1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng từ thực hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

67 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 106,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng, khiến cho hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cũng trở nên quan trọng. Để phòng ngừa rủi ro từ hoạt động cho vay, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo đảm bằng tài sản thông qua các hình thức như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Có thể nhận thấy rằng, việc sáng tạo ra các biện pháp bảo đảm tiền vay được coi là thành công lớn của nền pháp lý nhân loại. Ở Việt Nam, bảo đảm tiền vay bằng tài sản là một trong những biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả nhất của tổ chức tín dụng khi cấp các khoản tín dụng cho khách hàng. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường, nhiều quy định về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng tài sản đã và đang bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng. Chính điều này đặt ra nhu cầu khách quan của việc nghiên cứu, tìm hiểu về lý luận cũng như thực tiễn thực hiện các hợp đồng bảo đảm trong quá trình vay vốn của khác hàng tại các tổ chức tín dụng, trong đó có địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Xuất pháp từ thực trạng nói trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng từ thực hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến việc nghiên cứu nghiên cứu các quy định của pháp luật về tình hình thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đảm bảo tiền vay tại các ngân hàng thương mại, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của một số tác giả như: - Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Liên về đề tài “Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại các ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”. - Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thanh Hằng về đề tài “Thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay”. Ngoài ra, còn có các bài báo, bài bình luận, tạp chí chuyên khảo nghiên cứu hoặc đề cập đến khía cạnh ký kết hay thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng thông qua thực tiễn hoạt động công chứng hợp đồng bảo đảm tiền vaytrên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, luận văn này có thể đáp ứng được các yêu cầu về tính mới, tính thời sự và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng pháp luật đểchỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ các vấn đề sau đây: - Những vấn đề lý thuyết về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng. - Đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo tiền vay theo hợp đồng tín dụngvà thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng từ hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; - Đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các học thuyết, quan điểm, kết luận khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay nói riêng theo hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại với khách hàng; các quy định pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng; tình hình thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngtừ thực tiễn hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm: a) các vấn đề lý luận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng; b) các hạn chế, bất cập của pháp luật về bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng vàthực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận từ thực tiễn thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại, thông qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. Trên cơ sở phương pháp tiếp cận từ thực tiễn, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, thống kê, so sánh… để làm rõ các nội dung thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế gồm 2 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngtừ thực tiễn hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc và một số kiến nghị.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀNG MINH KHOA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TIỀN VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNGTỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG GIAO

DỊCH BẢO ĐẢMTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã ngành:8.38.01.07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TUYẾN

Hà Nội, tháng 4 năm 2018

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tếthị trường, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng, khiến chohoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cũng trở nên quan trọng Để phòng ngừa rủi

ro từ hoạt động cho vay, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu khách hàng phải camkết bảo đảm bằng tài sản thông qua các hình thức như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh

Có thể nhận thấy rằng, việc sáng tạo ra các biện pháp bảo đảm tiền vay được coi làthành công lớn của nền pháp lý nhân loại Ở Việt Nam, bảo đảm tiền vay bằng tàisản là một trong những biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả nhất của tổ chức tín dụngkhi cấp các khoản tín dụng cho khách hàng Trong bối cảnh Việt Nam đang xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường, nhiều quy định về bảođảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng tài sản đã và đang bộc lộ những hạn chế, bất cậpnhất định, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng.Chính điều này đặt ra nhu cầu khách quan của việc nghiên cứu, tìm hiểu về lý luậncũng như thực tiễn thực hiện các hợp đồng bảo đảm trong quá trình vay vốn củakhác hàng tại các tổ chức tín dụng, trong đó có địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Xuất pháp từ thực trạng nói trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng từ thực hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến việc nghiên cứu nghiên cứu các quy định của pháp luật vềtình hình thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đảm bảo tiền vay tại cácngân hàng thương mại, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của một sốtác giả như:

- Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Liên về đề tài “Pháp luật về thế chấp quyền

sử dụng đất để vay vốn tại các ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”.

Trang 3

- Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thanh Hằng về đề tài “Thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay”.

Ngoài ra, còn có các bài báo, bài bình luận, tạp chí chuyên khảo nghiên cứuhoặc đề cập đến khía cạnh ký kết hay thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụngđất để vay vốn ngân hàng Tuy nhiên, chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc

sĩ nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tíndụng thông qua thực tiễn hoạt động công chứng hợp đồng bảo đảm tiền vaytrên địabàn tỉnh Vĩnh Phúc Vì vậy, luận văn này có thể đáp ứng được các yêu cầu về tínhmới, tính thời sự và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng pháp luật đểchỉ ranhững hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảođảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ các vấn

đề sau đây:

- Những vấn đề lý thuyết về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay theohợp đồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồngtín dụng

- Đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo tiền vay theo hợp đồng tín dụngvàthực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

từ hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

- Đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả

nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các học thuyết, quan điểm, kếtluận khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về bảo đảm nghĩa vụ dân sự nóichung và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay nói riêng theo hợp đồng tín dụng giữangân hàng thương mại với khách hàng; các quy định pháp luật về bảo đảm nghĩa vụtrả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng; tình hình thực tiễn thực hiện pháp luật về

Trang 4

bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngtừ thực tiễn hoạt động côngchứng giao dịch bảo đảm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm: a) các vấn đề lýluận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và pháp luật vềbảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng; b) các hạn chế, bất cập của pháp luật vềbảo đảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng vàthực tiễn thực hiện pháp luật về bảođảm tiền vay theo hợp đồng tín dụng

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận từ thực tiễn thực hiệnhợp đồng bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại,thông qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay theohợp đồng tín dụng ở Việt Nam

Trên cơ sở phương pháp tiếp cận từ thực tiễn, luận văn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, thống kê, sosánh… để làm rõ các nội dung thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượcthiết kế gồm 2 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theohợp đồng tín dụngtừ thực tiễn hoạt động công chứng giao dịch bảo đảm trên địabàntỉnh Vĩnh Phúc và một số kiến nghị

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TIỀN VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT

VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TIỀN VAY THEO

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loàingười có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Khái niệm cho vay, theonghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khácđược quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời hạn nhấtđịnh với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối vớingười đó1

Trong thực tiễn đời sống kinh doanh thương mại hiện nay, để xác lập và thựchiện giao dịch cho vay vốn giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, các bên thườngphải giao kết hợp đồng tín dụng Vì thế, hợp đồng tín dụng được biết đến như làmột công cụ pháp lý để xác lập và thực hiện quan hệ vay vốn giữa khách hàng vay

là tổ chức, cá nhân với bên cho vay là tổ chức tín dụng Tuy nhiên, việc định nghĩanhư thế nào về hợp đồng tín dụng lại là vấn đề tương đối phức tạp, bởi nó là vấn đề

1 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2017, tr 143.

Trang 6

mang tính học thuật, do đó nó liên quan đến quan điểm nhận thức và cách tiếp cậnvấn đề của người nghiên cứu.

Trong khoa học pháp lý, hợp đồng tín dụng được định nghĩa làthoả thuậnbằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức,

cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiềncho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cảgốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm2 Định nghĩa này cho thấy hợp đồng tín dụng thểhiện sự kết hợp thống nhất giữahai yếu tố: Một là, về phương diện hình thức, sựthoả thuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phảiđược thể hiện bằng văn bản; hai là, về phương diện nội dung, bên cho vay (tổ chứctín dụng) đồng thuận để bên vay (tổ chức, cá nhân) được sử dụng một số tiền củamình (gọi là vốn vay) trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên

sự tín nhiệm

Trong pháp luật thực định, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (được sửa đổi bổsung một số điều năm 2004) trước đây có ghi nhận tại Điều 51 về hợp đồng tíndụng, theo đó nhà làm luật tuy không đưa ra một định nghĩa chính thức về hợp đồngtín dụng nhưng có quy định: “Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng.Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay,hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tàisản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoảthuận”3 Tuy nhiên, đến Luật các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi bổ sungnăm 2017) thì nhà làm luật không còn đưa ra bất kỳ quy định nào về hợp đồngtín dụng nữa Điều này có thể xuất phát từ sự thay đổi nhận thức của nhà làmluật trong cách thức xây dựng luật các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng các yêu cầucủa giai đoạn mới

Về phương diện lý thuyết, ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợpđồng, hợp đồng tín dụng còn thể hiện một số đặc điểm riêng sau đây4:

2 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2017, tr 153.

3 Xem thêm: Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng 1997 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004).

4 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2017, tr 153, 154.

Trang 7

Thứ nhất, về chủ thể, một bên tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ

chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay Còn chủ thểbên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn nhữngđiều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền (vốn vay) Về nguyên tắc,

đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phảiđược các bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng

Thứ ba, hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền

lợi của bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bêncho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời hạn nhất định Thời hạn cho vaycàng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn và vì thế tổ chức tín dụng càng phảiquan tâm đến việc áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro, đồng thời phải quy định lãisuất cho vay cao hơn nhằm thu hồi đủ các chi phí bỏ ra cho việc quản lí các khoảncho vay dài hạn vốn có mức độ rủi ro cao

Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ Trong hợp đồng tín dụng,

nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũngphải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụcủa bên vay Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyểngiao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyềnyêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụchính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cảgốc và lãi )

Thứ năm, về hình thức hợp đồng tín dụng, theo thông lệ loại hợp đồng này

luôn luôn và bắt buộc phải được giao kết bằng văn bản Điều này xuất phát từ nhucầu đảm bảo tính an toàn về pháp lý và phòng ngừa các rủi ro pháp lý cho các bênliên quan trong quá trình thực hiện hợp đồng

Tóm lại, có thể kết luận rằng hợp đồng tín dụng là công cụ pháp lý không thểthiếu đối với bên vay và bên cho vay trong quá trình vay vốn để thỏa mãn nhu cầukinh doanh hoặc tiêu dùng trong xã hội đương đại Vì thế, việc thiết lập cơ chế bảo

Trang 8

đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng trở thành vấn đề rất đàng quan tâmkhông chỉ đối với các tổ chức tín dụng mà còn của các chủ thể khác như người gửitiền tại ngân hàng, khách hàng vay tiền của ngân hàng và chủ thể đặc biệt là Nhànước.

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Như đã đề cập ở trên, bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay là nhu cầu thiết thực

và có ý nghĩa quan trọng đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng

Trên thế giới,giao dịch bảo đảm xuất hiện từ khá sớm và điều này cũng tồntại ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến Chế định dân sự hiếm hoi dưới thời Lý, Trầncũng đã ghi nhận biện pháp bảo đảm bằng cầm cố, theo đó: “Lệnh năm 1135, ruộngđất đã bán đợ hoặc cầm cố quá hạn 20 năm thì không được chuộc lại hay đòi về”5.Chế định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự(hay còn gọi là giao dịch bảo đảm)

là một trong những chế định quan trọng nhất của luật dân sự bởi giao dịch bảo đảm

là giao dịch dân sự rất phổ biến Vì vậy, chế định này được ghi nhận trong luật phápcủa hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, việc tiếp cận với khái niệm bảođảm nghĩa vụ dân sự ở các hệ thống pháp luật, cũng như là các quốc gia có sự khácbiệt Đối với các nước theo truyền thống án lệ hay thông luật (common law) mà tiêubiểu là Mỹ,Luật thương mại thống nhất của quốc gia này không có định nghĩa vềbảo đảm nghĩa vụ dân sự, mà chỉ có định nghĩa về lợi ích bảo đảm Khái niệm lợiích bảo đảm này bao hàm cả các biện pháp bảo đảm và những giao dịch khác cótính chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ như thuê mua (cho thuê tài chính),chuyển nhượng nợ (mua bán nợ hay bao thanh toán)… Theo Luật thương mại thốngnhất của Mỹ,“lợi ích bảo đảm” là một thuật ngữ chỉ lợi ích của chủ nợ trong tài sảncủa con nợ đối với tất cả các loại giao dịch tín dụng Do vậy, nó thay thế cho cácthuật ngữ có ý nghĩa tương tựnhư: thế chấp động sản, cầm cố, nhận ủy thác, nhận

ủy thác động sản, nhận ủy thác thiết bị, bán có điều kiện6 Như vậy, có thể thấy rằngcác nước trong hệ thống common law chỉ quan tâm đến việc thực hiện lợi ích bảo

5 Xem thêm: Trường Đại học luật Hà Nội (1996), Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị- Quốc gia Hà Nội, tr 103.

6 Xem thêm: The California Department of Real Estate (2000) A Real Estate Guide Chapter 29, Glossary, www.dre.ca.gov/pdf_docs/ref29

Trang 9

đảm và các vấn đề liên quan đến lợi ích bảo đảm Tất cả các giao dịch làm phát sinhlợi ích bảo đảm đều được điều chỉnh bởi pháp luật về bảo đảm.

Cũng giống như hệ thống thông luật (common law), các nước theo hệ thốngpháp luật thành văn (civil law) có BLDS cổ điển và truyền thống như Pháp không

có khái niệm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Nếu như hệ thống common lawchỉ quan tâm đến nội dung của pháp luật bảo đảm thì civil law lại chú trọng đếnhình thức, chỉ liệt kê ra các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp bảo lãnh,chiếm giữ tài sản, quyền ưu tiên…

Chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Pháp, Luật dân sự Việt Nam qua cácthời kỳ cũng đi theo hướng liệt kê các biện pháp bảo đảm mà không nêu ra nhữngđặc điểm chung, cơ bản nhất của khái niệm bảo đảm nghĩa vụ dân sự

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định trong Pháp lệnhHợp đồng dân sự Việt Nam năm 1991, BLDS 1995, BLDS 2005 Tại Pháp lệnh hợpđồng dân sự năm 1991, nhà làm luật đã quy định 4 biện pháp bảo đảm bằng tài sản làthế chấp, bảo lãnh, cầm cố, đặt cọc Trong khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ quyđịnh thế chấp, bảo lãnh, cầm cố Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồngdân sự cũng đã đặt nền móng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của phápluật về giao dịch bảo đảm tại Việt Nam, tuy nhiên phạm vi còn hạn hẹp, đơn giản

Trong thời kỳ Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 đang có hiệu lực,chế định về bảo đảm nghĩa vụ dân sự được quy định tại Mục 5 “Bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự” Lần đầu tiên, khái niệm giao dịch bảo đảm đã được quy định tạiĐiều 325 Bộ luật dân sự 2005 về “đăng ký giao dịch bảo đảm”, theo đó“giao dịchbảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việcthực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”.Như vậy, Bộ luật dân sự 2005 cho rằng giao dịch bảo đảm phải là giao dịch có liênquan đến việc thực hiện 7 biện pháp bảo đảm mà Luật đã liệt kê, bao gồm: cầm cố,thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp

Tóm lại, pháp luật Việt Nam cũng như các hệ thống pháp luật common law,civil law đều không đưa ra khái niệm có tính khái quát về giao dịch bảo đảm nhưng

có hai cách tiếp cận khái niệm giao dịch bảo đảm: (i) định nghĩa cụ thể về một số

Trang 10

biện pháp bảo đảm; (ii) đưa ra định nghĩa về lợi ích bảo đảm Mặc dù vậy, hai cáchtiếp cận đó vẫn toát lên bản chất của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (hay giao dịch bảođảm) là hợp đồng mà theo đó một bên (gọi là bên bảo đảm) cam kết với bên cóquyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụthể đối với bên có quyền, nếu đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó khôngđược người có nghĩa vụ thực hiện như cam kết7.

Trước đây, khái niệm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tíndụng (thường được gọi tắt là bảo đảm tiền vay) đã từng được ghi nhận trong Nghịđịnh số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng Theo văn bảnnày,thuật ngữ “bảo đảm tiền vay” được định nghĩa là việc TCTD áp dụng các biệnpháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được cáckhoản nợ đã cho khách hàng vay Tuy nhiên, đến khi Nhà nước ban hành Nghị định

số 163/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm để thay thế cho Nghị định số 178/1999/NĐ-CP

và thống nhất các quy định về giao dịch bảo đảm trong tất cả các lĩnh vực thì kháiniệm về giao dịch bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng không còn được ghi nhậnmột cách chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nữa mà hầunhư các nhà làm luật chỉ tìm cách cụ thể hóa tư tưởng đã được thể hiện tại Điều 318của Bộ luật dân sự năm 2005 mà thôi

Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay là hình thức phổ biến, áp dụng phần lớntrong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng do độ an toàn của các hợp đồng tín dụng

có bảo đảm bằng tài sản cao Bảo đảm tiền vay thực chất là giao dịch dân sự, trong đóquan hệ bảo đảm tiền vay được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bênnhận bảo đảm về việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (vì trả

nợ vay là một loại nghĩa vụ dân sự) Mục đích thực hiện giao dịch bảo đảm đều nhằmbảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền

Từ những phân tích ở trên, cùng với việc tiếp cận khái niệm về giao dịch dân

sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2005, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tín dụng như sau:

Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tín dụng là hợp đồng bảo

7 Xem thêm: TS Nguyễn Văn Tuyến, đặc điểm pháp lý và mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Tạp chí ngân hàng số 17/2010.

Trang 11

đảm được ký kết giữa tổ chức tín dụng (bên nhận bảo đảm) với tổ chức, cá nhân (bên bảo đảm) theo đóbên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho tổ chức tín dụngnếu khi đến hạn mà nghĩa vụ đó không được thực hiện bởi bên có nghĩa vụ (bên vay)theo hợp đồng tín dụng.

Như vậy, từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng về bản chất thì bảo đảmnghĩa vụ trả nợ tiền vay luôn tồn tại dưới dạng là một giao dịch dân sự (gọi là giaodịch bảo đảm tiền vay) và giao dịch này tồn tại một cách độc lập, không phụ thuộcvào giao dịch có nghĩa vụ cần được bảo đảm, mặc dù giữa hai loại giao dịch này(giao dịch bảo đảm và giao dịch có nghĩa vụ được bảo đảm) luôn có mối quan hệtác động qua lại lẫn nhau

1.1.3 Cơ chế thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Trên nguyên tắc, mối quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm tiền vay với hợp đồngtín dụng thường được đề cập đến trong trường hợp các tổ chức tín dụng ký hợpđồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản với khách hàng vay vốn để triển khai các dự

án cho vay kinh doanh hoặc tiêu dùng

Xét dưới góc độ pháp lí, hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thựcchất là thoả thuận bằng văn bản, theo đó tổ chức tín dụng cam kết cho kháchhàng vay vốn của mình với điều kiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng phải đượcbảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo đảm bằng sự bảo lãnh của ngườithứ ba Ở mức độ khái quát, hợp đồng tín dụng có bảo đảm phản ánh các đặcđiểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, trong hợp đồng tín dụng có bảo đảm, luôn tồn tại những điều

khoản về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay Các điều khoản này có thể được ghinhận ngay trong hợp đồng tín dụng hoặc tách biệt thành hợp đồng riêng đính kèmtheo hợp đồng tín dụng (gọi là hợp đồng bảo đảm tiền vay, ví dụ: hợp đồng cầm cố,hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh ) Thực tiễn cho thấy, hầu hết các tổ chứctín dụng đều lựa chọn phương thức kí kết hợp đồng bảo đảm riêng tách biệt với hợpđồng tín dụng, vì những ưu điểm vốn có của phương thức này trong việc bảo đảm

Trang 12

sự an toàn pháp lí cho tất cả các bên tham gia hợp đồng tín dụng có bảo đảm8

Thứ hai, trong hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, tổ chức tín dụng

cho vay luôn có khả năng thu hồi nợ tương đối hiệu quả nhờ quyền phát mãi tài sảnbảo đảm hoặc quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho ngườivay Đặc biệt, đối với trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng thếchấp tài sản thì tổ chức tín dụng còn cóquyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm đểphát mãi nhằm thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản thế chấp đang nằm ở đâu vàtrong sự quản lí của ai Quyền ưu tiên này được xác lập trên cơ sở giao dịch thếchấp giữa tổ chức tín dụng (bên nhận thế chấp) với khách hàng vay hoặc người thứ

ba (gọi là bên thế chấp) Với tư cách là chủ nợ có bảo đảm, tổ chức tín dụng cho vay

có quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảm trước các chủ nợ có bảođảm đăng kí sau hoặc trước các chủ nợ không được bảo đảm bằng tài sản đó

Thứ ba, trong hợp đồng tín dụng có bảo đảm, quy trình thủ tục kí kết và thực

hiện hợp đồng bao giờ cũng phức tạp hơn so với hợp đồng tín dụng không có bảođảm bằng tài sản, bởi lẽ các bên phải thoả thuận thêm về điều khoản bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay, ngoài những điều khoản thông dụng khác của hợp đồng tín dụng.Thực tế cho thấy rằng việc kí kết hợp đồng bảo đảm càng chặt chẽ bao nhiêu thìmức độ an toàn về phương diện pháp lí cho các bên càng cao bấy nhiêu Vì lẽ đó,nhiều tổ chức tín dụng tỏ ra rất quan tâm đến những khía cạnh pháp lí của việc kíkết hợp đồng bảo đảm, chẳng hạn như vấn đề hiệu lực pháp lí của hợp đồng, quyền

và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng bảo đảm, mối quan hệ giữa hiệu lựccủa hợp đồng bảo đảm với hợp đồng tín dụng9

Về lý thuyết, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng thực chất là các bên tiến hành kí kết và thực hiện hợp đồngtín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay, bao gồm:

Kí kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay

Về lý thuyết, do hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay vốn độclập với nhau về mặt hiệu lực nên việc kí kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo

8 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

9 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016

Trang 13

đảm tiền vay giữa các bên liên quan có thể được thực hiện đồng thời cùng một thờiđiểm hoặc không cùng thời điểm Trường hợp các bên đã kí kết hợp đồng tín dụng

và sau đó một thời gian mới ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay thì trong suốt thờigian kể từ khi kí kết hợp đồng tín dụng cho đến khi ký kết hợp đồng bảo đảm tiềnvay, khoản vay được cung cấp theo hợp đồng tín dụng sẽ được coi là khoản vaykhông có bảo đảm Kể từ thời điểm hợp đồng bảo đảm tiền vay có hiệu lực, khoảnvay được cung cấp theo hợp đồng tín dụng này mới chính thức được coi là khoảnvay có bảo đảm và khi đó các bên mới bắt đầu bị ràng buộc với những quyền, nghĩa

vụ phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay

Thực tiễn hoạt động cho vay có bảo đảm của tổ chức tín dụng cho thấy, đểphòng ngừa các rủi ro pháp lí khi kí kết hợp đồng tín dụng có bảo đảm, các bênthường quan tâm đến những vấn đề pháp lí sau đây:

(i) Các bên cần cân nhắc lựa chọn biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự phùhợp với nhu cầu, hoàn cảnh và lợi ích của các bên Chẳng hạn, nếu tài sản bảođảm thuộc loại không thể di rời được để chuyển giao cho bên nhận bảo đảm theophương thức cầm cố thì các bên phải lựa chọn hình thức bảo đảm là thế chấp;hoặc, nếu tài sản bảo đảm không thuộc quyền sở hữu của bên có nghĩa vụ mà làcủa người thứ ba thì các bên có thể lựa chọn biện pháp bảo đảm là thế chấp bằngtài sản của người thứ ba hoặc biện pháp bảo lãnh - với tư cách là biện pháp bảo đảmđối nhân

(ii) Các bên cần đảm bảo rằng hợp đồng bảo đảm tiền vay chắc chắn có hiệulực pháp lí để ràng buộc đối với các bên Để làm được điều này, các bên phải tuânthủ đúng và đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của

Bộ luật dân sự, bao gồm điều kiện về chủ thể xác lập giao dịch, điều kiện về mụcđích, nội dung và hình thức của hợp đồng bảo đảm tiền vay, điều kiện về tính tựnguyện và sự đồng thuận ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng bảo đảm,điều kiện về hình thức của hợp đồng bảo đảm tiền vay Trong trường hợp các bên

đã ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay nhưng một điều kiện có hiệu lực nào đókhông được các bên tuân thủ thì về nguyên tắc hợp đồng bảo đảm có thể rơi vàotình trạng vô hiệu tương đối hoặc vô hiệu tuyệt đối

Trang 14

Thực hiện hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay

Việc thực hiện hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay thực chất làviệc các bên chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồngnày.Thực hiện hợp đồng tín dụng được hiểu là việc các bên (bên cho vay và bênvay) chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã phát sinh từ hợp đồng tín dụng.Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, các bên phải tuân thủ một số nguyêntắc thực hiện hợp đồng do pháp luật quy định như: nguyên tắc thực hiện đúng cáccam kết hợp đồng; thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợinhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không xâm phạm lợi ích công cộng vàquyền, lợi ích của chủ thể khác.Thực tế cho thấy việc thực hiện hợp đồng tín dụng

có thể xảy ra một trong hai tình trạng sau đây:Một là, nếu các bên thực hiện đúngcác cam kết trong hợp đồng tín dụng thì hợp đồng sẽ chấm dứt hiệu lực khi tất cảcác quyền, nghĩa vụ của các bên đã được thực hiện xong và các bên có tráchnhiệm thực hiện việc thanh lí hợp đồng Hai là, nếu một bên hoặc cả hai bên viphạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng thì về nguyên tắc bên vi phạm sẽ phảichịu trách nhiệm pháp lí đối với hành vi vi phạm của mình Trách nhiệm pháp lítrong trường hợp này sẽ được áp dụng theo thoả thuận của các bên hoặc theo quyđịnh của pháp luật10

Tương tự, việc thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay cũng có thể được hiểu

là việc các bên (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm) chủ động thực hiện các quyền,nghĩa vụ của họ phát sinh từ hợp đồng Thực tế cho thấy, việc thực hiện hợp đồngbảo đảm tiền vay có thể xảy ra một trong hai tình huống sau đây: Một là, nếu bênvay đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ tiền vay, khi đó tổ chức tín dụng– với tư cách là bên nhận bảo đảm sẽ phải hoàn trả lại tài sản bảo đảm và thựchiện nghĩa vụ giải chấp tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm, đồng thời thanh lý hợpđồng bảo đảm tiền vay với bên bảo đảm Hai là, nếu bên vay không thực hiệnnghĩa vụ trả nợ tiền vay đúng hạn, khi đó tổ chức tín dụng – với tư cách là bênnhận bảo đảm, sẽ có quyền yêu cầu bên bảo đảm bàn giao tài sản bảo đảm để phátmãi theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

10 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

Trang 15

nhằm thu hồi nợ cho mình.

1.1.4 Mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng bảo đảm tiền vay với hợp đồng tín dụng

Có thể nhận thấy, trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay,vấn đề rất quan trọng mà các bên luôn quan tâm, đó chính là mối quan hệ hiệu lựcgiữa hợp đồng bảo đảm tiền vay với hợp đồng tín dụng, vì mối quan hệ này có liênquan trực tiếp đến quyền thu hồi nợ của bên nhận bảo đảm từ việc phát mại tài sảnbảo đảm

Ở Việt Nam, mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng bảo đảm tiền vay với hợpđồng tín dụng đã được nhà làm luật quy định khá rõ tại Điều 15 Nghị định số163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.Theo văn bản này, nếuhợp đồng tín dụng (hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm) bị vô hiệu mà các bênchưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm (tức hợp đồng bảo đảm tiền vay)chấm dứt; nếu các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng thì hợpđồng bảo đảm tiền vay không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác11 Với quyđịnh này, người soạn luật đã nghiêng hẳn về quan điểm cho rằng giao dịch bảo đảm

là giao dịch tồn tại độc lập hoàn toàn với hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, bởi lẽtheo quy định nêu trên thì hiệu lực của nó (giao dịch bảo đảm) không hề phụ thuộcvào hiệu lực của hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm Quan điểm này tỏ ra rất có lợicho bên nhận bảo đảm, vì cho dù hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu,nghĩa là không làm phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm nhưng giao dịch bảo đảmkhông vì thế mà vô hiệu theo Do giao dịch bảo đảm vẫn có hiệu lực nên bên bảođảm vẫn bị ràng buộc với nghĩa vụ bảo đảm mà mình đã cam kết và đồng thời bênnhận bảo đảm vẫn có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ chomình, dù rằng khoản nợ đó không thực sự là khoản nợ chính phát sinh từ hợp đồng

có nghĩa vụ được bảo đảm12

Tóm lại, về nguyên tắc, có thể cho rằng việc thực hiện hợp đồng tín dụng cóbảo đảm chỉ đặt ra khi hợp đồng đó phát sinh hiệu lực pháp lí cho các bên cam kết

11 Xem thêm: Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

12 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

Trang 16

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng có bảo đảm, mỗi bên đều phải thựchiện tất cả những quyền và nghĩa vụ mà mình đã cam kết Hợp đồng tín dụng chỉđược coi là đã thực hiện xong khi nào các bên đã hoàn thành tất cả những quyền,nghĩa vụ của mình đối với bên đối ước và các bên tiến hành thanh lí hợp đồng Tuynhiên, vấn đề sẽ trở nên rắc rối và phức tạp hơn khi một trong các bên hoặc cả haibên đều không thi hành các nghĩa vụ của mình như đã cam kết Hệ quả pháp lí tấtyếu là bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ sẽ phải gánh chịu các chế tài do các bên đãthoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Đặc biệt, đối với trường hợp bên vay

vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và các nghĩa vụ khác có liên quan thì về nguyêntắc là khối tài sản bảo đảm sẽ được đem ra phát mại theo quy định của pháp luật đểthu hồi nợ cho phía tổ chức tín dụng Nếu khối tài sản bảo đảm không phát mạiđược hoặc phát mại được nhưng không đủ thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng thìkhi đó tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bên vay phải thanh toán nợ bằng các tàisản khác của mình13

Vậy, trong trường hợp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu thì cáchgiải quyết đối với tài sản bảo đảm là như thế nào?Theo quy định đã dẫn ở trên, dohợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay là hai hợp đồng độc lập về mặthiệu lực pháp lí nên khi hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu thì sẽ không dẫntới sự vô hiệu của hợp đồng bảo đảm tiền vay Khi đó, khối tài sản bảo đảm sẽđược giải quyết như sau: a) Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu nhưngcác bên chưa thực hiện, nghĩa là không phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản thì do

đó sự bảo đảm trở nên không cần thiết và vì thế giao dịch bảo đảm sẽ chấm dứt; b)Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bị vô hiệu nhưng các bên đã thực hiện mộtphần hay toàn bộ thì về nguyên tắc là họ phải hoàn trả cho nhau các tài sản đãnhận Trong trường hợp này, nếu việc hoàn trả tài sản đã nhận là nghĩa vụ củakhách hàng thì do đó sự bảo đảm vẫn là cần thiết, nhằm bảo vệ quyền lợi của bên

có quyền nhận lại tài sản Khi đó, nghĩa vụ được bảo đảm sẽ là nghĩa vụ mới phátsinh - nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã nhận do hợp đồng tín dụng vô hiệu và khối tàisản bảo đảm sẽ được đem ra xử lí để thu hồi đủ số tài sản này cho bên có quyền

13 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

Trang 17

nhận tài sản là tổ chức tín dụng14

Ví dụ: Ngân hàng X cho doanh nghiệp Y vay tiền với cam kết bảo đảm bằng

tài sản thế chấp là nhà kho của doanh nghiệp Y Nếu vì lí do nào đó mà hợp đồngtín dụng giữa hai bên bị toà án tuyên bố vô hiệu và ngân hàng X đã thực hiện nghĩa

vụ chuyển giao tiền vay thì về nguyên tắc, họ sẽ được doanh nghiệp Y hoàn trả lại

số tiền mà chủ thể này đã nhận Nghĩa vụ hoàn trả này sẽ được bảo đảm thực hiệnbằng khối tài sản đã thế chấp, vì theo quy định trên thì giao dịch bảo đảm vẫn cóhiệu lực, mặc dù hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (hợp đồng tín dụng) đã bị

vô hiệu15

Qua ví dụ trên đây, có thể khẳng định rằng theo pháp luật hiện hành về giaodịch bảo đảm thì nghĩa vụ được bảo đảm không chỉ là nghĩa vụ tài sản phát sinh từhợp đồng được bảo đảm mà còn bao gồm cả nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho bên nhậnbảo đảm (nghĩa vụ này phát sinh do việc xử lí hợp đồng được bảo đảm bị vô hiệu,theo nguyên tắc các bên phục hồi tình trạng ban đầu như trước khi kí kết hợp đồng)

1.1.5 Các biện phápbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng được áp dụng phổ biến hiện nay

Trên thế giới, pháp luật các nước đều thừa nhận nhiều biện pháp bảo đảmkhác nhau để giúp bên chủ nợ và khách nợ có thể lựa chọn áp dụng biện pháp thíchhợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tại Việt Nam, Điều 292 Bộluật dân sự 2015 đã ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm

cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, ký cược, ký quỹ, đặt cọc, bảo lưu quyền sởhữu, tín chấp, cầm giữ tài sản, trong đó các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnhđược áp dụng thường xuyên trong các quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng vớikhách hàng Bằng cách ghi nhận các biện pháp bảo đảm này, nhà làm luật đã thiếtlập cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong quan

hệ tài sản nói chung và quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vaynói riêng

Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này, tác giả chỉ tập trung phân tích

14 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

15 Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016.

Trang 18

ba biện pháp bảo đảm tiền vay có tính phổ biến dưới đây:

Thứ nhất, về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín

dụng bằng cầm cố tài sản

Trong khoa học pháp lý, cầm cố tài sản được quan niệm là biện pháp bảođảm đối vật, theo đó bên cầm cố phải chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mìnhcho bên nhận cầm cố giữ để làm tin khi khoản nợ vay không được bên vay thanhtoán đầy đủ và đúng hạn Còn trong pháp luật thực định, nhà làm luật định nghĩa:

“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộcquyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ”16

Về lý thuyết, biện pháp cầm cố tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, trong cầm cố tài sản, bên cầm cố bắt buộc phải chuyển giao tài sản

cầm cố cho bên nhận cầm cố nắm giữ, quản lý trong suốt thời gian cầm cố và đây làmột nghĩa vụ của bên cầm cố đối với bên nhận cầm cố Nghĩa vụ này phát sinh trên

cơ sở quy định của pháp luật nhưng các bên cũng có thể thỏa thuận và ghi nhậnlạitrong hợp đồng cầm cố tài sản17

Hai là, do hợp đồng cầm cố là một loại giao dịch dân sự nên về nguyên tắc

hợp đồng cầm cố tài sản sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.Theo quy định của luật, việc cầm cố tàisản sẽ có hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cốnắm giữ tài sản cầm cố Riêng đối với trường hợp bất động sản là đối tượng củacầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối khángđối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký thế chấp bất động sản

Ba là,trong cầm cố tài sản, bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố

thanh toán các chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố trong suốt thời gian cầm

cố, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Điều này có nghĩa là, với tư cách làchủ sở hữu tài sản cầm cố, bên cầm cố phải tự gánh chịu các chi phí bảo quản tàisản nếu tài sản đó được chuyển giao cho người khác quản lý theo ý chí của chủ tài

16 Xem thêm: Điều 309 Bộ luật dân sự 2015.

17 Nghĩa vụ này được nhà làm luật ghi nhận tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật dân sự 2015.

Trang 19

Về lý thuyết, biện pháp thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là,trong biện pháp thế chấp tài sản, bên thế chấp vẫn tiếp tục quản lý tài

sản thế chấp trong suốt thời gian thế chấp mà không phải chuyển giao tài sản thếchấp cho bên nhận thế chấp nắm giữ, quản lý Tuy nhiên, các bên cũng có thể thỏathuận chuyển giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba quản lý nhằm đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp cho bên nhận thế chấp19

Hai là,đối với biện pháp thế chấp tài sản, tuy bên nhận thế chấp không trực

tiếp cầm giữ tài sản thế chấp nhưng về nguyên tắc họ luôn có quyền ưu tiên theođuổi tài sản và phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản thếchấp đang nằm trong tay ai và chúng được quản lý như thế nào Đặc điểm này xuấtphát từ bản chất của thế chấp tài sản, vốn dĩ là một biện pháp bảo đảm đối vật Đâycũng là đặc trưng có tính bản chất của thế chấp tài sản và giúp cho thế chấp tài sảntrở thành biện pháp bảo đảm ưu việt nhất trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của bên nhận thế chấp, so với các biện pháp bảo đảm khác, đặc biệt là các biệnpháp bảo đảm đối nhân

Ba là, trong thời gian thế chấp, bên thế chấp hầu như có đầy đủ các quyền

của chủ tài sản như: khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp,trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận; đầu tư để

18 Xem thêm: Khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự 2015.

19 Vấn đề này hiện được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận tại khoản 2 Điều 317 Bộ luật dân sự 2015

Trang 20

làm tăng giá trị của tài sản thế chấp; nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ vàgiấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ đượcbảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyểntrong quá trình sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên muathanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản đượcthay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.Trường hợp tài sản thế chấp làkho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảođảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận20.

Như vậy, có thể thấy rằng so với cầm cố tài sản thì biện pháp thế chấp tài sản

có những điểm khác biệt nhất định và những khác biệt này hoàn toàn xuất phát từbản chất của thế chấp tài sản

Thứ ba, về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín

dụng bằng bảo lãnh của bên thứ ba

Trong khoa học pháp lý, bảo lãnh được quan niệm là biện pháp bảo đảm đốinhân, theo đó bên bảo lãnhcam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay chobên có nghĩa vụ, nếu đến hạn mà người này không thực hiện nghĩa vụ đối với bên

có quyền Còn trong pháp luật thực định ở Việt Nam hiện nay, nhà làm luật địnhnghĩa: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên

có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên cónghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa

vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”21.Nhà làm luật cũng quy định các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phảithực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnhkhông có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Về lý thuyết, biện pháp bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theohợp đồng tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là,xét về bản chất, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân, theo đó bên

bảo lãnh không cam kết đem một tài sản cụ thể của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ

20 Thực tế cho thấy, các quyền năng này cũng đã được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận tại Điều 321 Bộ luật dân sự 2015.

21 Xem thêm: Khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự 2015.

Trang 21

của bên được bảo lãnh đối với bên có quyền, mà chỉ cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụthay cho bên được bảo lãnh nếu đến hạn mà người này không thực hiện nghĩa vụđối với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) Nói như vậy có nghĩa là, bên nhận bảolãnh không thiết lập được quyền ưu tiên và quyền theo đuổi đối với các tài sản cụthể của bên bảo lãnh trong suốt thời gian bảo lãnh Vì vậy, bên bảo lãnh có thể lợidụng nguyên tắc này để tìm cách “tẩu tán tài sản”của mình trước khi bị bên nhậnbảo lãnh yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh (nghĩa vụ trả nợ thay bênđược bảo lãnh) Đây cũng chính là điểm bất lợi hay điểm hạn chế của các biện phápbảo đảm đối nhân nói chung và bảo lãnh nói riêng, so với các biện pháp bảo đảmđối vật - đặc biệt là biện pháp thế chấp tài sản.

Hai là,trong biện pháp bảo lãnh, bên bảo lãnh chỉ đóng vai trò là “con nợ dự

bị” của bên nhận bảo lãnh (bên có quyền), so với “con nợ chính” là bên được bảolãnh (bên có nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh) Nói cách khác, bên bảo lãnhchỉ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh khi bên được bảolãnh – với tư cách là con nợ chính, đã không thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhậnbảo lãnh khi đến hạn Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận thì bên bảo lãnh cũng

có thể bị bên nhận bảo lãnh đòi tiền ngay cả khi bên được bảo lãnh vẫn có khả năngthực hiện nghĩa vụ của họ

Tóm lại, có thể khẳng định rằng việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay

có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với tổ chức tín dụng trong nền kinh tế thịtrường Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm này trong quan hệ cho vaycủa tổ chức tín dụng cũng góp phần đảm bảo sự an toàn cho hệ thống ngân hàng vàthông qua đó bảo đảm sự vận hành an toàn cho nền kinh tế

1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

1.2.1 Khái niệmvà cấu trúc của pháp luật vềbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Giống như bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào khác, khái niệm pháp luật về bảođảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng có thể được quan niệm là tổnghợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã

Trang 22

hội phát sinh trong quá trình xác lập và thực hiện các giao dịch bảo đảm trong quan

hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng

Với tư cách là một lĩnh vực của luật tư, pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợtiền vay theo hợp đồng tín dụng tuy về cơ bản vẫn dựa theo triết lý điều chỉnh củaluật tư, nghĩa là Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do thỏa thuận và tự định đoạt củacác bên tham gia vào giao dịch bảo đảm nhưng trên thực tế, nó đã được “tinh chỉnh”

để đảm bảo yêu cầu quản lý của Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích công và trật tự côngcộng trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng

Từ triết lý nêu trên trong điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ cho vay cóbảo đảm giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, cấu trúc của pháp luật về bảo đảmnghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng bao gồm các nhóm quy phạm phápluật chủ yếu sau đây:

(i) Nhóm quy định về chủ thể tham gia giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợtiền vay theo hợp đồng tín dụngvà tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng Trên nguyên tắc, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xácđịnh rõ chủ thể tham gia vào giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng là ai, quyền và nghĩa vụ của chủ thể đó như thế nào trong quan hệhợp đồng bảo đảm tiền vay, các tài sản nào có thể là đối tượng bảo đảm nghĩa vụ trả

nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

(ii) Nhóm quy định về xác lậpgiao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụquy định rõ các hình thức bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng;quy trình, thủ tục xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồngtín dụng; vấn đề hiệu lực của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng

(iii) Nhóm quy định về thực hiện giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụquy định về nguyên tắc và trình tự, thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả

nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng vì lợi ích của các bên tham gia giao dịch bảođảm Mặt khác, nhóm quy phạm pháp luật này cũng có nhiệm vụ xác định rõ hậu

Trang 23

quả pháp lý của trường hợp các bên không thực hiện đúng cam kết trong giao dịchbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng (chẳng hạn như: chế tàiđối với hành vi vi phạm hợp đồng bảo đảm, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợpđồng bảo đảmẦ).

(iv) Nhóm quy định về xử lý tài sản trong giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợtiền vay theo hợp đồng tắn dụng Nhiệm vụ của nhóm quy phạm pháp luật này làxác định rõ các trường hợp cần xử lý tài sản bảo đảm; nguyên tắc và phương thức

xử lý tài sản bảo đảm; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong quátrình xử lý tài sản bảo đảm; trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợtiền vay theo hợp đồng tắn dụng

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật vềbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng

Không thể phủ nhận rằng có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến pháp luật

về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng trong nền kinh tế thịtrường ở mỗi quốc gia.Ở mức độ khái quát, có thể cho rằng các yếu tố này baogồm:

Thứ nhất, yếu tố lợi ắch của các bên liên quan đến giao dịch bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng Sở dĩ có thể khẳng định rằng yếu tố lợiắch có tác động trực tiếp đến pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tắn dụng là bởi vì, suy cho cùng, pháp luật nói chung và pháp luật về giao dịchbảo đảm nói riêng chẳng qua là công cụ để Nhà nýớc thực hiện việc phân bổ lợi ắchgiữa các chủ thể khác nhau trong xã hội mà thôi, trong đó có lợi ắch của Nhà nýớc

và lợi ắch của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay theo hợp đồng tắn dụng.Trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tắn dụng, pháp luật là công cụ để Nhà nýớc điều chỉnh hành vi xử sự của cácbên tham gia giao dịch bảo đảm vì lợi ắch của chắnh họ và lợi ắch của cả Nhà nýớc

Vì vậy, nếu Nhà nýớc thiết kế các quy định về giao dịch bảo đảm một cách hợp lý,đảm bảo sự hài hòa, cân bằng về lợi ắch của tất cả các chủ thể có liên quan (bên bảođảm, bên nhận bảo đảm, Nhà nýớc và ngýời thứ ba) thì các quy định đó chắc chắn

sẽ đýợc các chủ thể này tự giác tuân thủ Ngýợc lại, nếu các quy định về bảo đảm

Trang 24

nghĩa vụ trả nợtiền vay không đảm bảo đýợc quyền và lợi ắch hợp pháp cho một chủthể nào đó thì chủ thể này sẽ có xu hýớng vi phạm pháp luật để tránh sự bất lợi chomình, còn chủ thể đýợc lợi hõn bởi các quy định pháp luật thì sẽ có xu hýớng muốnthực hiện các quy định đó

Thứ hai, yếu tố trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội.Không thể phủ

nhận rằng trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có tác động,ảnh hýởng trực tiếp đến hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo đảmnghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng nói riêng Sự ảnh hýởng này thểhiện ở chỗ: Nếu nền kinh tế - xã hội của một quốc gia đang ở trình độ phát triển caothì nó sẽ đặt ra các yêu cầu đối với hệ thống pháp luật (trong đó có pháp luật về bảođảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng) là phải phát triển ở trình độtýõng ứng để tạo hành lang hay khuôn khổ pháp lý phù hợp cho các hoạt động kinh

tế, hoạt động xã hội đýợc thực hiện tốt hõn, hiệu quả hõn Ngýợc lại, nếu một quốcgia có nền kinh tế - xã hội kém phát triển hoặc chậm phát triển thì tất yếu nó sẽ tácđộng đến sự phát triển của hệ thống pháp luật, trong đó có các quy định về bảo đảmnghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng Vì vậy, để hoàn thiện pháp luật vềbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụng, Nhà nýớc rất cần chú ýđến mối quan hệ tác động qua lại giữa yếu tố kinh tế và yếu tố pháp luật, giống nhýmối quan hệ biện chứng giữa cõ sở hạ tầng và kiến trúc thýợng tầng trong một hìnhthái kinh tế xã hội vậy

Thứ ba, yếu tố truyền thống vãn hóa và đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp.

Đây là một trong những yếu tố có tác động trực tiếp đến pháp luật kinh tế nói chung

và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắn dụngnói riêng.Điều này thể hiện ở chỗ, về lý thuyết cũng nhý trong thực tế, tất cả các bên tham giavào giao dịch bảo đảm và giao dịch cho vay đều chịu ảnh hýởng ắt nhiều bởi truyềnthống vãn hóa dân tộc cũng nhý vãn hóa kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp, đạođức xã hội Điều này có ảnh hýởng nhất định đến thói quen thực hiện pháp luật vàtuân thủ pháp luật của chủ thể tham gia vào giao dịch bảo đảm Vì vậy, việc xâydựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tắndụng cần phải tắnh đến sự tác động của yếu tố vãn hóa kinh doanh và đạo đức nghề

Trang 25

nghiệp, ðạo ðức xã hội của ngýời tham gia vào giao dịch bảo ðảm nhằm giúp chocác quy ðịnh này ðạt ðýợc mức ðộ hiệu quả tối ýu.

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TIỀN VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN CÔNG CHỨNG GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

VĨNH PHÚC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

2.1.1 Thực trạng quy định về chủ thể tham gia giao dịch bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng và tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Như đã đề cập đến trong mục 1.2.1 của chương 1, nhóm quy định này cónhiệm vụ xác định rõ chủ thể tham gia vào giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiềnvay theo hợp đồng tín dụng là ai, quyền và nghĩa vụ của chủ thể đó như thế nàotrong quan hệ hợp đồng bảo đảm tiền vay, các tài sản nào có thể là đối tượng bảođảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Trước hết, về quy định liên quan đến thành phần chủ thể tham gia vào giao

dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Theo quy định của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm vàgần đây nhất làBộ luật dân sự 2015, chủ thể tham gia vào giao dịch bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng bao gồm bên bảo đảm và bên nhận bảođảm Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, nhàlàm luật quy định: “Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùngquyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối vớibên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặccủa người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên

ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín

Trang 26

chấp”22 Nếu theo quy định này, bên bảo đảm chính là tổ chức, cá nhân cam kết vớibên có quyền về việc sẽ sử dụng các tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ của chính mình hoặc nghĩa vụ của người khác đối với bên có quyền.

Tương tự, tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định nói trên, nhà làm luật quy định:

“Bên nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ dân sự mà việc thực hiện quyền

đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm, bao gồm bên nhận cầm

cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận bảo lãnh, tổchức tín dụng trong trường hợp tín chấp và bên có quyền được ngân hàng thanhtoán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quỹ”23 Theo quy định này, bên nhậnbảo đảm trong quan hệ hợp đồng tín dụng có bảo đảm chính là tổ chức tín dụng đãcho vay đối với khách hàng mà khoản vay đó đã được bảo đảm bằng tài sản cầm cố,thế chấp hoặc bảo lãnh của bên bảo đảm

Thứ hai, về quyền, nghĩa vụ của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm trong

giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Để giúp các bên có cơ sở pháp lý chắc chắn cho việc thỏa thuận nội dung củahợp đồng bảo đảm hoặc nếu không có thỏa thuận thì áp dụng trực tiếp các quy địnhcủa pháp luật trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm tiền vay, nhà làm luật đãquy định khá chi tiết trong Bộ luật dân sự 2015 về quyền và nghĩa vụ của bên bảođảm và bên nhận bảo đảm trong từng loại giao dịch bảo đảm như cầm cố, thế chấp

và bảo lãnh

Thật vậy, theo quy định tại Điều 311 và 312 Bộ luật dân sự 2015, đối vớitrường hợp các bên áp dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng là cầm cố tài sảnthì bên cầm cố và bên nhận cầm cố có các quyền,nghĩa vụ cơ bản sau:

(i)Bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tàisản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật dân sự

2015 nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giátrị; yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khinghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt; yêu cầu bên nhận cầm cố bồi

22 Xem thêm: Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 163/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm.

23 Xem thêm: Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 163/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm.

Trang 27

thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố; được bán, thay thế, trao đổi, tặng chotài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật Bêncạnh đó, Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định bên cầm cố có nghĩa vụ: Giao tài sảncầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận; báo cho bên nhận cầm cố vềquyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báothì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thườngthiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sảncầm cố; thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố,trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

(ii) Bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng tráipháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó; xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đãthỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; được cho thuê, cho mượn, khai tháccông dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏathuận; được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản chobên cầm cố Đồng thời, bên nhận cầm cố cũng phải thực hiện các nghĩa vụ như: Bảoquản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thìphải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố; không được bán, trao đổi, tặng cho, sửdụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác; không được cho thuê,cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừtrường hợp có thỏa thuận khác; trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu cókhi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biệnpháp bảo đảm khác

Đối với trường hợp các bên áp dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiềnvay theo hợp đồng tín dụng là thế chấp tài sản thì theo quy định tại Điều 320 và

321 Bộ luật dân sự 2015, bên thế chấp và bên nhận thế chấp có các quyền, nghĩa vụ

cơ bản sau:

(i) Bên thế chấp có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tàisản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận;đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp; nhận lại tài sản thế chấp do người thứ

ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa

Trang 28

vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảođảm khác; được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóaluân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh; được bán, trao đổi, tặng cho tàisản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinhdoanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật; được chothuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết

về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báocho bên nhận thế chấp biết Bên cạnh đó, bên thế chấp cũng phải thực hiện cácnghĩa vụ như: Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên

có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác; bảo quản, giữ gìn tài sản thếchấp; áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai tháccông dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơmất giá trị hoặc giảm sút giá trị; khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thờigian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trịtương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; cung cấp thông tin về thực trạngtài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp; giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp

để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều

299 của Bộ luật dân sự 2015; thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền củangười thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bênnhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệthại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thếchấp; không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợpquy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật dân sự 2015

(ii) Bên nhận thế chấp có quyền xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp,nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khaithác tài sản thế chấp; yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tàisản thế chấp; yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tàisản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trịcủa tài sản do việc khai thác, sử dụng; thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quyđịnh của pháp luật; yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao

Trang 29

tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ; giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên

có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác; xử lý tài sản thế chấp khi thuộctrường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự 2015 Bên cạnh đó, Bộ luậtdân sự 2015 cũng quy định bên nhận thế chấp phải thực hiện các nghĩa vụ như: Trảcác giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bênthỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp; thực hiệnthủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật

Đối với trường hợp các bên áp dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiềnvay theo hợp đồng tín dụng là bảo lãnh thì theo quy định tại Điều 340 Bộ luật dân

sự 2015, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đốivới mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏathuận khác Bên bảo lãnh phảithực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảolãnh theo như cam kết trong hợp đồng bảo lãnh, trừ trường hợp bên nhận bảo lãnh

có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh24

Thứ ba, về tài sản có thể đem bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp

đồng tín dụng

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giaodịch bảo đảm, nhà làm luật giải thích rằng “tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảođảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm”.Cũngtheo quy định tại Điều 4 Nghị định nói trên, tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặctài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch.Tài sản hìnhthành trong tương lai bao gồm: Tài sản được hình thành từ vốn vay; tài sản đangtrong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kếtgiao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sởhữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng

ký theo quy định của pháp luật Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồmquyền sử dụng đất Các doanh nghiệp nhà nước được sử dụng tài sản thuộc quyềnquản lý, sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác.Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp và có

24 Xem thêm: Khoản 2 Điều 339 Bộ luật dân sự 2015.

Trang 30

giá trị pháp lý đối với người thứ ba thì Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyềnkhác không được kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảođảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về vấn đề giá trị tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng, nhà làm luật quy định trường hợp bên bảo đảm dùng mộttài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thỏa thuậndùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ đượcbảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Trên nguyên tắc, do pháp luậtkhông giới hạn nên tài sản bảo đảm chỉ cần đáp ứngcác tiêu chuẩn cơ bản như: phảithuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm (đối với quyền sử dụng đất thì bênbảo đảm phải có quyền sử dụng đất hợp pháp); được phép giao dịch Một số loại tàisản đặc biệt có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng như: Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh làđộng sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất,kinh doanh của bên bảo đảm; giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu,

kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theoquy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch

2.1.2 Thực trạng quy định về xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng

Như đã đề cập đến trong mục 1.2.1 của chương 1, nhóm quy định này cónhiệm vụ quy định rõ các hình thức bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồngtín dụng; quy trình, thủ tục xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theohợp đồng tín dụng; vấn đề hiệu lực của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vaytheo hợp đồng tín dụng

Trước hết, về các hình thức bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng

tín dụng

Mặc dù Bộ luật dân sự 2015 hiện hành quy định 9 biện pháp bảo đảm nghĩa

vụ dân sự nhưng trong thực tế cho vay có bảo đảm của tổ chức tín dụng đối vớikhách hàng, hầu như các bên chỉ lựa chọn áp dụng 3 biện pháp bảo đảm có tính phổbiến nhất là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản và bảo lãnh

Trang 31

Đối với biện pháp cầm cố tài sản, nhà làm luật quy định tại các điều từ 309đến 316 Bộ luật dân sự 2015, theo đó, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Đối với biện pháp thế chấp tài sản, nhà làm luật quy định tại các điều từ 317đến 327 Bộ luật dân sự 2015, theo đó thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tàisản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản chobên nhận thế chấp

Đối với biện pháp bảo lãnh, nhà làm luật quy định tại các điều từ 335 đến

343 Bộ luật dân sự 2015, theo đó bảo lãnh là việc bên bảo lãnh cam kết với bênnhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, nếu khiđến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thựchiện không đúng nghĩa vụ

Thứ hai, về quy trình, thủ tục xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền

vay theo hợp đồng tín dụng

Trên nguyên tắc, dogiao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợpđồng tín dụng cũng chỉ là một loại giao dịch dân sự nên việc xác lập giao dịch nàycũng sẽ phải tuân thủ nguyên tắc chung của việc xác lập giao dịch dân sự

Theo quy định hiện hành, quy trình thủ tục xác lập giao dịch bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng được thực hiện như sau:

(i) Các bên ký kết hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hoặc hợp đồng bảolãnh tại cơ quan công chứng nhà nước hoặc văn phòng công chứng tư có thẩmquyền theo quy định của pháp luật Hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồngbảo lãnh sau khi được ký kết xong cần phải có chứng thực của Phòng công chứnghoặc Văn phòng công chứng có thẩm quyền để đảm bảo hiệu lực pháp lý của cáchợp đồng bảo đảm Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP vềgiao dịch bảo đảm, việc công chứng hoặc chứng thực giao dịch bảo đảm do các bênthỏa thuận Trong trường hợp pháp luật có quy định thì giao dịch bảo đảm phảiđược công chứng hoặc chứng thực

(ii) Các bên tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giaodịch bảo đảm có thẩm quyền luật định Về nguyên tắc, việc đăng ký biện pháp

Trang 32

bảo đảm (giao dịch bảo đảm) có thể được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theoquy định của luật Việc đăng ký biện pháp bảo đảm chỉ là điều kiện để giao dịchbảo đảm có hiệu lực trong trường hợp luật có quy định Trường hợp được đăng

ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từthời điểm đăng ký.Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quyđịnh của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm, hay còn gọi là đăng ký giaodịch bảo đảm25

Đối với trường hợpbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụngbằng tài sản hình thành trong tương lai, pháp luật hiện hành không có quy định cụthể về việc phải ký kết hợp đồng bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm như thếnào Đây là một khó khăn lớn cho các bên tham gia giao dịch bảo đảm bởi lẽ trongthực tế, có rất nhiều trường hợp khách hàng vay mong muốn được bảo đảm nghĩa

vụ trả nợ tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai, ví dụ như trường hợpkhách hàng mua nhà ở tại các dự án bất động sản của chủ đầu tư bất động sản.Vềnguyên tắc,do không có quy định riêng về trường hợp này nên các bên vẫn có thểtiến hành ký kết hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo thủ tục thông thường, tuynhiên trong hợp đồng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh cần ghi rõ tài sản bảo đảm làtài sản được hình thành trong tương lai, đồng thời phải thỏa thuận rõ là khi tài sản

đã hình thành trên thực tế thì bên nhận bảo đảm tự động được thiết lập đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm đối với tài sản đó26

Thứ ba, về vấn đề hiệu lực của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay

sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp tàu bay, tàu biển; các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định

26 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, khi bên bảo đảm có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai thì bên nhận bảo đảm có các quyền đối với một phần hoặc toàn

bộ tài sản đó Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn

xử lý.

Trang 33

kết, trừ các trường hợp sau đây:

a) Các bên có thỏa thuận khác;

b) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bênnhận cầm cố;

c) Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừngsản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp;

d) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứngthực trong trường hợp pháp luật có quy định

Giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểmđăng ký Thời điểm đăng ký được xác định theo quy định của pháp luật về đăng kýgiao dịch bảo đảm.Việc thay đổi một hoặc các bên tham gia giao dịch bảo đảmkhông làm thay đổi thời điểm giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứba.Trong trường hợp bên bảo đảm dùng tài sản không thuộc sở hữu của mình đểbảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản theo quyđịnh của Bộ luật dân sự 2015.Trong trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản muatrả chậm, trả dần, tài sản thuê có thời hạn từ một năm trở lên của doanh nghiệp,

cá nhân có đăng ký kinh doanh gồm máy móc, thiết bị hoặc động sản khác khôngthuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu và hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợpđồng thuê được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyềntrong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng mua trả chậm, trảdần, hợp đồng thuê thì bên bán có bảo lưu quyền sở hữu, bên cho thuê có thứ tự

ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm; nếu không đăng ký hoặcđăng ký sau thời hạn trên và sau thời điểm giao dịch bảo đảm đã đăng ký thì bênnhận bảo đảm được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình và có thứ tự ưu tiên thanhtoán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm Đối với trường hợp bên bảo đảm là phápnhân được tổ chức lại thì hiệu lực của giao dịch bảo đảm được xác định như sau:Nếu các bên thỏa thuận về việc kế thừa, thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm vàgiao dịch bảo đảm trong quá trình tổ chức lại pháp nhân thì thực hiện theo thỏathuận đó; nếu không thỏa thuận được thì bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu bên

có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn; nếu không yêu cầu thực hiện

Ngày đăng: 14/04/2019, 07:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Khác
5. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Khác
6. Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụngGiáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, bài báo khoa học Khác
7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2017 Khác
8. Trường Đại học luật Hà Nội (1996), Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị- Quốc gia Hà Nội Khác
9. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, NXB Tư Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w