1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và cách xử trí trên bệnh nhân điều trị lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi trung ương

64 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 833 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THỦY KHẢO SÁT TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC CHỐNG LAO VÀ CÁCH XỬ TRÍ TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TRUNG ƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC HÀ

Trang 1

NGUYỄN THỊ THỦY

KHẢO SÁT TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC CHỐNG LAO VÀ CÁCH XỬ TRÍ TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THỦY

KHẢO SÁT TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC

CHỐNG LAO VÀ CÁCH XỬ TRÍ TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ VÀ DƯỢC LÂM SÀNG

Mã số: 60-73-05

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS TRẦN THỊ DUNG

TS VŨ THỊ TRÂM

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

WHO: World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới) DOTS: Directly Observed Therapy Short Course (Hóa trị liệu

ngắn ngày có kiểm soát) ADR: Adverse Drug Reaction (Tác dụng không mong muốn

của thuốc) ADE: Adverse Drug Event (Biến cố có hại của thuốc)

FDA: U.S.Food and Drug Administration (Cục quản lý dược

phẩm và thực phẩm Mỹ) ASAT: Aspartat transaminase (chỉ số men gan)

ALAT: Alanin aminotransferase (chỉ số men gan)

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Thuốc chống lao chủ yếu và hóa trị liệu bệnh lao tại Việt Nam 3

1.1.1 Các thuốc chống lao chủ yếu 3

1.1.2 Hóa trị ngắn ngày sử dụng tại Việt Nam 9

1.2 Định nghĩa và phân loại các tác dụng không mong muốn của thuốc 10

1.2.1 Định nghĩa tác dụng không mong muốn 10

1.2.2 Phân loại ADR 11

1.2.3 Các nguyên nhân gây ra tác dụng không mong muốn của thuốc 12

1.2.4 Các biểu hiện lâm sàng của tác dụng không mong muốn của thuốc 14

1.2.5 Tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và cách xử trí 18

1.3 Các thuốc chống lao và các thuốc hỗ trợ điều trị triệu chứng các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao được sử dụng tại bệnh viện Lao và bệnh phổi trung ương 19

1.3.1 Các thuốc chống lao 19

1.3.2 Các thuốc hỗ trợ điều trị khi xảy ra ADR 19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2 Lấy mẫu 20

2.2.3 Phân loại ADR 21

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.5 Xử lý số liệu 22

Chương 3: KẾT QUẢ 23

3.1 Những tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao biểu hiện trên lâm sàng 23

3.1.1 Tỉ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn và một số yếu tố lien quan 23

3.1.2 Mức độ và các triệu chứng biểu hiện tác dụng không mong muốn 27

3.1.3 Thời gian từ khi dùng thuốc đến khi gặp tác dụng không mong muốn 29

3.1.4 Tần suất xuất hiện ADR và mức độ ADR của từng phác đồ điều trị 29

3.2 Các biện pháp can thiệp (phương pháp xử trí, chi ph, kết quả) của bác sĩ khi xảy ra tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao 30

Trang 5

3.2.3 Hỗ trợ điều trị triệu chứng, kết quả xử trí, chi phí 34

3.3 Số ngày điều trị trung bình tại bệnh viện của nhóm bệnh nhân gặp ADR so với nhóm bệnh nhân không gặp ADR 35

3.4 Kết quả điều trị khi ra viện 35

Chương 4: BÀN LUẬN 37

4.1 Về tác dụng không mong muốn của thuốc 37

4.1.1 Tỉ lệ bệnh nhân gặp ADR và một số yếu tố liên quan 37

4.1.2 Mức độ và các triệu chứng biểu hiện tác dụng không mong muốn 38

4.1.3 Thời gian xuất hiện ADR 40

4.1.4 Tần suất xuất hiện ADR ở các phác đồ điều trị 40

4.2 Việc xử trí ADR (phương pháp xử trí, kết quả xử trí, chi phí) của các bác sĩ 40

4.2.1 Làm phản ứng Mastocyt, giải mẫn cảm 40

4.2.2 Can thiệp công thức điều trị 41

4.2.3 Dùng thuốc hỗ trợ điều trị triệu chứng 41

4.3 Số ngày điều trị trung bình tại bệnh viện 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

Kết luận 44

Kiến nghị 45

Trang 7

Bảng 3.1 Tiền sử liên quan đến ADR của 220 bệnh nhân gặp ADR………… 23

Bảng 3.2 Tình hình có bệnh mắc kèm của 220 bệnh nhân gặp ADR……… 24

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân gặp ADR của thuốc chống lao trên lâm sàng theo nhóm tuổi……… 24

Bảng 3.4 So sánh tần suất xuất hiện ADR theo nhóm tuổi……… 25

Bảng 3.5 Tần suất xuất hiện ADR theo giới tính……… 25

Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân gặp ADR của thuốc chống lao theo thể lao……… 26

Bảng 3.7 Tần suất xuất hiện ADR theo thể lao……… 26

Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân có bệnh kèm theo……… 27

Bảng 3.9 Các triệu chứng biểu hiện trên lâm sàng của ADR ở 220 bệnh nhân……… 28

Bảng 3.10 Phân bố bệnh nhân theo thời gian xuất hiện ADR……… 29

Bảng 3.11 Tần số xuất hiện ADR của từng phác đồ điều trị……… 29

Bảng 3.12 Tần suất xuất hiện ADR theo phác đồ điều trị……… 30

Bảng 3.13 Các trường hợp phải cắt 1,2 hoặc 3 thuốc chống lao trong phác đồ điều trị……… 32

Bảng 3.14 Các trường hợp phải thay thế thuốc điều trị lao……… 33

Bảng 3.15 Kết quả sử dụng thuốc hỗ trợ chức năng gan trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu……… 34

Bảng 3.16 Kết quả xử trí các triệu chứng ADR khác……… 34

Bảng 3.17 Chi phí trung bình thuốc hỗ trợ trong một ngày điều trị của các bệnh nhân gặp ADR……… 35

Bảng 3.18 So sánh số ngày điều trị trung bình tại bệnh viện của nhóm bệnh nhân gặp ADR và không gặp ADR……… 35

Bảng 3.19 Bảng kết quả điều trị tính đến ngày xuất viện……… 36

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm khuẩn Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 1/3 dân số thế giới đã nhiễm lao Hàng năm có khoảng 9 triệu người mắc lao mới và khoảng 3 triệu người chết vì lao [58] Việt Nam là nước đứng thứ 13 trong 22 nước trên thế giới có tình hình bệnh lao nặng nề [13] Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 154000 người mới mắc bệnh, trong đó có khoảng 69000 người khạc ra trực khuẩn lao, số người chết do lao chừng 20800 người [13]

Sự ra đời và phát triển của chương trình “Hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soát” (DOTS) đã làm cho tình hình bệnh lao được cải thiện đáng kể Theo báo cáo

“Kiểm soát lao toàn cầu năm 2003” của WHO, có 155/210 nước trên thế giới thực hiện DOTS, 61% dân số thế giới được cung cấp dịch vụ của DOTS Ở Việt Nam, đến năm 2000, chiến dịch DOTS được thực hiện trên 100% tỉnh thành trong cả nước

Do đặc tính của trực khuẩn lao là loại vi khuẩn khó diệt, dễ kháng thuốc nên việc điều trị lao phải đảm bảo nguyên tắc chặt chẽ: phối hợp ít nhất 3 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công, những nơi có tỉ lệ kháng thuốc cao cần phối hợp 4 thuốc trong giai đoạn tấn công, sau đó dùng 2-3 loại trong giai đoạn duy trì; phải dùng đúng liều, dùng thuốc đều đặn, đủ thời gian (ít nhất là 6 tháng) và điều trị có kiểm soát [9],[11],[28]

Đặc điểm sử dụng thuốc cần phải sử dụng một lúc đồng thời nhiều thuốc và phải dùng trong thời gian kéo dài, kết hợp với đặc điểm mỗi thuốc chống lao đều

có tác dụng không mong muốn trên bệnh nhân nên việc xảy ra ít hay nhiều tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao trên bệnh nhân là không thể tránh khỏi Theo số liệu báo cáo ADR gửi tới trung tâm ADR phía bắc năm 2003-2006 tỉ

lệ ADR của thuốc chống lao là 14,7% chiếm vị trí thứ 2 (sau nhóm kháng sinh beta lactam) trong số các báo cáo ADR gửi tới trung tâm [15] Và việc tìm cách khắc phục tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao trên bệnh nhân là một trong những chỉ định điều trị của bác sĩ

Trang 9

Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu:

+ Khảo sát tác dụng không mong muốn (ADR) của thuốc chống lao trên bệnh nhân điều trị lao tại bệnh viện Lao và bệnh phổi trung ương từ tháng 11/2005 đến tháng 11/2007

+ Khảo sát việc xử trí (phương pháp xử trí, kết quả xử trí, chi phí) các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao tại bệnh viện

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 THUỐC CHỐNG LAO CHỦ YẾU VÀ HÓA TRỊ LIỆU BỆNH LAO TẠI VIỆT NAM:

1.1.1 Các thuốc chống lao chủ yếu:

Hiện nay Tổ chức Y tế thế giới đã qui định có 06 loại thuốc chống lao chủ yếu là isoniazid, rifampicin, pyrazinamid, streptomycin, ethambutol và thiacetazon [11] Tại Việt Nam, chương trình chống lao quốc gia qui định 05 thứ thuốc chống lao chủ yếu là isoniazid, rifampicin, pyrazinamid, streptomycin, ethambutol (bỏ thiacetazon do gặp nhiều tác dụng không mong muốn) Dựa vào cơ chế tác dụng của thuốc, người ta chia ra làm hai nhóm: nhóm diệt khuẩn và nhóm kìm khuẩn Thuốc chống lao chủ yếu Tác dụng của thuốc Hiệu quả

1.1.1.1 Isoniazid (INH):

INH được tìm ra năm 1912, nhưng đến năm 1952 mới được sử dụng để điều trị bệnh lao Thuốc có tác dụng diệt khuẩn do ức chế sinh tổng hợp acid mycolic (một thành phần thiết yếu của vách tế bào vi khuẩn lao)[5],[41]

INH dùng chủ yếu qua đường uống, được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá Khi đói, uống liều 5mg/kg, INH hấp thu hầu như hoàn toàn, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương là 3-5mcg/ml INH phân phối tốt trong cơ thể với nồng độ xấp

xỉ nồng độ thuốc trong huyết thanh Khuếch tán dễ ở dịch não tuỷ, dịch màng phổi INH chuyển hoá qua gan, đào thải chủ yếu qua thận

Tác dụng không mong muốn: Thực tế lâm sàng cho thấy khoảng 5,4% tổng số

người điều trị bằng INH xuất hiện tác dụng không mong muốn Thường gặp nhất

là rối loạn chức năng gan và nguy cơ này tăng lên theo tuổi người bệnh Tổn thương gan rất hiếm xảy ra ở người dưới 20 tuổi, các biến chứng xảy ra ở độ tuổi

Trang 11

20-34 chiếm 0,3%, tăng lên 1,2% ở độ tuổi 35-49 và 2,3% ở những người trên 50 tuổi [42],[59] Theo nghiên cứu đa trung tâm của Combs và cộng sự (1990) phân tích từ 617 bệnh nhân điều trị hoá trị liệu ngắn ngày có INH, RMP, PZA hàng ngày trong 8 tuần tấn công và 16 tuần duy trì cho thấy 23,2% bệnh nhân có tăng enzym gan và tỉ lệ viêm gan rõ có triệu chứng lâm sàng là 1,6%[49] Tương tự, nghiên cứu khác cho thấy trong số 445 bệnh nhân điều trị hoá trị liệu 9 tháng bằng INH và RMP có 27,1% tăng enzym gan và 1,4% tỉ lệ viêm gan có triệu chứng lâm sàng (rối loạn tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, nôn, vàng da), khoảng 5% phụ thuộc tuổi, quần thể bệnh và tiền sử bệnh gan

Trang 12

Cơ chế gây độc cho gan của INH có thể giải thích theo sơ đồ sau [37]

Phối hợp RMP và INH làm tăng tỉ lệ viêm gan do RMP gây cảm ứng enzym gan làm tăng chuyển hoá INH tạo các sản phẩm độc với gan (như sơ đồ trên)

INH có thể gây các rối loạn tiêu hoá như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau vùng thượng vị [5]

Tỉ lệ viêm dây thần kinh ngoại biên chiếm 10-29% số trường hợp, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân dùng liều cao và kéo dài, biểu hiện là tê bì tay chân

Oxy hoá (P-450)

Oxy hoá (P-450)

Acetyl hoá

Acetyl hoá

Diacetylhydrazin (Không độc) Hydrazon

Acid acetic Gắn protein tế bào gan

Trang 13

Ngoài ra, INH còn gây các phản ứng quá mẫn như mày đay, mẩn ngứa [5] Liều : Uống 5-10mg/kg (thường dùng 300mg/ngày)[5],[11]

1.1.1.2 Rifampicin (RMP):

RMP được tìm ra vào năm 1966, có tác dụng diệt khuẩn thông qua ức chế enzym RNA polymerase của vi khuẩn lao, làm cho quá trình sao chép ARN và sinh tổng hợp protein ở vi khuẩn lao không thực hiện được[5]

Uống hấp thu hoàn toàn qua đường tiêu hoá (sinh khả dụng khi đói là 100%) Uống liều 600mg, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau 2 - 4giờ là 7-9mcg/ml (phần lớn chủng BK bị ức chế invitro với nồng độ là 0,5mcg/ml)

Tác dụng không mong muốn : Thường gặp là kích ứng đường tiêu hoá gây

chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy [5]

RMP gây tăng bilirubin máu trong những ngày đầu và sẽ giảm trong vòng hai tuần [53] Theo nghiên cứu của Lưu Thị Nhẫn và Nguyễn Đình Kim trong 302 trường hợp điều trị có 3 trường hợp tăng bilirubin máu [26]

RMP có thể gây viêm gan nhiễm độc, hay gặp khi dùng RMP liều cao, ở bệnh nhân suy gan, ở trẻ nhỏ

Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có tăng enzym gan sau một tháng điều trị bằng phác đồ có RMP, INH và PZA là tương đối cao (25 – 27%), nhưng enzym gan lại trở về bình thường sau 2 tháng điều trị Tỉ lệ bệnh nhân biểu hiện trên lâm sàng rất ít [5],[14],[21] Theo Đinh Ngọc Sỹ (1995) nghiên cứu trên 75 bệnh nhân trong giai đoạn tấn công của phác đồ điều trị RMP, INH, PZA có 2 bệnh nhân tăng enzym gan kèm theo sốt, vàng da [28]

Nghiên cứu của Trần Văn Thắng (1999) cho thấy bệnh nhân tăng enzym gan cao gấp đôi, so với điều trị 4 tuần có 28,19%, sau 8 tuần có 7,1% nhưng không có trường hợp nào biểu hiện triệu chứng lâm sàng của viêm gan [29]

Nghiên cứu của Vũ Quang Diễn, Nguyễn Văn Đông và Đỗ Thị Hạnh Trang còn cho thấy có tăng creatinin trong máu sau 1 tháng điều trị, nhưng chỉ tăng nhẹ trong giới hạn bình thường [19],[21][30]

Trang 14

Trên thần kinh, RMP có thể gây ngủ gà, mất điều hoà vận động, khó tập trung

ý nghĩ Đôi khi gây viêm kết mạc mắt Hiếm khi gặp các trường hợp giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu ưa eosin và thiếu máu tan máu

Ngoài ra, RMP có thể gặp các trường hợp dị ứng, mày đay, mẩn ngứa [5],[33] Liều dùng: Uống 10mg/kg (tối đa 600mg/kg)

Sau khi uống liều 1,5g, nồng độ đỉnh đạt là 35mcg/ml sau 2giờ [5]

Tác dụng không mong muốn: hay gặp nhất của PZA là độc với gan (phụ thuộc

liều) Theo nghiên cứu của Girling năm 1984, tỉ lệ điều trị lao có PZA gây viêm gan là 0,2% ở Châu Phi; 0,6% ở Hồng Kông và 2,8% ở Singapore [40] Khi uống liều 3g/ngày (40-50mg/kg thể trọng), khoảng 15% trường hợp xuất hiện các dấu hiệu độc với gan, trong đó khoảng 2-3% bệnh nhân bị vàng da, phần lớn dấu hiệu bất thường xảy ra sớm nhất là tăng ASAT và ALAT Rất hiếm gặp trường hợp bệnh nhân tử vong do hoại tử tế bào gan Sau khi dùng thuốc, thời gian đầu có thể tăng transaminase máu nhưng tiếp tục sử dụng thì phần lớn các trường hợp transaminase trở lại bình thường [9] Tất cả bệnh nhân điều trị bằng PZA phải kiểm tra chức năng gan trước khi dùng thuốc và trong cả quá trình điều trị Nếu có dấu hiệu tổn thương chức năng gan nghiêm trọng phải ngừng điều trị Một số nghiên cứu cho thấy với liều điều trị thông thường, tỉ lệ viêm gan không tăng lên khi có thêm PZA vào phác đồ điều trị có INH và RMP [43],[44]

Trong một nghiên cứu trên 519 bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ có INH, RMP, PZA có 121 trường hợp gặp ADR, chiếm 23%, trong đó 11% độc với gan, 6% ban da, dị ứng và 2% bệnh nhân có biểu hiện đau khớp PZA là thuốc gây ADR cao nhất, chiếm 15%, còn INH và RMP lần lượt là 7% và 1,5% [49] De-Souza A.F và cộng sự (1996) nghiên cứu trên người bệnh dùng phối hợp RMP,

Trang 15

INH và PZA cho thấy có 6% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm có tổn thương gan, trong đó 31% tăng bilirubin máu, 69% tăng enzym gan, tổn thương gan ở mức độ nhẹ và nhanh chóng trở về bình thường [38] Dossing, M và cộng sự (1996) thấy 16% bệnh nhân tăng enzym gan >2 lần bình thường khi dùng phối hợp giữa INH, RMP và PZA và mặc dù có những bệnh nhân tăng enzym gan gấp 6 lần bình thường nhưng vẫn sử dụng thuốc chống lao được [39]

PZA còn gây tăng acid uric máu do cơ chế làm giảm đào thải acid uric thận bởi acid pyrazinoic, chất chuyển hoá chính của PZA Trên xương khớp: thuốc có thể làm đau các khớp lớn và nhỏ, đã có nhiều trường hợp xảy ra cơn gút cấp [5] Theo một nghiên cứu đa trung tâm, thấy ở bệnh nhân điều trị lao bằng INH, PZA, RMP sau 8 tuần có tỉ lệ bệnh nhân đau khớp là 1%, tăng acid uric máu là 52,2%; trong khi những bệnh nhân điều trị bằng INH và RMP thì tỉ lệ đau khớp là 0%, tăng acid uric máu là 5,2% [49]

Các tác dụng không mong muốn khác là buồn nôn, nôn, chán ăn, bí tiểu, sốt, khó chịu [33]

Liều thường dùng: Uống 20-30mg/kg [5], [11]

1.1.1.4 Ethambutol (EMB):

Ethambutol là thuốc kìm khuẩn Hấp thu nhanh qua ống tiêu hoá (75-80%)

2-4 giờ sau khi uống và đạt nồng độ đỉnh trong huyết thanh là 3-5mcg/ml với liều 25mg/kg (phần lớn chủng BK bị ức chế invitro với nồng độ 1,5mcg/ml) [5], [41] Ethambutol chỉ có tác dụng trên tế bào BK đang phát triển [9], [33]

Tác dụng không mong muốn: Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất của

EMB là độc với thần kinh thị giác dẫn đến giảm thị lực và mất khả năng phân biệt màu đỏ và xanh [5],[49] Tai biến tỉ lệ với liều dùng:

<1% giảm thị lực ở liều 15mg/kg

5% giảm thị lực ở liều 25mg/kg

15% giảm thị lực ở liều 50mg/kg

Trang 16

Mức độ giảm thị lực liên quan đến thời gian điều trị sau khi triệu chứng về thị lực xuất hiện [42] Không dùng EMB cho người bị suy giảm thị lực và không dùng EMB cho trẻ nhỏ vì trẻ không phát hiện được giảm thị lực [33]

Các tác dụng không mong muốn khác là rối loạn tiêu hoá và phản ứng dị ứng [5],[48]

Liều dùng: Uống 25mg/kg trong 8 tuần đầu

15mg/kg trong các tuần tiếp theo

1.1.1.5 Streptomycin (SM):

Lần đầu được chiết xuất từ nấm Streptomyces griseus vào năm 1944 Có tác

dụng diệt khuẩn bằng cách gắn vào phần 30S của ribosom, làm cho quá trình sinh tổng hợp protein của vi khuẩn không thực hiện được [5], [33], [41]

Nồng độ đỉnh là 25-50mcg/ml đạt được sau khi tiêm bắp 1g streptomycin 1giờ

Tác dụng không mong muốn: SM có thể gây viêm dây thần kinh số VIII, với

nhánh tiền đình gây chóng mặt, ù tai, mất thăng bằng khi nhắm mắt, có thể phục hồi được; với nhánh ốc tai gây điếc không hồi phục Khả năng độc với tiền đình ở trẻ em cao hơn ở người lớn Khoảng 30% tai biến trên tiền đình xảy ra khi dùng liều 1g/ngày trong 4 tháng; 5% đến 15% trường hợp bị suy giảm nhẹ khả năng nghe

SM gây dị ứng ở nhiều mức độ: nổi mẩn, sốt và có các ban đỏ da toàn thân, nặng nhất là sốc phản vệ có thể gây tử vong [18]

Thuốc có thể gây tê quanh môi, cảm giác như kiến bò sau khi tiêm

SM gây độc với thận, do thuốc tích luỹ ở tế bào ống thận dẫn tới làm tăng ure và creatinin máu, làm giảm độ thanh thải creatinin

Liều dùng: Người lớn: Tiêm 1g/ngày hoặc 15mg/kg [5], [11]

Trẻ em: Tiêm 10mg/kg

1.1.2 Hoá trị ngắn ngày sử dụng tại Việt Nam [11]:

+ Trường hợp lao mới, có thể áp dụng công thức 2SHRZ/6HE

+ Công thức dùng cho lao trẻ em: 2RHZ/4RH

Trang 17

+ Công thức điều trị lại: 2SHRZE/1HRZE/5RR 3 RHR 3 RER 3 R

Các trường hợp lao nặng như lao kê, lao màng não, lao cột sống biến chứng thần kinh có nguy cơ đe doạ tính mạng người bệnh có thể kéo dài thời gian dùng thuốc (tuỳ thuộc mức độ bệnh)

1.2 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI CÁC TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC:

1.2.1 Định nghĩa: Tác dụng không mong muốn (Adverse Drug Reaction – ADR)

Năm 1972 Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa chính thức về tác dụng

không mong muốn của thuốc là “Tác dụng không mong muốn của thuốc là một phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người

để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh

lý (định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai

liều, dùng liều cao có chủ định hoặc vô tình) [7], [8], [50]

Hiện nay, trung tâm ADR quốc gia đang sử dụng định nghĩa năm 1972 của WHO để thu thập báo cáo ADR

Năm 2000, WHO dùng một định nghĩa khác về ADR:

“ Tác dụng không mong muốn của thuốc là một phản ứng gây hại đáng kể hoặc bất lợi xảy ra sau một can thiệp có liên quan đến việc sử dụng dược phẩm Một phản ứng có hại có thể là cơ sở để dự đoán được mức độ nguy hại của việc sử dụng thuốc này để phòng, điều trị hoặc hiệu chỉnh liều, hoặc ngừng thuốc” [50]

Với mục đích thu thập báo cáo về ADR, Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ dùng định nghĩa sau:

“ Tác dụng không mong muốn của thuốc là một biến cố bất lợi liên quan đến việc sử dụng thuốc cho người, có hoặc chưa được coi là liên quan đến thuốc, bao gồm: biến cố bất lợi xảy ra trong khi sử dụng thuốc trong hoạt động y tế, biến cố bất lợi xảy ra do dùng quá liều (cố ý hoặc vô tình), biến cố bất lợi xảy ra do lạm dụng thuốc, biến cố bất lợi xảy ra do ngừng thuốc và bất kỳ dấu hiệu không đạt được tác dụng dược lý vốn có”[46], [50]

Trang 18

Có nhiều trường hợp tai biến phát sinh trong quá trình điều trị mà nguyên nhân chưa được xác định Trong những trường hợp này tai biến không chỉ do thuốc gây ra mà có thể còn do các yếu tố khác như sự tiến triển nặng thêm của bệnh hoặc do một bệnh khác phát sinh, những trường hợp như vậy gọi là biến cố bất lợi của thuốc (ADE: adverse drug event) [7], [8]

Tác dụng phụ là tác dụng không mong muốn của thuốc xảy ra ở liều thường dùng cho bệnh nhân, có liên quan đến các đặc tính dược lý của thuốc [7], [8]

1.2.2 Phân loại ADR [5], [6], [8], [36]:

* Phân loại theo tần suất gặp: - Thường gặp: ADR>1/100

- Ít gặp: 1/1000<ADR<1/100

- Hiếm gặp: ADR<1/1000

* Phân loại theo mức độ nặng của bệnh do ADR gây ra:

- Nhẹ: không cần điều trị, không cần giải độc và thời gian nằm viện không kéo dài

- Trung bình: Cần có thay đổi trong điều trị, cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài điều trị ít nhất là 1 ngày

- Nặng: Có thể đe doạ tính mạng, gây bệnh tật lâu dài hoặc cần chăm sóc tích cực

- Tử vong: Trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân

* Phân loại theo týp:

- Týp A: tiên lượng được, thường phụ thuộc liều dùng, là tác dụng dược lý quá mức hoặc là biểu hiện của tác dụng dược lý ở một vị trí khác

Ví dụ: chảy máu khi dùng thuốc chống đông máu, tác dụng lên hệ tiêu hoá của các chất ức chế cyclooxygenase không chọn lọc (các NSAID)…

- Týp B: thường không tiên lượng được, không liên quan đến các đặc tính dược lý

đã biết của thuốc, thường có liên quan đến các yếu tố di truyền hoặc miễn dịch, u bướu hoặc các yếu tố gây quái thai

Ví dụ: Dị ứng thuốc là một đại diện điển hình của ADR týp B

Trang 19

1.2.3 Các nguyên nhân gây ra tác dụng không mong muốn của thuốc [8], [36]:

Các ADR dù ở týp nào cũng liên quan đến 3 nhóm nguyên nhân:

- Liên quan đến bào chế (gặp ở cả 2 týp)

- Liên quan đến sự thay đổi dược động học (gặp nhiều ở týp A)

- Liên quan đến sự thay đổi dược động học do các yếu tố về di truyền và bệnh lý

ở bệnh nhân dẫn đến thay đổi sự nhạy cảm của cơ quan đích đối với thuốc (gặp nhiều ở týp B)

1.2.3.1 Các nguyên nhân về bào chế:

- Các nguyên nhân về bào chế gây tác dụng không mong muốn của thuốc týp A: sai sót về hàm lượng thuốc, tốc độ giải phóng dược chất cao

- Các nguyên nhân về bào chế gây ra các tác dụng không mong muốn của thuốc týp B: sự phân huỷ các thành phần dược chất, tác dụng của các tá dược có trong thành phần dược phẩm, tác dụng của các sản phẩm phụ trong quá trình tổng hợp dược chất

1.2.3.2 Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược động học:

- Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược động học (các giai đoạn hấp thu, phân bố, chuyển hoá đào thải) gây ra tác dụng không mong muốn của thuốc týp A

do làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương và mô đích

- Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược động học gây nên tác dụng không mong muốn của thuốc týp B: sự liên kết của các chất chuyển hoá có hoạt tính của thuốc có thể gây độc trực tiếp hoặc gây độc qua trung gian miễn dịch Cơ chế gây ADR có thể do sự liên kết của chất chuyển hoá với một protein của cơ thể, phức hợp tạo thành có thể dẫn tới hoại tử tế bào (tác dụng gây độc trực tiếp) hoặc các chất chuyển hoá và tham gia vào một phản ứng miễn dịch

1.2.3.3 Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược lực học:

- Các nguyên nhân liên quan đến thay đổi dược lực học gây tác dụng không mong muốn của thuốc týp A: một số ADR týp A là do tăng độ nhạy cảm của các mô hoặc cơ quan đích, nguyên nhân còn chưa rõ ràng nhưng nhiều bằng chứng cho

Trang 20

thấy mức độ nhạy cảm của các thụ thể của thuốc tại cơ quan đích bị thay đổi hoặc thay đổi cơ chế điều hoà liên quan đến sinh lý hoặc bệnh lý

- Các nguyên nhân về dược lực học gây nên các tác dụng không mong muốn của thuốc týp B: được xếp vào hai nhóm là các bất thường về gen và các phản ứng miễn dịch tạo ra các đáp ứng bất thường của cơ thể đối với thuốc

1.2.3.4 Các yếu tố liên quan đến sự phát sinh ADR:

* Các yếu tố thuộc về bệnh nhân:

- Tuổi: Trẻ sơ sinh và người cao tuổi là những đối tượng có nguy cơ cao

- Giới tính: nói chung không có sự khác biệt lớn về nguy cơ gặp ADR giữa 2 giới, tuy nhiên một số ADR hay gặp ở phụ nữ hơn so với nam giới

- Bệnh mắc kèm: những bệnh mắc kèm có thể làm thay đổi đáp ứng của bệnh nhân đối với thuốc hoặc làm thay đổi dược động học của thuốc, dẫn tới phát sinh ADR

- Tiền sử dị ứng hoặc phản ứng với thuốc: những bệnh nhân có tiền sử dị ứng với một thuốc có thể gặp dị ứng với một số thuốc khác có cấu trúc tương tự

* Các yếu tố thuộc về thuốc:

- Liệu trình điều trị kéơ dài: nhiều ADR ít xuất hiện khi dùng thuốc trong thời gian ngắn, nhưng tỉ lệ tăng lên khi dùng dài ngày

- Điều trị nhiều thuốc: tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi dùng đồng thời nhiều loại thuốc Sự phối hợp này làm thay đổi tác dụng hoặc độc tính của một trong những thứ thuốc đó hoặc xuất hiện một tác dụng mới không thấy có khi dùng riêng từng thuốc

+ Tần suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong một lần điều trị

+ Tương tác thuốc cũng là một yếu tố làm tăng ADR, tương tác bất lợi của các thuốc có thể làm thay đổi sinh khả dụng hoặc làm thay đổi dược lực học của thuốc

do vậy gây ra các ADR trên bệnh nhân [6], [8]

Vấn đề phối hợp thuốc trong điều trị là một thực tế rất cần thiết nhằm lợi dụng tương tác thuốc theo hướng có lợi để tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ,

Trang 21

hoặc để giải độc Tuy nhiên, với cùng một thuốc, ở liều điều trị, khi phối hợp với thuốc này bị giảm hoặc mất tác dụng nhưng khi phối hợp với thuốc khác lại xảy ra ngộ độc [8]

1.2.4 Các biểu hiện lâm sàng của tác dụng không mong muốn của thuốc:

Biểu hiện lâm sàng tác dụng không mong muốn của thuốc thường rất đa dạng, các triệu chứng thường được thể hiện ngoài da, kèm theo tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau

Một số biểu hiện ADR thường gặp ở các cơ quan được tóm tắt dưới đây [20]:

- Trên thần kinh: chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, viêm dây thần kinh ngoại biên, co giật, rối loạn ốc tai – tiền đình, bệnh não do thuốc

- Trên tiêu hoá: buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy hoặc táo bón, chảy máu đường tiêu hoá

- Trên thận: viêm thận thường là đái ít, vô niệu, rối loạn bài tiết

- Trên gan: rối loạn chức năng gan, viêm gan, vàng da

- Trên máu: giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, tan máu, suy tuỷ

- Giác quan: rối loạn thị giác, rối loạn thính giác, rối loạn vị giác

- Chức năng sinh sản: khuyết tật bẩm sinh, quái thai, sinh ung thư

1.2.4.1 Các triệu chứng trên da

- Ban đỏ dát sẩn: ban đỏ thường xuất hiện trong tuần đầu sau khi dùng thuốc

là tai biến gặp nhất Thương tổn là những ban đỏ giống như ban sởi, có thể liên kết thành dát, mảng cách nhau, có thể kèm sốt, có khi ngứa

Các cloramphenicol, rifampicin, streptomycin, thuốc chống viêm không steroid, vaccin đã được ghi nhận là những thuốc đã từng gây ra ban đỏ dát sẩn [20]

- Mày đay/phù mạch: người bệnh có cảm giác nóng bừng mặt, râm ran, rất

ngứa và ở những vùng đó xuất hiện những sẩn phù màu hồng nhạt, đơn độc hay thành đám, thường kèm đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn Các thuốc kháng sinh họ penicilin, dẫn xuất sulfamid, vaccin đã được thông báo là từng gây ADR biểu hiện bằng mày đay/phù mạch [20]

Trang 22

- Đỏ da toàn thân: đỏ da trên diện rộng, có thể toàn bộ cơ thể, thường kèm sốt

cao, bong vảy, đôi khi có bội nhiễm Thuốc có thể gây ra tình trạng này là

penicilin, streptomycin, sulfamid, các thuốc chống sốt rét [1], [20]

- Phù Quincke: trong da và mô dưới da xuất hiện những đám phù nề, đường

kính khoảng 10 cm, gặp ở các vùng da trên khớp, mặt, mi mắt, môi, miệng, thanh

quản bị sưng, phù nề gây khó thở Các thuốc như penicilin, tetracyclin, các

salicylat, indomethacin, paracetamol, aspirin đã được ghi nhận có thể gây phù

Quincke [3], [20], [37]

- Viêm da dị ứng: viêm da dị ứng thường xuất hiện sau khi tiếp xúc với thuốc

vài giờ, biểu hiện bằng các mụn nước kèm ngứa, tiến triển theo từng giai đoạn, có

thể dẫn tới nổi ban đỏ, sưng nề, mưng mọng, cứng, ngứa dữ dội Các thuốc sát

khuẩn, penicillin, ampicilin, aminazin, các histamin tổng hợp thường gây hiện

tượng viêm da dị ứng [1], [32]

- Hội chứng Stevens-Johnson: người bệnh sốt cao, rét run, đau họng, đau

lưng, đau khớp và xuất hiện ban, mệt mỏi, ngứa khắp người, nổi ban đỏ và bọng

nước trên da, viêm loét các hốc tự nhiên (miệng, mắt, tai, mũi, hang, hậu môn, sinh

dục), có thể tổn thương gan, thận, thể nặng dễ gây tử vong Các thuốc gây hội

chứng Stevens-Johnson đã được ghi nhận gồm: penicillin, các tetracyclin,

ampicilin, streptomycin, gentamicin… [3], [20]

- Hội chứng Lyell: hội chứng Lyell còn gọi là hội chứng hoại tử tiêu thượng

bì nhiễm độc Là tình trạng nhiễm độc da dị ứng nghiêm trọng nhất Bệnh xuất hiện vài giờ đến một, hai tuần sau khi dùng thuốc, là tình trạng nhiễm độc da

dị ứng Người bệnh mệt mỏi rã rời, sốt cao, rét run, bàng hoàng, mất ngủ, ngứa

khắp người, trên da xuất hiện nhiều mảng đỏ, đôi khi có những chấm xuất huyết,

vài ngày sau hoặc sớm hơn, lớp thượng bì tách khỏi da, khẽ động tới là trợt tùng

mảng tương tự hội chứng bỏng toàn than, cùng với tổn thương da có thể viêm loét

niêm mạc các hốc tự nhiên, viêm phổi, màng phổi, viêm gan, viêm thận Bệnh

nhân trong tình trạng nhiễm độc nặng, nhanh dẫn đến tử vong Các thuốc có thể

Trang 23

gây hội chứng này là: penicillin, các tetracyclin, ampicilin, streptomycin, barbiturat, acid acetyl salicylic… [1], [24], [32]

1.2.4.2 Một số hội chứng quan trọng khác:

- Sốc phản vệ: phản ứng xuất hiện nhanh, là tai biến nghiêm trọng, dễ gây tử

vong nhất, lưu ý với biểu hiện ngứa bàn tay, bàn chân, tê môi và lưỡi, khó thở, bồn chồn, hốt hoảng, tim đập nhanh, đau đầu, sợ hãi, co giật, choáng váng, đôi khi hôn

mê, tụt huyết áp, niêm mạc nhợt nhạt, đồng tử giãn Có thể xảy ra ngay từ phút đầu tiên, hôn mê, nghẹt thở, tím tái, mạch, huyết áp không đo được Các thuốc được ghi nhận có ADR loại này là: penicillin, ampicilin, kanamycin, lincomycin, các tetracyclin, vitamin C, glucose… [3], [20]

- Bệnh huyết thanh: là bệnh dị ứng do sử dụng các loại huyết thanh như huyết

thanh chống uốn ván, độc tố bạch hầu, ho gà, viêm gan… Đặc điểm cơ bản của bệnh là tổn thương mao mạch và mô liên kết, xuất huyết dưới da, phát ban quanh nơi tiêm, sưng hạch ngoại vi, ngứa, đau đầu, sưng đau khớp, sốt… [20], [36]

- Biểu hiện huyết học: làm thay đổi chỉ số huyết học Hay gặp hơn cả là chứng

mất bạch cầu hạt với biểu hiện sốt cao đột ngột, sức khoẻ suy sụp nhanh, loét, hoại

tử niêm mạc miệng, mũi hang, sinh dục, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm khuẩn huyết

và dễ tử vong Ngoài ra, còn gặp các trường hợp giảm hồng cầu, giảm tiểu cầu gây thiếu máu tan máu hoặc gây xuất huyết do giảm tiểu cầu Các thuốc có thể làm ảnh hưởng đến huyết học gồm: penicillin, các tetracyclin, analgin, salicylic, thuốc chống lao…[18], [20], [27]

- Tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hoá, dạ dày: biểu hiện lâm sàng

gồm chán ăn, rối loạn tiêu hoá, đau thượng vị, nôn, nặng có thể gây chảy máu tiêu hoá, thủng dạ dày Các thuốc đã từng ghi nhận gây ADR này gồm: corticoid, ampicilin, amoxicillin, sulfamid, các thuốc NSAID [1], [5], [7]

- Tổn thương gan: Tổn thương gan do thuốc rất đa dạng, nhưng y văn thường

dùng cụm từ “viêm gan do thuốc”, vì trong hầu hết các trường hợp thấy có vai trò của viêm gan Các tổn thương chính là viêm gan cấp tính, viêm gan mạn tính và xơ gan, thoái hoá mỡ, u hạt (granulome) gan, tổn thương mạch máu, u gan

Trang 24

Sau khi dùng thuốc vài ngày xuất hiện mày đay, sau đó vàng da, nước tiểu vàng,

là biểu hiện hay gặp trong dị ứng thuốc Xét nghiệm máu sẽ thấy bạch cầu ưa eosin tăng, dấu hiệu lâm sàng giống như viêm gan virus Aminazin, erythromycin, sulfamid, rifampicin, pyrazinamid, analgin…đã được công bố có thể gây tổn thương gan [17], [18], [20]

- Tổn thương thận: triệu chứng của tổn thương thận do thuốc là sốt, nổi ban trên

da, xét nghiệm máu có tăng bạch cầu ưa eosin Thận là một cơ quan dễ bị tổn thương khi gặp ADR, xét nghiệm nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu, protein Furosemid, các kháng sinh nhóm aminosid, đã được ghi nhận là có độc tính đối với thận…[18], [54]

Trang 25

1.2.5 Tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và cách xử trí [11]

Tác dụng phụ của thuốc chống lao có 2 loại:

- Loại nặng: Phải ngừng thuốc và đưa vào điều trị ở bệnh viện, nhiều loại phản ứng nặng đã xảy ra thì không được dùng thuốc trở lại

- Loại nhẹ: Không phải ngừng thuốc, chỉ cần điều trị triệu chứng tại cơ sở điều trị lao là đủ

Bảng 1 Các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và hướng dẫn xử trí [11]

Tác dụng phụ nhẹ

Chán ăn, buồn nôn, đau bụng RMP Tiếp tục dùng thuốc, xem lại liều

Cảm giác bỏng rát ở chân INH Pyridoxin 100mg/ngày

khác)

Phần lớn thuốc chống lao (đặc biệt RMP, INH, PZA)

Ngừng thuốc chống lao

Nôn mửa (nghi có suy gan

cấp)

Phần lớn thuốc chống lao

Ngừng thuốc chống lao, thử chức năng gan, thời gian chảy máu, đông máu

Giảm thị lực (loại trừ căn

Trang 26

1.3 CÁC THUỐC CHỐNG LAO VÀ CÁC THUỐC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG CÁC TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC CHỐNG LAO ĐƯỢC

SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TRUNG ƯƠNG

1.3.1 Các thuốc chống lao: 5 thuốc chống lao thiết yếu được sử dụng trong các

phác đồ điều trị tại bệnh viện là S, H, R, Z, E Ngoài ra, thuốc có thể sử dụng trong những trường hợp dị ứng với streptomycin là kanamycin Một vài trường hợp lao kháng thuốc, được hội chẩn của Giám đốc điều trị, có thể được bác sĩ chỉ định thuốc chống lao dòng 2 (quinolon, PAS )

1.3.2 Các thuốc hỗ trợ điều trị khi xảy ra ADR

1.3.2.1 Thuốc hỗ trợ chức năng gan: arginin, L-ornithin, L-aspartat, nhuận gan

lợi mật, morihepamin, lactulose

1.3.2.2 Thuốc hỗ trợ điều trị triệu chứng khác: metoclopramid, methyl

prednisolon, loratadine, diphenhydramin, fexofenadin, allopurinol

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Là bệnh án của bệnh nhân mắc lao điều trị nội trú thuốc chống lao tại bệnh viện Lao và bệnh phổi trung ương được ghi nhận là có gặp ADR của thuốc chống lao trong thời gian từ tháng 11/2005 đến tháng 11/2007

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn: các bệnh án của bệnh nhân mắc lao điều trị nội trú

thuốc chống lao được các thầy thuốc thẩm định và kết luận có gặp ADR của thuốc chống lao

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các biến cố bất lợi của thuốc mà nguyên nhân không phải do thuốc

- Dùng thuốc không đúng cách, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hoặc

vô tình

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu từ 10/2007 đến 08/2008

Địa điểm nghiên cứu tại bệnh viện Lao và bệnh phổi trung ương

2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả

2.2.2 Lấy mẫu:

Chọn mẫu định hướng: các bệnh án của bệnh nhân mắc lao điều trị nội trú thuốc chống lao được các thầy thuốc thẩm định và kết luận có gặp ADR của thuốc chống lao theo tiêu chuẩn đánh giá đã được hướng dẫn tại đợt tập huấn của Bộ Y

tế về “Theo dõi phản ứng có hại của thuốc” tại Hà Nội tháng 10/2003

Theo số liệu lưu trữ tổng số bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán mắc lao tại bệnh viện trong thời gian từ tháng 11/2005 đến tháng 11/2007 là 7405 Chọn cách lấy mẫu hệ thống cứ 10 bệnh án của các bệnh nhân được chẩn đoán mắc lao lấy 1 bệnh án, số bệnh án được lấy là 740 Trong 740 bệnh án này có 630 bệnh án của bệnh nhân mắc lao có điều trị thuốc chống lao tại bệnh viện (110 bệnh án rơi vào

Trang 28

các trường hợp bệnh nhân chuyển về cơ sở điều trị thuốc chống lao từ đầu hoặc do sai sót trong ghi chép chẩn đoán hồ sơ bệnh án)

Từ 630 bệnh án của bệnh nhân mắc lao điều trị nội trú thuốc chống lao tại bệnh viện tiến hành đọc từng bệnh án, lựa chọn những bệnh án có gặp ADR

Kết quả thu được 220 bệnh án của bệnh nhân có gặp ADR của thuốc chống lao (không có bệnh án của bệnh nhân tử vong) Đọc và nghiên cứu từng bệnh án của bệnh nhân có gặp ADR này, các thông tin thu được từ các bệnh án được điền vào mẫu phiếu thu thập số liệu (phụ lục 1)

2.2.3 Phân loại ADR:

Dựa trên cơ sở phân loại và bệnh cảnh lâm sàng của ADR và hướng dẫn xử trí

tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao [5], [11], trong phạm vi đề tài chúng tôi xây dựng tiêu chuẩn để xác định mức độ về ADR đã gặp như sau:

- Mức độ nhẹ: không cần điều trị, không cần giải độc và thời gian nằm viện không kéo dài

- Mức độ trung bình: cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài thời gian điều trị (so với lúc không gặp ADR) ít nhất 1 ngày

- Mức độ nặng: có thể đe dọa tính mạng, gây bệnh tật lâu dài hoặc cần chăm sóc tích cực, cần có thay đổi trong điều trị

- Tử vong: trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân

Trên một bệnh nhân có thể xuất hiện nhiều mức độ triệu chứng ADR khác nhau ( nhẹ, trung bình, nặng ), chúng tôi xếp loại mức độ ADR trên bệnh nhân

đó theo mức độ biểu hiện cao nhất của triệu chứng lâm sàng của ADR (ví dụ trên một bệnh nhân vừa có viêm gan hoại tử do thuốc chống lao, vừa có mẩn ngứa nhẹ

do thuốc chống lao thì chúng tôi sẽ xếp loại ADR là nặng với biểu biện triệu chứng lâm sàng trên gan ở mức độ nặng, biểu hiện triệu chứng lâm sàng trên da ở mức độ nhẹ )

Với cùng biểu hiện triệu chứng ADR (ví dụ mẩn ngứa, buồn nôn, nôn), nhưng trên các bệnh nhân khác nhau thể hiện ở mức độ nặng nhẹ khác nhau (có người không xử trí gì tự khỏi, có người cần dùng thuốc hỗ trợ triệu chứng mới khỏi và có

Trang 29

người phải bắt buộc cắt thuốc ) được chúng tôi phân loại nặng nhẹ khác nhau tùy thuộc mức độ biểu hiện của triệu chứng lâm sàng được mô tả lại trong bệnh án và các biện pháp xử trí ADR của bác sĩ

Với mức độ tăng enzym gan, chúng tôi đánh giá qua 2 chỉ số ASAT và ALAT

và xếp loại:

+ Mức độ nhẹ : mức tăng enzym gan (ASAT, ALAT) so với bình thường là 1,5 lần và không cần xử trí thuốc hỗ trợ chức năng gan

+ Mức độ trung bình: mức tăng enzym gan (ASAT, ALAT) so với bình thường

là 1,5 đến 3 lần kết hợp xử trí thuốc hỗ trợ chức năng gan

+ Mức độ nặng: mức tăng enzym gan (ASAT, ALAT) so với bình thường là từ 3 lần trở lên, phải điều trị tích cực bằng thuốc hỗ trợ chức năng gan có thể kết hợp cắt thuốc gây ADR

2.2.4 Nội dung nghiên cứu:

* Tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao trên lâm sàng:

- Tỉ lệ bệnh nhân có tác dụng không mong muốn đối với thuốc chống lao và các yếu tố liên quan (tiền sử dị ứng, tuổi, giới, bệnh phụ kèm )

- Mức độ và các triệu chứng biểu hiện tác dụng không mong muốn

- Tần suất xuất hiện ADR của từng phác đồ điều trị

- Thời gian từ khi dùng thuốc đến khi có tác dụng không mong muốn

* Các biện pháp can thiệp của bác sĩ khi có tác dụng không mong muốn xảy

ra (cách xử trí, kết quả xử trí, chi phí)

* Số ngày điều trị trung bình và kết quả điều trị khi ra viện của nhóm bệnh

nhân nghiên cứu, nhóm bệnh nhân gặp ADR

2.2.5 Xử lý số liệu: Sử dụng Microsoft Excel trong thống kê sinh học Kết quả

tính ra tỉ lệ % và so sánh sự khác biệt giữa hai tỉ lệ % bằng thuật toán χP

2

P Sai khác

có ý nghĩa thống kê với P<0,05

Trang 30

3.1.1.1 Tỉ lệ chung bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn:

Trong 630 bệnh nhân dùng thuốc chống lao tại bệnh viện, có 220 bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao (ADR), chiếm 34,92% tổng

số bệnh nhân sử dụng thuốc chống lao

3.1.1.2.Tiền sử liên quan đến ADR

Bảng 3.1: Tiền sử liên quan đến ADR của 220 bệnh nhân gặp ADR

STT Tiền sử liên quan đến ADR Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)

dễ có khả năng gặp ADR trên gan

Trang 31

3.1.1.4 Phân bố bệnh nhân gặp ADR theo nhóm tuổi

Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân gặp ADR của thuốc chống lao trên lâm sàng theo

Trang 32

Trong 220 bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao, nhóm tuổi gặp tác dụng không mong muốn nhiều nhất là nhóm tuổi từ 21-40 (38,64%)

Bảng 3.4: So sánh tần suất xuất hiện ADR giữa các nhóm tuổi

Nhóm tuổi Số bệnh nhân có

ADR

Tổng số bệnh nhân

3.1.1.5 Phân bố bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn theo giới:

Bảng 3.5: Tần suất xuất hiện ADR theo giới tính Giới tính Số bệnh nhân gặp

ADR

Tổng số bệnh nhân

có ý nghĩa thống kê (χP

2

P = 1,823, p>0,05)

Ngày đăng: 14/04/2019, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w