1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu những đặc điểm chung của vùng Trung Bộ và nhìn nhận riêng vùng văn hoá Huế

40 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 113,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu những đặc điểm chung của vùng Trung Bộ và nhìn nhận riêng vùng văn hoá Huế.Vùng văn hóa khái niệm này đặc trưng cho từng bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bẳn sắc chung. Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hóa dân tộc. Vùng văn hóa do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hóa tộc người theo không gian địa lý trên mọi lãnh thổ. Những nhóm tộc người khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo nên sự phân hóa vùng văn hóa. Từ xa xưa ông cha ta đã ý thức về việc phân biệt văn hóa vùng miền và ngày càng được chú trọng một cách ý thức trong giới nghiên cứu ngày nay. Theo đó, về tổng quát vùng lãnh thổ Việt Nam chia làm 6 vùng văn hóa trong đó có vùng văn hóa Trung Bộ.Trung Bộ, ngoại trừ Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, từng là nơi định cư của các tiểu vương quốc Chămpa. Vì vậy đặc điểm căn bản văn hoá vùng Trung Bộ chủ yếu mang dấu tích của văn hoá Chămpa. So với 2 vùng Bắc Bộ và Nam Bộ thì Trung Bộ thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian. Nơi đây phần nào đã chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên là núi non, biển, sông ngòi, các đầm và đồng bằng, vào trong các thành tố văn hoá vùng. Thể hiện qua các loại hình văn hóa, tập tục xã hội nói chung và cuộc sống trong các làng, xã đồng bằng ven biển nói riêng. Các làng nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công, có hoạt động đan xen, hỗ trợ nhau. Điển hình là các ngày lễ cúng đình của làng nghề nông nghiệp và đồng thời là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh cá, phần do vùng Trung Bộ gồm có những tiểu đồng bằng nhỏ hẹp, bám sát vào các chân núi ven biển. Khí hậu quanh năm trong vùng không được thuận lợi và tính chất văn hoá vùng miền chịu sự chi phối mạnh của điều kiện tự nhiên vốn luôn khắc nghiệt này. Tuy văn hóa Trung Bộ có những đặc điểm riêng biệt với các vùng khác, nhưng xuất phát từ hệ thống địa lý liền một dải, lại có mối quan hệ tương hỗ giữa các vùng miền trong lịch sử phát triển nên vừa có tính đặc trưng lại vừa tương đồng với nền văn hoá chính thể. Bên cạnh đó, ta còn biết được giá trị văn hóa vùng Trung Bộ qua lĩnh vực du lịch và ẩm thực mà cụ thể là tiểu vùng văn hóa xứ Huế và sự phát triển của nó. Chính những đặc điểm tự nhiên, xã hội, lịch sử này của Trung Bộ đã tạo cho vùng văn hóa Trung Bộ những đặc điểm riêng, so với các vùng văn hóa khác của Việt Nam. Để biết được rõ hơn về “ văn hóa đặc trưng cũng như các giá trị văn hóa của vùng văn hóa Trung Bộ”, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những đặc điểm chung của vùng Trung Bộ và nhìn nhận riêng vùng văn hoá Huế.Phần I. Cơ sở lý thuyếtTrong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, các điều kiện này khác nhau ở các vùng tạo ra sự phát triển văn hóa giữa các vùng có nhiều điểm không tương đồng và tạo nên một khái niệm đặc trưng cần nghiên cứu: không gian văn hóa – vùng văn hóa.1.1.Không gian văn hóaKhông gian văn hóa là khái niệm liên quan chặt chẽ nhưng không đồng nhất với khái niệm lãnh thổ. Nó bao quát tất cả những vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại, nghĩa là được xem xét qua một chiều dài thời gian. Khái niệm không gian văn hóa rộng hơn khái niệm không gian lãnh thổ. Như vậy, không gian văn hóa là khái niệm chỉ những vùng lãnh thổ qua sự tích lũy của bề dày thời gian lịch sử. Nó thường là khái niệm mang tính tương đối , không tách bạch như không gian lãnh thổ, thậm chí không gian văn hóa của hai dân tộc cạnh nhau thường có phần chồng lên nhau có miền giáp ranh .Chẳng hạn không gian văn hóa Việt Nam có liên hệ mật thiết nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ. Nó không chỉ giới hạn trong giới hạn lãnh thổ mà có ảnh hưởng qua lại đến văn hóa các dân tộc, lãnh thổ lân cận như: Trung Hoa, Lào, Campuchia,...với các miền giáp ranh tương ứng.Xét từ nguồn cội, không gian văn hóa Việt Nam vốn được hình thành trên nền của không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á. Nó được hình dung như một hình tròn bao quát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và phần hải đảo. 1.2.Vùng văn hóaKhái niệm đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung. Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hóa dân tộc. Vùng văn hóa do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hóa tộc người theo không gian địa lý trên một lãnh thổ. Những nhóm tộc người khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo nên sự phân hóa vùng văn hóa.Từ xa xưa ông cha đã ý thức việc phân biệt văn hóa vùng miền và ngày càng được chú trọng một cách ý thức trong giới nghiên cứu ngày nay. Tuy nhiên hiện còn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh hướng từng tác giả.1.3.Di sản văn hóaDi sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khácPhần II. Khái quát vùng văn hóa Trung Bộ2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên Trung Bộa)Vị trí ,địa hìnhTrung bộ là miền đất được giới hạn phía Bắc giáp với khu vực đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi Bắc Bộ , phía Nam giáp với các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Ria Vũng Tàu; phía Tây giáp 2 nước LàovàCampuchia.Vùng trung bộ bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,Khánh Hòa,Ninh Thuận,Bình Thuận và thành phố Đã Nẵng hiện nay. Trung bộ bao gồm Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung BộĐịa hình vùng Trung Bộ bị cắt xẻ bởi các đèo và sông :Địa hình miền trung chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam bởi các đèo tách từ núi đồi đâm từ dãy Trường Sơn ra biển .Sông ở trung bộ chảy theo hướng Tây – Đông ra biển sông ngắn nước biếc xanh ít phù sa châu thổ hẹp , nhiều cửa sông tạo thành các vịnh, cảng. Vùng Trung Bộ còn có nhiều đảo , quần đảo lớn như Hoàng Sa , Trường Sa , Hòn Gio( Quảng Bình ) , Cồn Cỏ ( Quảng Trị), Cù Lao Chàm ( Quảng Nam ) , Lý Sơn( Quảng Ngãi ) , Phú Qúy ( Phú Yên ) , Hòn Tre( Khánh Hòa) ..Đường bờ biển kéo dài, ưỡn cong ra biển Đông tuy là hướng gió ,bão sóng thần nhưng đây cũng là nơi có luồng cá biển chạy gần bờ hơn so với miền bắc.Ngoài ra sát bờ biển , từ Quảng Bình trở vô Nam , Ngãi , Bình Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài Bắc Nam . Ở giữa các dải cồn cát là vùng trũng nổi ,chân cồn là những vùng nước ngọt.b) Khí hậuMiền Trung có mùa mưa lệch pha so với hai đầu Bắc Nam của đất nước, chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng thổi từ Lào sang.Khí hậu Trung Bộ được chia ra làm hai khu vực chính là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ.Khu vực Bắc Trung Bộ (bao gồm toàn bộ phía Bắc đèo Hải Vân ). Vào mùa đông , do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa. Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ. Đến mùa hè, không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam(còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40độC, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp.Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (bao gồm khu vực đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ thuộc phía Nam đèo Hải Vân). Gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đây thường suy yếu đi do bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã. Vì vậy khi về mùa hè khi xuất hiện gió mùa Tây Nam thổi mạnh từ vịnh Thái Lan và tràn qua dãy núi Trường Sơn sẽ gây ra thời tiết khô nóng cho toàn bộ khu vực.c) Tài nguyên thiên nhiên Bắc Trung Bộ •Là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với các bãi biển đẹp như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)…•Nhiều cảnh quan thiên nhiên đặc sắc như: sông Hương, phá Tam Giang, cầu Hai (Thừa Thiên – Huế), núi Thiên Cầm, hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh)…•Các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Bến En (Thanh Hóa), Pù Huống, Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang, Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế)…•Những di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc có giá trị: Kinh thành Huế, đường mòn Hồ Chí Minh hay địa đạo Vịnh Mốc, nghĩa trang Trường Sơn, căn cứ Cồn Tiên, Thành cổ Quảng Trị…Nơi đây còn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Vùng văn hóa - khái niệm này đặc trưng cho từng bản sắc riêng của từng vùngdưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bẳn sắc chung Nó làm nên tính đadạng cho bức tranh văn hóa dân tộc Vùng văn hóa do đó chỉ sự khác nhau của đặctrưng văn hóa tộc người theo không gian địa lý trên mọi lãnh thổ Những nhóm tộcngười khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo nên sự phân hóa vùng văn hóa Từ xaxưa ông cha ta đã ý thức về việc phân biệt văn hóa vùng miền và ngày càng đượcchú trọng một cách ý thức trong giới nghiên cứu ngày nay Theo đó, về tổng quátvùng lãnh thổ Việt Nam chia làm 6 vùng văn hóa trong đó có vùng văn hóa TrungBộ

Trung Bộ, ngoại trừ Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, từng là nơi định cư củacác tiểu vương quốc Chăm-pa Vì vậy đặc điểm căn bản văn hoá vùng Trung Bộchủ yếu mang dấu tích của văn hoá Chăm-pa So với 2 vùng Bắc Bộ và Nam

Bộ thì Trung Bộ thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian Nơi đâyphần nào đã chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên là núi non, biển, sông ngòi,các đầm và đồng bằng, vào trong các thành tố văn hoá vùng Thể hiện qua các loạihình văn hóa, tập tục xã hội nói chung và cuộc sống trong các làng, xã đồng bằngven biển nói riêng Các làng nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công, có hoạt độngđan xen, hỗ trợ nhau Điển hình là các ngày lễ cúng đình của làng nghề nôngnghiệp và đồng thời là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh cá, phần do vùng Trung

Bộ gồm có những tiểu đồng bằng nhỏ hẹp, bám sát vào các chân núi ven biển Khíhậu quanh năm trong vùng không được thuận lợi và tính chất văn hoá vùng miềnchịu sự chi phối mạnh của điều kiện tự nhiên vốn luôn khắc nghiệt này Tuy vănhóa Trung Bộ có những đặc điểm riêng biệt với các vùng khác, nhưng xuất phát từ

hệ thống địa lý liền một dải, lại có mối quan hệ tương hỗ giữa các vùng miền

Trang 2

hoá chính thể Bên cạnh đó, ta còn biết được giá trị văn hóa vùng Trung Bộ qualĩnh vực du lịch và ẩm thực mà cụ thể là tiểu vùng văn hóa xứ Huế và sự phát triểncủa nó

Chính những đặc điểm tự nhiên, xã hội, lịch sử này của Trung Bộ đã tạo chovùng văn hóa Trung Bộ những đặc điểm riêng, so với các vùng văn hóa khác của

Việt Nam Để biết được rõ hơn về “ văn hóa đặc trưng cũng như các giá trị văn hóa của vùng văn hóa Trung Bộ”, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những đặc điểm chung

của vùng Trung Bộ và nhìn nhận riêng vùng văn hoá Huế

Phần I Cơ sở lý thuyết

Trong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, các điều kiện này khácnhau ở các vùng tạo ra sự phát triển văn hóa giữa các vùng có nhiều điểm khôngtương đồng và tạo nên một khái niệm đặc trưng cần nghiên cứu: không gian vănhóa – vùng văn hóa

1.1 Không gian văn hóa

Không gian văn hóa là khái niệm liên quan chặt chẽ nhưng không đồng nhất vớikhái niệm lãnh thổ Nó bao quát tất cả những vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồntại qua các thời đại, nghĩa là được xem xét qua một chiều dài thời gian Khái niệmkhông gian văn hóa rộng hơn khái niệm không gian lãnh thổ Như vậy, không gianvăn hóa là khái niệm chỉ những vùng lãnh thổ qua sự tích lũy của bề dày thời gianlịch sử Nó thường là khái niệm mang tính tương đối , không tách bạch như khônggian lãnh thổ, thậm chí không gian văn hóa của hai dân tộc cạnh nhau thường cóphần chồng lên nhau có miền giáp ranh

Chẳng hạn không gian văn hóa Việt Nam có liên hệ mật thiết nhưng khôngđồng nhất với không gian lãnh thổ Nó không chỉ giới hạn trong giới hạn lãnh thổ

Trang 3

mà có ảnh hưởng qua lại đến văn hóa các dân tộc, lãnh thổ lân cận như: TrungHoa, Lào, Campuchia, với các miền giáp ranh tương ứng.

Xét từ nguồn cội, không gian văn hóa Việt Nam vốn được hình thành trên nềncủa không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á Nó được hình dung như một hìnhtròn bao quát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và phần hải đảo

1.2 Vùng văn hóa

Khái niệm đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất docùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh vănhóa dân tộc Vùng văn hóa do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hóa tộc ngườitheo không gian địa lý trên một lãnh thổ Những nhóm tộc người khác nhau ởnhững chỗ khác nhau tạo nên sự phân hóa vùng văn hóa

Từ xa xưa ông cha đã ý thức việc phân biệt văn hóa vùng miền và ngày càngđược chú trọng một cách ý thức trong giới nghiên cứu ngày nay Tuy nhiên hiệncòn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh hướng từng tác giả

1.3 Di sản văn hóa

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, làsản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác

Phần II Khái quát vùng văn hóa Trung Bộ

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên Trung Bộ

a) Vị trí ,địa hình

Trang 4

Trung bộ là miền đất được giới hạn phía Bắc giáp với khu vực đồng bằng sôngHồng và Trung du miền núi Bắc Bộ , phía Nam giáp với các tỉnh Bình Phước,Đồng Nai, Bà Ria Vũng Tàu; phía Tây giáp 2 nước LàovàCampuchia.

Vùng trung bộ bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,Quảng Nam Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,Khánh Hòa,Ninh Thuận,BìnhThuận và thành phố Đã Nẵng hiện nay

Trung bộ bao gồm Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ

- Địa hình vùng Trung Bộ bị cắt xẻ bởi các đèo và sông :

 Địa hình miền trung chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam bởi các đèo tách từ núiđồi đâm từ dãy Trường Sơn ra biển

 Sông ở trung bộ chảy theo hướng Tây – Đông ra biển sông ngắn nước biếcxanh ít phù sa châu thổ hẹp , nhiều cửa sông tạo thành các vịnh, cảng VùngTrung Bộ còn có nhiều đảo , quần đảo lớn như Hoàng Sa , Trường Sa , HònGio( Quảng Bình ) , Cồn Cỏ ( Quảng Trị), Cù Lao Chàm ( Quảng Nam ) , LýSơn( Quảng Ngãi ) , Phú Qúy ( Phú Yên ) , Hòn Tre( Khánh Hòa)

- Đường bờ biển kéo dài, ưỡn cong ra biển Đông tuy là hướng gió ,bão sóngthần nhưng đây cũng là nơi có luồng cá biển chạy gần bờ hơn so với miền bắc.Ngoài ra sát bờ biển , từ Quảng Bình trở vô Nam , Ngãi , Bình Phú có các dảicồn cát chạy dọc dài Bắc Nam Ở giữa các dải cồn cát là vùng trũng nổi ,chân cồn

là những vùng nước ngọt

b) Khí hậu

Miền Trung có mùa mưa lệch pha so với hai đầu Bắc Nam của đất nước, chịuảnh hưởng của gió Tây khô nóng thổi từ Lào sang.Khí hậu Trung Bộ được chia ralàm hai khu vực chính là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ

Trang 5

Khu vực Bắc Trung Bộ (bao gồm toàn bộ phía Bắc đèo Hải Vân ) Vào mùađông , do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nêntoàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa Đây là điểm khácbiệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ Đến mùa hè, không cònhơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam(còn gọi là gió Lào) thổingược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lêntới trên 40độC, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (bao gồm khu vực đồng bằng ven biển NamTrung Bộ thuộc phía Nam đèo Hải Vân) Gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đâythường suy yếu đi do bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã Vì vậy khi về mùa hè khi xuấthiện gió mùa Tây Nam thổi mạnh từ vịnh Thái Lan và tràn qua dãy núi Trường Sơn

sẽ gây ra thời tiết khô nóng cho toàn bộ khu vực

c) Tài nguyên thiên nhiên

Bắc Trung Bộ

 Là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với các bãi biểnđẹp như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Nhật Lệ (Quảng Bình),Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)…

 Nhiều cảnh quan thiên nhiên đặc sắc như: sông Hương, phá Tam Giang, cầuHai (Thừa Thiên – Huế), núi Thiên Cầm, hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh)…

 Các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Bến En (Thanh Hóa), PùHuống, Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang, Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Phong Nha – KẻBàng (Quảng Bình), Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế)…

Trang 6

 Những di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc có giá trị: Kinh thành Huế, đườngmòn Hồ Chí Minh hay địa đạo Vịnh Mốc, nghĩa trang Trường Sơn, căn cứCồn Tiên, Thành cổ Quảng Trị…

Nơi đây còn là quê hương của nhiều lễ hội độc đáo như: lễ hội Lam Kinh(Thanh Hóa), lễ hội đền Cuông (Nghệ An), lễ hội điện Hòn Chén (Thừa Thiên –Huế); đặc biệt Festival Huế được tổ chức định kỳ 2 năm một lần đã trở thành một

sự kiện văn hóa mang tầm quốc tế được nhiều du khách trong và ngoài nước quantâm

Khu vực này còn là nơi tập trung 4 di sản thế giới được UNESCO công nhận làThành nhà Hồ, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế

và Nhã nhạc – Âm nhạc cung đình Việt Nam Đây cũng là quê hương của nhiềudanh nhân nổi tiếng Việt Nam như: Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu,Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn ; các vua nhà Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn, chúaNguyễn, chúa Trịnh

Duyên hải Nam Trung Bộ

Khu vực này có địa hình phức tạp, đồi - núi - rừng - biển đan xen tạo nên nhiều

kỳ quan, thắng cảnh hùng vĩ cùng những bãi tắm với biển xanh, cát trắng, nắngvàng thơ mộng Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để các tỉnh trong khu vực pháttriển du lịch mà trọng tâm là du lịch biển - đảo

Biển Đà Nẵng đã được Tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn là 1 trong 6 bãi biển hấpdẫn nhất hành tinh Nha Trang với nhiều vũng, vịnh, bãi tắm sóng gió miên manlàm mê hồn biết bao du khách như: vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong, bãi biển Đại

Trang 7

Lãnh, bãi Trũ, hòn Tằm Phú Yên với bờ biển dài 190km, nhiều nơi núi - biển liền

kề tạo nên nhiều vịnh, đầm mang vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ như: vịnh Vũng Rô,vịnh Xuân Đài, vũng Lắm, đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, ghềnh Đá Đĩa…

Du lịch biển đảo: Cù lao Chàm (Quảng Nam), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), QuyNhơn (Bình Định), Ninh Chữ - Cà Ná (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận)

Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng nằm trên địa phận các tỉnh Duyênhải Nam Trung bộ Đây là cơ sở để phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, thể thaotrênbiển, trên cát và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển loại hình dulịch sinh thái biển, lặn biển trong tương lai

Những di tích văn hóa, lịch sử độc đáo như quần thể đền tháp Champa, thành cổTrà Bàn, thành Trường Lũ

Duyên hải Nam Trung Bộ còn có 2 Di sản văn hóa thế giới được UNESCOcông nhận là đô thị Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn, hàng năm thu hút rất đông dukhách trong và ngoài nước đến tham quan, khám phá

2.2 Đặc điểm về con người Trung Bộ:

Con người Trung Bộ luôn chịu thương chịu khó chăm chỉ cần cù bởi thiênnhiên ở đây quá khác nghiệt Tuy nhiên người miền trung luôn thật thà mộc mạcchân chất có tấm lòng hiếu khách và yêu thương nhau

Trang 8

Điều kiện tự nhiên tuy khí hậu khắc nghiệt nhưng miền Trung Bộ có đượcnhững danh nam thắng cảnh đẹp, có đường bờ biển dài thuận lợi co phát triển dulịch biển và hơn cả là con người miền trung bộ thật thà, thân thiện và hiếu khách.

2.3 Không gian văn hóa vùng Trung Bộ

Khác với hai vùng châu thổ ở hai đầu đất nước, vùng Trung Bộ là nơi chịu sựphân cắt mạnh bởi địa hình, tạo thành các tiểu vùng, giới hạn bởi các dải núi từ dãyTrường Sơn ở phía tây vươn ra tới biển Các dòng sông trong vùng thường ngắn vàdốc, chảy theo hướng đông - tây ra biển, lưu vực nhỏ, cửa sông thường bị chế ngựbởi các cồn cát chạy dài dọc bờ biển Vì thế trong toàn vùng không có sự liên kếttrực tiếp bằng mạng lưới đường thủy như các vùng châu thổ ở Bắc Bộ và Nam Bộ.Với đặc điểm cấu tạo địa hình như vậy, không gian văn hóa vùng duyên hảimiền Trung thường bao hợp cả không gian văn hóa biển đảo, văn hóa duyên hải,văn hóa nông thôn đồng bằng và văn hóa miền núi - trung du

a) Văn hóa biển đảo

Trong nhiều thế kỷ trước, một số đảo ở vùng duyên hải miền Trung đã có conngười cư trú Trong đó, quần đảo Cù Lao Chàm từng là bến cảng nằm trên “conđường tơ lụa trên biển” nối liền từ đông sang tây, có tính chất và niên đại cùng vớicảng Kokokhao, Laempho của Nam Thái Lan, cảng Mantai của Srilanca khoảngthế kỷ IX – X Do thiên nhiên tạo nên ở vùng biển miền Trung các luồng hải lưugần bờ, đã đem đến cho vùng biển này những luồng cá lớn đi sát bờ, và do địa hình

có núi vươn ra sát biển, hoạt động nông nghiệp khó khăn do đồng bằng chật hẹp,nên khi thiên di tới vùng đất này, người Việt buộc phải thích nghi với biển Vì vậy,

có thể nói, chất biển đậm màu trong văn hóa của người Việt ở vùng đất này, thểhiện trong nếp sống văn hóa với những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dângian

Trang 9

b) Văn hóa đô thị:

Những đặc điểm về địa hình không chỉ tạo cho vùng Trung Bộ mang một diệnmạo tự nhiên đặc trưng mà còn hình thành nên một phong cách văn hóa mở Phíatrước là biển cả đã đem lại cho cư dân nơi đây không chỉ không gian biển đầy sónggió và những nguồn lợi phong phú từ đại dương, mà còn tạo cho họ một phongcách sống, một lối tư duy khoáng đạt, rộng mở, sẵn sàng đón nhận những luồngdịch chuyển văn hóa mạnh mẽ từ bên ngoài vào Phong cách sống, lối tư duy đặctrưng ấy cùng với thời gian, với những con sóng, ngọn gió cùng với sự quần cư của

số đông người ven những con sông thì diện mạo đầu tiên của một đô thị được hìnhthành

Dưới thời các chúa Nguyễn cai trị ở Đàng Trong (1558 - 1775), nhiều đô thịthương cảng được hình thành và phát triển rực rỡ như Hội An (Quảng Nam),Thanh Hà (Huế), Nước Mặn (Bình Định) Những đô thị cổ này thường nằm bênnhững con sông lớn, bởi nó thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa bằngđường thủy Những cảng thị ấy xuất hiện như một tất yếu trong một không gianvăn hóa của cả vùng duyên hải miền Trung, chúng được các nhà nghiên cứu gọi là

“mặt tiền văn hóa” của miền đất này Chính đô thị là nơi gặp gỡ của những luồngvăn hóa khác nhau ở trong nước cũng như quốc tế Sự giao lưu với những luồngvăn hóa từ bên ngoài thông qua những con sông đã tạo dựng nên một lối tư duycủa cư dân đô thị thương cảng

Trong vùng Trung Bộ đã hình thành một chuỗi đô thị với hàng trăm năm tuổi:Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang…Tuy nhiên, so với các đô thị lớn ở hai đầu đất nước, đô thị ở miền Trung là các đôthị quy mô nhỏ, tầng lớp thị dân ở các đô thị này có gốc gác trực tiếp với tầng lớpnông dân ven đô Vì thế văn hóa đô thị ở trong vùng duyên hải miền Trung có tính

Trang 10

chất đặc thù, khác với văn hóa đô thị ở các đô thị lớn, và có mối quan hệ chặt chẽvới những vỉa tầng văn hóa khác ở trong vùng.

c) Văn hóa duyên hải:

Vùng duyên hải miền Trung được che chắn bởi những cồn cát nằm ven biểnchạy dọc từ bắc xuống nam.Phía sau những cồn cát rộng lớn bao giờ cũng cónhững đầm hồ hẹp, là dấu tích của vụng biển cũ Trên vùng này, khi tiến dần vềphương Nam mở cõi, người Việt đã gặp biển và theo truyền thống nông nghiệp, họ

“quai đê lấn biển”, khai phá những vùng sình lầy, phù sa ven biển và sử dụng một

số biện pháp khử mặn, rửa chua, thuần hóa đất… Cư dân vùng này tuy sống venbiển nhưng do điều kiện môi trường và phương tiện khai thác thủy, hải sản còn hạnchế, nên chỉ một bộ phận trong số họ sinh sống bằng nghề biển Phần dân cư cònlại sống bằng nghề nông, trồng các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngàynhư khoai, sắn, đậu phụng, thuốc lá trên các vùng động cát và một ít lúa nướctrong những dải đất hẹp ở các cồn bàu ven biển.Chính điều này đã tạo nên nhữngnét văn hóa mang đặc trưng riêng

Cư dân ở vùng do tiếp xúc với biển và nhiều luồng văn hóa khác nhau nên đãtích lũy được một số kiến thức nhằm khai thác biển, như nhận thức về các hiệntượng tự nhiên, độ nông sâu, thoải dốc của bờ, các dòng hải lưu nóng lạnh, chế độthủy triều, chu kỳ con nước, các loại hải vật và sinh hoạt của chúng trong khônggian và thời gian, các công cụ đánh bắt, hướng gió, mây, trăng, sao… cùng nhữngkiêng kỵ dần dần hình thành trong đời sống văn hóa của họ

d) Văn hóa nông thôn đồng bằng:

Các nhà địa lý, địa chất cho rằng, đồng bằng ở đây có nguồn gốc khác nhau.Đất phù sa trong các đồng bằng này thường rất màu mỡ nên người dân nơi đây chủyếu trồng lúa và các loại cây hoa màu như mía, khoai, đậu phụng và bắp Một số

Trang 11

nơi người ta trồng rất nhiều dừa như ở khu vực Tam Quan (Bình Định), nhữngrừng dừa bạt ngàn nơi đây ước đến 1.000.000 cây trên một chiều dài khoảng chừng

30 km, rộng 20 km, làm cho cảnh quan ở đây xanh và tươi mát lạ thường.Trênnhững cánh đồng, họ biết cách để “dẫn thủy nhập điền” tưới tiêu hoa màu.Trên hệthống mương cổ này, người dân đã nạo vét để tạo thành một mạng lưới thủy nôngtương đối dày, phục vụ tưới tiêu nông nghiệp Bên cạnh đó, họ còn biết khai thácnguồn nước ngầm bằng cách đào nhiều giếng ngoài ruộng, bên cạnh mỗi giếng lại

có chiếc “cần vọt” để múc nước lên tưới cho lúa, mía và hoa màu

Chính vì vậy, văn hóa của cư dân đồng bằng chính là văn hóa nông nghiệp, hìnhthành nên những phong tục, tập quán, lễ hội,… gắn liền với các hoạt động sản xuấtnông nghiệp như tục làm đất, bắt mộng, tát nước, hạ điền, thượng điền, tục đảo võcầu mưa, cầu bông, bón phân, gặt lúa, cúng cơm mới, xôi mới, trồng cây hoa màu,cây công nghiệp ngắn ngày…, với những điệu hò, câu lý trong lao động sản xuất,

hò khoan đối đáp của trai gái nông thôn… Tất cả đã tạo nên những nét đẹp trongđời sống của người dân nông thôn quanh năm chân lấm tay bùn

e) Văn hóa miền núi – trung du

Một đặc trưng lớn nhất và cơ bản trong đời sống của người dân miền núi là nếpsống nương rẫy.Đây là nếp sống chủ đạo và bao trùm lên tất cả các tộc người trongVùng.Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên vùng đất khô của sơnnguyên Về xã hội, nếp sống nương rẫy duy trì các quan hệ cộng đồng công xã làngbuôn, các quan hệ bình đẳng, dân chủ của xã hội nguyên thủy, Có thể nói, toàn

bộ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của dân tộc miền núi duyên hảimiền Trung gắn bó với rừng núi và nương rẫy, từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục,nghi lễ, đời sống tình cảm… Đó có thể được gọi chung là văn hóa rừng

Trang 12

Có thể nói, các tộc người cùng sinh sống trên vùng núi miền Trung có nhữngnét tương đồng và khá đặc trưng về quan niệm ứng xử giữa thế giới người sống vàngười chết, từ đó tạo nên cả một hệ thống những tập tục, nghi lễ, sinh hoạt văn hóaxung quanh thế giới người chết, tạo nên một hiện tượng văn hóa dân gian mangtính tổng thể - sinh hoạt nhà mồ Từ đó, họ sáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ,tượng nhà mồ, các nhạc cụ, bài hát, điệu múa dành riêng cho sinh hoạt lễ hội nhàmồ.

Điểm nổi bật trong đời sống văn hóa của tất cả các tộc người sinh sống trênvùng núi Trung Bộ là lễ hội.Trong các lễ hội đó, nghi lễ hiến sinh trở thành quantrọng và không thể thiếu được, ngày nay nó vẫn còn hiện diện trong đời sống củanhiều tộc người thông qua nghi lễ đâm trâu.Điều đặc biệt là trong các lễ hội truyềnthống, trong ma chay, cưới hỏi, nghi lễ tôn giáo… không thể thiếu tiếng chiêng.Tiếng chiêng gắn bó với mỗi đời người từ thuở lọt lòng cho đến khi trưởng thành

và đến lúc chết; tiếng chiêng âm vang suốt vụ mùa, từ đầu tháng tìm rẫy đến cuốinăm gặt hái, săn bắn; tiếng chiêng thôi thúc dân trong làng trong suốt mùa lễ hội,gọi mời khách ngoài làng, đánh thức thần linh trong rừng, trên trời

2.4 Di sản văn hóa vùng Trung Bộ

a) Văn hóa vật thể:

- Di tích lịch sử văn hóa:

Miền Trung là nơi có nhiều di tích LSVH bậc nhất Việt Nam.Trong đó có 3quần thể di tích LSVH đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Đólà: Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Đô thị cổ Hội An và Thánh địa

Mỹ Sơn (Quảng Nam).Hầu như ở bất kỳ tỉnh thành nào cũng đều có nhiều di tíchLSVH gắn liền với những cư dân đã từng sinh sống trên mảnh đất này Đâu đótrong lòng đất, người ta lại bắt gặp những hiện vật của cư dân nền văn hóa SaHuỳnh có niên đại cách nay trên dưới 2.000 năm, hay những kiến trúc đền tháp của

Trang 13

nền văn hóa Champa tồn tại ở khắp các địa phương trong vùng, từ Thừa Thiên Huếcho đến Khánh Hòa, nơi nào cũng có các đền tháp Champa.

- Các bảo tàng:

Các bảo tàng trong vùng hầu hết là bảo tàng tổng hợp hay bảo tàng khảo cứuđịa phương, nhằm lưu giữ, trưng bày, những hiện vật về đời sống tự nhiên, lịch sử,con người trong vùng Ngoài ra, còn có những bảo tàng chuyên ngành hoặc bảotàng chuyên đề như: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, Bảo tàng Văn hóa Huế, Bảotàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Gốm sứ mậu dịch Hội An, Bảo tàng Vănhóa Sa Huỳnh, Bảo tàng Sinh vật biển Nha Trang… Hoặc những bảo tàng danhnhân như: Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh (Thừa Thiên Huế), Bảo tàng QuangTrung (Bình Định), Nhà lưu niệm bác sĩ Yersin (Khánh Hòa)…

- Danh lam thắng cảnh:

Miền Trung hiện nay có chiều dài bờ biển khoảng 1.161 km, với nhiều vũng,vịnh và những bãi tắm đẹp hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như: Thuận An,Cảnh Dương Lăng Cô (Thừa Thiên Huế); Xuân Thiều, Mỹ Khê, Non Nước (ĐàNẵng); Cửa Đại, Tam Thanh (Quảng Nam); Mỹ Khê, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi);Quy Nhơn, Hoàng Hậu (Bình Định); Tuy Hòa, Bãi Môn - Mũi Điện (Phú Yên);Nha Trang, Cam Ranh (Khánh Hòa)

Bên cạnh đó, còn nhiều cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, những thắng tích do thiênnhiên khéo tạo nổi tiếng như: Sông Hương, Ngự Bình, Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng);

Cù Lao Chàm, Hồ Phú Ninh, Suối Tiên…

b) Văn hóa phi vật thể:

Trang 14

- Phong tục tập quán:

Ở bất kỳ tỉnh, thành nào của miền Trung, chúng ta cũng bắt gặp những ngôimiếu thờ nữ thần gọi chung là miếu thờ Bà Bà ở đây gồm cả Thiên Hậu, TốngHậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành, Bà Thủy Long, Bà Lường… đặc biệt làThiên Y A Na.Thánh mẫu Thiên Y A Na là vị nữ thần mang trong mình sự hỗndung văn hóa Chăm - Việt Nói cách khác, Thiên Y A Na chính là sự Việt hóa Bà

Mẹ Xứ Sở của người Chăm, mà đặc biệt địa bàn của quá trình Việt hóa này là vùngduyên hải miền Trung

Có lẽ đặc trưng và điển hình nhất cho tín ngưỡng dân gian vùng ven biển miềnTrung là tục thờ cá Ông (cá voi) Có thể nói, đi đến đâu chúng ta cũng bắt gặp tụcthờ này và cá Ông được tôn xưng với các tước hiệu khác nhau như Nam Hải ĐạiTướng Quân, Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần, Đại Càn Nam Hải Đại Tướng Quân,Đông Hải Ngọc Lân Tôn Thần và các danh xưng dân gian khác như: Ông Khơi,Ông Lộng, Ông Lớn, Ông Sanh, Ông Chuông, Ông Cậu… Trong các làng, nhất làlàng chài lưới trên biển đều có lăng thờ cá Ông Hàng năm, vào những ngày nhấtđịnh liên quan đến nghề đánh cá, người dân tổ chức lễ Nghinh Ông từ ngoài biển

về để tế lễ và múa hát bả trạo.Tục thờ cá Ông gắn với một hiện tượng có thật về cávoi hay cứu người, cứu thuyền lúc bão tố ngoài khơi Do vậy, có thể coi nghi thứcthờ phụng cá Ông của cư dân miền Trung như là một hiện tượng văn hóa dân giantổng thể, trong đó cốt lõi là tục thờ cúng cá Ông, một loại hình tín ngưỡng đặctrưng của cư dân ven biển

- Lễ hội

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa lâu đời, có sức lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân

và đã trở thành một nhu cầu sinh hoạt tinh thần không thể thiếu của nhân dân tatrong nhiều thế kỷ Ngày nay, trên dải đất miền Trung, miền nào cũng có nhữngsinh hoạt lễ hội truyền thống khá đậm nét gắn liền với đời sống tín ngưỡng của cư

Trang 15

dân sông nước như: hội đua ghe/thuyền, hội vật làng Sình, lễ hội cầu ngư, lễ hộiđiện Hòn Chén, lễ vía Quan Thế Âm (Thừa Thiên Huế); lễ hội Mục đồng Phong

Lệ, lễ hội cầu ngư, lễ hội Quan Thế Âm (Đà Nẵng),…Ngoài các lễ hội truyềnthống, có nguồn gốc từ lâu đời, hiện nay, có nhiều lễ hội văn hóa đương đại, lễ hội

du lịch Tiêu biểu là các lễ hội, sự kiện văn hóa sau: Festival Huế (Thừa ThiênHuế), Festival nghề truyền thống Huế (Thừa Thiên Huế), Lễ hội Quán Thế Âm(Đà Nẵng), Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn (Bình Định,…

- Làng nghề và nghề truyền thống

Do diện tích đất đai canh tác nông nghiệp hạn hẹp, nguồn nguyên liệu dồi dàonên từ xưa, vùng Trung Bộ đã phát triển các làng nghề và nghề thủ công truyềnthống như nghề đúc đồng Phường Đúc, làng gốm Phước Tích, làng nón Triều Sơn,làng hoa giấy Thanh Tiên, làng rèn Hiền Lương, làng đan lát Bao La (Thừa ThiênHuế); nghề đúc đồng ở Phú Lộc Tây, làng dệt chiếu Mỹ Trạch, làng nem Ninh Hòa(Khánh Hòa)…

- Ẩm thực

Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặctrưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm… khắc họa một số nét cơbản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia… Nó chiphối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạonên đặc thù của cộng đồng ấy Do đó, ẩm thực của cư dân miền Trung rất phongphú mang đậm bản sắc và phong vị của từng nơi ví dụ như:

 Huế nổi tiếng với các món bún bò giò heo, cơm hến, bánh canh cá lóc ThủyDương, bánh canh Nam Phổ, cháo lòng Nam Giao, cháo le le, cháo cá ThuậnAn,

 Đà Nẵng ngoài mì Quảng thì các món như thịt heo cuốn bánh tráng, búnmắm thịt quay và bún chả cá là những đặc sản ẩm thực dân dã Đến Đà Nẵng

Trang 16

không thể bỏ qua những món như gỏi cá, mít non kho cá chuồn, nộm sứa,nước mắm Nam Ô

 Quảng Nam vốn nổi tiếng với nhiều món đặc sản bình dân Món ăn no thìcó: mì Quảng, nổi tiếng nhất là mì Quảng Phú Chiêm, phở sắn Quế Sơn, caolầu Hội An, cháo lươn xanh ở Thăng Bình,…

 Quảng Ngãi nổi tiếng nhất là món don nấu canh, nấu cháo, hay xào vớimiến, bún, mì và cá bống sông Trà Ngoài ra còn có loài cá thài bai, thườngđược chế biến theo ba kiểu: hấp, chiên và ram, cũng là đặc sản ẩm thực củaQuảng Ngãi

 Bình Định cũng là quê hương của cá, tôm, cua, ghẹ, ốc, hàu

 Phú Yên có nhiều loại hải sản có giá trị như: sò huyết đầm Ô Loan; tôm hùmSông Cầu; ghẹ đầm Cù Mông; cá ngừ đại dương

 Khánh Hòa cũng là nơi có nhiều đặc sản ẩm thực gắn liền với biển như yếnsào, hải sâm, cá mú Côn Sơn hấp gừng, tôm hùm sốt sò điệp, cháo tôm hùm,cháo hải sản, bún cá Ninh Hòa,…

Phần III Khái quát đặc trưng văn hóa Trung Bộ và phân tích đánh giá thực trạng du lịch

3.1 Vùng đất chứa nhiều dấu tích văn hóa Chăm Pa và du lịch văn hóa vùng a) Yếu tố kiến trúc, điêu khắc Chăm trong vùng văn hóa Trung Bộ

Dễ nhận thấy nhất trong vùng văn hóa Trung Bộ Việt Nam là yếu tố kiến trúc,điêu khắc Chăm Người Chăm xây dựng hàng trăm đền tháp thờ thần Hindu, cùngvới việc xây dựng nhà cửa, cung điện, thành quách, đó là những nét đặc trưngcủa kiến trúc Chăm Với óc sáng tạo và bàn tay tài hoa, các nghệ nhân Chăm đã tạonên những công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo, làm nên cái tư tưởng cái tinhthần của dân tộc Chăm Các công trình nghệ thuật kiến trúc Chăm đều chịu ảnhhưởng sâu sắc nền văn hóa Ấn Độ Người Chăm xây dựng hàng trăm các khu đềntháp, các tháp Chăm được xây dựng bằng gạch, duyên dáng, đẹp và độc đáo Cáctháp Chăm xây dựng nhằm mục đích xây dựng để thờ Hindu, các vua Champa vàsau này các tháp Chăm cũng là nơi diễn ra các lễ hội gắn liền với tôn giáo

Trang 17

Bàlamon Ngày nay trong vùng văn hóa Trung Bộ tượng trưng cho các lục địa vàngoài cùng là hào rãnh, biểu tượng của đại dương.

Nằm trong vùng văn hóa Trung Bộ Việt Nam, Ninh Thuận, Bình Thuận vốn làvùng đất lịch sử của vương quốc Champa đã tồn tại trong suốt nhiều thế kỷ, từ sauthế kỷ thứ II sau Công nguyên Người Chăm và các tộc người của vương quốcChampa đã sáng tạo nên một nền văn hóa rực rỡ, mà một số nhà khoa học trong vàngoài nước đã đánh giá là mộttrong những đỉnh cao của văn minh các quốcgiaĐông Nam Á cổ đại Ngày nay, nền văn hóa Chăm còn hiện hữu ở nhiều lĩnhvực văn hóa vật thể và phi vậtthể trên đất Ninh Thuận (hiện nay ở Ninh Thuậncókhoảng 67.000 người Chăm), có thể kể ra một số di sản và giá trị văn hóa Chămđáng chú ý, liên quan đến hoạt động du lịch của tỉnh Ninh Thuận

- Đền Tháp Chăm: Ninh Thuận là địa phương có đông đồng bào Chăm sinhsống

và ngày nay họ vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị truyền thống văn hóa như phong tụctập quán, tôn giáo tín ngưỡng và các nghề thủ công truyền thống… Đặc biệt, hiệnnay ở Ninh Thuận còn tồn tại 3 cụm tháp Chăm, mang 3 phong cách và niên đạikhác nhau: tháp Hòa Lai (Ba Tháp), tháp Pô Klong Garai và tháp Pô Rôme

“Tháp Hòa Lai, xây dựng vào thế kỷ IX được xếp vào phong cách Hoà Lai.Trong các tháp Chăm hiện còn ở Ninh Thuận, cụm tháp Hoà Lai gồm có 3 ngôitháp và được xây dựng vòng thành bao quanh Trải qua sự bào mòn của thời gian

và sự khắc nghiệt của tự nhiên nên tháp trung tâm và vòng thành đã bị sụp đổ hoàntoàn, chỉ còn lại 2 ngôi tháp ở phía bắc và phía nam nhưng vẫn đang trong tìnhtrạng hư hại trầm trọng Để bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa cụm tháp Hòa Lainhà nước đã tiến hành trùng tu, chống xuống cấp và đến nay công cuộc trùng tu,tôn tạo đã hoàn thành Tháp Hòa Lai, mặc dù có phong cách riêng nhưng nó cũng

Trang 18

mang một số đặc điểm chung như các tháp Chăm nêu trên Bên trong lòng của thápphía nam thờ bệ thờ Linga – Yoni, ở trên các mặt tường tháp có điêu khắc cáctượng thờ như tượng tu sĩ Bàlamôn, chim thần Garuda và các cột trụ đều có chạmkhắc, trang trí hình hoa lá Các đề tài trang trí trên tháp Hòa Lai đều được các nghệnhân Chăm tạc trực tiếp lên mặt tường của tháp làm nên sự độc đáo cho công trìnhkiến trúc Chămpa, hiện nay tháp này người Chăm không thờ phượng cúng tế”

“Nằm trên ngọn đồi trầu (cơk hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâmthành phố Phan Rang - Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc Tháp Pô Klong Garai làmột tổng thể kiến trúc nghệ thuật được người Chăm xây dựng vào khoảng giữa thế

kỷ XII đầu thế kỷ XIII để thờ vị vua Pô klong Garai (1151-1205) - một vị vua cócông với dân, với nước, được người Chăm suy tôn thành thần thánh Tháp PôKlong Garai ở Ninh Thuận là một cụm tháp Chăm hoàn mỹ, kỹ thuật tinh xảo đãđạt đến đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc Chămpa, do đó Tháp được

Bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 1979”

“Nằm trên một ngọn đồi “Bôn acho” thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu,huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 15

km về phía Tây Nam Tháp Pô Rôme được xây dựng vào thế kỷ XVII để thờ vị vua

Pô Rôme Tháp Pô Rôme không cao to bề thế như tháp Pô Klong Garai nhưng tháp

có một phong cách nghệ thuật kiến trúc riêng biệt – phong cách Pô Rôme, thápđược xem là ngôi tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đềntháp của người Chăm trong vùng văn hóa Trung bộ Việt Nam Tháp Pô Rôme vớiphong cách riêng của mình, được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuậtnăm 1992”.Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, hiện nay tháp Pô Rôme đangđược tiếp tục trùng tu, tôn tạo

Trang 19

Cùng với kiến trúc đền tháp, điêu khắc Chăm cũng là những kiệt tác phongphú, đa dạng về loại hình, kỹ thuật đạt đến trình độ tinh xảo thể hiện được nhữngdáng vẻ độc đáo Những tác phẩm điêu khắc Chăm là các tượng thờ Siva, Vishnu,Brahma, những con thờ vật thờ ở tháp Chăm phổ biến vẫn là cặp Linga – Yoni.Ngoài ra ở các đền tháp Chăm còn trang trí những tác phẩm điêu khắc độc đáonhư: tượng thờ Vũ nữ, người cưỡi ngựa đánh cầu, những con vật huyền thoại nhưGaruda, Kala, bò thần Nandin Những cảnh chạm khắc trang trí ở các bệ thờ, điêukhắc Chăm phần lớn ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ Nổi bậc lên là điêu khắc Trà Kiệu,

“gồm đài thờ vuông có bốn mặt hoạt cảnh, hai vũ nữ bán tròn gắn vào trụ tường vàmột vài hình khác với một số nét diện mạo, quần áo, đồ trang sức, nụ cười có vẻduyên dáng, thanh lịch, mềm mại

- Nghề thủ công

Ở Ninh Thuận, cho đến nay vẫn còn hai làng nghềthủ công nổi tiếng thu hútnhiều khách tham quan Đó là làng Bàu Trúc, chuyên sản xuất các sản phẩm gốmvới kỹ thuật còn rất nguyên sơ, không dùng bàn xoaytạo hình sản phẩm và nunggốm lộ thiên.Làng dệt Mỹ Nghiệp với những sản phẩm dệt trên những khung dệtđặc biệt, nhều loại hoa văn màu sắc hấp dẫn

- Làng Chăm

Nhiều làng của người Chăm ở Ninh Thuận đã đượcxây dựng từ nhiều thế kỷqua vẫn còn tồn tại ở cáchuyện Ninh Phước, Ninh Chữ… Làng Chăm khác vớilàngxóm của người Việt và một số cư dân khác về cưtrú, cảnh quan LàngChăm ítcócây cối, những cây cổthụ, chung quanh nhà và làng là những vòngràocâykhô,nhàquay về hướng Nam…

- Trang phục

Trang 20

Trang phục của người Chăm ở Ninh Thuận cũnggiống với trang phục của ngườiChăm ở Bình Thuận.Tuy nhiên, cũng có sự phân biệt giữa trang phục mặctrongngày thường, ngày lễ hội, giữa người dân và cácchức sắc tôn giáo, tín ngưỡng.Đặcbiệt trang phục của phụ nữ Chăm với các loại váy, áo, khăn đội đầu.

- Ẩm thực

Ẩm thực Chăm Ninh Thuận có nhiều món ăn độcđáo nhất là các món nướng, cà

ri và món canh chua(ya rai), chế biến từ rau quả với thịt, cá thiên nhiên,nhiều loạigia vị có sự khác biệt ít nhiều về ẩm thựcgiữa các nhóm Chăm theo các tôn giáokhác nhau.Người Chăm Ját kiêng ăn thịt bò, người Chăm Banikiêng ăn thịt heo

- Phong tục tập quán

Người Chăm vẫn còn bảo lưu nhiều phong tục tậpquán trong đời sống hàngngày, sự thờ cúng, kiêngkị, những nghi lễ vòng đời như sinh đẻ, hôn nhân,tangma… Người Chăm theo Bàlamôn khi chết sẽhỏa táng, người Chăm Bani khi chết

sẽ chôn trong cácnghĩa trang trên các đồi cát Người Chăm theo mẫu hệ, vai tròngười phụ nữ được cộng đồng coi trọng.Chế độ mẫu hệ hiện nay trên thế giới cònkhôngnhiều, do vậy chế độ mẫu hệ của người Chăm là đốitượng nghiên cứu củanhiều nhà khoa học xã hội vànhân văn

- Tín ngưỡng và tôn giáo

Người Chăm có một hệ thống tín ngưỡng rất đa dạng, thờ cúng nhiều vị thầndân gian, nhiều nghi lễ cúng ruộng, cúng đất nước, cúng thần lúa,… kiêng sợ nhiều

Ngày đăng: 14/04/2019, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w