Đáp ứng được nhu cầu gỗ ngày càng tăng của xã hội đồng thời góp phần cải thiện phần nào khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG VĂN HÀ
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG TRỒNG RỪNG NGUYÊN LIỆU VÁN DĂM BẰNG CÂY KEO LAI
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Đặng Kim Vui
2.ThS Trần Công Quân
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trương Văn Hà
Học viên cao học khóa 17 chuyên ngành: Lâm Nghiệp Niên khóa 2009
- 2011 Tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Đến nay tôi đã hòa thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan
- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
- Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./
Người cam đoan
Trương Văn Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành trương trình đào tạo thạc sĩ của nhà trường tác giả đã thực
hiện đề tài:“Nghiên cứu hiện trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên” Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp tác
giả đã được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của lãnh đạo Công ty TNHH MTV Ván dăm Thái Nguyên Được thầy giáo PGS.TS Đặng Kim Vui - Giám đốc Đại học Thái Nguyên và thầy giáo ThS Trần Công Quân - Giảng viên khoa Lâm Nghiệp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ với trách nhiệm cao giúp tác giả hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan
tâm, giúp đỡ quý báu đó
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ, giảng viên phụ trách Đào tạo sau Đại học đã dành cho tác giả những điều kiện hết sức thuận lợi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân trong gia đình đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong cả quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Trương Văn Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình vẽ viii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa của đề tài 4
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Tổng quan tài liệu 5
2.1.1 Cơ sở khoa học 5
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
2.1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 31
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ 31
2.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ 34
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38
Trang 53.1.1 Địa điểm 38
3.1.2 Thời gian tiến hành 38
3.2 Nội dung nghiên cứu 38
3.3 Phương pháp nghiên cứu 38
3.3.1 Kế thừa các số liệu thứ cấp 38
3.3.2 Phương pháp điều tra thực địa 39
3.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát kết hợp với tiếp cận thông tin định tính, định lượng với các phương pháp như: RRA, PRA 41
3.3.4 Phương pháp quan sát 41
3.3.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 41
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Tình hình trồng rừng nguyên liệu của công ty TNHH MTV VDTN tại tỉnh Thái Nguyên 46
4.2 Những TBKT trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm đã được áp dụng trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 48
4.2.1 Xác định dạng lập địa và đánh giá độ thích hợp cây trồng 48
4.2.2 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khâu chọn tạo giống của công ty TNHH MTV VDTN 49
4.2.3 Về phương thức làm đất 51
4.2.4 Kỹ thuật bón phân 53
4.2.5 Về mật độ trồng 54
4.2.6 Về chăm sóc và tưới nước 55
4.2.7 Tình hình sâu bệnh hại 56
4.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của rừng trồng 57
4.3.1 Chỉ tiêu đường kính D1.3 57
4.3.2 Chỉ tiêu chiều cao cây Hvn 58
Trang 64.4 Dự tính hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường các mô hình
điều tra 62
4.4.1 Các thông số sử dụng trong tính toán 62
4.4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình trồng rừng 62
4.4.3 Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường 71
4.5 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng TBKT trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm 74
4.5.1 Vai trò của các tổ chức xã hội 74
4.5.2 Phân tích sơ đồ SWOT 76
4.5.3 Đề xuất một số giải pháp 77
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
I Tiếng Việt 82
II Tiếng Anh 85
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông Nghiệp và phát triển nông thôn
Công ty TNHH MTV VDTN: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
ván dăm Thái Nguyên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng cây Keo lai của Công ty TNHH
MTV Ván Dăm Thái Nguyên 25
Bảng 2.2 Tình hình khí hậu thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ 32
Bảng 3.1 Mẫu biểu phiếu điều tra tình hình sinh trưởng của rừng trồng 40
Bảng 3.2 Mẫu bảng sắp xếp kết quả điều tra 42
Bảng 4.1 Bảng thống kê diện tích trồng rừng nguyên liệu 46
Bảng 4.2 Bảng thống kê nguồn Keo giống sử dụng tại vườn ươm 50
Bảng 4.3 Bảng tổng hợp các phương pháp làm đất trồng rừng 52
Bảng 4.4 Bảng tổng hợp các mô hình bón phân trồng rừng 53
Bảng 4.5 Thống kê tình hình sâu bệnh hại rừng trồng Keo lai 56
Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu đường kính trung bình (D1.3) 57
Bảng 4.7 Kết quả nghiên cứu chiều cao trung bình (Hvn) 58
Bảng 4.8 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 1 63
Bảng 4.9 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 2 64
Bảng 4.10 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 3 66
Bảng 4.11 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 4 67
Bảng 4.12 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 5 69
Bảng 4.13 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 6 70
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của các mô hình 71
Bảng 4.15 Bảng tổng hợp thu nhập và tốc độ sinh trưởng của các mô hình 72
Bảng 4.16 Kết quả điều tra số công lao động trên ha của các mô hình trồng rừng thâm canh 73
Bảng 4.17 Bảng xếp hạng cho điểm về tác động của một số mô hình trồng rừng ứng dụng TBKT đến môi trường 73
Bảng 4.18 Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức đến việc phát triển mô hình trồng rừng nguyên liệu ván dăm ở huyện Đồng Hỷ 74
Bảng 4.19 Ý kiến đề nghị của người dân 77
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Giản đồ vũ nhiệt Gaussen -Walter huyện Đồng Hỷ 33
Hình 4.1 Đồ thị biểu diễn diện tích trồng rừng nguyên liệu 47
Hình 4.2 Đồ thị biểu diễn đường kính trung bình D1.3 58
Hình 4.3 Đồ thị biểu diễn chiều cao trung bình Hvn 59
Hình 4.4 Sơ đồ VENN về mối quan hệ của các tổ chức xã hội trong phát triển mô hình trồng rừng nguyên liệu tại huyện Đồng Hỷ 75
Hình 4.5 Sơ đồ SWOT phát triển mô hình trồng ứng dụng TBKT 76
Trang 102009 là 39,1% tăng 0,4% so với năm 2008 (Bộ NN&PTNT, 2010) [3] Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng năng xuất và chất lượng rừng vẫn còn thấp Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay Đặc biệt là rừng trồng, trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lên hơn 20m3
/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội
Theo số lượng thống kê của Bộ NN&PTNT tính đến năm 2010 trữ lượng gỗ cả nước là 871 triệu m3, trong đó gỗ rừng tự nhiên là 798 triệu m3
và 6,4 tỷ cây tre nứa, rừng trồng là 73 triệu m3, chiếm 8,4% tổng trữ lượng gỗ (Bộ NN&PTNT, 2010) [2] Tuy nhiên, sản lượng gỗ trên chủ yếu chỉ phục vụ cho ngành chế biến giấy và gỗ ván sàn Phần lớn gỗ dùng để chế biến các sản phẩm đồ mộc đặc biệt là đồ mộc gia dụng và đồ thủ công mỹ nghệ vẫn phải nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2011 của cả nước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2010 nhưng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã là 605 triệu USD tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2010 (Thông tấn xã Việt Nam, 2011) [36] Điều này một lần nữa khẳng định sự thiếu hụt nguyên liệu trong nước là đáng kể
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề
ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 đạt 7 tỷ USD Tốc độ tăng
Trang 11trưởng bình quân hàng năm của kim ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên 30%/năm, phấn đấu đến năm 2020 GDP lâm nghiệp đạt khoảng 2 - 3% GDP quốc gia (Bộ NN và PTNT, 2007) [4] Con số này cho thấy nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh đến năm 2020
Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được các chuyên gia dự báo là
sẽ liên tục tăng Đáp ứng được nhu cầu gỗ ngày càng tăng của xã hội đồng thời góp phần cải thiện phần nào khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh
được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrids) Cây Keo lai là 1 trong 48
loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ NN và PTNT công nhận tại Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 Keo lai không chỉ
là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái Gỗ Keo lai có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như ván sàn, ván dăm, trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là được sử dụng trong công nghiệp sản xuất giấy Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn gấp 2-3 lần Keo tai tượng và Keo lá tràm, hàm lượng xenluylo trong gỗ cao, lượng lignin thấp do đó có hiệu suất bột giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt
Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác trồng rừng trong những năm qua đã được các cấp, các ngành và người dân quan tâm; diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất Năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 167.904 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 99.922 ha, rừng trồng 67.982 ha; Tổng trữ lượng gỗ trên 3,5 triệu m3
và có khoảng 25 triệu cây tre nứa Hàng năm toàn
Trang 12tỉnh khai thác khoảng 21.000 m3 gỗ và 660 triệu cây tre nứa, lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty TNHH MTV ván dăm Thái Nguyên
và Nhà máy giấy Bãi Bằng
Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được đưa vào trồng
là cây Keo lai và Keo tai tượng, ngoài ra còn các loài cây khác khá phổ biến như: Mỡ, Bạch đàn Tuy phần lớn diện tích trồng rừng chủ yếu là hai loài Keo trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 15-18m3/ha/năm Với lượng tăng trưởng như vậy đã không đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu cho địa phương Vì vậy cần phải nâng cao năng suất và chất lượng
gỗ rừng trồng Để thực hiện được mục tiêu trên cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và đặc biệt là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh phù hợp
Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu hiện trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được kết quả ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm trong khu vực và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự
- Tính toán và dự báo được hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng nguyên liệu ván dăm
Trang 131.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm bằng Keo lai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên
- Cán bộ và người dân tham gia nhân giống và trồng rừng nguyên liệu cho Công ty TNHH MTV VDTN
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các vườn ươm cây giống cung cấp giống trên của Công ty TNHH MTV VDTN
- Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm ở các cấp tuổi điển hình 3,5,7
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Thực hiện đề tài giúp tôi củng cố kiến thức đã học vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có kết quả Mang lại cho tôi một tác phong làm việc khoa học, khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lý, tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả và viết báo cáo nghiên cứu trôi trảy
- Góp phần xây dựng quy trình áp dụng TBKT vào trồng rừng nguyên liệu ván dăm và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu việc ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu công nghiệp ván dăm tiếp theo
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Ứng dụng kết quả nghiên cứu để hướng dẫn người dân áp dụng vào công tác trồng rừng đạt hiệu quả cao nhất
Đánh giá thực tế công tác trồng rừng của địa phương đã ứng dụng những TBKT để làm tài liệu tham khảo cho công ty và người dân tham gia trồng rừng thâm canh cây Keo lai làm nguyên liệu ván dăm ở huyện Đồng Hỷ
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.1 Đặc điểm sinh thái cây Keo lai
Keo lai có bố mẹ là Keo tai tượng và Keo lá tràm nên chúng có một số
đặc điểm sinh thái có thể giống với đặc điểm sinh thái của hai loài bố mẹ ở nơi nguyên sản Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Quang, (2002) [29] tại các đề mục “Xác định lập địa phục vụ trồng rừng công nghiệp cho một số vùng sinh thái ở Việt Nam” thuộc đề tài khoa học KC.06.05.NN nghiên cứu các giải pháp
công nghệ phát triển nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu, cho thấy Keo lai:
- Phân bố ở 10 vĩ độ Nam đến 180 vĩ độ Nam
- Độ cao so với mặt nước biển từ 0-600m
- Lượng mưa trung bình năm >800mm
- Chế độ mưa: Mưa mùa hè, mùa khô kéo dài 0 - 7 tháng
- Nhiệt độ trung bình năm >200C
- Nhiệt độ tháng nóng nhất 370C
- Nhiệt độ tháng lạnh nhất 60C
- Nhiệt độ tối thấp từ 0-60C
+ Đất đai: Loài Keo lai không kén chọn loại đất, chúng có thể sinh
trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất acid, đất granit, feralit, đất xám, đất đỏ, đất bồi tụ, đất nhiệt đới, đất thoát nước tốt, đất chua, đất nông, sét pha, thịt nặng
- Cấu tượng: Trung bình, nặng
- Độ thoát nước tự do, úng theo mùa
- Phản ứng đất: đất chua
Trang 15- Đặc biệt chịu được trên đất bạc mầu, có thể chịu được úng và có khả năng cố định đạm
So với đặc điểm khí hậu và đất đai ở vùng Đông Bắc Bộ nói chung và khu vực tỉnh Thái Nguyên nói riêng thì cây Keo lai hoàn toàn phù hợp, có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng sẽ tăng năng suất cao
2.1.1.2 Trồng rừng thâm canh
- Khái niệm về trồng rừng thâm canh
Khái niệm về trồng rừng thâm canh có nhiều nguồn thông tin, các tác giả đã đề cập đến như:
Theo Phạm Quang Minh (1987) [26] đưa ra: “Trồng rừng thâm canh
là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên để nâng cao sức sản xuất của rừng” Hay: “Trồng rừng thâm canh là biện pháp đầu tư theo chiều sâu nhằm làm cho rừng trồng sinh trưởng nhanh, sớm đạt được mục tiêu đề ra và đạt kết quả cao hơn trước Đầu tư theo chiều sâu ở đây không chỉ giới hạn việc đầu tư tiền vốn, vật tư, lao động mà còn làm sao phát huy hết tiềm năng điều kiện sẵn có của tự nhiên
và xã hội để mang lại kết quả cao”
* Nhận xét: Khái niệm trên cho thấy trồng rừng thâm canh đi sâu vào đầu tư chưa thấy quan tâm đến môi trường
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30] khái niệm về trồng rừng thâm canh là: “Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo và phát huy được tiềm năng của
tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của
Trang 16rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành
hạ để cho kết quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định lâu dài và bền vững”
* Nhận xét: Khái niệm trên được xem như đầy đủ nhất về kết quả kĩ thuật, kết quả kinh tế và kết quả môi trường Nó không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn bền vững về sau này
- Thực chất của trồng rừng thâm canh
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30] cho thấy: Thực chất của trồng rừng thâm canh là mức độ đầu tư về tiền của và trí tuệ phải cao hơn trồng rừng quảng canh và bán thâm canh
Đầu tư ở đây, trước hết là đầu tư về tiền vốn cho trồng rừng, mọi khâu của quá trình trồng rừng thâm canh cần phải có tiền vốn đầy đủ và hợp lý, tức là mức vốn suất trồng rừng phải được tính toán đầy đủ từ khâu giống, trồng rừng, chăm sóc, quản lý bảo vệ đến khi thiết kế khai thác từng diện tích rừng đó
Đặc biệt, mấu chốt thành công của trồng rừng thâm canh có kết quả cao lại là đầu tư cao về kỹ thuật, nhất là đối với giai đoạn đầu tư từ chọn điều kiện lập địa, chọn cây, chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng và khai thác sử dụng rừng trồng Tốn nhiều tiền và công sức để làm gì nếu không thu được kết quả kinh tế cao (lợi nhuận ròng trên một đơn vị diện tích cao) với giá thành sản phẩm là thấp nhất, kể cả khi có được năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn
Vì vậy, mọi tính toán trong quá trình trồng rừng thâm canh phải được kết hợp chặt chẽ giữa kết quả kỹ thuật với kết quả kinh tế Mặt khác nếu các yêu cầu sinh lợi đều được thoả mãn, nhưng đất đai, môi trường lại bị suy thoái thì không thể trồng lại được rừng nữa, hoặc năng suất, chất lượng rừng giảm dần thì việc đầu tư thâm canh như vậy không thể gọi là thành công bởi vì như thế mới giải quyết được nhu cầu trước mắt
Trang 172.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.2.1 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids)
Keo lai là tên viết tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculifomis) Giống Keo lai tự nhiên này
được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Autralia (Lê Đình Khả 1986, Gun và cộng sự 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabad (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992) Giống lai tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đọan thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả và cs 1997) [20]
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) [46], Gan.E và Sim Boon Liang (1991) [43] các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-
9 còn Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 Bên cạnh đó là sự xuất hiện
về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen, 1981) [39]
Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [47] thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật
Trang 18sự Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân,
có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dáng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém Keo tai tượng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) thì trong nhiều trường hợp cây keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Và ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 2 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân, đều tốt hơn giống bố mẹ và cho rằng Keo lai phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại
2.1.2.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
Để trồng rừng đạt hiệu quả hơn, các nước trên thế giới và vùng nhiệt đới người ta cần tiến hành phân chia nơi trồng rừng Mục đích của việc phân chia nơi trồng rừng là nhằm sử dụng một cách hợp lý Trên cơ sở việc phân chia nơi trồng rừng để chọn loài cây trồng và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chuẩn xác, nhằm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của rừng trồng, hạ giá thành sản phẩm gỗ rừng trồng, đồng thời làm cho môi trường sinh thái ngày một tốt hơn
Người ta phân chia nơi trồng rừng dựa vào 2 nhóm nhân tố chính: Điều kiện lập địa và trạng thái hoàn cảnh của nơi trồng rừng Ví dụ: Theo Yang Jigao,
1995 nghiên cứu và phân chia ở Nam Quảng Tây - Trung Quốc đã phân chia điều kiện lập địa thành 17 loại và các loài cây thích hợp với những điều kiện lập địa ấy
Trang 19Theo Vater (1925) thì: “Lập địa nên hiểu là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác động tới sự sinh tồn và phát triển của thực vật” cũng có nghĩa là lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: Khí hậu, địa hình, đất, sinh vật tạo thành một quần lạc sinh địa Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó con người có vai trò đặc biệt quan trọng Có thể hiểu lập địa như là nơi mà cây sinh sống và phát triển hay là phạm vi không gian chứa đựng tất cả các yếu tố ngoại cảnh tác động đến đời sống thực vật
Tập hợp các kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức nông lương thế giới FAO (1984) [41] đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.L.M và cs, (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hợp” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan tới các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng như sau: Nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất
Qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng
2.1.2.3 Nghiên cứu cải thiện giống
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất trong trồng rừng thâm canh, không có giống tốt thì không thể đưa năng suất rừng lên cao
Ở Công-gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai
Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống
Trang 20đã chọn được giống Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt 19 m3
/ha/năm, giống
Paraserianthes jaicataria trồng ở Malaysia được 7 -10 năm cũng đạt 30
m3/ha/năm (Pandrey, 1983) [45] Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống
m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3
/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988)
2.1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng đặc biệt là ở những nơi đất đai khô cằn, ít chất dinh dưỡng Tuy nhiên, chúng ta cần lựa chọn loại phân và cách bón nào cho kết quả, liều lượng bón là bao nhiêu và nên bón vào lúc nào cho phù hợp nhu cầu sinh lý của cây, cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, bón ít mà thu lợi nhiều không gây lãng phí hoặc làm ô nhiễm hay suy thoái môi trường Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho
thấy bạch đàn Eucaliptus sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân
nhưng bón NPK thì năng suất có thể lên trên 50%
Bolstand và cs (1988) [38] cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại kết quả như ở Potasium, phosphate, boron và magnesium
Khi nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Thông P.caribeae ở Cuba
Herrero và cs (1988) [44] cũng cho thấy phân bón phosphate đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69 m3/ha sau 13 năm trồng
Nhận xét: Từ các kết quả nghiên cứu trên đã khẳng định bón phân cho rừng trồng mang lại những hiệu quả rõ rệt như: Nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức
đề kháng của cây trồng, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng
2.1.2.5 Ảnh hưởng mật độ đến năng suất rừng trồng
Theo Thoommson 1994, các loài Keo và Bạch đàn nên trồng với mật
độ 1111 cây/ha không ảnh hưởng xấu tới sản lượng và chất lượng gỗ
Trang 21Tác giả Evans.J.(1992), đã bố trí 4 công thức mật độ khác nhau (2985,
1680, 1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số
liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn công thức trồng ở mật độ cao
Nhận xét: Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh Vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho phù hợp
2.1.2.6 Ảnh hưởng của biện pháp tưới nước đến sinh trưởng của rừng trồng
Theo Evans.J (1992) cho thấy: Ngoài những biện pháp trên, biện pháp tưới nước cho cây mới trồng, nhất là ở những vùng khô hạn tuy còn rất ít công trình nghiên cứu nhưng đã có một vài công trình đề cập đến Như ở Brazil khi
trồng rừng Bạch đàn E.gadis trên những vùng đất khô hạn người ta đã phải tưới
cho cây con mới trồng 3-4 lít nước/cây, sau đó 3 ngày và 9 ngày phải tưới nước lại nếu chưa có mưa
Nguyễn Huy Sơn (2006) [32] Ở Trung Quốc áp dụng biện pháp tưới
nước thấm nhỏ giọt cho rừng trồng cây Dương Lai (Populuseuramericana)
trên vùng đất khô hạn, kết quả thu được sau 6 năm tuổi cho thấy đường kính ngang ngực tăng trưởng gấp gần 3 lần so với đối chứng
2.1.2.7 Về vấn đề sâu bệnh hại
Đối với rừng trồng công nghiệp vấn đề sâu bệnh hại đang rất được quan tâm Với kĩ thuật tiên tiến hiện đại, nhiều công trình đã nghiên cứu rất sâu ở mức độ phân tử như chuyển và biến đổi gen để phòng chống sâu bệnh hại Như
công trình nghiên cứu sâu rầy hại cây Keo dậu (L.leucocephla) ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dương của Napompeth.B (1989)
Trang 22Tóm lại: Qua các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải
quyết khá đầy đủ các vấn đề liên quan, nhưng hầu hết các công trình được nghiên cứu trong những hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện về kinh tế kỹ thuật hết sức khác nhau nên không thể ứng dụng một cách máy móc vào điều kiện cụ thể nước ta
2.1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cây Keo lá tràm và cây Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những năm 1960 nhưng mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, giống Keo lai mới được phát hiện và tập trung nghiên cứu từ các khâu chọn tạo giống cho đến trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển hình sau:
2.1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai (Acacia hybrids)
Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng đông Nam Bộ vào năm 1992
Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về cải thiện giống Keo lai, đồng thời đưa vào khảo nghiệm một số giống Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được ký hiệu là BV; Trung tâm nguyên liệu giấy Phù Ninh - Phú Thọ cũng chọn lọc được một số dòng được ký hiệu là BL
Lê Đình Khả và các cộng sự [18,19,20,21] khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của cây Keo lai đã kết luận: Keo có tỷ trọng gỗ
và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài Keo bố mẹ Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm Điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 đến 1,6 lần về chiều cao
và từ 1,3 đến 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá
Trang 23tràm 1,3 lần về chiều cao và 1,5 lần về đường kính Một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có chỉ tiêu chất lượng tốt đã được công nhận là giống Quốc Gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV5, BV10, BV16, BV32, BV33 Khi nghiên cứu sự thoái hoá và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [21] đã khẳng định: Không nên dùng hạt cây Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hoá và phân ly rõ rệt, cây Keo lai F2 sinh trưởng kém hơn cây Keo lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng
Do đó, để có thể phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những cây Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật
2.1.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng rừng trồng
Xác định điều kiện lập địa thích hợp cho các loài cây trồng ở nước ta đã
có nhiều công trình nghiên cứu như: Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế (1994) [33], tác giả căn cứ vào 3 nội dung: Đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sử dụng đất và độ thích hợp của cây trồng đã chỉ ra vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, đặc biệt để phát triển các loài cây
cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn (Eucalyptus), Keo (Acacia), Tếch (Tectona Grandis)
Phạm Thế Dũng và cs (2004) [10] chỉ ra rằng mặc dù áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ Nguyễn Huy Sơn và cs (2004) có nhận xét về năng suất rừng trồng Bạch đàn U6 trên ba loại đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên là trên đất xám Granit ở An Khê, K’Bang rừng trồng Bạch đàn U6 từ
4 đến 5 năm tuổi đạt 20 - 24 m3/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên
đá Macma acid ở Mang Yang 6 năm tuổi đạt 12 m3/ha/năm, trên đất đỏ Bazan thoái hóa ở Pleicu 4 năm tuổi cũng chỉ đạt 11 m3/ha/năm
Trang 24Nhận xét: Xác định điều kiện lập địa thích hợp cho mỗi loài cây trồng
là một khâu quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
2.1.3.3 Tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống
Việt Nam đã có nhiều công trình và tác giả nghiên cứu để đưa tiến bộ
kỹ thuật vào áp dụng trong trồng rừng Có tác giả dựa trên nền những cây đã
và đang được trồng rừng sản xuất ở Việt Nam, sau đó cải thiện giống (lai tạo, cải tiến cách thức nhân giống ) để có được những giống cây rừng và phương thức nhân giống tiến bộ làm cho cây trồng rừng phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, có năng suất cao, chất lượng gỗ cao hơn
Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003) [17] cũng khẳng định rằng:
Trước đây, khi vụ đặt ra cho trồng rừng là “phủ xanh đất trống đồi núi trọc” chúng ta đã không quan tâm đầy đủ đến công tác giống Kết quả là chi phí cho trồng rừng rất tốn kém, nhưng năng suất rừng trồng vẫn rất thấp và thậm chí nhiệm vụ phủ xanh cũng không thực hiện được Điều đó một mặt do lấy giống xô bồ, không chọn loài cây và xuất xứ thích hợp, không chọn giống có năng suất cao và có tính chống chịu sâu bệnh cũng như thích hợp với điều kiện sinh thái ở từng vùng để gây trồng, mặt khác do thiếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ
Bộ NN&PTNT (2001) [5] thành tựu lớn nhất và được áp dụng rộng rãi trong trồng rừng sản xuất trước hết phải nói đến công tác chọn và cải thiện giống cây trồng lâm nghiệp Đây là một lĩnh vực mũi nhọn được ưu tiên rất cao cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong nhiều năm qua, mang lại những bước nhảy vọt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, đặc biệt đối với các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như Keo lai, Bạch đàn Các thành tựu và tiến bộ trong lĩnh vực giống cây lâm nghiệp
đã được đúc kết thành hệ thống quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn áp dụng có hiệu quả trong sản xuất
Trang 25Lê Đình Khả (2006) [16] cho rằng: Giống là một khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh
tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao Các tác giả đã dẫn chứng bằng việc trồng rừng ở nước ta năng suất rừng trồng chỉ đạt 5 - 10 m3/ha/năm, trong khi đó các nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất rừng trồng 40 - 50 m3/ha/năm (như giống Dương lai I - 214 ở Italia và Bạch đàn ở Công-gô), hoặc thâm chí hơn 100 m3/ha/năm (trên một số diện tích thí
nghiệm cho Bạch đàn lai E.Grandis với E.Urophylla ở Brasin (Kageyama,
1984) Mới đây, việc phát hiện, chọn lọc, nhân giống và khảo nghiệm giống
thành công cho giống lai tự nhiên giữa Keo Tai tượng (Acacia mangium) với Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) đã mở ra một triển vọng lớn cho trồng
rừng nguyên liệu ở nước ta
Qua nghiên cứu các ông Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh (1997) [20] đã có số liệu chứng minh được khả năng kỳ diệu của chúng như: Sau 4 năm tuổi giống Keo lai có thể tích thân cây là 70 - 80 dm3
/cây trong khi những xuất xứ tốt nhất của Keo tai tượng cũng chỉ có thể tích đạt 30 - 40
dm3/cây, còn những xuất xứ tốt của Keo lá tràm chỉ đạt 17 - 27 dm3
/cây Và các tác giả kết luận: Cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm nghiệp ở nước ta
Bình luận: Cải thiện giống cây rừng phải xuất phát từ mục tiêu kinh tế
đặt ra cho mỗi loài mà nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời phải phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi vùng, chống chịu được sâu bệnh hại, mọc nhanh và đảm bảo được mục tiêu trồng rừng sản xuất nhưng đáp ứng được tính bền vững trong sử dụng đất lâm nghiệp Giải quyết tốt mối quan hệ môi trường và xã hội, phát triển và ứng dụng được những tiến bộ vào sản xuất, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học
Trang 262.1.3.4 Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực chọn loài cây trồng
Để có giống tốt, phù hợp với mục đích kinh tế trong trồng rừng sản xuất và thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu của mỗi vùng thì chúng ta phải chọn loài cây trồng rừng, đây là bước đầu tiên quan trọng trong chương trình trồng rừng
Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003) [17] cho rằng: Loài là nhóm các sinh vật có các đặc trưng hình thái và đặc điểm di truyền giống nhau, có thể lai giống với nhau để cho đời sau hữu thụ Mỗi loài thường có khu phân bố địa lý sinh thái nhất định
Ví dụ: Bạch đàn Eucalyptus regnans có thể cao hơn 90 mét với thân cây thẳng hình trụ, còn Bạch đàn E pyriformis lại là một cây có nhiều thân, ít khi cao quá 6 mét loại gỗ và các tính chất khác cũng có sự khác biệt rất lớn giữa các loài Gỗ các loài như Tếch, Lát hoa, Cẩm lai rất có giá trị để đóng đồ gia dụng, còn gỗ của các Bạch đàn, Thông, Keo thích hợp cho việc làm bột giấy, ván dăm, gỗ chống hầm lò
Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh (2005) [16] cho đến nay đã có 67 giống cây rừng lâm nghiệp được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, trong đó có các dòng Keo lai cao sản như: BV10, BV16, BV32, TB3, TB5, TB6, TB12, KL2; Các dòng Bạch đàn cao sản như: U6, PN2, PN10, PN14, PN46, PN47 và các dòng Phi lao có năng suất cao là 601 và 701 đã được gây trồng rộng rãi ở nhiều nơi trong cả nước
Tổng hợp nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự (2005) [13] đã thống
kê được một số nghiên cứu sử dụng ưu thế lai cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, cụ thể là:
- Đối với Bạch đàn: Các tổ hợp UC, UT, UM, SM, GM cho sinh trưởng bình quân tăng từ 20 - 30%, đặc biệt có tổ hợp trồng nơi lập địa tốt cho sinh trưởng tăng 70 - 80 % so với giống sản xuất hiện hành sau 5 năm khảo nghiệm
Trang 27- Đối với Keo: Các tổ hợp AM1, AM2, MA1, MA2 cho sinh trưởng tăng bình quân 30% so với giống sản xuất hiện hành
- Đối với Tràm: Tổ hợp LC sinh trưởng bình quân tăng 25 - 30% so với giống sản xuất hiện hành
Đặc biệt trong năm 2005 cũng đã công nhận được 2 dòng Bạch đàn vừa sinh trưởng nhanh vừa kháng nấm bệnh tốt là SM16 và SM23
Các tác giả còn khẳng định: Các thành tựu trong lĩnh vực khảo nghiệm
và cải thiện giống đã áp dụng và tạo ra nhiều diện tích rừng trồng sản xuất có năng suất và hiệu quả kinh tế cao
Bộ NN&PTNT (2005) ban hành: Danh mục các loài cây chủ yếu cho
trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp (Ban hành kèm theo
Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15 tháng 3 năm 2005) Ví dụ như:
Vùng Đông Bắc (ĐB) gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang Gồm có 15 loài cây khác nhau
Bình luận: Chúng tôi cùng nhất trí và thay cho lời kết về công tác chọn loài cây rừng trong trồng rừng sản xuất với kết luận của Trần Văn Con
và cộng sự (2006) [7] cho biết: Bộ NN&PTNT đã ban hành danh sánh các loài cây chủ lực trồng rừng sản xuất ở chín vùng sinh thái lâm nghiệp (như trình bày ở trên cho vùng Đông Bắc) Tuy nhiên việc áp dụng danh sách này trên thực tế vẫn gây nhiều lúng túng cho các chủ rừng, chủ dự án Hạn chế này là do:
(i) Các cơ sở khoa học kỹ thuật để đề xuất danh sách loài cây trồng được nghiên cứu ở cấp vĩ mô; mối quan hệ của cây và lập địa ở quy mô vi mô chưa được nghiên cứu kỹ;
(ii) Thiếu cơ sở kinh tế - xã hội nên chưa được sự quan tâm sử dụng của người dân;
Trang 28(iii) Nhiều loài cây trong danh sách đề nghị chưa có quy trình hoặc hướng dẫn ký thuật gây trồng;
(iv) Rất ít thông tin về các loài cây bản địa Hoặc: Cây trồng rừng chủ yếu hiện nay đều là cây nhập nội mọc nhanh như: Keo và Bạch đàn, rất ít cây bản địa được sử dụng cho trồng rừng kinh tế Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực cải thiện giống, nhìn chung giống sử dụng trong trồng rừng vẫn rất xô bồ, kém chất lượng dẫn đến năng suất và chất lượng rừng còn thấp Chúng ta vẫn còn thiếu các vườn giống có chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu trồng rừng
2.1.3.5 Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực nhân giống và tạo cây con
Giống là tư liệu sản xuất đặc biệt của công tác trồng rừng, bởi vì giống là một tư liệu sinh vật, một thực thể sống Giống cũng là một khâu quan trọng nhất của sản xuất nông lâm nghiệp Nhờ có giống được cải thiện
và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác mà năng suất các loài cây trồng tăng nhanh
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) [27] cho rằng: Trồng rừng, phục hồi rừng hiện đang là một nhu cầu cấp bách và là một nhiệm vụ lớn lao của ngành Lâm nghiệp nước ta Theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tới năm 2010, hàng triệu ha rừng trồng sẽ được thiết lập với tốc độ hàng trăm nghìn ha mỗi năm cho các mục tiêu kinh tế khác nhau như cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ xẻ xây dựng, gỗ trụ mỏ và cả đồ mộc
Trần Văn Con (2005) [8] khẳng định: Bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực chọn và cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật tạo cây con cũng đạt được những thành tựu vượt bậc Các kỹ thuật cây con có bầu trong vườn vươm cho các loài cây trồng rừng chủ yếu như: Thông, Mỡ, Bồ đề, các cây bản địa lá rộng khác đã phát triển và xây dựng quy trình quy phạm áp dụng
Trang 29trong sản xuất Đặc biệt công nghệ sản xuất cây con bằng kỹ thuật cao như giâm hom, nuôi cấy mô cũng được phát triển nhanh chóng, nhất là đối với các loài cây mọc nhanh như Keo lai, Bạch đàn urophylla, pelissta, Bạch đàn lai không kể các vườn ươm công nghệ cao quy mô nhỏ, đã có khoảng 10 vườn ươm nhân giống bằng công nghệ cao (hom, mô) có công suất hàng triệu cây giống/năm rải rác trên các vùng Bắc Trung Nam để trồng rừng sản xuất tập trung đối với một số loài cây chủ lực
Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003) [17] khẳng định: Tất cả thực vật bậc cao đều có hai phương thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính (bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết, ghép, nuôi cấy mô phân sinh)
Giâm hom có hệ số nhân giống cao, song lại khó vượt được giới hạn của tuổi non, vì vậy để nhân giống hàng loạt thường phải làm trẻ hoá cho cây mẹ bằng cách chặt ngang thân cho ra các chồi mới Đây là phương thức đang được dùng rộng rãi để nhân giống cho các cây lai của Bạch đàn (Eucaluptus), Keo (Acacia), Dương (Populus) và một số cây rừng khác Cần thấy rằng nhân giống bằng hom chỉ phát huy tác dụng tốt khi làm một công cụ cho chọn giống để nhân các giống được chọn lọc hoặc các giống quý hiếm mà không thể sinh sản bằng hạt Bên cạnh đó người ta còn áp dụng phương pháp chiết, ghép và đặc biệt tiên tiến là nuôi cấy mô
Như vậy, theo các tác giả thì mỗi một phương pháp đều có những ưu điểm nhưng đồng thời cùng có những nhược điểm mà người thực hiện cần lưu
ý để khi nhân giống khắc phục được phần nào nhược điểm của nó Cần phải chọn loài, khảo nghiệm giống và chọn lọc cây mẹ một cách cẩn thận
Bình luận: Từ những nghiên cứu trên chúng tôi thấy, hiện nay công tác nhân giống và tạo cây con có nhiều tiến bộ đã giúp cho công tác trồng rừng
Trang 30ngày càng đẩy mạnh, đặc biệt một số giống cây rừng được lai như Bạch đàn, Keo đang là những loài cây chủ yếu trong trồng rừng sản xuất và được trồng hầu khắp trên toàn quốc vì chúng có chu kỳ ngắn (khoảng 6 - 7 năm), đáp ứng được các mục tiêu chọn loài cây trồng rừng sản xuất, lại có năng suất cao nếu chúng ta thực sự trồng rừng thâm canh
Công tác giống cây rừng hiện nay ở Việt Nam đang ngày càng đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống như chọn giống, lai giống, vừa nhân giống vừa khảo nghiệm giống và cung cấp giống Bên cạnh
đó nghiên cứu và tận dụng những thành quả đã có trong nước về chọn giống
và nhập thêm một số giống có năng suất cao của các nước có điều kiện sinh thái tương tự để khảo nghiệm và làm đa dạng, phong phú thêm nguồn giống cây rừng phục vụ cho việc đẩy nhanh trong tác trồng rừng
Ngoài ra cần tận dụng tối đa giống từ các rừng giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận để nhân giống, đóng góp vào công tác chọn tạo giống cho trồng rừng nhằm mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng năng suất, chất lượng và sản lượng rừng đáp ứng nhu cầu về gỗ ngày càng tăng lên trong nước và xuất khẩu
2.1.3.6 Tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng
Những tiến bộ khoa học công nghệ lâm sinh phục vụ cho công tác trồng rừng và phát triển ngành Lâm nghiệp đã được các viện khoa học, các trường, trung tâm và các địa phương, cơ sở sản xuất tổng kết xây dựng và ban hành gần 100 tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh Đáng chú ý nhất là quy phạm về giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất, quy phạm về thiết kế trồng rừng, xây dựng vườn giống, rừng giống và chuyển hoá rừng giống, ngoài ra còn có hơn 50 quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật tạo cây con trồng rừng, tái sinh chồi cho 40 loài cây, quy trình tỉa
Trang 31thưa, phòng chống sâu bệnh hại cho một số loài cây và quy phạm phòng chống cháy rừng
Trần Văn Con (2005) [8] tổng kết về các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng như sau: Các nghiên cứu về chọn loài cây trồng và lập địa thích hợp trong trồng rừng đã ưu tiên nghiên cứu và đã có những thành tựu nhất định Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu này chưa được chuyển thành quy trình hay hướng dẫn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất áp dụng Vì vậy rất nhiều chủ rừng vẫn còn khá lúng túng trong việc chọn lập địa và chọn loài cây trồng thích hợp
Phương thức trồng rừng đã có những tiến bộ từ trồng rừng thuần loài (Thông, Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo ) đến trồng hỗn loài, trồng cây phù trợ
“tạo áo” nâng cao độ ổn định sinh thái của hệ sinh thái rừng trồng Các kỹ thuật về thời vụ trồng, mật độ trồng tối ưu, tiêu chuẩn cây con đem trồng cũng đã được ứng dụng Một số loài cây đã có quy trình trồng rừng và quản
lý rừng trồng như: Thông, Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo và được các cơ sở sản xuất áp dụng
Các thành tựu trong trồng rừng thâm canh với suất đầu tư cao để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm rừng trồng đã được áp dụng đối với trồng rừng cung cấp nguyên liệu Các biện pháp kỹ thuật mũi nhọn trong trồng rừng thâm canh là giống, phân bón và kỹ thuật làm đất
Về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định lượng phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp để bón lót và bón thúc cho các cây trồng Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể, trên từng lập địa và điều kiện đất đai cụ thể
và từng giai đoạn phát triển thì kỹ thuật bón phân từ việc chọn loại phân, lượng phân, thời điểm bón vẫn chưa được xác định một cách hợp lý, có căn cứ
Trang 32Kỹ thuật làm đất bằng phương pháp cày toàn diện hoặc theo băng đã được áp dụng trên đất xám, tương đối bằng phẳng ở Đông Nam Bộ Trên đất phèn ở Tây Nam Bộ, các kỹ thuật làm đất bằng lấp, ụ nổi (do đất ngập mặn, phèn, người trồng rừng đã đắp những ụ đất nổi lên trên, sau đó trồng cây vào) đã được áp dụng Ngoài những tiến bộ đó thì kỹ thuật làm đất chỉ cuốc
hố 30x30x30cm hay 40x40x40 cm được sử dụng phổ biến nhất
Thực sự tổng hợp hết sức ý nghĩa đối với các chủ trồng rừng, cần phải chú ý tới những tiến bộ đã được chuyển giao, phổ biến trong trồng rừng và những quy định của Bộ NN&PTNT về các loài cây đã được công bố cả về cách gieo trồng và phổ biến cho từng vùng sản xuất kinh doanh, đặc biệt trồng rừng sản xuất cung cấp nguyên liệu công nghiệp Tuy nhiên, đây là phần tổng hợp hết sức ngắn gọn, mang tính chất chỉ đạo, phù hợp như một thông báo, một quy định khi áp dụng đối với chủ trồng rừng, nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng
Võ Đại Hải và các công sự, 2003 [13] đã tổng kết từ kết quả nghiên cứu như: Các kỹ thuật trồng rừng có nhiều thành tựu và tiến bộ trong nghiên cứu
và thực tiễn, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây mọc nhanh với suất đầu tư cao để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Nhiều quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng sản xuất
đã được ban hành và áp dụng rộng rãi trong sản xuất thời gian qua Tới nay hầu hết các loài cây trồng rừng chủ lực đều đã có văn bản pháp quy ban hành
Kỹ thuật trồng rừng cây bản địa cùng đã có những bước tiến mới, đáng chú ý các phương thức trồng rừng hỗn giao với các loài cây mọc nhanh hoặc với cây che bóng, cải tạo đất như Cốt khí trong giai đoạn đầu
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được vẫn còn một số tồn tại trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng lâu dài một cách bền vững, trong đó
kỹ thuật tỉa thưa cây phù hợp như thế nào vẫn đang là một câu hỏi lớn
Trang 33Về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định loại phân, liều lượng phân, thời gian và phương pháp bón phân thích hợp cho các loài cây trồng cụ thể Đối với các loài cây phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp dùng để bón lót và bón thúc chăm sóc trong 3 năm đầu mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về kỹ thuật bón phân cho từng loài cây cụ thể cần được quan tâm tiếp tục nghiên cứu Kỹ thuật làm đất bằng cơ giới cũng đã được nghiên cứu phát triển và áp dụng có hiệu quả trong trồng rừng sản xuất
Tổng kết vai trò cải thiện giống với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh có Davison, 1996 đã làm thí nghiệm nghiên cứu so sánh vai trò cải thiện giống với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho hai loài cây Keo và Bạch đàn ở một số nước nhiệt đới từ giai đoạn vườn ươm đến rừng trồng 6 năm tuổi đã kết luận:
- Giai đoạn trồng rừng một năm đầu thì biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động làm tăng năng suất rừng trồng là 85%, cải thiện giống là 15%
- Giai đoạn từ năm thứ năm thứ 3 đến năm thứ 6 thì tỷ lệ tăng năng suất
do cải thiện giống chiếm 50 60%
2.1.3.7 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng của Công ty TNHH MTV DVTN
Công ty TNHH MTV VDTN có thiết kế kỹ thuật trồng rừng rất đầy đủ
và chi tiết cho tất cả các hạng mục trong kỹ thuật trồng rừng để phổ biến đến người dân Tuy nhiên việc có áp dụng hay không còn tùy thuộc vào yếu tố chủ quan của người trồng rừng
Trang 34Bảng 2.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng cây Keo lai của Công ty TNHH
MTV Ván Dăm Thái Nguyên
1 Mật độ trồng rừng 1660 cây /ha
2 Phương thức trồng Thuần loài
3 Cự ly trồng Hàng cách hàng 3m, cây cách cây 2m
4 Thời vụ trồng Vụ xuân hè hoặc hè thu
5 Tiêu chuẩn cây con
- 100% cây con có bầu, tuổi cây 4-5 tháng, chiều cao 25-30cm và D0 = 2,5-3mm
- Cây có sức sinh trưởng tốt, thân thẳng, một ngọn
và không bị cong, không sâu bệnh, được tạo từ hạt, hom hoặc mô
6 Xử lý thực bì - Phát sát gốc toàn diện thực bì trong lô, đốt hoặc dọn sống trước khi trồng rừng
7 Làm đất - Cục bộ theo hố, kích thước 40 x 40 x 40 cm so le theo hình nanh sấu, hàng chạy theo đường đồng
mức hoặc theo hướng Đông - Tây
8 Lấp hố
- Lấp trước khi trồng từ 5-7 ngày, dùng lớp đất mặt xung quanh hố đập nhỏ, loại bỏ đá, rễ cây để lấp cho đầy hố
9 Trồng cây - Chọn ngày dâm mát, lấp đất đủ độ ẩm, đem cây đi trồng
10 Kỹ thuật trồng
- Xé bỏ túi bầu trước khi trồng, không làm vỡ bầu, đặt cây chính giữa hố, vun đất nhỏ xung quanh bầu, dùng tay nén nhẹ đảm bảo độ chặt vừa phải, lấp đất qua mặt bầu từ 2-3 cm để cây không bị nghiêng ngả và trơ dễ
11 Chăm sóc
1 Rừng trồng năm 1: 2 lần + Lần 1: Thời gian sau khi trồng từ 1-2 tháng
- Dẫy cỏ, xới, vun sát gốc đường kính từ 1-1,2m
(Nguồn: Tổ thiết kế Công ty TNHH MTV Ván dăm Thái Nguyên cung cấp)
Trang 352.1.3.8 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh
Như chúng ta đã biết trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm, song trước tình thế nguồn gỗ tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào mục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường, xây dựng thủy điện, các công trình phúc lợi công cộng khác Hơn nữa, đất quy hoạch cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trở thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo
Vào những năm 1980, bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng theo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thụy Điển, thì ở Việt Nam vấn đề này cũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác giả Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986), Phùng Ngọc Lan (1986)
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [24], thâm canh rừng trồng là nhằm bảo
vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và
áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế rừng trồng Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên quan từ khâu chọn loài cây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo giống, chăm sóc, tỉa thưa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30], trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp tăng cường đầu tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng
Trang 36để thu được năng suất cao, chất lượng sẩn phẩm tốt với gia thành hạ tạo nên hiệu quả kinh tế cao Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng được yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững
Đến giai đoạn 2001-2005, đáng chú ý là công trình nghiên cứu cấp nhà nước của Nguyễn Huy Sơn (2006) [32], bước đầu đã cho thấy có thể nâng cao năng suất của rừng trồng từ 20m3/ha/năm lên đến 36m3/ha/năm ở khu vực đông Nam Bộ Tuy nhiên, rừng trồng mới được 4-5 năm nên cần phải tiếp tục theo dõi thêm các năm cuối của chu kỳ kinh doanh để có những kết luận chính xác hơn
Trong các nghiên cứu khi đánh giá về rừng trồng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Dương đã chỉ ra rằng chi phí chung cho 01 ha rừng trồng thâm canh Keo Lai cao gấp đôi so với đầu tư trồng rừng sản xuất theo quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm
1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sánh và tổ chức thực hiện dự án trồng mới
5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc quảng canh Tuy nhiên, trên thực tế trồng rừng thâm canh đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các phương thức trồng rừng khác Nếu trồng rừng bằng các loài cây mọc nhanh theo phương thức quảng canh thì chu
kỳ kinh doanh dài trên 10 năm mà năng suất chỉ đạt 7- 10m3/ha/năm, nhưng nếu trồng thâm canh thì sau 7-8 năm đã có thể khai thác gỗ với năng suất đạt
từ 23-30m3/ha/năm
Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn nghĩa là chu kỳ kinh doanh ngắn hơn, vòng quay nhanh hơn nên hiệu quả đầu tư vốn cũng cao hơn, thời gian thu hoạch sản phẩm được rút ngắn nên đất đai được giải phóng sớm để tiếp tục trồng rừng cho chu kỳ tiếp theo sớm hơn (Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, 2006) [32]
Trang 372.1.3.9 Các thành tựu trong kỹ thuật quản lý lâm phần rừng trồng
Quản lý bảo vệ rừng trồng bao gồm cả những biện pháp lâm sinh và những biện pháp không phải lâm sinh như tổ chức và quản lý rừng, không chỉ quán triệt trong một thời gian hay giai đoạn nào cả mà cần phải được tiến hành suốt cả quá trình trồng rừng, từ gieo ươm đến khi rừng thành thục công nghệ
Biện pháp lâm sinh quan trọng nhất là phòng tránh sâu bệnh hại và lửa rừng, việc xử lý tốt các biện pháp lâm sinh cũng phần nào giảm bớt được những rủi ro do sâu bệnh hại gây ra Bên cạnh đó cần phải làm tốt công tác dự tính dự báo các tác nhân gây hại, đưa ra và xử lý tốt các biện pháp phòng chống một cách chủ động và toàn diện, đặc biệt các biện pháp sinh học tổng hợp đảm bảo an toàn sinh thái, tuyệt đối không gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Sau khi tham khảo các tài liệu chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tổng kết đánh giá của Trần Văn Con (2005) [8] và Võ Đại Hải (2005) [13] về các thành tựu trong kỹ thuật quản lý lâm phần rừng trồng như sau:
Trồng được rừng đã khó, quản lý bảo vệ rừng để rừng sinh trưởng phát triển tốt càng khó hơn và đòi hỏi các kỹ thuật phòng chống sâu bệnh hại, cháy rừng, chăm sóc tỉa thưa và các biện pháp xử lý lâm phần khác như: Đưa thêm cây bản địa vào các rừng trồng thuần loài, đa dạng hoá lâm sinh để tạo ra các
hệ sinh thái gần với tự nhiên và bền vững về sinh thái Các kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng đã được áp dụng:
- Quy trình phòng chống bệnh rơm lá Thông QTN 13-78 ban hành kèm theo quyết định 1201 ngày 5/7/1978 của Tổng cục Lâm nghiệp
- Quy trình phòng chống cháy, chữa cháy rừng Thông, rừng Tràm và một số rừng dễ cháy khác QPN 8-96 ban hành kèm theo quyết định 801 ngày 26/5/1996 của Bộ Lâm nghiệp
Trang 38- Quy trình phòng trừ ong ăn lá Mỡ QTN 16-79 ban hành kèm theo quyết định 1148 ngày 26/11/1979 của Tổng cục Lâm nghiệp
- Quy trình kỹ thuật phòng trừ sâu xanh ăn lá Bồ đề QTN 23-83 ban hành kèm theo quyết định 218 ngày 1/3/1983 của Tổng cục Lâm nghiệp Hàng loạt các quy trình về chăm sóc, tỉa thưa rừng Trong chăm sóc rừng trồng, trước đây chỉ quy định chăm sóc đến năm thứ 3, hiện nay thời gian chăm sóc đã được tăng lên năm thứ 4, thứ 5 Công việc chăm sóc luỗng phát dây leo, bụi rậm để bảo vệ và tạo điều kiện tốt cho cây mục đích (cây trồng và cây tái sinh) không bị phủ lấp, léo ngọn và cạnh tranh dinh dưỡng, nhờ đó cây mục đích sinh trưởng và phát triển tốt hơn, công việc này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục Quan điểm quản lý rừng theo từng đơn
vị lập địa để lợi dụng các tiềm năng lập địa một cách tối ưu nhất cũng đang được hình thành và phát triển để từng bước hoàn thiện và chuyển giao cho người kinh doanh rừng
* Đánh giá chung
Để thấy hết được vai trò to lớn của việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng thâm canh, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và tổng kết được, mới đây chúng tôi thấy một tổng kết tương đối đầy đủ của tác giả
Võ Đại Hải, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là đầy đủ và rõ ràng
Võ Đại Hải, 2005 [13] kết luận rằng: Các thành tựu trong nghiên cứu trồng rừng sản xuất đã được ứng dụng trong thực tiễn, đặc biệt đối với các nhóm loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu, gỗ nhỏ có chu kỳ ngắn Thông qua các chương trình, dự án, đáng lưu ý là dự án trồng rừng KFW1 ở các tỉnh vùng Đông Bắc, các dự án trồng rừng nguyên liệu giấy ở vùng Trung Tâm, Tây Nguyên và Vùng Đông Nam Bộ, Các kỹ thuật tiến bộ này đã được chuyển giao và áp dụng rất có hiệu quả, nhờ đó năng suất và chất lượng rừng trồng từ bình quân chỉ khoảng 8-9 m3/ha/năm đã nâng lên một cách đáng kể, cụ
Trang 39thể: Rừng trồng Bạch đàn Urophylla bằng cây mô đạt năng suất 16 m3/ha/năm
ở tuổi 7 - 8 ở Bắc Bộ và Trung Bộ; rừng Bạch đàn Camaldulensis trồng bằng hạt đạt 15 m3/ha/năm ở tuổi 8 - 9 ở Miền Trung và hơn 16 m3/ha/năm ở Đông Nam Bộ; rừng Keo tai tượng Acacia mangium Wild trồng bằng hạt cho năng suất 17 - 18 m3/ha/năm ở tuổi 8 ở miền Bắc, thâm canh cao ở Miền Nam có thể đạt 20 - 25 m3/ha/năm; Keo lai trồng bằng hom ở nhiều vùng đã đạt năng suất
20 m3/ha/năm ở tuổi 7 và có những khu thí nghiệm đạt 30 - 35 m3/ha/năm
Các tác giả còn đưa ra nhận xét về những thành tựu đã đạt được một cách cải thiện, tuy nhiên còn nhiều khâu quan trọng chưa được chú ý, vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được giải quyết thậm chí còn bế tắc như: Nhiều quy trình quy phạm đã được xây dựng và ban hành nhưng không được ứng dụng một cách nghiêm túc trong sản xuất vì thiếu cơ chế và biện pháp giám sát Công nghệ sinh học chưa thực sự trở thành động lực chính thúc đẩy trồng rừng sản xuất Rất nhiều cơ sở sản xuất vẫn còn sử dụng giống không có nguồn gốc rõ ràng, không sử dụng cây con sản xuất bằng công nghệ mô hom
vì lý do giá thành cao
Tóm lại: Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan trong nước
và trên thế giới cho thấy việc nghiên cứu về trồng rừng Keo lai đã có nhiều nghiên cứu khá toàn diện Đặc biệt trong những năm gần đây do nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng mà khả năng cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên càng ngày càng hạn chế, các công trình nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng cho một số loài cây trồng rừng nguyên liệu ngày càng tăng Tuy nhiên, mỗi một loài cây trên mỗi dạng lập địa khác nhau thì kỹ thuật thâm canh cũng khác nhau Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh rừng trồng mới tập trung trong một vài năm gần đây, thời gian theo dõi thí nghiệm chưa dài, các kết quả mới chỉ là bước đầu, nên cần phải có các công trình nghiên cứu kế tiếp để có những kết quả nghiên cứu
Trang 40chính xác và hoàn thiện hơn Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ứng dụng TBKT trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất rừng trồng
Để góp phần xây dựng và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ nói riêng tỉnh Thái Nguyên và khu vực Đông Bắc Bộ nói chung
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ
- Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai-Thái Nguyên huyện Chợ Mới-Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Yên Thế - Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
2.2.1.2 Địa hình
Đồng Hỷ thuộc tiểu vùng 1 của tỉnh Thái Nguyên, có kiểu địa hình đồi độc lập và núi thấp Phía Đông và Đông Bắc có dãy núi Tèn và núi Bắc Lâu kéo dài tạo thành bức tường ngăn cách 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Độ cao trung bình của huyện là 350m, cao nhất là đỉnh núi Tèn 759m Địa hình chia cắt mạnh ở phía Bắc và thấp dần từ Bắc xuống Nam, có độ cao tuyệt đối
từ 50m đến 750m so với mực nước biển Nhìn chung địa hình huyện Đồng Hỷ
có thể chia làm 2 vùng: Phía Bắc là núi thấp và núi trung bình, còn lại là vùng đồi Tuy nhiên, đây lại là vùng thượng lưu của sông Cầu nên vai trò của thảm