DN, các chỉ tiêu về chi phí, lợi nhuận, doanh thu cần được phân tích để đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của DN TBYT.. Chi phí KD, vai trò của phân tích chi phí đối với DN “
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ dược học
Chuyên ngành: Tổ chức quản lý dược
Mã số: 60 73 20
Người hướng dẫn:
TS Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện:
Trường ĐH Dược Hà Nội Công ty Thiết bị Y tế Trung ương 1
Hà nội, 2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình
Người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này trong suốt thời gian qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể giảng viên Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược, Trường Đại học Dựơc Hà Nội – những người đã quan tâm, dìu dắt và giảng dạy tôi trong quá trình tôi học tập tại trường
Và tôi xin trân trọng cảm ơn Công ty Thiết bị Y tế TW 1 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng, cho phép tôi được cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã yêu thương, động viên, giúp đỡ chân tình để tôi có thể hoàn thành tốt nhất luận văn này
Hà nội, tháng 01 năm 2007 NGUYỄN TỰ CƯỜNG
Trang 4QUY ƯỚC VIẾT TẮT
ADB : The Asian Development Bank
BV : Bệnh viện CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CF : Chi phí CPC 1 : Công ty Dược phẩm trung ương 1 CPH : Cổ phần hoá
DN : Doanh nghiệp DND : Doanh nghiệp Dược
DT : Doanh thu
ĐH : Đại học
HĐ : Hoạt động HĐKD : Hoạt động kinh doanh
KHCN : Khoa học công nghệ KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình
LN : Lợi nhuận
LN BT : Lợi nhuận bất thường
LN TC : Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
LS : Lãi suất sản phẩm tiêu thụ MEDINSCO : Công ty Thiết bị y tế TW1
MT : Môi trường
NĐ : Nghìn đồng NSLĐBQ : Năng suất lao động bình quân ODA : Official Development Assistance SĐK : Số đăng kí
SX, KD : Sản xuất, kinh doanh
Trang 5SSĐG : So sánh định gốc SSLH : So sánh liên hoàn THUẾ GTGT : Thuế giá trị gia tăng
TNBQ : Thu nhập bình quân TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TMF : Tổng mức phí
TP : Thành phố TSCĐ : Tài sản cố định TSLN : Tỷ suất lợi nhuận
TT : Thông tư TBYT : Thiết bị y tế
TW : Trung ương XNK : Xuất nhập khẩu WTO : World Trade Organization
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.6 Giá trị LN từ hoạt động KD, doanh thu thuần và tỷ suất LN 32
Bảng 3.10 Cơ cấu chi phí của công ty trong giai đoạn 2000 – 2005 40
Bảng 3.13 Cơ cấu giá tính theo giá mua hàng trong giai đoạn 2000 – 2005 50
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.18 So sánh năng suất lao động bình quân giữa Medinsco và CPC1 57
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra như một xu thế tất yếu
và Việt Nam cũng đang trong lộ trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Điều này tạo ra nhiều cơ hội cũng như những thách thức với các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị y tế cũng không nằm ngoài quy luật đó
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, lĩnh vực thiết bị y tế cũng đã có những bước phát triển nhất định Đó là việc từng bước đổi mới công tác quản
lí, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống công ty, xí nghiệp thiết bị y tế, các viện nghiên cứu và trường đào tạo Bước đầu lập lại trật tự kinh doanh, xuất nhập khẩu thiết bị y tế Thị trường kinh doanh thiết bị y tế ngày một đa dạng và phong phú không những về chủng loại mà còn xuất hiện thêm nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực này
Thiết bị y tế trong các cơ sở y tế đã nâng cao tính chính xác của công tác chẩn đoán và làm tăng hiệu quả điều trị bệnh Tuy nhiên những thành tựu đã đạt được chưa thực sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 là một doanh nghiệp nhà nước ra đời năm
1976 mới được cổ phần hoá năm 2005 chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu các loại thiết bị y tế, dụng cụ y tế, hoá chất phòng chống dịch bệnh và hoá chất xét nghiệm cho các cơ sở y tế trong cả nước Trong thời kì bao cấp nhiệm vụ chính của công ty là bảo quản và cấp phát theo lệnh của Bộ Y tế Bước sang năm 1985, những ưu đãi của nhà nước đang dần bị xoá bỏ và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong lĩnh vực kinh doanh thiết bị y tế, công ty phải tự hạch toán kinh tế và đứng trước rất nhiều những thách thức mới Ban lãnh đạo công ty đã xác định rõ, để tồn tại và phát triển trong tình hình mới công ty cần
có những phương thức quản trị cũng như hoạch định những chiến lược kinh doanh phù hợp Trong đó chi phí và đặc biệt các ảnh hưởng của chi phí đến
Trang 9kết quả kinh doanh luôn là vấn đề được công ty chú trọng, bởi chi phí kinh doanh cao sẽ kéo lùi sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Giúp cho việc nhìn nhận lại những thành tựu cũng như những vấn đề còn tồn
tại của Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích một số kết quả hoạt động kinh doanh và cơ cấu giá của Công
ty Thiết bị y tế Trung ương 1 giai đoạn 2000-2005”
Với mục tiêu sau:
1 Phâ n tích một số kết quả hoạt động kinh doanh Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 giai đoạn 2000-2005 thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản
2 Phân tích cơ cấu giá sản phẩm của Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 trong giai đoạn trên
Để từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, khai thác
những điểm mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty
Trang 10PHẦN 1 - TỔNG QUAN 1.1 TÌNH HÌNH KINH DOANH TBYT TẠI VIỆT NAM
TBYT bao gồm các loại máy, thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho
công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào
tạo trong lĩnh vực y tế
Phương tiện vận chuyển chuyên dụng: phương tiện chuyển thương (xe cứu
thương, xuồng máy, ghe máy chuyển thương, ô tô cứu thương) Xe chuyên dùng lưu động cho y tế (Xquang, xét nghiệm lưu động, chuyên chở văcxin)
Dụng cụ, vật tư y tế: các loại dụng cụ, vật tư hoá chất xét nghiệm được sử
dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ
Các loại dụng cụ, vật tư cấy, ghép trong cơ thể: xương nhân tạo, nẹp vít cố
định xương, van tim, ống nong mạch, ốc tai điện tử, thuỷ tinh thể (hàng năm tuỳ theo sự phát triển của khoa học vật liệu y học, Bộ Y tế sẽ có DM bổ sung)
TBYT là một trong 3 lĩnh vực cấu thành ngành y tế bao gồm y, dược và TBYT hay nói cách khác là thầy thuốc, thuốc và TBYT Ba lĩnh vực này gắn kết với nhau, nếu thiếu một trong 3 yếu tố này thì không thể hoạt động được.[4]
Hình 1.1 Bi ểu diễn mối quan hệ thầy thuốc - thuốc - TBYT
Th ầy thuốc
Thi ết bị
y tế
Thu ốc
Trang 11Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao, nhiều loại TBYT hiện đại được đưa vào sử dụng trong các cơ sở y tế như: máy CT-scanner, cộng hưởng từ (MRI), thiết
bị siêu âm dopper màu đa năng, thiết bị chụp mạch hai bình điện (Angiography), thiết bị laser phẫu thuật nội soi, gama camera dùng trong y học hạt nhân, máy gia tốc tuyến tính trong điều trị u bướu Những TBYT hiện đại này đã góp phần đắc lực giúp cho các bác sĩ chẩn đoán bệnh được chính xác.[21]
Vì vậy, TBYT là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh cũng như chữa bệnh nên lĩnh vực TBYT cần được tăng cường đầu tư cả
về số lượng và chất lượng, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả
1.1.1 Hệ thống kinh doanh TBYT tại Việt Nam
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong hơn mười năm thực hiện đổi mới vừa qua, ngành y tế đã đầu tư nâng cấp TBYT cho các cơ sở thuộc các lĩnh vực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc và TBYT Đặc biệt các Trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh như: BV Hữu nghị, BV 108 quân đội, BV Bạch Mai, BV TW Huế, BV Chợ Rẫy, BV Thống Nhất, đã triển khai ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, sử dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân.[4]
Tại các BV tỉnh, các khoa chủ yếu như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trang bị một số thiết bị cơ bản: máy X-quang cao tần, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá
Trang 12nhiều chỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sốc tim, máy theo dõi bệnh nhân
Tại 61 tỉnh, TP trực thuộc TW đều được trang bị đủ TBYT để sàng lọc phát hiện bệnh nhân HIV, viêm gan, một số yêu cầu đặc biệt quan trọng trong công tác truyền máu an toàn
Các trung tâm y tế huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và
xe ô tô cứu thương Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khoẻ y tế ban đầu và thực hiện các dịch vụ
về dân số và KHHGĐ [4]
Tuy nhiên, TBYT của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu chưa đồng bộ
và lạc hậu so với các nước trong khu vực Hầu hết TBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kì kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không
đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao Trình độ của cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất TBYT hiện có Năng lực của cán bộ kỹ thuật TBYT chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật TBYT còn thấp so với yêu cầu Nhiều BV tỉnh chưa có phòng quản lí vật tư-TBYT
Hệ thống cung ứng và lưu thông phân phối TBYT được hình thành một mạng lưới từ TW đến địa phương và được mở rộng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Phạm vi hoạt động của các DN cung ứng TBYT rất rộng, DN được quyền chủ động kinh doanh các mặt hàng do Bộ y tế quy định, liên doanh với các công ty trong nước và nước ngoài Dưới tác động của cơ chế thị trường, các công ty hoạt động trong lĩnh vực TBYT phải cạnh tranh để tồn tại
Ở TW có 3 công ty TBYT TW nằm ở 3 miền đó là:
Trang 13- Công ty thiết bị y tế TW1 (từ 12/2004 công ty chuyển thành Công ty Cổ phần Thiết bị y tế MEDINSCO): phân phối TBYT cho các đơn vị và BV tỉnh
ty TBYT TW cấp Tuyến huyện có các cửa hàng kinh doanh vật tư dụng cụ y
tế và các cửa hàng dược- vật tư y tế
Ngoài các công ty Nhà nước còn có các công ty TNHH hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ kĩ thuật y tế Đến năm 2004, trên địa bàn Hà Nội
có khoảng 8 công ty TNHH kinh doanh trong lĩnh vực này [21]
Các hãng và văn phòng đại diện của các tập đoàn lớn về TBYT của thế giới đặt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh làm nhiệm vụ cung cấp và giới thiệu những sản phẩm hiện đại nhất của TBYT đang được sử dụng tại các nước tiên tiến
Ngoài các nhà máy xí nghiệp của TW, tại các địa phương còn có các tổ hợp cũng tham gia sản xuất một số mặt hàng y tế: hợp tác xã Việt Trì tại Hà Nội, nhà máy nhựa Bình Minh tại TP Hồ Chí Minh.Ngoài ra ở địa phương còn có các cơ sở tư nhân, sản xuất theo mô hình nhỏ lẻ
Sản xuất TBYT bao gồm các nhà máy và xí nghiệp thuộc Tổng công ty TBYT Việt Nam, như: Nhà máy y cụ đóng tại Thái Nguyên, Xí nghiệp thiết
bị y tế đóng tại phường Phương Mai, Đống Đa- Hà Nội, Nhà máy cao su y tế tại Phú Nhuận- TP Hồ Chí Minh, Nhà máy nhựa y tế tại Phương Mai, Đống
Đa –Hà Nội [21]
Trang 14Có thể khái quát hệ thống cung ứng bằng sơ đồ sau:
1.1.2 Chính sách quốc gia về TBYT đến năm 2010
TBYT là một loại hàng hoá đặc biệt, góp phần vào việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vì vậy, các DN kinh doanh trong lĩnh vực TBYT, ngoài việc chịu sự điều chỉnh theo luật DN còn chịu sự quản lí của Bộ Y tế- vụ TBYT và công trình y tế Sau đây là một số quy định trong kinh doanh TBYT[4]:
n ước ngoài
DN Nhà n ước
H ệ thống cung ứng TBYT
Trung ương
Công ty thi ết bị y
t ế TW2
t ại TP
HCM
Công ty thi ết bị y tế TW3 Đà
trang thi ết bị y tế
V ăn phòng đại diện
Công ty TNHH
Công
ty c ổ phần
Trang 15Bảng 1.1 Một số quy định trong kinh doanh TBYT Loại
TT-BYT Bộ Y tế 13/12/2002 Hướng dẫn điều kiện kinh doanh TBYT
QĐ 130/2002/QĐ-TTg TTg CP 4/10/2002 Phê duyệt chính sách QG về TBYT
- Không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Bằng tốt nghiệp ĐH y dược, chứng chỉ đào tạo về kĩ thuật TBYT do các cơ sở đào tạo hợp pháp chuyên ngành trong nước hoặc nước ngoài cấp, thời gian của khoá đào tạo này ít nhất là một tháng
- Đối với người đã có thời gian công tác trực tiếp về kĩ thuật, hoặc công tác quản lí TBYT từ 3 năm trở lên
Có nhân viên kĩ thuật hướng dẫn sử dụng, lắp đặt, bảo hành, bảo trì TBYT mà
DN đang kinh doanh
Trang 16Đối với hộ kinh doanh cá thể:
Người chịu trách nhiệm chính về kĩ thuật phải có đủ các điều kiện sau:
- Có đủ sức khoẻ
- Không truy cứu trách nhiệm hình sự
- Bằng tốt nghiệp các trường: trung học kỹ thuật y tế, kĩ thuật dược, trường kĩ thuật y tế
- Người có bằng tốt nghiệp các trường trung học kĩ thuật khác phải có chứng chỉ đào tạo về kĩ thuật TBYT do cơ sở đào tạo hợp pháp chuyên ngành trong nước hoặc nước ngoài cấp, thời gian của khoá đào tạo này ít nhất là 1 tháng
Điều kiện để đơn vị được phép xuất nhập khẩu TBYT:
- Các DN Việt Nam có chức năng SXKD, có đủ điều kiện để sản xuất, kinh doanh TBYT và đã được Tổng cục Hải quan cấp mã số DN xuất, nhập khẩu
- Các DN SX, KD TBYT có vốn đầu tư nước ngoài có chức năng xuất nhập khẩu
- Các DN SX, KD dược phẩm có chức năng xuất, nhập khẩu được phép nhập khẩu TBYT và hoá chất phục vụ cho sản xuất và kiểm nghiệm dược
Thẩm quyền và thủ tục cấp số đăng kí lưu hành TBYT:
- Bộ Y tế (Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế) chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định và cấp giấy phép xuất khẩu nhập khẩu và cấp
số đăng kí lưu hành
- SĐK lưu hành có giá trị 3 năm kể từ ngày cấp
Kiểm tra thanh tra và xử lí vi phạm:
- Vụ Trang thiết bị và công trình y tế phối hợp với các vụ cục có liên quan và thanh tra Bộ y tế tổ chức kiểm tra, thanh tra trên phạm vi cả nước
Trang 17- Sở Y tế tổ chức kiểm tra thanh tra việc thực hiện các quy định trên phạm vi địa bàn quản lí
- Chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh phải chấp hành và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh tra kiểm tra tại cơ sở mình Nếu vi phạm tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật [4]
Chính sách quốc gia về TBYT đến năm 2010
Nhận thức rõ tầm quan trọng và thực trạng TBYT của nước ta hiện nay, ngày 4/10/2002 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt quyết định số 130/2002/QĐ-TTg về Chính sách Quốc Gia về TBYT giai đoạn 2002-2010
Chính sách quốc gia về TBYT đến năm 2010 bao gồm các mục tiêu chủ yếu, những giải pháp tổng thể thuộc các lĩnh vực: quản lí, sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng, nghiên cứu khoa học- công nghệ đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kĩ thuật TBYT Trong đó đã xác định rõ mục tiêu chung [21]
“Đảm bảo đủ TBYT cho các tuyến theo quy định của Bộ Y tế Từng bước hiện đại hoá TBYT cho các cơ sở y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân Phấn đấu đến năm 2010 đạt trình độ kỹ thuật về TBYT ngang tầm các nước trung bình tiên tiến trong khu vực Đào tạo đội ngũ cán
bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm
chuẩn TBYT Phát triển công nghiệp TBYT nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng
hoá sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu.”[21]
1.2 CHI PHÍ TRONG KINH DOANH TBYT
Cũng như dược phẩm, TBYT là một loại hàng hoá ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người Tuy nhiên xét trên khía cạnh DN, hoạt động kinh doanh TBYT cũng tuân theo các quy luật kinh tế Đối với công tác quản lý
Trang 18DN, các chỉ tiêu về chi phí, lợi nhuận, doanh thu cần được phân tích để đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của DN TBYT
1.2.1 Chi phí KD, vai trò của phân tích chi phí đối với DN
“Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà DN đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định”[10]
DN thương mại chỉ hoạt động trong lĩnh vực mua bán, cung ứng hàng hoá
và cung cấp dịch vụ, không tham gia vào quá trình sản xuất Các chi phí kinh doanh được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà DN tiêu dùng trong một kỳ hoạt động kinh doanh Về thực chất, chi phí kinh doanh là sự dịch chuyển vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất kinh doanh vào các đối tượng và được tính bằng giá (giá hàng hoá, giá dịch vụ) [8] Việc phân tích các loại chi phí có các vai trò sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình phân tích, kiểm tra đánh giá tình hình chi phí cấu thành giá thành sản phẩm của DN
- Cung cấp thông tin cho đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN bằng cách phân tích kết cấu chi phí giá thành của sản phẩm với các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận
- Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng định mức giá thành sản phẩm, thông tin cho hoạt động kế hoạch hoá chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
- Cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định về lựa chọn mặt hàng kinh doanh [7]
1.2.2 Các loại chi phí kinh doanh trong DN
Chi phí kinh doanh bao gồm nhiều loại, do đó tuỳ theo mục đính, cần phải phân loại chúng theo nhiều cách khác nhau Để phù hợp với mục đích nghiên
Trang 19cứu, trong đề tài, chỉ đề cập đến cách phân loại chi phí theo nội dung, mục đích sử dụng của chi phí trong DN
Một DN thương mại chỉ bao gồm hoạt động mua và bán hàng hoá không qua chế biến Vậy giá thành sản phẩm của DN loại này được hình thành theo sơ
đồ sau (Hình 1.3):
Hình1.3 Chi phí và các yêu tố cấu thành giá của DN
i¸ vèn hµng b¸n
i¸
thµnh tiªu
CF qu¶n lÝ
îi nhuËn
o¹i thuÕ
CF b¸n hµng
Trang 20Chi phí mua hàng (giá vốn hàng bán)
- Chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng
- Chi phí mua hàng hoá, dịch vụ
- Chi phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá từ nơi mua hàng về DN
- Chi phí thuê kho bãi trong quá trình mua hàng
- Chi phí bảo hiểm hàng hoá, hoa hồng đại lí
- Các loại thuế trong khâu mua hàng (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng)
- Chi phí hoàn thiện sản phẩm
- Chi phí bằng tiền khác
Chi phí bán hàng
- Chi phí về lương và khoản trích theo lương tính vào chi phí của toàn bộ lao động trực tiếp hay quản lí trong hoạt động bán hàng, vận chuyển hàng hoá tiêu thụ
- Chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng trong việc bán hàng như bao bì sử dụng luân chuyển, các quầy hàng
- Chi phí khấu hao thiết bị và tài sản cố định dùng trong việc bán hàng như thiết bị đông lạnh, phương tiện vận chuyển, của hàng, nhà kho
- Chi phí về công cụ dụng cụ dùng trong việc bán hàng như bao bì sử dụng luân chuyển, các quầy hàng
- Chi phí thuê ngoài liên quan đến việc bán hàng như quảng cáo, hội chợ, bảo trì, bảo hành, khuyến mãi
- Chi phí khác bằng tiền trong việc bán hàng…
Trang 21- Chi phí điện, nước, điện thoại, bảo hiểm, phục vụ chung toàn DN
- Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản
- Các khoản chi phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợ phải thu khó đòi, hao hụt trong khâu dự trữ
Ưu điểm của cách phân loại chi phí này là giúp các nhà quản lí DN có cái nhìn cụ thể, định lượng các loại chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, tỷ trọng các khoản mục phí, từ đó có thể đánh giá tính hợp lí của từng khoản mục phí cấu thành nên giá thành sản phẩm [7]
1.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DN
Một DN muốn tồn tại và phát triển thì một trong những mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận LN là chỉ tiêu quan trọng nhất của toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận của DN có được chủ yếu là thông qua kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Các nhà quản trị muốn có hoạt động nâng cao khả năng sinh lời thì cần phải thấy trước được hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến LN Mặt khác, theo phương trình kinh tế cơ bản: lợi nhuận = doanh thu - chi phí, DN có thể tăng LN nhờ việc tăng DT hoặc giảm chi phí Tuy nhiên, DT chỉ là hệ quả của tiết kiệm chi
Trang 22phí kinh doanh Do vậy, tiết kiệm chi phí vừa làm tăng LN, vừa nâng cao sức cạnh tranh cho các DN.[9]
Vì vậy, phân tích chi phí của DN tạo nên giá thành sản phẩm của DN và mối quan hệ chi phí- doanh thu- lợi nhuận, chính là phân tích ảnh hưởng của chi phí đến kết quả sản xuất kinh doanh của một DN
Kết quả sản xuất kinh doanh của DN được đánh giá thông qua một hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mặt khác nhau của kết quả sản xuất kinh doanh Việc đánh giá phải đi từ tổng quát đến cụ thể thông qua một hệ thống chỉ tiêu phù hợp với từng loại hình DN.[9]
1.3.1 Phân tích mối quan hệ Chi phí - Doanh thu - Lợi nhuận
Theo quan điểm kinh doanh, trong bất kì một loại hình DN nào, thì mỗi khối lượng sản phẩm sản xuất ra, hay tiêu thụ được đều cần phân tích thành 2 phần:
- Một phần để bù đắp cho toàn bộ chi phí đầu vào
- Phần còn lại mang lại lợi nhuận cho DN
Từ đây ta có phương trình kinh tế cơ bản:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu là hệ quả của tiết kiệm chi phí Do vậy, tiết kiệm chi phí vừa trực tiếp tăng lợi nhuận vừa góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN
Tuy nhiên, để thấy rõ được ảnh hưởng của kết cấu chi phí giá thành sản phẩm đến kết quả hoạt động kinh doanh, thì phân tích kết cấu chi phí một cách đơn thuần và tỉ trọng phí là chưa đủ, mà ta phải đặt phân tích chi phí trong mối quan hệ với doanh thu, lợi nhuận, thông qua một số chỉ tiêu sau:
Tỷ suất phí (TSF):
% 100 x
Trang 23Từ công thức này ta thấy: để thu được 1 đồng doanh thu thì cần bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí Như vậy, tỷ suất phí càng nhỏ, thì chi phí để thu được 1 đồng doanh thu càng thấp, tức là DN thu được lợi nhuận cao, làm ăn có hiệu quả
Lãi suất sản phẩm tiêu thụ:
100
x TMF
LN
Chỉ tiêu này phản ánh, cứ 100 đồng tổng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng
LN Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng lớn Tăng LN, giảm chi phí sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho DN [9]
Tóm lại, tiết kiệm chi phí sẽ chính là chìa khoá để DN tồn tại và phát triển
1.3.2 Phân tích quy mô kết quả hoạt động kinh doanh của DN
Để đánh giá được quy mô kết quả hoạt động kinh doanh của DN, ta dùng chỉ tiêu giá trị hàng hoá tiêu thụ- doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Giá trị hàng hoá tiêu thụ hay doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà
DN đã bán ra ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của DN và đã thu được tiền dưới mọi hình thức, như: tiền mặt, tiền séc, tín phiếu, ngân phiếu thanh toán…
Đây là một chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hoạt động kinh doanh Doanh thu bán hàng càng lớn, lợi nhuận cuả DN càng cao Bởi vậy, chỉ tiêu này là cơ
sở để xác định lãi (lỗ) sau một quá trình kinh doanh của DN.[9]
1.3.3 Phân tích tốc độ tăng trưởng SXKD của DN
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, các DN không chỉ quan tâm đến sự tồn tại trong từng thời kì mà điều cốt yếu là sự tăng trưởng của sản xuất kinh doanh Bởi vì muốn tồn tại và chiến thắng trong
Trang 24cạnh tranh thì phải phát triển, phát triển và tồn tại Vậy, tăng trưởng sản xuất kinh doanh của DN là biểu hiện mức độ thực hiện chiến lược phát triển gắn với chiến lược thị trường của DN và chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung Mức độ thực hiện chiến lược tăng trưởng sản xuất kinh doanh quyết định sự tồn tại lâu dài của DN trên thị trường Để đánh giá mức độ thực hiện chiến lược tăng trưởng sản xuất kinh doanh của DN trong từng thời kì, có thể
sử dụng các chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển của sản xuất kinh doanh sau đây:
- Tốc độ phát triển định gốc
- Tốc độ phát triển liên hoàn
Việc phân tích 2 chỉ tiêu trên, gắn với việc phân tích tình hình lợi nhuận
và chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước để thấy được sự biến động của kết quả sản xuất kinh doanh, từ đó thấy được mức độ thực hiện chiến lược phát triển gắn với chiến lược thị trường của DN và chiến lược phát triển kinh tế xã hội [8]
a/ Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận của DN là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà DN
đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của DN đưa lại
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả sản xuất kinh doanh Phân tích LN bao gồm các chỉ tiêu sau:
Các bộ phận cấu thành lợi nhuận của DN: Do đặc điểm hoạt động SXKD
đa dạng, nên lợi nhuận được hình thành từ nhiều bộ phận Nếu xét theo nguồn hình thành, lợi nhuận của xí nghiệp bao gồm các bộ phận sau:
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
- Lợi nhuận bất thường
Trang 25Phân tích chung tình hình lợi nhuận: Là đánh giá sự biến động lợi nhuận
của toàn DN, từng bộ phận lợi nhuận giữa thực tế với kế hoạch, giữa kì này với kì trước nhằm thấy khái quát tình hình lợi nhuận và những nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên
Phân tích tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận tuyệt đối có thể không phản ánh
đúng mức độ hiệu quả sản xuất kinh doanh, bởi vì chỉ tiêu này không chỉ chịu
sự tác động của bản thân chất lượng công tác cuả DN mà còn chịu ảnh hưởng của quy mô sản xuất của DN Chính vì vậy chỉ để đánh giá đúng kết quả kinh doanh của xí nghiệp cần phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận tính bằng % Có thể tính theo 2 cách :
Tỷ suất lợi nhuận tính tên doanh số bán ra, được xác định bằng công thức:
100
x DT
LN
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100đ doanh thu thuần thì có bao nhiêu đồng LN
Hai là, tỷ suất lợi nhuận được tính là tỷ lệ giữa lợi nhuận và giá trị tài sản thực có của xí nghiệp bằng công thức:
100
x TV
LN
(TV: tổng vốn) Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100đ vốn bỏ vào đầu tư sau một năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn cho phép đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các DN khác nhau về quy mô sản xuất kinh doanh (Ví dụ như so sánh hiệu quả của việc kinh doanh thuốc trong các công ty Dược phẩm với việc kinh doanh mặt hàng TBYT).[9]
b/ Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên
Trang 26Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh không chỉ tính đến lợi nhuận thu được mà còn phải tính đến việc đảm bảo đời sống của CBCNV thông qua thu nhập bình quân của họ.[9]
c/ Nộp ngân sách nhà nước
Là mức đóng góp thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, thể hiện hiệu quả đầu
tư của nhà nước vào các DN, là điều kiện để DN tồn tại và hoạt động có hiệu quả.[9]
1.4 VÀI NÉT VỀ CÔNG TY THIẾT BỊ Y TẾ TRUNG ƯƠNG 1
1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Thiết bị Y tế trung ương 1, tên giao dịch quốc tế: Medical Equipment Company No.1, viết tắt: MEDINSCO được thành lập theo quyết định số 1473/BYT/QĐ ngày 09/12/1976 của Bộ Y tế và thành lập lại theo quyết định
số 411/BYT-QĐ ngày 22/04/1993 của Bộ Y tế dựa trên quyết định số HĐBT ngày 07/05/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sắp xếp lại DN Nhà nước
388-Công ty có trụ sở chính tại số 8 Tông Đản- Hà Nội và các hệ thống kho tại Giáp Bát phố Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân; Xã Minh Trí huyện Sóc Sơn và xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm-Hà Nội
Công ty là DN Nhà nước trực thuộc Tổng công ty Thiết bị Y tế Việt Nam, có
tư cách pháp nhân và được nhà nước giao vốn Từ năm 1991, công ty được
Bộ thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
Theo quyết định 4408/QĐ- BYT ngày 07/12/2004 của Bộ y tế, công ty đã chuyển thành Công ty Cổ phần Thiết bị y tế MEDINSCO
Sự hình thành và phát triển của công ty gắn liền với sự phát triển của ngành kinh doanh TBYT Kể từ khi thành lập, đến nay công ty có quan hệ chặt chẽ với hàng trăm BV, viện nghiên cứu, trường đại học y, dược khoa và các cơ sở
y tế trong toàn quốc Với quan hệ quốc tế rộng mở, Công ty Thiết bị y tế
Trang 27Trung ương 1 là bạn hàng của nhiều Hãng kinh doanh thiết bị, dụng cụ hoá chất trên thế giới
Với cơ sở vật chất, năng lực và kinh nghiệm hiện có kết hợp với việc xây dựng chiến lược hoạt động đúng đắn, Công ty tin tưởng sẽ phục vụ tốt các nhiệm vụ cung cấp vật tư thiết bị cho ngành Y tế trong điều kiện hiện nay
1.4.2 Lĩnh vực hoạt động của công ty
Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá phục vụ cho các ngành Y tế theo giấy phép kinh doanh gồm: thiết bị và dụng cụ y tế, xe cứu thương, xe chuyên dụng, hoá chất phòng chống dịch bệnh, hoá chất xét nghiệm, vaccine, sinh phẩm và các sản phẩm khác phục vụ công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ và dân số –KHHGĐ
Thực hiện nhập khẩu uỷ thác hàng hoá cho các chương trình quốc gia,
dự trữ thiết bị, dụng cụ, hoá chất cho công tác phòng chống dịch bệnh, phòng chống thiên tai địch họa theo quy định của Bộ y tế
Thực hiện dịch vụ hậu cần về hàng viện trợ của các tổ chức thuộc Liên hiệp quốc, chính phủ và phi chính phủ cho ngành y tế, các dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), ngân hàng tái thiết Đức (KFW) và các chương trình phục vụ công tác Dân số-KHHGĐ
1.4.3 Đặc điểm sản phẩm, dịch vụ của Công ty
Về hàng hoá: công ty cung cấp tất cả các dụng cụ vật tư y tế, hoá chất xét
nghiệm, hoá chất chống dịch cho các cơ sở y tế, có những sản phẩm có giá trị, công nghệ hiện đại như máy cộng hưởng từ, kính hiển vi điện tử những vật
rẻ tiền mau hỏng như ống nghiệm, kim phẫu thuật, kim châm cứu Nhiều hàng hoá có những điều kiện bảo quản đặc biệt, hạn sử dụng rất ngắn như vaccin phòng bệnh, các test thử kiểm tra, hoặc các dược chất phóng xạ Các mặt hàng thiết yếu của ngành y tế (Danh mục do Bộ Y Tế đề ra) luôn phải có
dự trữ theo đúng cơ số qui định, cung cấp theo lệnh của Bộ Y tế
Trang 28Việc cung cấp hàng của Công ty: theo các chương trình đưa hàng về 61 tỉnh
1.5 HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nói đến phân tích hoạt động kinh doanh của DN kinh doanh trong lĩnh vực Y
tế thì đã có rất nhiều báo cáo phân tích hoạt động kinh doanh của DN Dược phẩm hoặc TBYT Nhìn chung các luận văn này tuy bố cục có khác nhau nhưng cũng đạt được một số kết quả:
- Sơ bộ phân tích thị trường Dược phẩm hoặc TBYT nói chung, vài nét
về đặc điểm của Công ty Cổ phần Dược liệu Trung ương – Mediplatex, Công
ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà, Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Tây
- Phân tích hoạt động kinh doanh dựa trên một số chỉ tiêu chung khi phân tích hoạt động kinh doanh của DN như: tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân lực; doanh số mua, cơ cấu nguồn mua; doanh số bán và tỷ lệ bán buôn, bán lẻ; phân tích tình hình sử dụng phí; phân tích vốn; lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận; nộp ngân sách nhà nước; năng suất lao động bình quân cán bộ nhân viên; thu nhập bình quân cán bộ công nhân viên; tiền thuốc bình quân trên đầu người; mạng lưới phục vụ
Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp
Đã có nhiều luận văn đi theo hướng giải quyết những vấn đề trên và có sự
mở rộng đề cập thêm về chính sách cũng như chiến lược kinh doanh Tuy
nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá và phân tích hoạt động kinh doanh
Trang 29chung thông qua một số chỉ tiêu kinh tế riêng rẽ rồi đưa ra nhận xét sau mỗi
số liệu minh hoạ, mà chưa nêu bật được mối liên hệ giữa những chỉ tiêu này Những luận văn này chưa kết nối những chỉ tiêu riêng lẻ để tách thành những
mảng lớn như:
- Phân tích chi phí và giá thành sản phẩm hàng hoá của DN
- Phân tích tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh của DN
- Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và lợi nhuận của DN
- Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của DN
- Phân tích tình hình sử dụng năng lực sản xuất kinh doanh của DN Ngoài ra, các DN kinh doanh trong lĩnh vực Y tế có rất nhiều mặt hàng được phép kinh doanh, tuy nhiên những luận văn này đều có đối tượng nghiên cứu
là các DN có chức năng chính là KD dược phẩm, điều này sẽ gây rất nhiều hạn chế khi khái quát về thị trường kinh doanh trong lĩnh vực Y tế
Từ những mặt tồn tại và hạn chế trên, trong đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục và giải quyết một cách tốt nhất Cụ thể, đề tài này sẽ phân tích chi
phí trong mối quan hệ với doanh thu và lợi nhuận, để thấy được ảnh hưởng của chi phí đến kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân tích một số chỉ tiêu và mối quan hệ giữa những chỉ tiêu này Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài là một công ty chuyên kinh doanh mặt hàng TBYT Với mong muốn đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty, và giúp công ty thấy được
sự phân bổ chi phí đã hợp lí chưa, nếu chưa thì có hướng khắc phục là gì? Đồng thời, qua đây mong muốn giúp được các công ty lựa chọn chiến lược
sản phẩm trong lĩnh vực kinh doanh y tế
PHẦN 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 30Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 tập trung vào một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh như: danh mục sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận, tình hình nộp ngân sách, chi phí và cơ cấu chi phí, cơ cấu giá sản phẩm trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2005
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp hồi cứu mô tả, thu thập số liệu về một số kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 từ: danh mục sản phẩm, báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán, báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, bảng các khoản mục phí… trong giai đoạn từ năm
2000 đến 2005
Các số liệu sau khi được thu thập được phân tích xử lí bằng cách phân chia riêng theo từng chỉ tiêu:
So sánh (lập bảng, đồ thị) theo từng chỉ tiêu giữa các năm để phân tích
xu hướng biến động của từng chỉ tiêu riêng biệt trong 6 năm nghiên cứu:
- Danh mục sản phẩm của công ty
- Doanh thu: so sánh định gốc, so sánh liên hoàn giữa các năm
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận: so sánh định gốc, so sánh liên hoàn giữa các năm
- Tiền lương, năng suất lao động bình quân: so sánh giữa các năm
- Tình hình nộp ngân sách trong 6 năm nghiên cứu,
- Chi phí và cơ cấu chi phí qua các năm
- Cơ cấu giá thành sản phẩm trong từng năm
Tổng hợp, phân tích các kết quả so sánh theo từng chỉ tiêu để thấy được mối liên quan giữa các chỉ tiêu với nhau
- Phân tích mối quan hệ: Chi phí – Doanh thu – Lợi nhuận
- Phân tích mối quan hệ: Doanh thu – Năng suất lao động
Trang 31- Phân tích ảnh hưởng của chi phí, lợi nhuận lên cơ cấu giá
So sánh các chỉ về hiệu quả sử dụng vốn, số vòng quay vốn lưu động, năng suất lao động bình quân giữa Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 với Công ty Dược phẩm Trung ương 1 trong cùng giai đoạn 2000-2005 để định hướng phát triển kinh doanh trong tương lai
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê toán học
Trang 32PHẦN 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 PHÂN TÍCH MỘT SỐ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 3.1.1 Danh mục sản phẩm của công ty giai đoạn 2000-2005
Danh mục sản phẩm do Công ty cung ứng rất đa dạng, bao gồm các thiết bị, dụng cụ, vật tư tiêu hao, hoá chất xét nghiệm, hoá chất chống dịch (Phụ lục 1) Trong đó có những sản phẩm giá trị cao, công nghệ hiện đại như: máy cộng hưởng từ, kính hiển vi điện tử ; những hàng hoá điều kiện bảo quản đặc biệt, hạn sử dụng ngắn như: vaccine phòng bệnh, các test sinh hoá hoặc các dược chất phóng xạ Các mặt hàng thiết yếu (theo danh mục của Bộ
Y Tế) phải dự trữ theo cơ số qui định Dưới đây là một số mặt hàng chủ lực,
có doanh số cao, tiêu thụ thường xuyên:
Bảng 3.2 Một số mặt hàng chủ lực và nguồn nhập
6 Máy huyết áp kế, ống nghe bệnh, bơm kim tiêm Nhật, Trung quốc, Mỹ
7 Thiết bị chẩn đoán (X.quang, chụp cắt lớp, siêu âm…) Mỹ, Nhật, Đức
8 Thiết bị điều trị (máy thở, xông khí dung, phóng xạ…) Mỹ, Nhật, Đức
9 Máy xét nghiệm (XN huyết học, sinh hoá…) Mỹ, Nhật, Đức, Italia…
Ngoài ra, tuỳ vào tình hình kinh doanh, danh mục sản phẩm có thể được bổ sung khi các đơn vị sử dụng có nhu cầu Năm 2003, dịch viêm đường hô hấp cấp – SARS xuất hiện ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phòng và điều trị bệnh tại các bệnh viện, khu dân cư… công ty đã nhập và cung cấp các máy thở, máy phun thuốc khử trùng, Monitor theo dõi bệnh nhân, khẩu trang với số lượng lớn, kịp thời góp phần ngăn chặn sự bùng phát dịch và thu về lợi nhuận cho DN
Trang 33Công ty thường xuyên tham gia đấu thầu cung cấp hàng hoá cho các chương trình quốc gia, các dự án ODA
3.1.2 Phân tích doanh thu
Để thấy được quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty cần xét đến chỉ tiêu doanh thu:
Bảng 3.3 So sánh doanh thu qua các năm Chỉ tiêu
Trang 34Hình 3.4 Doanh thu bán hàng qua các năm
Các kết quả trên là do các nguyên nhân sau:
- Năm 2002, công ty trúng thầu cung cấp hoá chất diệt muỗi Fendona cho chương trình “Quốc gia phòng chống sốt rét” do nguồn vốn ODA, ADB tài trợ, doanh số bán lên đến trên 50 tỷ đồng, chiếm gần 45% doanh thu 2002
- Năm 2003, doanh thu của công ty cũng có sự tăng trưởng rõ rệt do kịp thời nắm bắt thời cơ nhập khẩu và cung ứng hàng phòng chống dịch SARS
- Năm 2004, doanh thu bán hàng đột ngột giảm do công ty chuẩn bị cổ phần hoá, hoạt động kinh doanh bị hạn chế
- Năm 2005, doanh thu tăng cao do CPH, hoạt động kinh doanh được đẩy mạnh, thêm vào đó đại dịch cúm gà làm tăng nguồn chi ngân sách dành cho mua sắm trang thiết bị, hoá chất phục vụ công tác phòng chống dịch
Doanh thu bán hàng của công ty có những sự đột biến trong các năm đều có những lí do riêng, tuy nhiên về cơ bản, hàng năm công ty vẫn luôn có được những mặt hàng chủ đạo, đảm bảo doanh thu ổn định
Trang 353.1.3 Phân tích lợi nhuận
3.1.3.1 Phân tích cơ cấu lợi nhuận
Cơ cấu lợi nhuận của Công ty Thiết bị y tế Trung ương 1 được hình thành từ
3 nguồn lợi nhuận là: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận bất thường Cơ cấu các khoản lợi nhuận này trong giai đoạn 2000-2005 thể hiện chi tiết trong bảng 3.4
Bảng 3.4 Cơ cấu lợi nhuận qua các năm
Hình 3.5 Cơ cấu lợi nhuận qua các năm
Tổng lợi nhuận của công ty từ năm 2000 -2003 tăng nhanh, năm 2004 thì giảm đột ngột, đến năm 2005 lại có sự tăng bất thường Để thấy được bước nhảy lớn hay nhỏ ta tiến hành so sánh giá trị lợi nhuận giữa các năm liền kề
Trang 36Như vậy, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận nhìn chung có độ biến thiên không đồng đều Nhưng để giải thích được những điều này cần phải căn cứ vào sự biến thiên của thành phần trong cơ cấu hình thành tổng lợi nhuận
Lợi nhuận của công ty thu được trong mỗi năm đều từ 3 nguồn, tương ứng với 3 hoạt động của công ty: hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác Trong đó, tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất
a/ Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: chiếm dưới 12,85% tổng lợi nhuận,
bao gồm: hoạt động vay và gửi tiền ngân hàng, mua cổ phiếu, mua ngoại tệ, cho thuê tài sản cố định Lợi nhuận từ hoạt động tài chính thay đổi bất thường, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
- Quy mô hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty và lợi nhuận từ hoạt động này Do vốn kinh doanh hạn chế, để mở rộng quy mô kinh doanh công ty cần phải vay lãi ngân hàng Sau mỗi kỳ kinh doanh lợi nhuận kinh doanh sẽ trả một phần cho lãi vay ngân hàng Nếu lãi kinh doanh lớn, có thể trả lãi và một phần mở rộng vốn kinh doanh cho năm sau, công ty sẽ được thu
từ hoạt động tài chính Ngược lại, nếu làm ăn thua lỗ không trả được lãi vay thì lợi nhuận tài chính sẽ âm
- Sự thay đổi của tỷ giá ngoại tệ, thời điểm mua ngoại tệ
- Chênh lệch thời hạn thanh toán
Các yếu tố trên nếu tạo ra lợi nhuận thì đều được công ty xếp vào lợi nhuận
do lãi suất tiền gửi, và thường chiếm khoảng 93- 96% lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Trang 37- Đầu tư cổ phiếu: của các công ty MEINFA, công ty cổ phần TBYT VIMEC, công ty cao su y tế MERUFA Lợi nhuận từ hoạt động này chiếm 4-7% lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính trong các năm 2002 và 2004 đạt giá trị
âm, điều này có thể giải thích là do:
Năm 2002, quy mô kinh doanh của công ty (chỉ tiêu doanh thu bán hàng) tăng so với năm liền kề 2001 là 46,46% (bảng 3.4) Vì vậy, nhu cầu về vốn nhiều mà nguồn vốn tự có lại ít Công ty đã phải vay ngân hàng với số lượng lớn, nên trả lãi vay ngân hàng chiếm tỷ lệ lớn trong mục chi cho tài chính trong năm
Năm 2004, quy mô kinh doanh của công ty giảm so với năm 2003, lợi nhuận thu được không đủ đáp ứng các khoản chi cho tài chính
b/ Lợi nhuận khác:
Thu được từ thanh lý TSCĐ, thu các khoản nợ khó đòi, cho thuê kho, văn phòng Lợi nhuận bất thường của công ty chiếm tỷ lệ từ 32%-39%, riêng năm 2004 lợi nhuận này chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức lợi nhuận, do bù đắp một phần lỗ từ hoạt động bán hàng và hoạt động tài chính
Năm 2000-2001 công ty có sản xuất máy điện châm, nhưng do không thể cạnh tranh được với máy Trung Quốc, nên sau đó công ty đã thanh lý máy sản xuất và bán hàng tồn kho còn lại khiến năm 2002 và 2003 lợi nhuận bất thường tăng 20% và 28% so với năm 2001
3.1.3.2 Lợi nhuận kinh doanh và tỷ suất lợi nhuận
Kết quả bán hàng và cung cấp dịch vụ được thể hiện trong bảng 3.5
Trang 38Bảng 3.5 Kết quả từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ
(Đơn vị: Nghìn đồng)
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu thuần hàng bán Giá vốn LN gộp CF bán hàng CF quản lý DN (lãi ròng) LN KD
- Giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ, chiếm từ 86,92- 92,58% Giá vốn hàng bán có sự biến thiên cùng chiều với sự biến thiên của doanh thu, và có giá trị cao nhất vào năm 2005
- LN gộp của công ty chiếm từ 7,42-13,08% doanh thu LN gộp nhìn chung
có sự biến động cùng chiều mới mức biến động của doanh thu Riêng năm
2005, doanh thu tăng nhưng LN gộp lại giảm Điều này là do giá vốn hàng bán năm 2005 tăng lên một lượng lớn hơn mức tăng của doanh thu bán hàng
- Chi phí bán hàng chiếm tỷ lệ tương đối ổn định từ 3,10-4,76% trên doanh thu