống mà hiện nay các trường đào tạo về quản lý chưa có giảipháp hữu hiệu để bù đắp cho người học, đây chính là yếu tố ảnh hưởng không tốttới việc hình thành vốn nhân lực chuyên môn trong công ty may Thành Công
Nhận thức rõ yếu điểm này, đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung trongdoanh nghiệp may được công ty cho đi bồi dưỡng ngắn hạn các kiến thức, kỹ năngchuyên ngành may như đã nói ở trên ở các trường đại học đào tạo về chuyên ngànhmay
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung nhưng làm việc tại phân xưởng sảnxuất như quản đốc, phó quản đốc…thì có cả lao động được đào tạo tại các trườngchính quy về quản lý như đã nói ở trên nhưng đại đa số lại là những công nhânlành nghề được doanh nghiệp bồi dưỡng thêm để nắm giữ những chức vụ này Họđược đào tạo, bồi dưỡng tại các trường dạy nghề hoặc đại học, cao đẳng có đào tạochuyên ngành may, sau đó được các doanh nghiệp cử đi học theo hình thức vừalàm vừa học, bằng đại học thứ hai hoặc được cử đi bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý.Đây cũng là một thực trạng đáng quan tâm trong quá trình đào tạo nhân lực quản lýcho ngành may, nhất là đối với những cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành may ở cấptrình độ đại học và cao đẳng
Hiện nay, các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành may ở bậc đại học và cao đẳngchỉ xác định công việc chủ yếu của sinh viên sau khi tốt nghiệp là làm các côngviệc về kỹ thuật trong doanh nghiệp may vì vậy các kiến thức về quản trị doanhnghiệp may thường được đưa vào chương trình đào tạo với thời lượng không tươngxứng với vị trí quản lý doanh nghiệp may Có thể thấy rõ vấn đề này ở chươngtrình đào tạo kỹ sư công nghệ may ở một số trường đại học và cao đẳng tại ViệtNam trong đó thời lượng các nội dung về quản lý trong chương trình đào tạo chỉchiếm từ 3,5 – 6,4% Với thời lượng như trên, sinh viên sau khi tốt nghiệp thườngkhông thể đảm nhiệm các vị trí quản lý tại các doanh nghiệp may được mà thường
Trang 16phải bồi dưỡng thêm các kiến thức về quản lý qua các khoá bồi dưỡng ngắn hạn.Như vậy, quá trình tạo vốn nhân lực chuyên môn đối với cán bộ quản lý cấp trungcủa các doanh nghiệp may phải trải qua cả đào tạo chính quy và đào tạo khôngchính quy.
Công tác đào tạo cán bộ quản lý cấp cơ sở cho doanh nghiệp may
Cán bộ quản lý cấp cơ sở trong doanh nghiệp may là các chức danh như trưởng
ca, tổ trưởng, tổ phó Các cán bộ ở cấp quản lý này đại đa số là các công nhân cótay nghề tương đối tốt, có tâm huyết với doanh nghiệp nên được doanh nghiệp giữlại làm bộ khung quản lý cấp cơ sở Qua khảo sát cán bộ quản lý cấp cơ sở tại cácdoanh nghiệp may, có thể thấy rằng một số được đào tạo tại các trường dạy nghềmay chính quy, một số được đào tạo ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề may vàmột số ít nữa do doanh nghiệp tự đào tạo Trong những chương trình dạy nghề maycho các đối tượng trên, hầu như không đề cập đến những kiến thức về quản lýchuyên ngành may nên những cán bộ này không có kiến thức về quản lý vì vậy khiđược đề bạt thành tổ trưởng hoặc trưởng ca để quản lý một tổ sản xuất hoặc một casản xuất thường rất lúng túng và quản lý không có hiệu quả vì kiến thức về quản lý
mà họ có được là do tự quan sát và trau dồi trong quá trình làm công nhân may tạidoanh nghiệp, không được đào tạo một cách có hệ thống Đây chính là những bấtcập làm giảm chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may trong một giaiđoạn tương đối dài do tác động của yếu tố quản trị doanh nghiệp may mà cụ thể làcông tác đào tạo và sử dụng cán bộ quản lý cấp cơ sở chưa hợp lý
Hiện nay doanh nghiệp đã nhận ra vấn đề trên nên đã cải tiến công tác đào tạo và
sử dụng cán bộ quản lý cấp cơ sở thông qua việc tổ chức các khoá học ngắn hạn vềquản lý tổ sản xuất cho đội ngũ này, doanh nghiệp đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡngkiến thức quản lý tổ sản xuất cho 100% cán bộ quản lý cấp cơ sở Những chươngtrình bồi dưỡng ngắn hạn này đều do các trường chính quy xây dựng và giảng dạytheo đơn đặt hàng của doanh nghiệp Nội dung chương trình thường tập trung vàocác chuyên đề về quản lý và điều hành tổ sản xuất, có nhiều lớp bồi dưỡng còn yêucầu cung cấp thêm các kiến thức sơ lược về chuẩn bị sản xuất chuyên ngành may.Những lớp học này thường được tổ chức ngay tại doanh nghiệp nên học viên có cơhội trao đổi với giảng viên về những vấn đề xảy ra trong thực tế sản xuất liên quanđến bài học Điều này đã giúp họ quản lý dây chuyền may một cách có hiệu quảhơn