Chính sách thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch của Chính phủ đối với sự phát triển du lịch nước ta. Tại buổi tọa đàm về “Luật du lịch, động lực thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” ngày 962017, ông Vũ Thế Bình, phó chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam cho biết, điểm mới của Luật du lịch (sửa đổi) lần này là thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch. Do đó, cần xem xét đến nguồn thu thuế trực tiếp từ khách du lịch, có thể là 1USDngười. Vậy trước đó, các chính sách thuế liên quan đến du lịch được Chính phủ áp dụng như thế nào, nhất là đối với khách du lịch? Chính vì vậy nhóm 5 xin chọn đề tài: “Chính sách thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch của Chính phủ đối với sự phát triển du lịch nước ta” làm đề tài nghiên cứu. Nội dung Phần I. Cơ sở lý luận về các chính sách Thuế liên quan đến du lịch của Chính phủ đối với sự phát triển du lịch. Du lịch được coi là một nguồn thu thế của Nhà nước, mà nguồn thu này có thể sử dụng để tài trợ lại cho ngành hoặc để nhập vào ngân sách nói chung của Nhà nước. Các nhà hoạch định chính sách thường cho rằng du lịch thuộc loại nhu cầu không cơ bản, nên hình thức thuế gián thu đối với các dịch vụ du lịch có thể lũy tiến theo thu nhập của người tiêu dùng. Giống như các loại thuế gián tiếp khác, các loại thuế đối với sản phẩm du lịch có thể là thuế theo giá hàng (phần trăm của giá bán) hoặc thuế theo số lượng. Chúng có thể được chia thành ba loại: Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch Thuế sử dụng tiện nghi du lịch 1.1. Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại là các loại thuế tiêu thụ (thuế doanh thu hoặc thuế giá trị gia tăng). Chúng được thu từ người sản xuất, sau đó người sản xuất phải chuyển sự tác động của thuế tới người tiêu dùng du lịch. Đối tượng phổ biến của loại thuế này là các dịch vụ lưu trú , ăn uống và thuê xe. Thuế dịch vụ lưu trú được áp dụng ở hầu hết các quốc gia là điểm đến du lịch. Giống như thuế doanh thu kinh doanh hàng ăn và cho thuê xe hoặc thuế VAT, chúng hoàn toàn được tính theo giá bán các dịch vụ. Loại thuế này ảnh hưởng tới mức độ cân bằng của thị trường du lịch thông qua chi phí biến đổi trong thời kỳ ngắn hạn như một mùa vụ. 1.2. Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch Vì thuế tiêu thụ phụ thuộc vào các mức độ co giãn cầu, nên Chính phủ có thể áp đặt một mức thuế trực tiếp lên du khách mà không căn cứ vào loại hàng hóa và dịch vụ được mua. Những loại thuế này thường được áp dụng cho khách du lịch quốc tế và được thu ở các cửa khẩu của quốc gia. Chúng có thể tồn tại dưới một số hình thức sau: Đánh thuế đối với cư dân khi đi du lịch nước ngoài hoặc giảm thuế đi du lịch để khuyến khích ra nước ngoài du lịch. Đánh thuế nhập cảnh đối với khách du lịch. Đánh thuế khởi hành khi du khách bắt đầu chuyến đi du lịch nước ngoài và khi trở về. Thuế hải quan thuế đánh vào những hàng hóa mà du khách mang vượt quá số lượng theo quy định của mỗi quốc gia. 1.3. Thuế sử dụng tiện nghi du lịch Người sử dụng phải trả các khoản thanh toán nhưng không phân biệt rõ ràng giữa các khoản trả này là giá mua dịch vụ hay là thuế sử dụng dịch vụ đó. Ví dụ: một vé vào cửa công viên giải trí cho một người là 20 nghìn đồng, trong đó có 8 nghìn đồng được xác định liên quan trực tiếp đến các chi phí quản lý công viên và 12 nghìn đồng còn lại là thuế. Phần II. Chính sách “Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch” của Chính phủ 2.1. Giới thiệu ngành du lịch việt nam Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5061951.
Trang 1Mở đầu
Tại buổi tọa đàm về “Luật du lịch, động lực thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” ngày 9/6/2017, ông Vũ Thế Bình, phó chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam cho biết, điểm mới của Luật du lịch (sửa đổi) lần này là thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch Do đó, cần xem xét đến nguồn thu thuế trực tiếp từ khách du lịch, có thể là 1USD/người Vậy trước đó, các chính sách thuế liên quan đến du lịch được Chính phủ áp dụng như thế nào, nhất là đối với khách du lịch? Chính vì vậy nhóm 5 xin chọn đề tài: “Chính sách thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch của Chính phủ đối với sự phát triển du lịch nước ta” làm đề tài nghiên cứu
Nội dung
Phần I Cơ sở lý luận về các chính sách Thuế liên quan đến du lịch của Chính phủ đối với sự phát triển du lịch
Trang 2Du lịch được coi là một nguồn thu thế của Nhà nước, mà nguồn thu này có thể sử dụng để tài trợ lại cho ngành hoặc để nhập vào ngân sách nói chung của Nhà nước Các nhà hoạch định chính sách thường cho rằng du lịch thuộc loại nhu cầu không cơ bản, nên hình thức thuế gián thu đối với các dịch vụ
du lịch có thể lũy tiến theo thu nhập của người tiêu dùng Giống như các loại thuế gián tiếp khác, các loại thuế đối với sản phẩm du lịch có thể là thuế theo giá hàng (phần trăm của giá bán) hoặc thuế theo số lượng Chúng có thể được chia thành ba loại:
- Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại
- Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch
- Thuế sử dụng tiện nghi du lịch
1.1. Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại
- Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại là các loại thuế tiêu thụ (thuế doanh thu hoặc thuế giá trị gia tăng) Chúng được thu từ người sản xuất, sau
đó người sản xuất phải chuyển sự tác động của thuế tới người tiêu dùng du lịch
- Đối tượng phổ biến của loại thuế này là các dịch vụ lưu trú , ăn uống và thuê
xe Thuế dịch vụ lưu trú được áp dụng ở hầu hết các quốc gia là điểm đến du lịch Giống như thuế doanh thu kinh doanh hàng ăn và cho thuê xe hoặc thuế VAT, chúng hoàn toàn được tính theo giá bán các dịch vụ
- Loại thuế này ảnh hưởng tới mức độ cân bằng của thị trường du lịch thông qua chi phí biến đổi trong thời kỳ ngắn hạn như một mùa vụ
1.2. Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch
Vì thuế tiêu thụ phụ thuộc vào các mức độ co giãn cầu, nên Chính phủ có thể áp đặt một mức thuế trực tiếp lên du khách mà không căn cứ vào loại hàng hóa và dịch vụ được mua Những loại thuế này thường được áp dụng cho khách du lịch quốc tế và được thu ở các cửa khẩu của quốc gia Chúng
có thể tồn tại dưới một số hình thức sau:
- Đánh thuế đối với cư dân khi đi du lịch nước ngoài hoặc giảm thuế đi du lịch
để khuyến khích ra nước ngoài du lịch
- Đánh thuế nhập cảnh đối với khách du lịch
- Đánh thuế khởi hành khi du khách bắt đầu chuyến đi du lịch nước ngoài và khi trở về
- Thuế hải quan- thuế đánh vào những hàng hóa mà du khách mang vượt quá
số lượng theo quy định của mỗi quốc gia
1.3. Thuế sử dụng tiện nghi du lịch
Trang 3- Người sử dụng phải trả các khoản thanh toán nhưng không phân biệt rõ ràng giữa các khoản trả này là giá mua dịch vụ hay là thuế sử dụng dịch vụ đó
- Ví dụ: một vé vào cửa công viên giải trí cho một người là 20 nghìn đồng, trong đó có 8 nghìn đồng được xác định liên quan trực tiếp đến các chi phí quản lý công viên và 12 nghìn đồng còn lại là thuế
Phần II Chính sách “Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch” của Chính phủ
2.1 Giới thiệu ngành du lịch việt nam
Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5/06/1951
Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960[36]
- Ngày 16/3/1963, Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam
- Ngày 18/8/1969, Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý
- Ngày 27/6/1978, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ
- Ngày 23/1/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam
- Ngày 15/8/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
- Ngày 9/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam
- Ngày 31/12/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch
- Ngày 26/10/1992, Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch
- Ngày 27/12/1992, Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch
Trang 4- Ngày 7/8/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP về cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch
- Ngày 25/12/2002, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam
“Timeless Charm” - Vẻ đẹp bất tận, được chọn là slogan của du lịch Việt Nam, với biểu tượng hoa sen Biểu tượng này được sử dụng từ cuối năm 2015, với
5 cánh 5 sắc màu hé nở khẳng định giai đoạn phát triển mới của ngành với ý nghĩa giai đoạn sẽ tỏa hương sắc
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch
là những vấn đề nhận được nhiều sự chú ý và thảo luận rộng rãi Một cách tiếp cận
đa chiều về đánh giá chất lượng du lịch sẽ góp phần hình thành các giải pháp đúng đắn nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch Việt Nam
- Tính đến tháng 8 năm 2017, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.300 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam
- Hiện nay Việt Nam có 32 vườn quốc gia gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương,…
- Tới năm 2017, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội
An, Thánh địa Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Các di sản thế giới hiện đều là những điểm du lịch hấp dẫn
- Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu
- Hiện cả nước Việt Nam có xấp xỉ 8000 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ
Trang 5hội khác (chiếm 0,5%) Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương và Phú Thọ
- Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trọng điểm du lịch:
• Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Bao gồm 14 tỉnh: Hòa Bình, Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang
• Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Gồm Thủ đô Hà
Nội và các tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh
• Vùng Bắc Trung Bộ: Gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế
• Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: gồm các tỉnh Quảng Nam, TP Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận
• Vùng Tây Nguyên: gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông,
Lâm Đồng
• Vùng Đông Nam Bộ: gồm TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình
Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh
• Vùng Tây Nam Bộ: Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên
Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP Cần Thơ
- Việt Nam có 40 điểm du lịch quốc gia: Điểm du lịch thành phố Lào Cai, Điểm du lịch Pắc Bó, Điểm du lịch thành phố Lạng Sơn, Điểm du lịch Mai Châu, Điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long, Điểm du lịch Yên Tử, Điểm
du lịch thành phố Bắc Ninh, Điểm du lịch Chùa Hương, Điểm du lịch Cúc Phương, Điểm du lịch Vân Long, Điểm du lịch Phố Hiến, Điểm du lịch Đền Trần-Phủ Giầy, Điểm du lịch Thành nhà Hồ,
- Việt Nam quy hoạch 12 đô thị du lịch gồm: Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai; Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc Thành phố Hải Phòng; Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh; Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa; Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An; Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng; Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam; Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa; Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận; Đô thị du lịch Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng; Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu
Trang 6Năm 2017, doanh thu du lịch đạt gần 515 nghìn tỷ đồng, đóng góp 7% vào GDP của đất nước
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 8/2018 ước đạt 1.323.546 lượt, tăng 11,3% so với tháng 7/2018 và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2017 Tính chung 8 tháng năm 2018 ước đạt 10.403.893 lượt khách, tăng 22,8% so với cùng
kỳ năm 2017
2.2 Phân tích tác động của chính sách “thuế đối với người tiêu dùng khi là khách
du lịch” đối với sự phát triển của du lịch nước ta
1 Một số quốc gia đánh thuế đối với cư dân của họ khi đi du lịch nước ngoài Loại thuế này được thiết lập chủ yếu nhằm ngăn cản du lịch ra nước ngoài và dẫn đến kết quả là ngăn cản dòng chảy ngoại tệ ra khỏi quốc gia Trường hợp ngược lại
là giảm thuế đi du lịch để khuyến khích du lịch ra nước ngoài đôi khi cũng được các quốc gia sử dụng khi thặng dư cán cân thanh toán lớn
Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu phát triển lĩnh vực kinh doanh nhận khách, do vậy để làm giảm rò rỉ nội tệ, một trong số những phương án đặt ra
áp dụng trong ngành du lịch đó là tăng lệ phí khi xin hộ chiếu, áp dụng thuế giá trị gia tăng, áp dụng mức giá vận chuyển hàng không cao hơn so với các hãng hàng không tư nhân hoặc quốc tế,…
Ví dụ: Giá vé vận chuyển của VietNam AirLines luôn luôn có mức dao động cao hơn so với các hãng hàng không nội địa và một số hãng quốc tế khác:
Giá vé vận chuyển từ Hà Nội- Bangkok( Thái Lan) tháng 9/2018 vé khứ hồi đối với người lớn của VietNam Airlines là 2.572.000 vnđ của Vietjet Air là 2.388.924 vnđ còn đối với các hãng hàng không của quốc tế như Asia Air có giá dao động từ 1.600.000-2.200.000 vnđ, của Qatar Airways có mức giá dao động khoảng 2.200.000,…
2 Một số quốc gia đánh thuế nhập cảnh đối với khách du lịch Đó là cách làm công khai, còn để giảm sự nặng nề của loại thuế này, các quốc gia sẽ thường áp dụng thuế ẩn thông qua mức lệ phí cao khi xin thị thực hoặc giấy tờ nhập cảnh ( mức lệ phí này thường cao hơn nhiều lần so với các chi phí quản lí thực tế việc cung ứng các dịch vụ) Loại thuế này cũng làm tăng đáng kể nguồn thu từ thuế của Chính Phủ
Cụ thể, Việt Nam hiện nay đang áp dụng thuế ẩn khi xin thị thực hoặc giấy tờ nhập cảnh
Trang 7BIỂU MỨC THU PHÍ, LỆ PHÍ CẤP HỘ CHIẾU, THỊ THỰC
VÀ CÁC LOẠI GIẤY TỜ VỀ XUẤT CẢNH, NHẬP CẢNH, QUÁ CẢNH VÀ
CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM
(Ban hành kèm theo Thông tư số 157/2015/TT-BTC ngày 08 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tàichính)
I Mức thu đối với công dânViệt Nam.
1 Hộ chiếu:
+ Cấp lại do bị hư hỏng hoặc bị mất 400.000
a) Giấy thông hành biên giới Việt Nam – Lào hoặc Việt
Nam - Cămpuchia:
50.000
b) Giấy thông hành xuất nhập cảnh cho nhân viên mậu
dịch, cán bộ vùng biên giới Việt Nam sang vùng biên
giới của Trung Quốc:
50.000
c) Giấy thông hành xuất nhập cảnh cho dân cư ở các xã
biên giới Việt nam qua lại các xã biên giới Trung Quốc
tiếp giáp Việt Nam:
5.000
d) Giấy thông hành nhập xuất cảnh cho công dân Việt
nam sang công tác, du lịch các tỉnh, thành phố biên
giới Trung Quốc tiếp giáp Việt Nam
50.000
4 Cấp công hàm xin thị thực nhập cảnh nước đến 10.000
5 Cấp công hàm xin thị thực quá cảnh nước thứ ba 5.000
7 Cấp giấy xác nhận yếu tố nhân sự 100.000
Ghi chú phụ lục I:
Trang 81 Trường hợp bổ sung, sửa đổi nội dung của hộchiếu, giấy thông hành thì thu bằng 25% mức thu tương ứng cùng loại
2 Trẻ em đi cùng thân nhân có hộ chiếu hoặc các giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu thu bằng 25% mức thu tương ứng cùng loại
II Mức thu đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2 Cấp thị thực có giá trị nhiều lần:
b) Loại có giá trị trên 03 tháng đến 06 tháng 95 USD
c) Loại có giá trị trên 06 tháng đến 01 năm 135 USD
3 Chuyển ngang giá trị thị thực, thẻ tạm trú, thời hạn tạm trú
còn giá trị từ hộ chiếu cũ sang hộ chiếu mới
5 USD
4 Cấp thẻ tạm trú:
a) Có thời hạn từ 01 năm đến không quá 02 năm 145 USD b) Có thời hạn từ 02 năm đến không quá 05 năm 155 USD c) Đối với người nước ngoài được Cơ quan đại diện ngoại
giao Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực nhiều lần ký hiệu
LĐ, ĐT thời hạn trên 01 năm
5 USD
7 Cấp giấy phép vào khu vực cấm, vào khu vực biên giới;
giấy phép cho công dân Lào sử dụng giấy thông hành biên
giới vào các tỉnh nội địa của Việt Nam
10 USD
8 Cấp thẻ du lịch (đối với khách du lịch Trung Quốc đi
trong tỉnh biên giới)
10 USD
9 Cấp thị thực cho khách quá cảnh đường hàng không và
đường biển vào thăm quan, du lịch (theo quy định tại
5 USD/người
Trang 9Điều 25 và Điều 26 Luật số 47/2014/QH13)
10 Cấp thị thực trong trường hợp người nước ngoài vào Việt
Nam theo diện đơn phương miễn thị thực, sau đó xuất cảnh
và nhập cảnh trở lại Việt Nam trong thời gian chưa quá 30
ngày
5 USD
11 Cấp giấy phép xuất nhập cảnh cho người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam không có hộ chiếu
200.000 VNĐ
Ghi chú: Đối với trường hợp bị mất, hư hỏng các giấy tờ nêu trên phải cấp lại áp
dụng mức thu như cấp mới
3. Hình thức thuế khởi hành áp dụng cho cư dân khi bắt đầu một chuyến đi du lịch nước ngoài và cho cả những du khách khi rời khỏi quốc gia nơi đến du lịch để trở về nhà Hình thức thuế này làm tăng nguồn thu của Chính Phủ một cách phổ biến nhất Ví dụ, hành khách phải mua lệ phí sân bay là một hình thức danh nghĩa của loại thế nói trên mặc dù các quốc gia vẫn yêu cầu các hãng hàng không phải tính các chi phí sân bay thực tế trong giá vé, tức là hành khách sẽ phải mất phí cao hơn thực tế phải trả khi sử dụng các dịch vụ vận chuyển đến sân bay do một phần là Chính Phủ đã áp thuế vào
Bảng lệ phí sâm bay Việt Nam
Hành khách đi chuyến bay nội địa
Hành khách đi chuyến bay quốc tế từ cảng hàng không Việt Nam
Trang 10Bên cạnh đó, hiện tại Chính phủ cũng đang áp dụng một loại thuế du lịch khác
đó là thuế hải quan - thuế đánh vào những hàng hóa mà du khách mang vượt quá
số lượng qui định của mỗi quốc gia Tuy nhiên, loại thuế này thường nhỏ và không
ngăn cản nhu cầu đi du lịch hoặc không gây ra sự dịch chuyển của cầu từ điểm du
lịch này sang điểm đến khác.
Phí xử lí hành lí quá cỡ- hành lí mang vượt quá qui định của một số hãng
hàng không ở Việt Nam
1 Jetstar Airways
Phí xử lý hành lý quá cỡ – áp dụng cho mỗi đồ vật mỗi chuyến bay
Các chuyến bay Nội địa và Quốc tế với Jetstar Airways
(JQ)
AUD / NZD $25
Các chuyến bay Nội địa và Quốc tế với Jetstar Japan
(GK)
JPY ¥2,000 / HKD $140 / TWD $550 / PHP ₱900 / CNY
¥120 Các chuyến bay Quốc tế với Jetstar Asia (3K) SGD $25
Các chuyến bay Nội địa Việt Nam với Jetstar Pacific
(BL)
VND 200,000₫ / USD $9
Các chuyến bay Quốc tế với Jetstar Pacific (BL) VND 400,000₫ / USD $18
Phí hành lý quá cỡ là loại phí xử lý riêng, trả theo từng đồ vật và không bổ sung
bất kỳ trọng lượng nào thêm vào hạn mức hành lý ký gửi của quý khách Hãy đảm
bảo quý khách đã mua đủ hạn mức hành lý ký gửi để mang theo được cả hành lý
tiêu chuẩn và các đồ vật quá cỡ Phí này không áp dụng cho các thiết bị di chuyển
và thiết bị hỗ trợ, thiết bị y tế và các đồ dùng cho em bé Khi bay với nhiều nhà
vận chuyển thuộc Jetstar, mức phí cao nhất sẽ được áp dụng
2 Vietnam Airlines