Tính cấp thiết của đề tài Rừng là lá phổi xanh của trái đất, là nguồn tài nguyên có khả năng tự tái tạo và phục hồi, có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, điều hòa chế độ khí hậu, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học… trên hành tinh của chúng ta. Chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ bảo tồn mới mẻ ở Việt Nam nhằm đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trường tích cực thông qua việc chu chuyển tài chính từ những người được hưởng lợi dịch vụ môi trường đến những người cung cấp các dịch vụ này. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chi trả DVMTR nói chung và giải pháp chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR và đề xuất giải pháp hoàn thiện: Nghiên cứuđiển hình tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Luận văn được thực hiện nhằm đat được mục tiêu tổng quát là đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nói riêng. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chi trả DVMTR. - Tổng kết kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên thế giới và Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Điện Biên và Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé . - Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điên Biên. - Đánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường tại vùng nghiên cứu. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nói riêng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về không gian Địa bàn nghiên cứu của đề tài là Khu bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Phạm vi về thời gian Đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điên Biên trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017 Phạm vi về nội dung Các nội dung chính được phân tích trong luận văn gồm: - Thống kê diện tích chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé. - Tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường tại vùng nghiên cứu - Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé. - Đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé. - Đề xuất những chính sách phù hợp nhằm hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở KBTTN Mường Nhé nói riêng.
Trang 1NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DVMTR VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DVMTR VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ THỊ HOÀI THU
Trang 5Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG 6 1.1 Tổng quan về chi trả DVMTR 6
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ môi trường 6
1.1.2 Khái niệm môi trường rừng 7
1.1.3 Khái niệm dịch vụ môi trường rừng 7
1.1.4 Khái niệm về chi trả DVMTR 8
1.2 Chính sách chi trả DVMTR 10
1.2.1 Bản chất kinh tế của vấn đề môi trường và phương pháp tiếp cận 10
1.2.2 Các công cụ chính sách môi trường 12
1.2.3 Bản chất kinh tế của chi trả DVMTR 13
1.2.4 Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR 17
1.2.5 Các yếu tố cơ bản của chính sách chi trả DVMTR 18 1.2.6 Hình thức chi trả 20
1.3 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về chi trả DVMTR 21
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về chi trả DVMTR 21
1.3.3 Bài học rút ra cho Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 33
2.1 Tổng quan về Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tình Điện Biên 40
2.2.1 Quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé, tỉnh Điện Biên 40
2.2.2 Những tác động của chính sách chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé, tỉnh Điên Biên 55
Trang 72.3.1 Phân tích SWOT về công tác chi trả dịch vụ môi trường rừngở KBTTN Mường
Nhé, tỉnh Điện Biên 75
2.3.2 Một số kết quả đạt được từ chính sách chi trả DVMTR 77
2.3.3 Một số hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực hiện chi trả DVMTR 78
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN MƯỜNG NHÉ 81
3.1 Giải pháp về thể chế 81
3.2 Giải pháp về chia sẻ lợi ích 82
3.3 Giải pháp về giám sát và đánh giá 82
KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BQLKBT
Ban quản lý Ban quản lý khu bảo tồnBVPTR Bảo vệ phát trển rừng
CDM Cơ chế phát triển sạch
DVMTR
KBTTN
Dịch vụ môi trường rừngKhu bảo tồn thiên nhiênKTGS Kiểm tra giám sát
MDGs Millennium Development Goals (Mục tiêu phát triển thiên
niên)NN&PTNT Nông Nghiệp và phát triển nông thôn
PFES Program to pay for environmental services forest (Chương
trình quốc gia về chi trả DVMTR)PES Payments for environmental services(Chi trả dịch vụ môi
trường)QLBVR
VQG
Quản lý bảo vệ rừngVườn quốc giaREDD +
Reduced Emission from Deforestation andForest Degradation (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái thoái rừng)
RES Dịch vụ môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change
(Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu)
Trang 9Bảng 2.1 Thống kê tiềm năng cung ứng DVMTR 57
Bảng 2.2 Tiền thu DVMTR từ năm 2013 đến năm 2017 theo đối tượng và loại DVMTR tại KBTTN Mường Nhé 58
Bảng 2.3 Mức tiền chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé 59
Bảng 2.4 Lý do các hộ dân tham gia chi trả DVMTR 63
Bảng 2.5 Thu nhập từ DVMTR bình quân của các hộ dân 65
Bảng 2.6 Công tác tuyên truyền tại KBTTN Mường Nhé 68
Bảng 2.7 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp KBTTN Mường Nhé 70
Bảng 2.8 Diện tích giao khoán bảo vệ rừng cung ứng DVMTR theo từng năm 71 Bảng 2.9 Diễn biến đất có rừng của KBTTN Mường Nhé 72
Bảng 2.10 : Số vụ vi phạm lâm nghiệp qua các năm tại Huyện Mường Nhé 74 HÌNH Hình 1.1 Chi trả DVMTR trong bảo vệ rừng đầu nguồn 9
Hình 1.2: Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia 15
Hình 1.3: Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường 16
Hình 2.1 Vị trí Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé 33
Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Quỹ BV&PTR của tỉnh Điện Biên 41
Hình 2.3 Quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR, theo hình thức gián tiếp 42 Hình 2.4 Quá trình tổ chức thực thi chính sách tỉnh Điện Biên 48
Hình 2.5 Cơ chế chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé 53
Hình 2.5 Tỷ lệ đói nghèo KBTTN Mường Nhé 64
Trang 10NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DVMTR VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH: 8340410
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 11TÓM TẮT LUẬN VĂNTính cấp thiết của đề tài
Rừng là lá phổi xanh của trái đất, là nguồn tài nguyên có khả năng tự táitạo và phục hồi, có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái,điều hòa chế độ khí hậu, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học… trên hànhtinh của chúng ta
Chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ bảo tồn mới mẻ ở Việt Namnhằm đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trường tích cực thông qua việcchu chuyển tài chính từ những người được hưởng lợi dịch vụ môi trường đếnnhững người cung cấp các dịch vụ này
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp mộtphần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chi trả DVMTRnói chung và giải pháp chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường
Nhé nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR và đề xuất giải pháp hoàn thiện: Nghiên cứuđiển hình tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Luận văn được thực hiện nhằm đat được mục tiêu tổng quát là đánh giá việc thựchiện chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh ĐiệnBiên; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh ĐiệnBiên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nói riêng
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chi trả DVMTR
- Tổng kết kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên thếgiới và Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Điện Biên và Khubảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trườngtại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điên Biên
- Đánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh
tế, xã hội và môi trường tại vùng nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên MườngNhé nói riêng
Trang 12Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là chính sách chi trả DVMTR tạiKhu bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Phạm vi về nội dung
Các nội dung chính được phân tích trong luận văn gồm:
- Thống kê diện tích chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé
- Tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh tế, xã hội
và môi trường tại vùng nghiên cứu
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tácchi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé
- Đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra một số hạn chế và nguyênnhân trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé
- Đề xuất những chính sách phù hợp nhằm hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở KBTTN Mường Nhé nói riêng
Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI TRẢ
DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG
- Tổng quan về chi trả DVMTR
Khái niệm về dịch vụ môi trường
(i) Dịch vụ cung cấp: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, nguồn gen, ;(ii) Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hòa khíhậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh, ;
(iii) Dịch vụ hỗ trợ: kiến tạo đất, tái tạo dinh dưỡng, điều hòa dinhdưỡng, ;
Trang 13(iv) Dịch vụ văn hóa: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịchsinh thái, lịch sử khoa học và giáo dục,
Khái niệm môi trường rừng
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật,động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên
Khái niệm dịch vụ môi trường rừng
Theo Khoản K, điều 3, Luật về rừng của Costa Rica: “DVMTR là việccung ứng các giá trị từ rừng mà có tác động bảo vệ và cải thiện chất lượngmôi trường Bao gồm: Giảm phát thải khí nhà kính; Bảo vệ nguồn nước cho
đô thị, nông thôn, thủy điện; Bảo vệ đa dạng sinh học nhằm mục đích pháttriển bền vững, nghiên cứu khoa học và điều chế dược phẩm;
Khái niệm về chi trả DVMTR
IUCN đưa ra khái niệm về Chi trả dịch vụ môi trường như sau: “Người mua [tự nguyện] đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà
nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”(IUCN,2008)
Cho đến nay, định nghĩa về PFES được đông đảo các nhà khoa học trên
thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven Theo tác giả này, “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES)
Ở Việt Nam, theo Khoản 3, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ–CP “Chi trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ” Hiểu một cách đơn giản, chi trả DVMTR là việc
chi trả của những người hưởng lợi DVMTR cho người cung ứng dịch vụ
Các loại DVMTR
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối
- Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội
- Hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhàkính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng vàphát triển rừng bền vững
- Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinhthái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch
- Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng
Trang 14nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủysản.
Chính sách chi trả DVMTR
- Bản chất kinh tế của vấn đề môi trường và phương pháp tiếp cận
- Các công cụ chính sách môi trường
- Bản chất kinh tế của chi trả DVMTR
- Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR
- Các yếu tố cơ bản của chính sách chi trả DVMTR
- Hình thức chi trả
Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về chi trả DVMTR
Kinh nghiệm quốc tế về chi trả DVMTR
- Một số cơ chế chi trả DVMT trên thế giới cho dịch vụ nước và cảnh quan
- Chi trả DVMT rừng về hấp thụ các-bon
Kinh nghiệm về chi trả DVMTR tại Việt Nam
- Về chi trả DVMTR
- Về chi trả DVMTR vẻ đẹp cảnh quan
- Những trở ngại cho việc thực thi PFES ở Việt Nam
- Những yếu tố áp dụng thành công PFES ở Việt Nam
Bài học rút ra cho Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Cần chỉ ra chi phí và lơi ích từ việc bảo vệ phòng hộ đầu nguồn làmột yêu cầu quan trọng để thuyết phục người mua tham gia
- Lồng ghép các Dự án phát triển lâm nghiệp với các lợi ích từ hấpthụ các bọn thông qua sử dụng cơ chế chi trả phí mang tính tự nguyện
- Một số vùng có cảnh quan đẹp có thể xây dựng một cơ chế hỗ trợ tàichính bền vững thông qua chi tiêu hợp lý và tăng thu nhập từ hoạt động
Trang 15về phía Bắc Phía Đông giáp huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, phía Tây giápnước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Nam giáp xã Quảng Lâm và Na Cô
Sa huyện Mường Nhé, phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tọa độ địa lý và quy mô diện tích
- Phân khu bảo vệ nghiệm ngặt: 25.679,08 ha
- Phân khu phục hồi sinh thái: 19.453,05 ha
- Phân khu dịch vụ - hành chính: Dự kiến 32,58 ha (nằm ngoài vùng đệmđang làm thủ tục xin giao đất)
Địa hình, địa thế
Địa hình trong khu vực có dạng núi cao bị chia cắt mạnh bởi cac dôngnúi có độ dốc lớn Phía Tây Bắc dọc theo biên giới Việt Lào trải dài qua địaphận 5 xã là dãy Phu Đen Đinh chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam vớiđỉnh cao nhất là Pu Pá Kun (1.892m) Phía Bắc dọc theo biên giới Việt Trung
là các dãy nuisPhus Ta Long San, Phú Tu Na với đỉnh cao 1.405m Phía ĐôngNam thuộc địa phận xã Mường Tong là các dông núi có độ cao trung bìnhtrên 1000m Nằm giữa các dãy núi là các thung lũng nhỏ hẹp và một số dãynúi thấp Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc- Đông Nam
Giao thông, thủy lợi
- Giao thông: Trong khu vực hiện nay đã có tuyến đường ô tô nối liềncác xã trong toàn huyện
- Cơ sở hạ tầng thủy lợi chưa phát triển, do đại hình phức tạp, bị chia cắtmạnh nên việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi còn gặp nhiều khó khăn
+ Nhiệt đô bình quân năm là là 22,50C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối là
390C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 70C
+ Lượng mưa trung bình năm 1950mm tập trung chủ yếu vào mùa hè,vào các tháng 6,7,8 tổng lượng mưa chiếm tới 80%
+ Độ ẩm không khí bình quân năm là 85%
+ Gió: Hướng gió thịnh hành trong khu vực là Đông Bắc hoạt động từtháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 16PHÒNG KẾ TOÁN PHÒNG KẾ HOẠCH
TỔNG HỢP
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH GIÁM ĐỐC VÀ CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC
+ Sương muối và mưa đá đôi khi xuất hiện
- Thành phần dân tộc, phân bố và phong tục tập quán
Quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Cơ cấu tổ chức của Quỹ bảo vệ phát triển rừng tỉnh Điện Biên
Qua điều tra, phỏng vấn và tìm hiểu tại Khu bảo tồn thiên nhiên MườngNhé về công tác chi trả DVMTR cho thấy đây là một chính sách còn khá mới
mẻ với người dân được hưởng lợi Người dân và các cấp quản lý đều nhậnthức được vai trò của rừng Tuy nhiên, do nhận thức khác nhau mà cách thứcứng xử với rừng trong thực tế cũng có nhiều khác biệt
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Quỹ BV&PTR của tỉnh Điện Biên
BAN KIỂM SOÁT
HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ QUỸ
BAN ĐIỀU HÀNH QUỸ
Trang 17Cơ chế chi trả tiền DVMTR tại tỉnh Điện Biên
- Hình thức chi trả DVMTR
Quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR, theo hình thức gián tiếp
Lập kế hoạch chi trả tiền DVMTR
- Đối tượng, thời gian lập kế hoạch
Cácđơn vị chủ rừng là
tổ chức nhà nước (các BQLR, VQG )
và UBND các xã
Cộng đồng thôn Nhóm HGĐ/Tổ nhận khoán
Hộ gia đình
Bên sử dụng
DVMTR
Bêncung ứng DVMTR Bên Trung gian
52đ/m 3
2%
52đ/m 3
Trang 18- Sở Tài nguyên và Môi trường
- Sở Tài chính
- Sở Kế hoạch và Đầu tư
- UBND các huyện, thành phố
Qui trình tổ chức thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Điện Biên
Quá trình tổ chức thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừngtỉnh Điện Biên qua 3 giai đoạn : giai đoạn chuẩn bị triển khai chính sách, giaiđoạn chỉ đạo thực thi chính sách và giai đoạn kiểm soát chính sách
Quá trình tổ chức thực thi chính sách tỉnh Điện Biên
Qui trình tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Trình tự thực hiện hồ sơ chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé
- Cơ chế phân bổ tiền chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé
Đánh giá sự phù hợp của hệ số K trong quá trình áp dụng giá chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé
Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Phân tích SWOT về công tác chi trả dịch vụ môi trường rừngở KBTTNMường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Một số kết quả đạt được từ chính sách chi trả DVMTR
- Một số hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực hiện chitrả DVMTR
+/ Hạn chế về thể chế
Chưa có hướng dẫn về việc phân ranh giới hay xác định chi trả DVMTR
CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH
CHỈ ĐẠO THỰC THI CHÍNH SÁCH
KIỂM SOÁT CHÍNH SÁCH
Trang 19đối với du lịch và các dịch vụ môi trường khá
Chưa có thể chế quy định cụ thể về chức năng, phân công nhiệm vụ khilập hồ sơ chi trả, nghiệm thu, chi trả và quản lý đối với các cơ quan quản lýliên quan, dễ xảy ra tình trạng “vừa đá bóng- vừa thổi còi”
Thể chế, quy định việc giám sát thu quỹ chưa triệt để, hiện nay nguồnthu quỹ mới chỉ tập trung vào 3 công ty nhà máy thủy điện và công ty nướcsạch vinconex
Tiền thu DVMTR theo Nghị định 147 từ các nhà máy thủy điện là 36đồng/KW và nhà máy nước sạch là 52 đồng/KW
Chưa có hướng dẫn thực hiên chi trả trực tiếp Một số Ban điều hànhQuỹ tỉnh không biết thực hiện hình thức chi trả trực tiếp như thế nào
+/ Hạn chế về cơ chế chia sẻ lợi ích
Chưa có cơ chế hợp lý về việc thực hiện các hợp đồng giao khoán đốivới các hộ gia đình còn gặp khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng Việc chia sẻ lợi ích cho các đối tượng hưởng lợi ích trên cùng một diện tích(ha) còn chưa đồng đều, có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực, các xã, các thônbản
Việc xác định và chi trả cho các đối tượng hưởng lợi còn chậm bởi cònthiếu hướng dẫn kỹ thuật và quy định cụ thể đối với mỗi đối tượng cụ thểQuy chế chia sẻ lợi ích tại các nhóm hộ nhận khoán còn chưa tốt, mứccông tuần tra của các nhóm đưa ra còn thấp
Hạn chế về giám sát và đánh giá
Hiện nay, việc thực hiện giám sát và đánh giá chủ yếu là do xã và Quỹthực hiện; vai trò của huyện rất mờ nhạt
Chưa có các quy định và hướng dẫn kỹ thuật cho Quỹ BVPTR cấp tỉnh
và các chủ rừng tổ chức về phương pháp tổ chức thực hiện theo dõi
Thiếu các quy định về cơ chế tuân thủ chế độ báo cáo của chủ rừng tổchức và đầu mỗi chi trả khác
Trang 20CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
MƯỜNG NHÉ
Giải pháp về thể chế
- Rà soát xác định định ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng trong lưuvực:Công việc xác định ranh giới, diện tích và hiện trạng rừng chi trảDVMTR nên được tiếp tục vì số lượng diện tích rừng chi trả DVMTR sẽ cònnhiều hơn
- Để quá trình thực hiện giám sát và đánh giá một cách đầy đủ, các vănbản hướng dẫn chính sách chi trả
- Thu quỹ triệt để, để tăng cường thêm nguồn quỹ cần phải giám sát vàhuy động từ các dịch vụ du lịch và các thủy điện nhỏ khác,
- Tiếp tục nghiên cứu đề xuất tăng mức thu tiền DVMTR để không thấphơn so với giá trị thực mà DVMTR tạo ra
Giải pháp về chia sẻ lợi ích
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể về chia sẻ lợi ích và hỗ trợngười dân một cách công bằng và chính xác
- Tổ chức các lớp tập huấn về phát triển sinh kế cho cán bộ KBTTNMường Nhé và 1 thôn thí điểm
- Tham gia xây dựng quy chế cùng các nhóm nhận khoán để tạo ra cơchế chia sẻ lợi ích phù hợp, tránh trường hợp
- Kịp thời chấn chỉnh các sai sót trong việc giao khoán QLBV rừng, kiênquyết đưa ra khỏi danh sách những hộ nhận khoán vi phạm Luật BVPT rừng,những hộ không tích cực QLBV rừng
Giải pháp về giám sát và đánh giá
- Để quá trình thực hiện giám sát và đánh giá một cách đầy đủ, các vănbản hướng dẫn chính sách
- Xây dựng chính sách và cơ chế khuyến khích cho việc tự giám sát bởingười dân, bên sử dụng dịch vụ môi trường và báo cáo cho cán bộ chi trả cấphuyện và cấp tỉnh
- Các văn bản hướng dẫn thực hiện chi trả DVMTR không nên chỉ tậptrung vào hiệu quả sử dụng nguồn thu từ DVMTR mà cần có các văn bản
Trang 21Sự tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh tê, xã hội
và môi trường tại KBTTN Mường Nhé:
- Tác động về kinh tế: Sau 6 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTRcủa KBTTN Mường Nhé nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung đã thực sự đivào cuộc sống, được nhân dân trong các vùng có rừng đón nhận
- Tác động về xã hội: kết quả sau 6 năm thực hiện chính sách chi trảDVMTR thì có hơn 1.800 hộ dân tại vùng đưuọc tham gia vào chính sáchnày
- Tác động về môi trường: người dân đã hiểu được lợi ích của chính sáchchi trả DVMTR, từ đó thay đổi tích cực nhận thức của người dân và cán bộthực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng
Bên cạnh đó, chính sách chi trả DVMTR còn có những hạn chế nhấtđịnh về thể chế, cơ chế chia sẻ lợi ích, cơ chế giám sát và đánh giá như : Chưalàm rõ và đơn giản hóa xác định được hệ số K nhằm áp dụng thuyết phục được
ý kiến của người dân tham gia chính sách mà họ được hưởng lợi Chưa giảiquyết triệt để được các ranh giới tranh chấp giữa các hộ được giao khoán, chưa
có thể chế quy định cụ thể về chức năng, phân công nhiệm vụ khi lập hồ sơ chitrả, nghiệm thu và quản lý đối với các cơ quan quản lý liên quan
Chính sách chi trả DVMTR đã và đang đem lại nhiều lợi ích, giúp cảithiện nhận thức khi tham gia chính sách của người dân Các hộ dân được chitrả trực tiếp số tiền một cách rõ ràng công khai giúp người dân nhận thấyquyền lợi mà họ được hưởng khi bảo vệ rừng
Trang 22NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DVMTR VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ THỊ HOÀI THU
HÀ NỘI - 2018
Trang 23MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là lá phổi xanh của trái đất, là nguồn tài nguyên có khả năng tựtái tạo và phục hồi, có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinhthái, điều hòa chế độ khí hậu, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học… trênhành tinh của chúng ta Rừng còn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của
xã hội loài người, cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho cuộc sống conngười như gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ, các dịch vụ môi trường, du lịch sinhthái và các nhu cầu văn hóa xã hội của con người
Việt Nam có diện tích tự nhiên hơn 331.698km2 (chưa kể diện tích biển
và hải đảo) trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao Với địa hình rất đa dạng, hơn2/3 lãnh thổ là đồi núi, tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên với nhiềukiểu rừng như: các kiểu rừng khô lạnh vùng cao, các kiểu rừng mưa ẩm vùngthấp, các kiểu rừng khô hạn ven biển, các kiểu rừng ngập mặn, rừng ngập nướcngọt v.v…Trước đây, phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉkhoảng 1 thế kỷ qua rừng bị suy thoái nặng nề, những năm 40 của thế kỉ 20, độche phủ của rừng là 43% Sau chiến tranh, giai đoạn 1979-1982, diện tích rừngchỉ còn khoảng 7,8 triệu ha tương đương độ che phủ 24% Từ những năm 90trở lại đây, nhờ sự nỗ lực của Đảng, nhà nước và toàn xã hội, diện tích từng đãtăng đáng kể, đưa độ che phủ của rừng từ 24% lên 28% năm 1995, 33% năm
1999, và hiện nay là 41,19% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyếtđịnh số 1819/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/5/2017) Mặc dù diện tích rừng tăngqua các năm thông qua các nỗ lực trồng rừng, phục hồi rừng nhưng qua kết quảđiều tra, nghiên cứu thì tài nguyên rừng Việt Nam vẫn bị suy giảm nghiêmtrọng do nhiều nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân đó là dochính ý thức của cộng đồng chưa được nâng cao khi họ luôn coi rừng là một tàinguyên thuộc sở hữu chung và là nguồn thu thập chính phục vụ cuộc sống, cáccộng đồng dân cư sống xung quanh khu vực rừng đã khai thác tài nguyên rừng
Trang 24không hợp lý và làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt và suy thoáinghiêm trọng Bên cạnh đó, các chính sách quản lý rừng chưa hiệu quả cũng lànguyên nhân chính dẫn đến suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.Trước thực trạng đó, nhiều chương trình, chính sách được ra đời nhằm cải thiệnchất lượng tài nguyên rừng, ví dụ như Chương trình 327 năm 1992 về chínhsách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, Dự án 661 trồng mới 5 triệu ha rừng tronggiai đoạn 1998-2010,và chính sách chi trả DVMTR (PFES) năm 2010.
Chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ bảo tồn mới mẻ ở Việt Namnhằm đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trường tích cực thông qua việcchu chuyển tài chính từ những người được hưởng lợi dịch vụ môi trường đếnnhững người cung cấp các dịch vụ này Việc thực hiện chính sách chi trảDVMTR bước đầu đã được người dân đồng tình ủng hộ về chủ trương, tuynhiên còn bộc lộ những khó khăn trong khi triển khai, vì vậy hiệu quả củachính sách còn hạn chế
Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong những nămqua đã và đang thực hiện chính sách chi trả DVMTR cho các chủ rừng theotinh thần Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ Sau 8 năm thực hiện,việc đánh giá thực trạng công tác chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiênMường nhé, tỉnh Điện Biên là rất cần thiết nhằm chỉ ra những hạn chế và khókhăn; từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả củachính sách chi trả DVMTR, góp phần bảo vệ phát triển rừng ngày tốt hơn
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp mộtphần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chi trả DVMTRnói chung và giải pháp chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường
Nhé nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR và đề xuất giải pháp hoàn thiện: Nghiên cứu điển hình tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”.
Trang 252 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn được thực hiện nhằm đat được mục tiêu tổng quát là đánh giáviệc thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên MườngNhé, tỉnh Điện Biên; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên MườngNhé nói riêng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chi trả DVMTR
- Tổng kết kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên thếgiới và Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Điện Biên và Khubảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trườngtại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điên Biên
- Đánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh
tế, xã hội và môi trường tại vùng nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở Khu bảo tồn thiên nhiên MườngNhé nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là chính sách chi trả DVMTR tại Khubảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Trang 26Thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điên Biên trong khoảng thời gian từ năm 2013đến năm 2017
3.2.3 Phạm vi về nội dung
Các nội dung chính được phân tích trong luận văn gồm:
- Thống kê diện tích chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé
- Tác động của chính sách chi trả DVMTR lên các mặt kinh tế, xã hội
và môi trường tại vùng nghiên cứu
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tácchi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé
- Đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra một số hạn chế và nguyênnhân trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở KBTTN Mường Nhé
- Đề xuất những chính sách phù hợp nhằm hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên nói chung và ở KBTTN Mường Nhé nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn số liệu
- Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp về diện tích rừng, số liệuthống kê hàng năm của KBTTN Mường Nhé cũng như Sở NN&PTNT tỉnhĐiện Biên (cơ quan chủ quản) Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng bản đồhiện trạng rừng, số liệu chi trả DVMTR tại KBTTN Mường Nhé hàng năm
- Tiếp cận và làm việc với Ban quản lý KBTTN Mường Nhé để tìmhiểu và xác định diện tích chi trả DVMTR của Ban quản lý; đồng thời xemxét thống kê nguồn kinh phí đã thu, chi trả cho DVMTR trong 6 năm gần đâycủa Ban quản lý (BQL);tìm hiểu công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chínhsách chi trả DVMTR qua lãnh đạo Khu bảo tồn
- Luận văn cũng sử dụng công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia(PRA – Participatory Rural Assessment) để đánh giá công tác tuyên truyền vềchính sách chi trả DVMTR bằng cách phỏng vấn bán cấu trúc và câu hỏi mởđối với cơ quan quản lý (Ban quản lý Khu bảo tồn, lãnh đạo Sở Nông ngiệp
&Phát triển nông thôn, Ban quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng(BV&PTR), phỏng vấn 20 người trực tiếp làm công tác liên quan tới chi trả
Trang 27DVMTR; Phỏng vấn người sử dụng dich vụ gồm 03 đơn vị dịch vụ Nhà máyđiện, nhà máy nước ); Phỏng vấn người dân cung cấp dịch vụ tại các thôn(bản) thuộc các xã trong KBTTN Mường Nhé.
- Tiến hành lựa chọn 3 xã gồm xã Mường Nhé, xã Nậm Kè, xã ChungChải để khảo sát thực tế bằng phương pháp họp nhóm Mục đích của việc họpnhóm là để phân tích những thuận lợi, khó khăn trong công tác chi trảDVMTR; chỉ ra nhưng nguyên nhân hạn chế ảnh hưởng đến công tác xâydựng (thu) Quỹ chi trả DVMTR Luận văn cũng sử dụng mô hình ma trậnphân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (viết tắt là SWOT) tổnghợp các kết quả nghiên cứu môi trường bên trong và bên ngoài đối với côngtác chi trả DVMTR và đề ra những chiến lược phù hợp
4.2 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các bảng, biểu, đồ thị để mô tả
và tóm tắt về tình hình kinh tế- xã hội của KBTTN Mường Nhé, tỉnh ĐiênBên và thực trạng thu chi Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Số liệu thu thập từcác nguồn được so sánh, đồi chiếu để loại bỏ những số liệu không chính xác
- Phương pháp tổng hợp và so sánh các số liệu về số hộ nghèo, số liệu
về thu, chi tiền DVMTR trong vòng 6 năm gần đây; so sánh để thấy sự thayđổi về chất lượng rừng, thu nhập bình quân các hộ/năm để đánh giá sự thayđổi về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường từ khi chính sách chi trảDVMTR được thực hiện tại vùng nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,Luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chi trả DVMTR
Chương 2: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chi trả DVMTR tạiKhu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chi trảDVMTR ở tỉnh Điện Biên và Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
CHƯƠNG 1
Trang 28CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG
1.1 Tổng quan về chi trả DVMTR
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường (Environmental Services) hay nhiều nơi còn gọi làdịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem Services) có tầm quan trọng đặc biệt đốivới con người và snh vật trên trái đất Theo báo cáo đánh giá hệ sinh tháithiên niên kỷ (2005), dịch vụ hệ sinh thái được định nghĩa: “Dịch vụ hệsinh thái là các lợi ích mà con người thu được từ các hệ sinh thái” và xácđịnh 4 nhóm chức năng hay 4 loại dịch vụ với mục đích khác nhau về kinh
Theo Lê Văn Hưng (2011), dịch vụ hệ sinh thái “là những lợi íchtrực tiếp hoặc gián tiếp mà con người được hưởng từ các chức năng của hệsinh thái”
Theo loại hình hệ sinh thái cung cấp dịch vụ, dịch vụ hệ sinh thái được
Trang 29chia thành 03 loại: Dịch vụ hệ sinh thái rừng; dịch vụ hệ sinh thái rạn san hô;dịch vụ hệ sinh thái vùng đất ngập nước (Huberman, D., & Leipprand, T, 2006).
1.1.2 Khái niệm môi trường rừng
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật,động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trườngrừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giátrị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước,phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinhhọc, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loàisinh vật, gỗ và lâm sản khác(theo khoản 1, điều 3 Nghị định số 99/2010/QĐ-
CP ban hành ngày 24/09/2010 của chính phủ về chính sách chi trả DVMTR)
1.1.3 Khái niệm dịch vụ môi trường rừng
Theo Khoản K, điều 3, Luật về rừng của Costa Rica: “DVMTR là việccung ứng các giá trị từ rừng mà có tác động bảo vệ và cải thiện chất lượngmôi trường Bao gồm: Giảm phát thải khí nhà kính; Bảo vệ nguồn nước cho
đô thị, nông thôn, thủy điện; Bảo vệ đa dạng sinh học nhằm mục đích pháttriển bền vững, nghiên cứu khoa học và điều chế dược phẩm; Nghiên cứu vàcải tạo nguồn gen; Bảo vệ các hệ sinh thái và cảnh quan cho du lịch và nghiêncứu khoa học” (Mayrand, K., & Paquin, M, 2004) Theo đó, chương trình chitrả DVMTR đã xây dựng 4 mục tiêu quan trọng nhất: (i) Giảm thiểu sự phátthải khí nhà kính; (ii) Dịch vụ thủy văn, bao gồm: cung cấp nước sinh hoạt,tưới tiêu và sản xuất năng lượng; (iii) Bảo tồn đa dạng sinh học; (iv) Bảo vệcảnh quan để nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái (Pagiola, S, 2008)
Khoản 2, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ–CP nêu rõ: “DVMTR là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân”.
Trang 301.1.4 Khái niệm về chi trả DVMTR
IUCN đưa ra khái niệm về Chi trả dịch vụ môi trường như sau: “Người mua [tự nguyện] đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà
nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”(IUCN,2008) Điều này có nghĩa là
giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ phải có được một thỏathuận tự nguyện Bên cạnh đó, người sử dụng thực hiện việc mua một dịch vụmôi trường được xác định rõ ràng, người cung cấp thực hiện việc sử dụng mộtmảnh đất nơi phát sinh một dịch vụ phải được làm rõ và việc chi trả hoặc đền
bù cho nhà cung cấp phải được thực hiện thông qua chi tài chính hoặc cáchình thức khác Việc chi trả hoặc đền bù phụ thuộc và dịch vụ môi trườngđược cung cấp một cách liên tục và ở một mức độ xác định
“ Chi trả DVMTR” (Payment for Forest Environmental Services–PFES) là quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quanđiểm chính sách về “dịch vụ môi trường” Theo quan điểm này, các hệ sinhthái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụngkhông chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trường mà còn đảm bảo sản xuất vàsức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đa dạng như bảo
vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịchbệnh, tạo điều kiện phát triển dulịch, văn hóa và cải tạo đất… Vì vậy, nhữngngười được hưởng những dịch vụ ấy cần phải chi trả một khoản tiền từ lợi ích
mà mình thu được từ rừng, để đầu tư bảovệ rừng
Cho đến nay, định nghĩa về PFES được đông đảo các nhà khoa học trên
thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven Theo tác giả này, “Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là quá trình giao dịch tự nguyện được thực
hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán DVMTR, khi và chỉ khingười bán đảm bảo cung cấp DVMTR đó một cách hợp lý” (Wunder, 2005)
Trang 31Chi trả cho các DVMTR là một cơ chế kinh tế khuyến khích bảo tồn và
sử dụng bền vững các DVMTR Cơ chế này cho phép những người tạo và duytrì các dịch vụ sinh thái được nhận những khoản chi trả từ những người sửdụng dịch vụ Điều này phù hợp với nguyên tắc “Người hưởng lợi phải trảtiền”(Beneficial Pay Principle) của Công ước Rio–1992 Chi trả DVMTR là
cơ chế đảm bảo sự công bằng xã hội và lợi ích cho các bên tham gia, đồngthời tạo ra nguồn tài chính bền vững cho bảo tồn các giá trị sinh thái Mô hìnhchi trả DVMTR trong bảovệ rừng đầu nguồn được minh họa trong Hình 1.1
Hình 1.1 Chi trả DVMTR trong bảo vệ rừng đầu nguồn
Nguồn: Hamilton, K., Carroll, N., & Bennet, G, 2013
Hiện nay, có bốn loại hình chi trả được thí điểm và áp dụng trên thếgiới, bao gồm: (i) Bảo vệ vùng đầu nguồn (Watershed protection); (ii) Bảotồn đa dạng sinh học (Biodiversity conservation); (iii) Hấp thụ cacbon(Carbon sequestration); (iv) Vẻ đẹp cảnh quan/Du lịch sinh thái (Landscapebeauty/Ecotourism)(Landell–Mills, N., & Porras, I T, 2002)
Ở Việt Nam, theo Khoản 3, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ–CP “Chi
Trang 32trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ” Hiểu một cách đơn giản, chi trả
DVMTR là việc chi trả của những người hưởng lợi DVMTR cho người cungứng dịch vụ
1.1.5 Các loại DVMTR
Theo điều 4, Nghị định số 99/2010/QĐ-CP ban hành ngày 24/09/2010của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR thì các loại DVMTR được chi trảbao gồm:
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối
- Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội
- Hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứngnhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng vàphát triển rừng bền vững
- Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệsinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch
- Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sửdụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủysản
1.2 Chính sách chi trả DVMTR
1.2.1 Bản chất kinh tế của vấn đề môi trường và phương pháp tiếp cận
Bản chất kinh tế của một vấn đề môi trường là ngoại ứng (tiêu cực hoặctích cực) xảy ra làm phân phối nguồn lực không còn tối ưu cho xã hội (quánhiều trong trường hợp ngoại ứng tiêu cực như ô nhiễm và ngược lại quá íttrong trường hợp ngoại ứng tích cực như trồng rừng), từ đó đòi hỏi phải cóchính sách giải quyết để cải thiện phân phối nguồn lực trong xã hội Đối vớihoạt động bảo vệ và phát triển rừng, hoạt động này tạo ra các ngoại ứng tíchcực bởi vì lợi ích đem lại không chỉ là sự gia tăng giá trị tài sản rừng củangười được nắm giữ mà còn đem lại nhiều lợi ích cho các đối tượng khác
Trang 33trong xã hội thông qua các chức năng như điều tiết nước, cảnh quan, bãi đẻ…Nếu không có sự can thiệp thích hợp của Nhà nước mà chỉ để thị trường quyếtđịnh lượng nguồn lực dành cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng sẽ ít hơnmức tối ưu cần cho xã hội
Có hai phương pháp tiếp cận để khắc phục các yếu tố ngoại ứng, đó làphương pháp tiếp cận Pigouvian (Pigou, 1932) và tiếp cận Coasian (Coase,1960) Hai phương pháp này liên quan đến cơ chế nhà nước và thị trường theonhững cách khác nhau và mang tầm quan trọng khác nhau
Với cách tiếp cận Pigouvian, Chính phủ có nắm lấy vai trò điều chỉnhbằng cách tác động trực tiếp tới hành vi của các bên tạo ra ngoại ứng bằng cáccan thiệp như thuế hay trợ cấp, tham gia đầu tư cung ứng hàng hóa & dịch vụ,
hoặc những quy định có tính chất hành chính (Adams et al., 2003; Hallett,
1979; Whitehead, 1983) Với cách tiếp cận Coasian, chính phủ tập trungvào việc thúc đẩy quá trình thỏa thuận giữa các bên liên quan trong ngoạiứng để giải quyết các vấn đề môi trường Theo cách tiếp cận này mộtphân phối nguồn lực đạt tối ưu Pareto khi quyền tài sản được đảm bảo vàchi phí giao dịch (transaction costs) bằng không không kể phân phối nguồnlực ban đầu như thế nào Do đó, theo (Richards, 2000), một chính phủ nêntập trung vào việc đảm bảo quyền sở hữu, giải quyết xung đột và tạo cácđiều kiện thuận lợi cho sự thỏa thuận các bên liên quan Tuy có sự khácnhau trong quan điểm dẫn đến cách lựa chọn hành động, nhưng một điểmchung được chia sẻ bởi 2 phương pháp tiếp cận này là đều liên quan đếnviệc thay đổi quyền sở hữu
Nói chung, có hai kiểu thay đổi trong quyền sở hữu; đó là trao đổi tựnguyện quyền giữa các cá nhân trong một cấu trúc nhất định, và thay đổi vềcấu trúc quyền sở hữu Sự trao đổi tự nguyện phân phối lại quyền sở hữutrong một cấu trúc nhất định của quyền sở hữu Loại thứ hai của sự thay đổibao gồm việc thiết lập quyền mới, bãi bỏ hoặc giới hạn về quyền hiện tại và
Trang 34thay đổi từ cộng đồng sang cá nhân và ngược lại (Quiggin, 1988) Những thayđổi như vậy được chuyển hóa thành những nội dung của một chính sách môitrường cụ thể.
1.2.2 Các công cụ chính sách môi trường
Theo Huppes và Simonis (2009, p254), "công cụ chính sách môi trường
là hoạt động có cấu trúc nhằm thay đổi các hoạt động khác trong xã hội để đạtđược các mục tiêu về môi trường trong một lịch trình thời gian cụ thể"
Vedung (1998) đề xuất ba loại cơ bản của các công cụ chính sách baogồm các công cụ hành chính, công cụ kinh tế, và các công cụ thông tin Công
cụ hành chính phản ánh sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đến quyền sở hữucủa đối tượng tạo nên ngoại ứng Công cụ kinh tế nhằm mục đích thay đổinhững lợi ích và/hoặc chi phí tạo nên ngoại ứng Công cụ thông tin bao gồmcác biện pháp giáo dục, truyền thông nhằm thay đổi các ưu tiên hành động(priorities) của người tạo ra ngoại ứng Các công cụ kinh tế cho phép ngườitạo ra ngoại ứng lựa chọn hành động tối ưu dựa trên lợi ích và chi phí biến đổicủa các hành động Công cụ chính sách trong thể loại này bao gồm các khoảntrợ cấp, các khoản thuế, lệ phí và giấy phép thương mại
Ngân hàng Thế giới (1997) nhóm công cụ chính sách môi trường thành baloại sau đây: quy định sử dụng thị trường hiện tại (ví dụ thuế và trợ giá), tạo ra cácthị trường mới, và sự tham gia của công chúng (dụng cụ thông tin là công cụchính trong thể loại này) Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh về vai trò của nhà nướctrong việc tạo ra một thị trường để trao đổi quyền sở hữu Thể loại này không chỉbao gồm giấy phép thương mại (đề cập đến trao đổi tự nguyện của quyền tài sản)
mà còn tạo ra quyền sở hữu mới và thay đổi quyền sở hữu hiện có
OECD (2007) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng một kếthợp của các công cụ để giải quyết một vấn đề môi trường cụ thể bởi vìnhững vấn đề này thường có tính đa chiều Ngoài ra, các công cụ chính sách
Trang 35nhất định có thể được củng cố lẫn nhau Ví dụ, một chương trình gán nhãn(labeling) có thể nâng cao khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp và hộ giađình đến thuế môi trường, và thuế có thể giúp thu hút sự chú ý đến cácchương trình gán nhãn
Trong bối cảnh Việt Nam, chính sách PFES hiện nay có thể được coinhư là một sự lai ghép giữa cơ chế thị trường (trao đổi DVMTR) và sự canthiệp trực tiếp của nhà nước Trong giao dịch DVMTR, các loại dịch vụ đãđược Nghị đinh 99 nêu rõ và trên cơ sở đó xác định các loại đối tượng mua vàbán DVMTR Tuy nhiên, do việc giao dịch trực tiếp chưa thực hiện được chonên Nhà nước vẫn tham gia như là một tác nhân hỗ trợ thị trường, trong đóNhà nước ấn định mức phí cụ thể đối với người sử dụng dịch vụ môi trường
1.2.3 Bản chất kinh tế của chi trả DVMTR
1.2.3.1 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lýmôi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ônhiễm phải trả tiền (PPP-Polluter Pays Principle) Cơ chế này yêu cầu nhữngngười gây ra các tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả
và cải tạo lại môi trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một
số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặckhông khắc phục các thiệt hại về môi trường
Trái với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơchế người gây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng tới một cơ chế khác là ngườiđược hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó Cácnhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếutrả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho nhữngthiệt hại môi trường mà họ đã gây ra Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt nhữngngười dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ
Trang 36lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợiích cho dân ở vùng hạ lưu Những người ở hạ lưu trước đây không phải trảtiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chitrả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng.
Đây là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường
là hàng hoá và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hoá thì hiển nhiên taphải trả tiền để được tiêu dùng nó Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trịcủa dịch vụ môi trường, đặc biệt là DVMTR sẽ được đánh giá một cáchchính xác hơn
1.2.3.2 Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và làđường cầu thị trường tạo nên cở sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêuthụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể
Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môitrường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường(tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhậnđược lợi ích từ các lợi ích từ môi trường Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ racác đặc điểm khác của PES, ví dụ PES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa
ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch
vụ môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt PES vớicác cách tiếp cận trước đây
Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng cơ sở củaPES là dựa trên sự thoả thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả đểđưa ra một mức giá hợp lý Thông qua việc thoả thuận, hai bên có thể đạtđược mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường Môhình dưới đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên
Đường thẳng AB là đường lợi ích cận biên của những người ở vùng
Trang 37thượng lưu (ở đây là chủ rừng) đối với việc chặt cây Có thể nhận thấy lợi íchcận biên của họ giảm dần khi chặt thêm cây, nguyên nhân có thể do giá cả của
gỗ hoặc những cây có giá trị cao đã bị chặt phá trước Đường thẳng OD biểudiễn mức chi phí biên của người ở vùng hạ lưu, chi phí này ngày càng tănglên cùng với việc nhiều cây bị mất đi Hai đường này cắt nhau tại E, là điểm
mà lợi ích của hai bên là như nhau, tương ứng với mức giá là P Đây là mứcgiá mà những người ở hạ lưu sẵn lòng chi trả và những người chủ rừng sẵnsàng chấp nhận
Hình 1.2: Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia
Nguồn: Hoàng Thị Thu Thương, 2011
Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu vềPES Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong mộtnghiên cứu của World Bank năm 2003
Trang 38Hình 1.3: Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường
Nguồn: [Pagiola, 2003].
Trong mô hình này có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng
và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừngnhưng lại là chi phí của những nhà máy thuỷ điện và cư dân ở hạ lưu Phầnmàu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác
gỗ, buôn bán động vật hoang dã…Ngược lại phần diện tích màu đỏ cho thấychi phí hay thiệt hại của các nhà máy thuỷ điện khi rừng bị chặt phá, ví dụnhư các thiệt hại về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt Do đó,những nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừngnhằm duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phảinhỏ hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không là giảm bớt lợi ích của ngườichủ rừng Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây Ví dụ, khicác khu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng,đồng thời các nhà máy thuỷ điện sẽ bị thiệt hại 1 tỷ đồng Nếu rừng được cácnhà máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trảmột mức tiền nhỏ hơn 500 triệu để duy trì rừng đầu nguồn Lúc này mức chi
Trang 39trả hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng Tóm lại, mứcchi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở:
Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả DVMTR< Mức lợi ích nhà máythuỷ điện nhận được từ DVMTR
1.2.4 Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR
Chi trả DVMTR (PES) đang ngày càng nhận được nhiều mối quan tâm
từ các nhà lập chính sách lẫn các nhà khoa học như một cơ chế để chuyển cácgiá trị phi thị trường của môi trường thành các khuyến khích tài chính chongười dân địa phương có vai trò cung cấp dịch vụ môi trường Đây có thểđược xem là một giao dịch tự nguyện, trong đó DVMTR (xác định được) muabởi người mua (là người hưởng lợi từ DVMTR) khi và chỉ khi người cung cấp(là người dân sinh sống hoặc là chủ đất ở địa phương) đảm bảo việc cung cấpdịch vụ môi trường đó
- Có bốn nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR:
+ Tính thực tế: chương trình này cần tạo ra các tác động thực sự đối vớicác dịch vụ môi trường cho ít nhất một vài bên liên quan;
+ Tính điều kiện: cam kết giữa người mua và người bán DVMTR chitrả dựa trên hiệu quả và tiêu chuẩn đặt ra nếu có
+ Tính tự nguyện: chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do vàđược thông tin trước của tất cả các bên với mức đền đáp phù hợp với tất cảmọi bên tham gia
+ Tính hướng nghèo: chương trình có sự tham gia của tất cả các bên,tránh tình trạng bất công, tăng cường bình đẳng giới và sức khỏe
Theo 4 nguyên tắc trên lượng chi trả cho dịch vụ môi trường thườngđược xác định dựa trên những lựa chọn của người mua và người bán, các cânnhắc về cung cầu, công bằng, khả năng tài chính và tính hiệu quả Các bên cóliên quan khác nhau thường có quan điểm khác nhau về mối liên quan “thựctế’ giữa các hình thức sử dụng đất và khả năng cung cấp dịch vụ môi trường
Trang 40Thông thường có ba hình thức tồn tại song song về vấn đề này, gọi là kiếnthức địa phương, kiến thức phổ thông, chính sách và kiến thức khoa học.Trong quá trình xây dựng cơ chế chi trả DVMTR, điều quan trọng là các bênliên quan thống nhất được quan điểm và mục tiêu dự kiến về dịch vụ môitrường, chẳng hạn như chất lượng và khối lượng nước, đa dạng sinh học làthực tế và có thể đạt được thông qua cơ chế chi trả DVMTR.
Trên thực tế, vấn đề chính trong việc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR
là xác định được mức chi trả hoặc giá hợp đồng nhằm phản ánh được giá trịcủa việc bảo tồn đồng thời bù đắp cho những chi phí cơ hội của chủ sở hữuđất Nếu mức chi trả quá thấp, các nhà cung cấp dịch vụ tiềm năng (đặc biệt làcác hộ gia đình có đất trồng rừng) có thể sẽ không tham gia bởi vì chi phí củaviệc chuyển đổi hình thức sử dụng đất của họ còn nhiều hơn mức chi trả cho
họ Ngược lại, nếu như mức chi trả quá cao thì ngân sách dành cho chi trả sẽcạn kiệt nhanh chóng và dự án sẽ không thể thực hiện cung cấp được dịch vụmôi trường ở mức phù hợp
1.2.5 Các yếu tố cơ bản của chính sách chi trả DVMTR
1.2.5.1.Đối tượng và loại dịch vụ phải chi trả DVMTR – người hưởng dịch vụ
Đối tượng phải chi trả DVMTR là là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc)phải chi trả cho các lợi ích từ việc nhận được hàng hóa DVMTR
Theo điều 7, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ban hành ngày 24/09/2010của chính phủ về chính sách chi trả DVMTR thì các đối tượng và loại dịch vụphải trả tiền DVMTR như sau:
- Các cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện
- Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ
về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch