Khảo sát hiệu suất chiết MA, MDMA phụ thuộc vào 36 nồng độ sau khi đã xác định được các điều kiện tối ưu trong mẫu nước tiểu bằng GC- FID 3.2.6.. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đặ
Trang 1DS HOÀNG NGỌC MAI
XÂY DỰNG QUY TRÌNH GIÁM ĐỊNH METHAMPHETAMIN ( MA ) VÀ 3, 4- METHYLENDIOXYMETHAMPHETAMIN ( MDMA) TRONG MẪU NƯỚC TIỂU NGƯỜI NGHIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Trang 2DS HOÀNG NGỌC MAI
XÂY DỰNG QUY TRÌNH GIÁM ĐỊNH METHAMPHETAMIN ( MA ) VÀ 3, 4- METHYLENDIOXYMETHAMPHETAMIN ( MDMA) TRONG MẪU NƯỚC TIỂU NGƯỜI NGHIỆN
Chuyên nghành : Kiểm nghiệm thuốc và độc chất
Mã số : 60 73 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS Trần Tử An
2 ThS Nguyễn Xuân Trường
Trang 3Nhân dịp hoàn thành luận văn Thạc sĩ Dược học, em xin được gửi lời trân trọng cảm ơn tới sự tận tình hướng dẫn chỉ bảo cũng như sự động viên của thầy hướng dẫn PGS TS Trần Tử An đã giúp em khắc
phục mọi khó khăn để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc tới đồng chí TS Dư Đình Động- Giám đốc Trung tâm Giám định ma túy- Viện Khoa học hình
sự đã rất quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới đồng chí Th.S Nguyễn Xuân Trường- Phó giám đốc Trung tâm giám định ma túy- Viện KHHS, người đã tận tình chỉ bảo, động viên, tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các đồng chí khác trong Trung tâm Giám định ma túy- Viện KHHS, đặc biệt là hai đồng chí Th.S Mẫn Đức Thuân và Đỗ Duy Nam đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt
thời gian qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới cha, mẹ, chồng, em gái đã tạo
điều kiện và động viên tôi hoàn thành tốt khóa học
Học viên
Hoàng Ngọc Mai
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.2.2 Độc tính 14
1.2.3 Dược động học của ATS 14
1.3.2 Các phương pháp phân tích sơ bộ ATS trong nước tiểu 19
NGHIÊN CỨU
2.3.1 Xây dựng quy trình định lượng MA và MDMA bằng GC –FID 25
2.3.2.Thẩm định phương pháp phân tích MA, MDMAtrong mẫu nước tiểu 26
Trang 5với detector FID (GC- FID)
2.4.2 Khảo sát chọn các điều kiện tối ưu cho quá trình chiết 27
MA, MDMA trong nước tiểu
3.1 Khảo sát chọn các điều kiện tối ưu cho quá trình chiết 33
phụ thuộc vào pH mẫu
3.1.3 Khảo sát hiệu suất chiết MA, MDMA phụ thuộc vào 36 nồng độ
sau khi đã xác định được các điều kiện tối ưu
trong mẫu nước tiểu bằng GC- FID
3.2.6 Độ ổn định của MA, MDMA theo thời gian phân tích 52
3.4.1 Về xây dựng quy trình phân tích MA, MDMA 58
Trang 6Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 61
PHỤ LỤC
Trang 7AM Amphetamin
ATS ( Amphetamine type Các chất kích thích thần kinh
Stimulants ) dạng Amphetamin
EIA ( Enzyme immunoassay ) Định lượng miễn dịch enzym
FID ( Flame ionization detector ) Detector ion hóa ngọn lửa
FPIR ( Fluorescence polarization Định lượng miễn dịch
immunoassay ) huỳnh quang phân cực
GC ( Gas chromatography ) Sắc kí khí
GC — MS ( Gas chromatography Sắc kí khí khối phổ
– Mass spectrometry )
HPLC ( High pressure liquid Sắc kí lỏng hiệu năng cao
chromatography ) LIA ( Luminescence Định lượng miễn dịch phát quang immunoassay )
LOQ ( Limit of quantitation ) Giới hạn định lượng
RIA ( Radioimmunoassay ) Định lượng miễn dịch phóng xạ
Trang 8Viện KHHS Viện Khoa học Hình sự
Trang 91 1.1 Công thức của một số chất kích thích thần kinh nhóm 5
Amphetamin
3 3.3 Kết quả khảo sát chọn dung môi chiết MA 33
4 3.4 Kết quả khảo sát chọn dung môi chiết MDMA 33
5 3.5 Sự phụ thuộc của hiệu suất chiết MA vào pH mẫu 34
6 3.6 Sự phụ thuộc của hiệu suất chiết MDMA vào pH mẫu 35
7 3.7 Sự phụ thuộc của hiệu suất chiết MA vào 36
nồng độ
8 3.8 Sự phụ thuộc của hiệu suất chiết vào 37
nồng độ MDMA
9 3.9 Kết quả hiệu suất chiết khi áp dụng 39
các điều kiện tối ưu
10 3.10 Một số chỉ tiêu thống kê của phương pháp 39
11 3.11 Khảo sát tính phù hợp của hệ thống GC- FID 40
12 3.12 Kết quả xây dựng đường chuẩn MA, MDMA 42
13 3.13 Xác định độ tìm lại của MA (n = 6) 47
14 3.14 Xác định độ tìm lại của MDMA (n = 6) 47
15 3.15 Độ chính xác của phương pháp xác định MA (n = 6) 51
16 3.16 Độ chính xác của phương pháp xác định MDMA (n = 6) 51
17 3.17 Theo dõi sự ổn định của MA, MDMA trong nước tiểu 52
theo thời gian phân tích
18 3.18 Kết quả khảo sát độ ổn định của MA, MDMA 54
trong nước tiểu theo thời gian bảo quản
20 3.20 Kết quả phân tích mẫu thực tế bằng GC- FID 57
Trang 10STT Hình Nội dung Trang
1 1.1 Quá trình chuyển hóa chủ yếu của methamphetamin 16
và amphetamin
2 3.2 Đồ thị sự phụ thuộc của hiệu suất chiết 34
MA bằng ether vào pH mẫu
3 3.3 Đồ thị sự phụ thuộc của hiệu suất chiết 35
MDMA vào pH mẫu
4 3.4 Đồ thị sự phụ thuộc của hiệu suất chiết MA vào 36
9 3.9 Sắc kí đồ của mẫu thử MA, MDMA 0,20mg/L 43
12 3.12 Sắc ký đồ của mẫu chuẩn MA, MDMA 48
Trang 1119 3.19 Sắc ký đồ của mẫu thử MA, MDMA 53
phân tích sau 5giờ
20 3.20 Sắc ký đồ của mẫu thử MA, MDMA tiến hành 55
phân tích sau 10 ngày
21 3.21 Sắc ký đồ của mẫu thử MA, MDMA hành tiến 55
phân tích sau 30 ngày
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Các chất kích thích thần kinh dạng Amphetamin (Amphetamine type Stimulants - ATS) ngày càng bị nhiều người lạm dụng Tình hình sản xuất, vận chuyển, buôn bán trái phép các chất này ngày càng trở nên phức tạp và nghiêm trọng trên phạm vi toàn thế giới
Tại khóa họp đặc biệt lần thứ 20 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc được tổ chức từ ngày 8-10 tháng 8 năm 1998 ở New York (Mỹ) đã đánh giá vấn đề sản xuất, vận chuyển, buôn bán và sử dụng trái phép các chất ma túy kích thích thần kinh họ Amphetamin trở thành vấn đề toàn cầu, phức tạp và nghiêm trọng nhất hiện nay Theo thông báo của Ban kiểm soát ma túy quốc tế ( International Narcotics Control Board - INCB ) thì tình hình nghiện các chất ATS mà đặc biệt
là methamphetamin đang gia tăng rất mạnh ở Mỹ, Châu Âu, Oxtrâylia, Nhật bản, Hàn quốc và Đông nam ¸ Nhiều người nghiện cocain, heroin nay đã chuyển sang dùng các chất ATS Đặc biệt là ở khu vực Đông nam ¸, với khu vực Tam giác vàng nổi tiếng, nơi vẫn được coi là xứ sở của thuốc phiện, heroin nhưng nay ATS đang dần dần thay thế thậm chí có một số nước trong khu vực như ở Thái lan, Philippin, Malaixia, vấn đề ATS trở nên nhức nhối hơn cả heroin [3] Tại khu vực Châu ¸ - Thái bình dương, methamphetamin (MA) là loại ma túy được sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất trong tập nhóm ma túy ATS Số liệu thống
kê bắt giữ cho thấy khu vực này có khả năng là nơi xuất MA lớn nhất thế giới: Năm 2001: 84% tổng số MA bị bắt giữ tại Đông nam ¸, ở Thái lan đạt 8,4 triệu tấn MA - lớn nhất thế giới, vượt sản lượng bắt giữ của Trung quốc Chính quyền Thái lan cho biết mỗi năm khoảng 70 tấn MA được buôn lậu vào nước này từ
Trang 13Myanma dành cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Phần lớn hoạt động diễn ra tại khu vực biên giới giữa Thái lan, Myanma và Trung quốc - nơi sự kiểm soát của chính phủ có phần hạn chế Những số liệu bắt giữ lớn cho thấy khả năng tồn tại của hoạt động sản xuất MA quy mô lớn, tỷ lệ tiêu thụ trong khu vực Châu ¸ - Thái bình dương cao và hoạt động vận chuyển rất sôi động, khả năng các trung tâm buôn lậu toàn cầu đóng quanh Đông ¸ và Đông nam ¸ đang tiến hành sản xuất MA tại một số quốc gia: Trung quốc, Thái lan, Myanma, Philippin
Tại Việt nam, tương tự một số quốc gia trong khu vực, cũng có sự gia tăng đáng kể các vụ buôn lậu ma túy nhóm ATS trong những năm gần đây Các dạng ATS chính được sử dụng ở trong nước là các viên nén MA, tiếp đó là Ecstasy ( MDMA ) đều được thông báo tiếp tục gia tăng qua các năm Số lượng các viên ATS bị thu giữ trong giai đoạn từ 2000- 2002: năm 2000 là 6783 viên, năm 2001
là 49369 viên, năm 2002: 47852 viên Xuất hiện từ những năm 90, ma túy ATS ngày càng có xu hướng ảnh hưởng rất tiêu cực đối với toàn xã hội Cùng với sự
đô thị hóa các loại hình kinh doanh: nhà hàng, vũ trường xuất hiện ngày càng nhiều thì tỷ lệ người nghiện ATS không ngừng tăng lên, các hình thức tổ chức sử dụng ma tuý ATS ngày càng phức tạp tại các '' Động lắc '', trên phương tiện giao thông: trên xe tắc xi, Trong đó tỷ lệ người nghiện phần lớn là thanh thiếu niên, sinh viên, góp phần không nhỏ làm gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự nghiêm trọng Do vậy ngăn chặn tệ nạn nghiện hút, buôn bán, vận chuyển ma tuý ATS nói riêng và ma tuý nói chung là trách nhiệm của nhiều ban ngành và toàn xã hội
và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước Mặt khác theo Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định bằng chứng để xác định một đối tượng nghiện ma tuý chính là sự có mặt của chất ma tuý và sản phẩm
Trang 14chuyển hoá của nó trong mẫu phẩm sinh học ( mẫu máu, nước tiểu, ) được thu
từ đối tượng nghi vấn và gửi đi giám định ở cơ quan có thẩm quyền
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu, xây dựng quy
trình chuẩn giám định các chất MA, MDMA trong mẫu nước tiểu người nghiện,
nhằm mục tiêu đưa qui trình này ứng dụng trong phòng thí nghiệm hình sự trong
cả nước
Để thực hiện được mục tiêu trên, nội dung của luận văn sẽ gồm ba phần chính: 1- Xây dựng được quy trình xử lý, phân tích MA, MDMA trong mẫu nước tiểu 2- Thẩm định được phương pháp phân tích MA, MDMA trong mẫu nước tiểu 3- Phân tích được mẫu nước tiểu thực tế
Trang 15là methamphetamin Trong Đại chiến thế giới thứ hai methamphetamin được sản xuất và sử dụng rộng rãi trong binh lính Nhật Bản để tăng thêm lòng dũng cảm Sau đó việc lạm dụng các chất kích thích thần kinh này đã trở thành vấn đề nghiêm trọng ở Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước châu Âu Ngày nay do tác dụng kích thích thần kinh rất mạnh và do lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc sản xuất, buôn bán amphetamin, methamphetamin và các dẫn chất của chúng Việc
sử dụng các chất này đã lan rộng trên toàn thế giới trong đó có Việt nam Hàng loạt các chất mới với tác dụng mạnh hơn nhiều đã được tổng hợp Liên hiệp quốc
đã đưa các chất này vào danh sách cần kiểm soát và phân vào nhóm các chất kích thích thần kinh dạng amphetamin ( Amphetamine type stimulants - ATS ) Tuy nhiên, một số chất trong nhóm này có tác dụng gây ảo giác Ở một số nước chúng được xếp vào nhóm gây ảo giác ( MDA, MDMA, ) [2]
1.1.2 Công thức chung của nhóm ATS:
R6 H N
R4
Trang 16Công thức của một số chất kích thích thần kinh nhóm Amphetamin được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Công thức của một số chất kích thích thần kinh nhóm Amphetamin
Ghi chú: Kí hiệu * giữa C3 và C4 của nhân thơm là liên kết -O-CHR 2 R-O-
1.1.3 Đặc điểm một số ma túy nhóm ATS:
* Amphetamin:
• Amphetamin dạng base
Trang 17- Tên khoa học: ( ± )- α- methylphenethylamin
Trang 18- Tính chất lý học: Chất lỏng không màu, trong, khó bay hơi, ít tan trong nước, tan trong ethanol, cloroform và ether
* 3,4- methylendioxymethamphetamin (MDMA): Đầu tiên MDMA được sử
dụng để làm thuốc giảm béo Trong những năm 1980, viên Ecstasy chứa MDMA
là loại ma tuý ăn chơi phổ biến đầu tiên ở Mỹ, sau đó là ở Châu Âu và ngày càng lan rộng ra các nơi khác trên thế giới Khác với MDA, tác dụng gây ảo giác của MDMA không nổi trội so với tác dụng kích thần Liều gây tác dụng của MDMA
Trang 19* 3,4- methylendioxyamphetamin (MDA): Dược chất MDA còn được gọi là "
love drug"- thuốc tình yêu, được phát hiện đầu tiên vào năm 1910 và được phổ biến tại Mỹ và châu Âu vào những năm 1960 MDA thường tồn tại ở dạng racemic (dl- MDA) có cả hai tác dụng: gây ảo giác (l-MDA) và kích thích thần kinh trung ương (d- MDA) MDA dạng base là chất lỏng dạng dầu, không màu
có nhiệt độ nóng chảy là 183-185°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 3,4- methylendioxy-N-ethylamphetamin (MDEA): Dẫn chất N-ethyl của
MDA, được báo cáo đầu tiên vào năm 1980 MDEA nổi tiếng là loại ma túy của
vũ trường ở một số nước có tên lóng "Eve" Nó được chế tạo bí mật để thay thế MDMA, trốn tránh kiểm soát và buôn bán dưới dạng viên nén thuần hay kết hợp với một số ma túy khác, với liều 30-100 mg có thể tạo ra tác dụng kích thích thần kinh vừa phải, gây khoái cảm và rối loạn nhận thức Liều 100-200 mg gây
lo lắng, hoảng loạn, ảo giác và trầm cảm
Trang 20* N-methyl - 1- (3,4- methylendioxyphenyl)- 2- butinamin (MBDB, "Eden"): Dẫn chất này được báo cáo đầu tiên vào năm 1986 MBDB có tác dụng chậm
hơn và nhẹ nhàng hơn MDMA, ít gây khoái cảm, tác dụng kích thích thần kinh cũng kém hơn MBDB hiếm gặp hơn, thường có trong các viên "ecstasy" ở Châu Âu
* P-methoxyamphetamin (PMA): PMA xuất hiện đầu tiên ở Canada và Mỹ
từ năm 1973 PMA có tác dụng gây ảo giác mạnh gấp 5 lần so với Mescalin với liều 50 mg PMA còn có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, liều tác dụng
là 60-80 mg PMA có thể gây chết người, liều gây chết rất gần với liều tác dụng,
do vậy PMA là chất ma túy rất nguy hiểm PMA dạng base là chất dầu, không màu, tan được trong ether, ethanol và cloroform, ít tan trong nước PMA dạng muối hydroclorid là tinh thể không màu, có nhiệt độ nóng chảy là 110-113°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 2,5- methoxyamphetamin (DMA): DMA có tác dụng gây ảo giác mạnh gấp
8 lần Mescalin và xuất hiện bất hợp pháp trên thị trường Bắc Mỹ từ năm 1970 dưới dạng viên nhộng và viên nén DMA có thể tạo ra tác dụng kích thích thần kinh và tác dụng gây ảo giác ở liều uống 50-60 mg MDA dạng base là chất lỏng sánh như dầu, không màu, tan được trong ether, ethanol và cloroform, ít tan trong nước DMA dạng muối hydroclorid là tinh thể không màu có nhiệt độ nóng chảy: 110-113°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 3,4,5-trimethoxyamphetamin (TMA): TMA được tổng hợp vào năm 1947,
xuất hiện bất hợp pháp trên thị trường từ đầu những năm 1970 TMA có tác dụng gây ảo giác mạnh gấp 2 lần Mescalin, liều thường dùng là 160-200 mg (đường uống) TMA dạng base lỏng sánh như dầu, không màu, tan được trong ether, ethanol và cloroform, ít tan trong nước.TMA dạng muối hydroclorid là tinh thể
Trang 21không màu có nhiệt độ nóng chảy là 219-220°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 2,5 -dimethoxy- 4- methylamphetamin (STP, DOM): Được tổng hợp vào
năm 1963, xuất hiện dưới dạng viên nén với hàm lượng 10 mg DOM có tác dụng gây ảo giác mạnh gấp 100 lần Mescalin Liều tác dụng của DOM theo đường uống là 3-5mg DOM ở dạng base là tinh thể không màu, có nhiệt độ nóng chảy là 60,5- 61°C, tan được trong ether, ethanol và cloroform, ít tan trong nước DOM dạng muối hydroclorid là tinh thể không màu, có nhiệt độ nóng chảy
là 188-189°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 2,5 -dimethoxy- 4- ethylamphetamin (DOET): DOET có tác dụng gây ảo
giác mạnh gấp 100 lần Mescalin với liều 1,5- 4 mg Đồng phân quang học R(-)
có tác dụng mạnh gấp 4 lần đồng phân S (+) DOET dạng base là tinh thể không màu, có nhiệt độ nóng chảy là 61- 61,5°C, tan được trong ether, ethanol, cloroform, ít tan trong nước DOET dạng muối hyđroclorid là tinh thể không màu có nhiệt độ nóng chảy là 195°C, tan trong nước, ethanol, cloroform, ít tan trong ether
* 4- bromo- 2,5- dimethoxyamphetamin (DOB): DOB có tác dụng gây ảo
giác mạnh gấp 200 lần so với Mescalin và có thể gây ra tác dụng ở liều 0,8-2,0
mg DOB xuất hiện trên thị trường Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Úc từ những năm
1970 dưới dạng bột hoặc viên nén, đôi khi ở dạng tẩm trên giấy
1.1.4 Các dạng tồn tại, đường dùng:
Các chất ATS nói chung thường tồn tại dưới dạng bột kết tinh hoặc tinh thể nguyên chất, không màu hoặc màu trắng Amphetamine thường ở dạng muối sulfat hoặc phosphat để dùng đường uống hoặc ngửi, hít Methaphetamin thường
ở dạng muối hydroclorid được dùng pha chế để tiêm, hút hoặc uống dưới dạng
Trang 22viên nén, viên nhộng [5] Tại nước ta, methamphetamin chủ yếu lưu hành dưới dạng viên nén màu đỏ gạch có kí hiệu "WY", ''Wy'', và thường được gọi là
"Hồng phiến" Dưới dạng bột, chúng thường được dùng kèm với natri bicarbonat hoặc các chất kiềm khác để tăng tác dụng Hiện nay xuất hiện rất nhiều các viên nén hoặc viên nhộng với rất nhiều hình dạng, màu sắc, kích thước và kí hiệu khác nhau có chứa một hoặc nhiều chất ATS, chúng thường được sử dụng bởi rất nhiều tên để lưu hành và sử dụng bất hợp pháp Điển hình là MDMA có tên gọi
"ecstasy", nghĩa là ngây ngất, sung sướng cực độ Các tên gọi như viên "lắc", viên "điên" để chỉ công hiệu, hoặc "Nữ hoàng" để ám chỉ mức độ ưa chuộng của giới nghiện đối với loại ma túy này Amphetamin và methamphetamin cũng có trong một số dạng dược phẩm dùng để kê đơn điều trị một số chứng bệnh Tuy nhiên do khả năng gây nghiện cao nên Bộ Y tế nước ta đã có quyết định cấm nhập khẩu [2]
1.2 Tác dụng dược lý và dược động học của ATS
1.2.1 Tác dụng dược lý
Các chất kích thích thần kinh amphetamin và methamphetamin tác dụng rất nhanh, thậm chí ngay trong khi tiêm Hiệu quả tác dụng có thể kéo dài tới 4-8 giờ ở người chưa nghiện và 2-3 giờ ở người nghiện Thời gian tác dụng và liều dùng của các chất ATS khác như MDA, MDMA, MDEA và MBDB thường từ 4-6 giờ với liều từ 80-200 mg Sự khác biệt về hiệu quả giữa nam và nữ, giữa lứa tuổi là không đáng kể Tác dụng kích thích thần kinh tăng khi kết hợp với các thuốc khác như ephedrin, cocain, các chất giảm đau gây ngủ nhóm opiat, các thuốc ngủ Sau đây là một số tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng của các chất nhóm ATS:
a) Tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương
Trang 23Tác dụng hướng thần: Các chất ATS tác dụng chủ yếu lên não và vỏ não, kích
thích thần kinh trung ương, ngoài ra chúng còn có tác dụng kích thích hệ thống lưới hoạt hóa của hệ thần kinh trung ương Các tác dụng này gây ra những thay đổi trạng thái tinh thần như các cảm giác sảng khoái, tỉnh táo, phấn chấn, tinh thần nhanh nhẹn, tăng tính năng động, tự tin, tăng vận động, nói năng, giảm mệt mỏi, dịu đau Các trạng thái này có thể giúp cho người sử dụng cải thiện được các công việc đơn giản, thậm chí làm được nhiều việc, nhất là những thao tác của cơ thể như điền kinh, nhảy múa Tuy nhiên, do thiếu năng lực tập trung nên hiệu quả giảm trong các công việc phức tạp đòi hỏi phải suy nghĩ và tập trung, kèm theo đó nguy cơ sai sót sẽ tăng theo Việc dùng kéo dài hoặc dùng liều lớn thường gây chán chường, mệt mỏi, ảo giác, hoang tưởng, hoảng loạn Nhiều khi còn xảy ra các hiện tượng đau đầu, tim đập nhanh, chóng mặt, rối loạn vận mạch, kích động, lẫn lộn, suy nhược tinh thần
Cơ chế tác dụng: Hầu hết các tác dụng trên hệ thần kinh trung ương của các
chất nhóm ATS là do việc giải phóng các amin nội sinh từ các vị trí dự trữ ở đầu dây thần kinh, chủ yếu là norepinephrin (noradrenalin) Một vài tác dụng trên sự vận động và hành vi cư xử liên quan với việc giải phóng dopamin
b) Tác dụng kích thích hệ thần kinh giao cảm
Các ATS có cả tác dụng kiểu α (anpha) và β (bêta) như các chất cường giao cảm:
- Tác dụng trên tim mạch: tác dụng gây co mạch làm tăng huyết áp cả tâm thu
( huyết áp tối đa ) và tâm trương ( huyết áp tối thiểu ) Nhịp tim cũng giảm theo, với liều lớn có thể xuất hiện loạn nhịp tim, lưu lượng tưới máu não không thay đổi nhiều
Trang 24- Tác dụng trên cơ trơn khác: Cũng tương tự như các amin cường giao cảm khác
Tác dụng giảm co thắt đối với dạ dày, ức chế nhu động dạ dày, ruột, giảm chuyển dịch thức ăn Đáng lưu ý là tác dụng trên cơ bọng đái của amphetamin được sử dụng điều trị chứng đái dầm
- Tác dụng giảm đau: Các chất ATS có tác dụng giảm đau nhẹ, tuy nhiên chưa
đủ để điều trị hiệu quả Mặc dù vậy, theo một số báo cáo, chúng có thể làm tăng tác dụng giảm đau của các chất nhóm Opiat
- Các chất ATS kích thích trung tâm hô hấp: Đối với người bình thường tác
dụng không đáng kể nhưng khi đã bị ức chế bởi các chất tác dụng trên hệ thần kinh trung ương thì chúng có tác dụng kích thích hô hấp rõ rệt
- Tác dụng gây chán ăn: Vị trí tác dụng của ATS có thể là trung tâm ăn ở vùng
dưới đồi bên, không phải là tác dụng vào trung tâm cảm giác no ở bụng Cơ chế thần kinh hóa học có thể do sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh norepinephrin và dopamin
- Các dẫn chất vòng như MDMA có thể gây ra các tác dụng phụ như: gây rối
loạn tác dụng điều hòa tim mạch và nhiệt độ của cơ thể, gây mất nước, hạ huyết
áp, hạ thân nhiệt, gây rối loạn tim, thận Ngoài ra, chúng còn có thể gây hư hại các tế bào thần kinh trong hệ thống Serotonin của não, gây suy giảm trí nhớ và
độ cảm nhận trong thời gian dài
c) Tác dụng gây ảo giác của các chất vòng: Do có cấu trúc gần giống với chất
gây ảo giác mescalin, một số các dẫn chất vòng của amphetamin có thể gây ảo giác ở những mức độ khác nhau
Trang 251.2.2 Độc tính:
Khi dùng quá liều, các chất nhóm ATS gây ra các triệu chứng ngộ độc dẫn đến
tử vong như hôn mê, co giật, chảy máu não Liều độc tối thiểu gây chết người của amphetamin ở người bình thường là 200mg, của methamphetamin là 1g Triệu chứng ngộ độc xuất hiện khi nồng độ amphetamin trong máu 0,2-3 µg/mL,
có thể gây chết người khi nồng độ lớn hơn 0,5µg/mL
1.2.3 Dược động học của ATS:
Các chất ATS rất dễ hấp thu qua đường dạ dày- ruột và dễ dàng qua hàng rào máu não để gây tác dụng Khi amphetamin được dùng theo đường uống với liều 2,5- 15 mg, nồng độ trong máu có thể đạt tới 30-170µg /mL sau 2 giờ, thời gian bán hủy trong máu từ 8-12 giờ Trong trường hợp ngộ độc chết người, nồng độ trong máu có thể đạt tới 500µg/mL [4]
Amphetamin bắt đầu thải vào nước tiểu 20 phút sau khi được đưa vào cơ thể Thông thường, amphetamin bài tiết vào nước tiểu ở dạng tự do khoảng 20-30% liều ban đầu Các dạng oxy hóa loại amin (acid benzoic, acid hippuric), dạng hydroxyl hóa (norephedrin) và sản phẩm liên hợp với acid glucuronic thường khoảng 25% liều dùng Tốc độ bài tiết vào nước tiểu và lượng amphetamin tự do trong nước tiểu phụ thuộc vào pH nước tiểu Nếu pH kiềm thì sau 24 giờ, lượng bài tiết là 45% liều và 2% ở dạng amphetamin tự do Ngược lại nếu pH acid thì lượng bài tiết là 78% và lượng tự do là 68% [8] Trong điều kiện bình thường, sau 24 giờ khoảng 30% liều được bài tiết vào nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa, khoảng 90% liều được thải trong 3-4 ngày Đây là điều giám định viên cần lưu ý để xác định đối tượng cần phân tích là dạng tự do hay dạng chuyển hóa của amphetamin [2]
Trang 26Khoảng 70% lượng methamphetamin đưa vào cơ thể được đào thải vào nước tiểu trong vòng 24 giờ Các sản phẩm bài tiết của methamphetamin vào nước tiểu bao gồm dạng methamphetamin tự do (44%), amphetamin (6-20%),
4-hydroxymethamphetamin (10%) [7] Cũng giống như amphetamin pH acid của nước tiểu làm tăng tốc độ bài tiết cũng như lượng methamphetamin tự do chưa chuyển hóa trong nước tiểu Nồng độ amphetamin trong nước tiểu của người nghiện là 1-90µg/mL, methamphetamin là 25-300µg/mL [5]
Phần lớn các dẫn chất thay thế vòng của amphetamin ( MDMA,… ) được đào thải vào nước tiểu ở dạng không chuyển hóa Do vậy, đối tượng phân tích các dẫn chất này trong các mẫu sinh học chính là bản thân các chất đó [23] Tuy nhiên trong một vài trường hợp, một vài sản phẩm chuyển hóa khác cũng xuất hiện trong nước tiểu với lượng đáng kể Theo một số tài liệu, khoảng 20% lượng DOM (2,5-dimethoxy -4- methylamphetamin), 10-40% lượng DOET (2,5-dimethoxy-4-ethylamphetamin) được đào thải vào nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa trong 24 giờ đầu, thời gian để đạt nồng độ tối đa trong nước tiểu với
cả hai chất là 3-6 giờ [19], [20]
Quá trình chuyển hóa chủ yếu của methamphetamin và amphetamin được minh họa ở hình 1.1
Trang 27
HO
NH CH3 5
NH2 3
Norephedrin HO
5: Phản ứng liên hợp ( glucuronic, sulfat )
Khi sử dụng MDMA (3,4- methylendioxymethamphetamin; ecstasy) với liều 1,5 mg/kg thể trọng, nồng độ tối đa trong máu đạt được là 0,33µg/mL sau 2 giờ, thời gian bán thải là 8 giờ một lượng nhỏ MDMA bị chuyển hóa thành MDA (3,4- methylendioxyamphetamin), một dẫn chất khác của amphetamin
Trang 28Sau khi uống MDEA 32 giờ, lượng MDEA chưa chuyển hóa trong nước tiểu là 19%, trong khi đó các sản phẩm chuyển hóa MDA là 28%, 4-hydroxy-3-methoxyethylamphetamin (HMEA) là 32% và 8 sản phẩm chuyển hóa khác dưới dạng vết [2]
1.3 Phân tích ATS trong nước tiểu
1.3.1 Chuẩn bị mẫu phân tích
1.3.1.1 Tách chiết ATS
Thường dùng kỹ thuật chiết lỏng — lỏng để tách các chất ATS từ mẫu nước tiểu
Chiết lỏng- lỏng là sự tách chất dựa trên cơ sở sự hòa tan hay phân bố của chất
trong hai dung môi không trộn lẫn vào nhau
Các điều kiện để chiết:
- Dung môi phải có độ tinh khiết cao
- Dung môi chiết cần hòa tan tốt chất cần chiết, nhưng không hòa tan tốt với các chất khác trong mẫu
- Hệ số phân bố của dung môi chiết phải lớn để cho sự chiết được triệt để
- Cân bằng chiết phải nhanh đạt được thuận nghịch để giải chiết được tốt
- Sự phân lớp khi chiết phải rõ ràng và nhanh để dễ tách biệt
- Chọn pH thích hợp
- Phải lắc trong quá trình chiết
- Cho thêm chất phá nhũ (khi cần) để cho phân lớp tốt
Ma túy nhóm ATS: amphetamin (AM) và methamphetamin (MA) được chiết xuất từ nước tiểu ở pH kiềm, giá trị pKa của AM và MA là: 9,9 và 10,1; do vậy nước tiểu cần được điều chỉnh tới pH 11 [24, tr 31-32] Quy trình chiết các dẫn xuất khác của AM cũng tương tự như quy trình chiết AM và MA Lưu ý là một vài chất chuyển hóa trong nhóm này có thể chứa đồng thời các nhóm chức acid
Trang 29(cacboxylic và phenolic) và chức base (amin) Khi đó cần phải khảo sát quy trình chiết xuất, đặc biệt là pH [23, tr 47]
1.3.1.2 Phương pháp dẫn xuất hóa mẫu phân tích
* Ưu điểm của dẫn xuất hoá trong sắc kí:
Sự dẫn xuất hoá học của một chất hoặc hỗn hợp các chất đối với phân tích nói chung và phân tích sắc kí nói riêng đạt được một số ưu điểm [23]:
+ Một chất nào đó chỉ được dùng phương pháp phân tích đặc thù nếu nó được dẫn xuất Ví dụ: Các hợp chất không dễ bay hơi cho phân tích sắc kí và khó khăn cho phân tích sắc kí lỏng hiệu năng cao, các chất không bền dưới các điều kiện phân tích cũng nằm trong dạng xếp loại này Quá trình dẫn xuất hoá làm thay đổi cấu trúc hoá học của các hợp chất cho phép phân tích hiệu quả hơn
+ Cải thiện hiệu quả tách: Vì tương tác của các hợp chất hoặc giữa các chất với pha tĩnh của cột làm cho sự phân tích trực tiếp của nhiều hợp chất hoặc hỗn hợp các hợp chất có thể là khó khăn Sự tương tác này có thể dẫn tới sự phân giải pic kém hoặc pic không đối xứng Sự cản trở này có thể giảm nếu các chất được chuyển hoá thành các sản phẩm dẫn xuất
+ Cải thiện khả năng phát hiện của phương pháp: Khi đòi hỏi khả năng phân tích lượng vết các chất thì dẫn xuất hoá trở nên quan trọng để mở rộng khoảng phát hiện của chất đó Độ nhạy có thể được cải thiện bằng việc trực tiếp gắn thêm các nguyên tử hoặc các nhóm đặc trưng đối với một loại detector nào đó vào công thức chất cần phân tích
+ Một điều khá phổ biến khác khi sử dụng dẫn xuất hoá là làm tăng khả năng phát hiện của các hợp chất Khả năng phát hiện tăng có thể đạt được bởi sự tăng khối của các hợp chất bằng các nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử tương tác mạnh với detector Kỹ thuật này được sử dụng trong sắc kí khí với việc thêm nhóm
Trang 30nguyên tử halogen cho detector cộng kết điện tử (ECD) và với sự tạo thành dẫn xuất trimetyl silan cho các mảnh ion dễ dàng phát hiện bằng sắc kí khí khối phổ (GC- MS)
* Nhược điểm: tốn thời gian, kinh phí
* Một số phương pháp dẫn xuất hoá các chất ma túy nhóm ATS:
+ Phương pháp acyl hoá bằng trifluoroacetic anhydrid ( TFAA ) [2], [9], [12] Acyl hoá bằng heptafluorobutyric anhydrid ( HFBA ) [2], [12], [21]
+ Phương pháp Silyl hoá: ATS có thể được dẫn xuất hoá bằng N- methyl- N- tert butyl dimethyl silyl trifluoroacetamid ( MTBSTFA ) [2], [15]
+ Ngoài ra các dẫn chất ATS có thể được ankyl hoá bằng các tác nhân alkyl halogen như: methyl iodid, ethyl iodid tạo ra các amin bậc cao hơn [2], [15]
1.3.2 Các phương pháp phân tích sơ bộ ATS trong nước tiểu
1.3.2.1 Cảm quan
Thể tích và pH nước tiểu phải được đo trước, bên cạnh đó cần quan sát màu sắc và mùi nước tiểu nhằm nhận biết sơ bộ xem nước tiểu có bị thay thế bằng chất lỏng khác như: trà, nước hay các dịch lỏng khác không
1.3.2.2 Phân tích bằng sắc kí lớp mỏng (TLC)
Dịch chiết ATS từ nước tiểu có thể được phân tích sơ bộ bằng phương pháp TLC, với chất hấp phụ là silica gel G đã được hoạt hóa (có thể có gắn chất phát quang ở bước sóng 254nm; chất chuẩn: MA, AM,
• Dung môi triển khai [16] :
Hệ A: MeOH: NHR 4 ROH [100: 1,5]
Hệ B: ethylacetat: MeOH: NHR 4 ROH [ 85: 10: 5]
Hệ C: CHClR 3 R: n- hexan: triethylamin [ 45:45: 20]
Trang 31*Thuốc thử ninhydrin: dung dịch ninhydrin 10% pha trong ethanol Các ATS cho màu tím
*Thuốc thử fluorescamin: dung dịch gồm 10mg fluorescamin hòa tan trong 50ml aceton Kết quả Các ATS cho các vết màu vàng sáng Giới hạn phát hiện của AM và dẫn xuất là 10ng (trừ MA không lên màu)
• Các phương pháp phát hiện:
* Thuốc thử Fast Black K gồm:
Dung dịch A: dung dịch muối Fast Black K có công thức là (CR 14 RHR 12 RClNOR 4 R)R 2 R.ZnClR 2 Rnồng độ 1% trong nước Dung dịch B: dung dịch NaOH 1M Giới hạn phát hiện AM, MA: 0,05- 0,1µg [23] Các chất nhóm ATS cho màu từ tím đến hồng
*Thuốc thử Simon: dung dịch A: dung dịch NaR 2 RCOR 3 R 20%
dung dịch B: dung dịch Na nitroprussiat 1%
AM và dẫn xuất cho màu hồng nhạt, tuy nhiên phản ứng kém nhạy
• Ưu điểm của phương pháp phân tích bằng TLC:
Thiết bị sử dụng đơn giản, rẻ tiền, nhanh
Có thể phân tích đồng thời nhiều mẫu
Lựa chọn được nhiều điều kiện phân tích một cách dễ dàng
• Nhược điểm: Độ nhạy, độ phân giải kém hơn các phương pháp phân tích khác:
GC, GC-MS, )
1.3.2.3 Phương pháp phân tích miễn dịch học
+ Nguyên lý: Phương pháp phân tích miễn dịch học sử dụng một kháng
thể đặc hiệu với chất cần phân tích (là kháng nguyên) và dạng đánh dấu của chất cần phân tích Dạng đánh dấu của chính chất cần phân tích sẽ tranh chấp với chất
đó để kết hợp với kháng thể theo cơ chế phản ứng giữa kháng nguyên và kháng
Trang 32thể Kết quả là số lượng các phân tử chất bị đánh dấu sẽ tỷ lệ nghịch với lượng chất cần phân tích có trong mẫu Tùy thuộc vào bản chất của chất đánh dấu mà các phương pháp phân tích thích hợp sẽ được áp dụng [2, tr 29]
+ Một số kỹ thuật định lượng miễn dịch:
- Định lượng miễn dịch phóng xạ ( Radioimmunoassay, RIA ):
Chất đánh dấu vào kháng nguyên là đồng vị phóng xạ đã kết hợp với kháng thể, lượng kháng nguyên ở dạng tự do chưa kết hợp với kháng thể cần phải tách ra trước khi tiến hành đo cường độ phóng xạ Chất đồng vị phóng xạ có thể là triti (P
I) để đo tia gama
- Phân tích miễn dịch quang học (Optical immunoassay) bao gồm:
a) Định lượng miễn dịch enzym (EIA): Mức độ phản ứng kháng nguyên- kháng thể được đánh giá bằng sự thay đổi hoạt tính enzym, lượng enzym kết hợp với kháng thể sẽ tỷ lệ với lượng các chất cần phân tích
b) Định lượng miễn dịch huỳnh quang phân cực (FPIA): tín hiệu đo là huỳnh quang phân cực
c) Định lượng miễn dịch phát quang (LIA): tín hiệu đo là độ phát quang
- Ưu điểm : Thử nghiệm này có thể tiến hành tại chỗ, nhanh chóng, thao tác đơn giản, không cần chiết tách, không cần thiết bị, máy móc phức tạp; cho phép phân tích cùng lúc nhiều mẫu Khả năng phát hiện có thể là một chất hoặc một nhóm chất ma túy (single- test) hoặc nhiều nhóm chất ma túy (multi- test) bằng một dụng cụ thử [23, tr 10]
* Phân tích miễn dịch học các chất ATS: Kỹ thuật phân tích miễn dịch học chỉ được sử dụng với mục đích nhận biết sơ bộ, các kết quả dương tính cần phải kiểm tra lại bằng các phương pháp phân tích khác như: TLC, GC, HPLC hoặc
MS Khi sử dụng phương pháp phân tích miễn dịch học cho các chất kích thích
Trang 33thần kinh trung ương nhóm ATS, cần chú ý rằng rất nhiều thuốc kiểu AM có thể
có phản ứng chéo với các kháng thể kháng AM hoặc MA sử dụng trong các phân tích miễn dịch này, đặc biệt là các chất kiểu ecstasy như MDMA, MDA, MDEA
và MBDB Hơn nữa, một vài chất có tác dụng chống ngạt mũi, xung huyết mũi như: ephedrin, phenylpropanolamin, phentermin, các thuốc trị bệnh Parkinson như: selegillin cũng có độ kháng chéo cao Bên cạnh đó một số thuốc bị đào thải vào nước tiểu dưới dạng AM như: fenethylin (kích thần), fenproporex (gây chán ăn), mefenorex (cường giao cảm), prenylamin (giãn mạch); một số thuốc bị đào thải vào nước tiểu dưới dạng MA như: benzphetamin (gây chán ăn), deprenyl (điều trị Parkinson), famprofazone (giảm đau, hạ nhiệt), furfenorex (gây chán ăn), fancamin (kích thần) Bởi vậy nếu có nghi ngờ gì về nguồn gốc tạo ra AM hoặc MA trong nước tiểu thì phải tiến hành phân tích sự có mặt của các chất gốc
1.3.3 Định lượng ATS bằng GC
GC là phương pháp tách chất trong hỗn hợp dựa vào sự phân bố của chúng giữa pha tĩnh lỏng và pha động khí Sau khi được tách ra, detector phát hiện sự
có mặt của các chất trong hỗn hợp và được thể hiện bằng sắc kí đồ Sắc ký đồ là
tư liệu của một quá trình sắc ký, mỗi pic trên sắc ký đồ ứng với một cấu tử nhất định của hỗn hợp cần tách Thời gian tín hiệu xuất hiện được coi là đại lượng chỉ
ra sự có mặt của một cấu tử (định tính) Thời gian từ khi bơm mẫu tới khi đạt cực đại của pic gọi là thời gian lưu toàn phần tR r R, nó bao gồm hai thành phần là thời gian chết tR o R(thời gian của một cấu tử trơ như không khí, metan, đi qua cột)
và thời gian thực t'R r R( thời gian lưu hiệu chỉnh )
- Kích thước của tín hiệu (dưới dạng pic) cho biết thông tin phục vụ cho định lượng Nhiệt độ phản ứng tối ưu và thời gian phản ứng tối ưu cần phải được khảo sát [16, tr 65]
Trang 34Ưu điểm : Phương pháp phân tích GC có độ nhạy cao và đặc hiệu, khẳng định
kết quả dương tính của các phương pháp phân tích sơ bộ
Sau đây là một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài về ATS:
* Với detector NPD, S Cheung và cộng sự đưa ra kết quả khảo sát giới hạn phát hiện của MA và sản phẩm chuyển hóa trong nước tiểu và plasma là 1µ/L
* Cũng bằng detector NPD, I Koide và cộng sự đã công bố giới hạn phát hiện của MA và AM trong mẫu tóc là 0,4µg/g
+ Trong máu: Giới hạn phát hiện của MA và AM là 5ng/g
+ Phát hiện sự có mặt của MA trong mồ hôi, của MA và AM trong huyết thanh, của MA và dẫn xuất của AM khác, của MA và AM trong máu toàn phần
1.3.4 Định lượng ATS bằng HPLC
* Với detector UV, B S Foster và cộng sự đã lượng giá được giới hạn phát
hiện của MA và AM trong nước tiểu là 0,16mg/L
* Bằng detector huỳnh quang, giới hạn phát hiện của MA và các sản phẩm chuyển hóa của nó trong nước tiểu đã được xác định là 1,8-26,3ng/L
* Với detector MS: giới hạn phát hiện trong nước tiểu của MA và sản phẩm chuyển hóa của nó là 10-20µg/L [14], của MA và dimethamphetamin là 10µg/L [15]
Trang 35
1.4 Tình hình nghiên cứu ATS trong nước
Trung tâm giám định ma túy Viện KHHS đang xúc tiến nghiên cứu xây dựng quy trình giám định các chất ma túy nói chung và ma túy nhóm ATS nói riêng Việc xây dựng quy trình giám định chuẩn ATS trong mẫu phẩm sinh học (đặc biệt là mẫu nước tiểu) và đưa vào áp dụng phù hợp với điều kiện kinh phí, trang thiết bị, nhân lực ở nước ta phục vụ trực tiếp cho công tác giám định tại trung tâm và ở các địa phương là thiết thực và hữu ích Đặc biệt trong tình hình hiện nay ma túy nhóm ATS đang sử dụng lan tràn trong các nhà hàng, vũ trường gây nên tình trạng phức tạp Một quy trình giám định chuẩn sẽ góp phần hỗ trợ kịp thời cho công tác đấu tranh với loại tội phạm này Bên cạnh đó kết quả này còn góp phần đáng kể vào lĩnh vực hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh phòng chống ma túy khi mà vấn đề ma túy ngày càng trở nên nóng bỏng trên phạm vi toàn thế giới
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Phân tích MA, MDMA trong mẫu nước tiểu Hai chất này được sử dụng phổ biến ở Việt nam so với các ATS khác Mẫu nước tiểu người nghiện được gửi tới giám định tại Trung tâm giám định ma tuý- Viện Khoa học hình sự
2.2 Hoá chất, thiết bị:
* Dung môi, hóa chất:
Các hóa chất: ether, n- hexan, acid acetic băng, ethylacetat, cloroform, HCl, NaOH, NaR 2 RSOR 4 R khan; chất dẫn xuất hoá TFA loại p.a Hai chất MA và MDMA
là chuẩn của Liên hiệp quốc
* Máy móc, dụng cụ:
- Máy sắc kí khí Agilent 6890 với detector FID và bộ bơm mẫu tự động ( Auto sampler 7683 )
- Cân phân tích Shimadzu
- Máy cất thu hồi dung môi EYELA Rotary evapration N- 1000
- Máy ly tâm ROTOFIX 32 của Uniquip
- Máy lắc Unitwist 30 của Uniquip
- Máy điều chế nitơ
- Dụng cụ thuỷ tinh: bình định mức, pipet, ống nghiệm,
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xây dựng quy trình định lượng MA, MDMA bằng GC- FID
Trang 37• Khảo sát các điều kiện tối ưu để chiết xuất MA, MDMA trong mẫu nước tiểu ( dung môi, pH chiết, ) bằng quy trình chiết lỏng- lỏng
• Khảo sát điều kiện phân tích MA, MDMA trong dịch chiết nước tiểu bằng GC- FID
2.3.2 Thẩm định phương pháp định lượng MA, MDMA trong mẫu nước tiểu: xác định độ đúng, độ chính xác, tính chọn lọc, giới hạn định lượng, khoảng
nồng độ tuyến tính, độ ổn định của chất nghiên cứu trong mẫu
2.3.3 Phân tích mẫu nước tiểu thực tế
Các mẫu nước tiểu thực tế là các mẫu thu được từ các đối tượng bị nghi sử
dụng trái phép chất ma túy Các mẫu này đã được niêm phong và gửi tới Trung tâm giám định ma túy để kiểm tra chất ma túy Quá trình xử lý các mẫu này được tiến hành theo quy trình đã khảo sát, việc phân tích mẫu được thực hiện trên GC- FID
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện làm việc của hệ sắc ký khí với detector FID ( GC- FID )
MA, MDMA được định tính và định lượng trên hệ thống thiết bị sắc ký khí Agilent GC-6890N với detector FID theo quy trình kỹ thuật đã được chuẩn hóa của Trung tâm giám định ma túy — Viện KHHS — Bộ Công an Điều kiện làm việc tối ưu của thiết bị đã được xác định như sau [15]:
Trang 38- Kiểu bơm: Bơm theo chế độ không chia dòng
- Thể tích bơm mẫu 1µL
Sau khi xác định được điều kiện làm việc của hệ sắc ký khí với detector FID,
đã tiến hành bơm 1µL dung dịch chuẩn MA, MDMA vào hệ thống để xác định thời gian lưu của MA, MDMA Thời gian lưu của MA là 3,6 phút, của MDMA
là 7,8 phút
2.4.2 Khảo sát chọn các điều kiện tối ưu cho quá trình chiết
2.4.2.1 Khảo sát chọn dung môi chiết
Để tìm được dung môi chiết tối ưu, chúng tôi cố định ba thông số pH chiết, thể
tích dung môi, nồng độ các cấu tử MA, MDMA để khảo sát dung môi cho hiệu suất chiết MA, MDMA cao nhất trong số bốn dung môi đã chọn
Qua tham khảo các tài liệu chuyên ngành, chúng tôi thấy có bốn dung môi sau thường được sử dụng trong phân tích các chất ma tuý nhóm ATS [2], [15]: ether (1), cloroform (2), ethylacetat (3), n- hexan (4)
Để tìm một dung môi thích hợp nhất, chúng tôi tiến hành các bước sau:
- Chuẩn bị 04 phễu chiết loại 250 mL có đánh số: 1, 2, 3, 4
- Chuẩn bị 04 loại dung môi hữu cơ
- Chuẩn bị mẫu giả với nồng độ MA, MDMA đều là 2µg/mL
- Cho vào 4 phễu chiết, mỗi phễu 50 mL mẫu nước tiểu trắng đã chuẩn bị
và thêm từng giọt dung dịch NaOH 10% vào mẫu tới pH 11 (thử bằng giấy chỉ thị)
- Chiết các mẫu đã được kiềm hoá bằng dung dịch NaOH 10% ở trên lần lượt với bốn dung môi (theo mã hóa ở trên) 3 lần × 50mL
- Lắc các dịch chiết hữu cơ trên với dung dịch acid HCl 5% để chuyển
MA, MDMA thành dạng muối tan trong nước, lấy lớp nước acid
Trang 39- Thêm từng giọt dung dịch NaOH 10% vào mẫu tới pH 11
- Chiết lại dịch kiềm hoá với các dung môi trên ( 3 lần × 50mL )
- Gộp các dịch chiết hữu cơ và lắc với NaR 2 RSOR 4 R khan để loại nước
- Lọc dịch chiết hữu cơ, thêm 1- 2giọt acid acetic băng để chuyển MA, MDMA thành các dạng muối kém bay hơi
- Các dịch chiết được cất quay chân không cô tới 3-5 mL, sau đó cô đuổi dung môi bằng dòng NR 2 R đến khô
- Lấy cặn chiết hoà tan với lượng chính xác 0,2 mL methanol
- Bơm 1µL vào thiết bị GC-FID và so sánh với pic chuẩn để xác định hiệu suất
- Mỗi thí nghiệm ở trên được làm lặp lại 3 lần lấy kết quả trung bình
2.4.2.2 Khảo sát hiệu suất chiết MA, MDMA phụ thuộc vào pH mẫu
Sau khi lựa chọn được dung môi chiết, chúng tôi khảo sát hiệu suất chiết phụ thuộc pH mẫu Để khảo sát hiệu suất này khi chiết lỏng- lỏng chúng tôi tiến hành làm các bước sau:
- Chuẩn bị 4 phễu chiết loại 250mL có đánh số 1, 2, 3, 4 và một dung môi chiết
đã chọn được từ 4 loại dung môi (ether, cloroform, ethylacetat, n- hexan)
- Chuẩn bị mẫu giả nước tiểu trắng, thêm đồng lượng MA và MDMA để được mẫu có nồng độ MA và MDMA tương ứng 2µg/mL, lấy 50 mL làm thí nghiệm
- Cho vào 4 phễu chiết, mỗi phễu 50mL mẫu đã chuẩn bị Thêm từng giọt dung dịch NaOH 10% vào mẫu tới pH 8, 9, 10, 11
- Chiết các mẫu đã được kiềm hoá ở mỗi pH trên với dung môi đã chọn (3 lần × 50mL)
- Lắc các dịch chiết hữu cơ trên với dung dịch acid HCl 5%, lấy lớp nước acid
- Thêm từng giọt dung dịch NaOH 10% vào mẫu tới pH 8, 9, 10, 11
Trang 40- Chiết lại dịch kiềm hoá với dung môi đã chọn ( 3 lần × 50mL )
- Gộp các dịch chiết hữu cơ và lắc với NaR 2 RSOR 4 R khan để loại nước
- Lọc riêng từng dịch chiết hữu cơ, thêm 1- 2giọt acid acetic băng
- Các dịch chiết được quay cất chân không cô tới 3-5 mL, sau đó cô đuổi dung môi bằng dòng NR 2 R đến khô
- Lấy cặn chiết hoà tan với lượng chính xác 0,2 mL methanol
- Bơm 1 µL vào thiết bị GC- FID và so sánh với pic chuẩn để xác định hiệu suất
Mỗi thí nghiệm ảnh hưởng của pH lên quá trình chiết được làm lặp lại 3 lần
2.4.2.3 Khảo sát hiệu suất chiết MA, MDMA phụ thuộc vào nồng độ
Để khảo sát hiệu suất chiết phụ thuộc vào nồng độ MA, MDMA trong mẫu nước tiểu, chúng tôi tiến hành các bước sau:
- Chuẩn bị 05 phễu chiết loại 250 mL có đánh số: 1, 2, 3, 4, 5
- Chuẩn bị 05 lọ được đánh số: 1, 2, 3, 4, 5, mỗi lọ chứa 50 mL nước tiểu trắng
và cho vào từng lọ tương ứng với lượng MA, MDMA thay đổi Dãy nồng độ khảo sát được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Dãy nồng độ khảo sát
Lượng hoạt chất trong 50ml (µg) 20 40 60 80 100
- Kiềm hoá các mẫu này bằng dung dịch NaOH 10% vào mẫu tới pH 11
Các bước tiếp theo tiến hành tương tự mục 2.4.2.2
2.4.2.4 Khảo sát tìm hiệu suất chiết MA, MDMA sau khi đã xác định được các điều kiện tối ưu
Các bước tiến hành tìm hiệu suất chiết sau khi đã xác định được các điều kiện tối ưu như sau: