1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc

26 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 230 KB
File đính kèm giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3.rar (39 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc Mot so bien phap day giai toan bang hai phep tinh cho hoc sinh lop 3 truong tieu hoc

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sự cần thiết

- Trong những năm gần đây công tác giáo dục nói chung và hoạt động giáo đã

có nhiều thay đổi Khi Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tíchcực” được triển khai và hưởng ứng mạnh mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng caochất lượng giáo dục Hiện nay trong các trường đã và đang vận dụng phương phápdạy học đổi mới, đó là cách dạy hướng vào người học hay còn gọi là “Lấy học sinhlàm trung tâm” người thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình học sinh lĩnhhội kiến thức, với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng Để vận dụng tốtđược cách dạy học mới này đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với nghề, phảidày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng học sinh mình dạy

Để nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh Ngoài việc dạy cho các

em kiến thức về số học, yếu tố đại số, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hìnhhọc, yếu tố thống kê Kiến thức về giải toán có lời văn cũng hết sức quan trọng

vì trong giải toán có lời văn giúp các em củng cố, vận dụng những kiến thức giảitoán, phát triển kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành Đặc biệt giải toán có lờivăn còn giúp phát triển tư duy ở học sinh

- Qua thực tế dạy học giải toán có lời văn nói chung và việc giải toán có lờivăn bằng hai phép tính nói riêng của lớp 3 Chúng tôi thấy chỉ được khoảng 40%

HS nắm được cách giải và phép tính trong bài toán giải bằng hai phép tính nhưngcòn chưa chính xác trong câu lời giải Còn lại 60% học sinh lơ mơ, lúng túng khiphải đứng trước một bài toán giải bằng hai phép tính Có thể các em giải “mò” vàtìm ra được kết quả nhưng lời giải còn chưa chính xác, khi được giáo viên hỏi lại vìsao thì các em còn lúng túng và chưa mạnh dạn, tự tin để trả lời

- Trong chương trình lớp 3 ngoài dạng toán đơn giải bằng một phép tính, các

em còn được làm quen với các dạng toán giải bằng hai phép tính bởi vậy để giúp chocác em nắm chắc các dạng toán đã học từ lớp 2 và nắm chắc được các dạng toán và

Trang 2

cách giải bài toán bằng hai phép tính ở lớp 3, giúp cho các em không bị nhầm lẫn câulời giải và tự tin khi thức hiện giải bài toán có lời văn,việc nắm chắc các dạng toán vàcách giải còn là cơ sở để các em giải tốt các dạng toán khác khi học lên các lớp trên

nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp dạy giải toán bằng hai phép tính cho học sinh lớp 3”

1.2 Mục đích

+ Học sinh nêu được bài toán có lời văn qua việc tóm tắt bằng sơ đồ, và

nhìn tóm tắt để nêu được nội dung bài toán

+ Giúp cho học sinh biết xác định dạng toán của bài toán có lời văn

+ Giúp cho học sinh biết xác định phần cho biết của bài toán thuộc dạngtoán gì để xác định chính xác câu lời giải thứ nhất

+ Giúp học sinh sau khi tìm được kết quả của phép tính thứ nhất, dựa vàocâu lời giải của phép tính thứ nhất, ghép với phần cho biết để tạo thành một bàitoán mới

+ Giúp cho học sinh biết xác định phần hỏi của bài toán thuộc dạng toán

gì và xác định chính xác câu lời giải thứ hai

+ Giúp học sinh dựa vào bài toán mới ghép được để có phép tính thứ hai + Giúp học sinh nắm chắc được các dạng toán và cách giải bài toán bằng haiphép tính

+ Giúp cho giáo viên dễ dàng hơn khi hướng dẫn học sinh cách giải bài toánbằng hai phép tính

+ Học sinh biết tự trình bày bài giải gồm ba bước: Câu lời giải, phép tính

và đáp số

+ Học sinh biết tự tìm câu lời giải khác cho bài toán có lời văn bằng nhiềucâu khác nhau

2 Phạm vi triển khai thực hiện sáng kiến

Năm học 2018 – 2019: nghiên cứu và vận dụng 2 biện pháp cho 30 họcsinh của lớp 3 trường Tiểu học

Trang 3

Năm học 2018 – 2019: thực hiện sáng kiến đối với 30 học sinh của lớp3a3 trường Tiểu học

3 Mô tả sáng kiến

3.1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

3.1.1 Hiện trạng việc thực hiện giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

Là những giáo viên đã trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp, đặc biệt nhiều nămđứng lớp ở khối 2, chúng tôi thấy: Các em được làm quen với toán có lời văn từcuối lớp 1nhưng ở mức độ đơn giản, lên lớp 3 yêu cầu của bài toán đã được nânglên, các em phải đọc đề toán, tìm hiểu đề, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp

số Có thể nói, đây quả thực là một khó khăn đối với học sinh khi học giải toán cólời văn, …Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảoluận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ nghiệp vụ do nhà trường tổchức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán? viết được tóm tắt, nêu được câulời giải đúng, ngắn gọn, phép tính đúng Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự

nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp

Trước thực trạng đó, chúng tôi đã áp dụng hai biện pháp dạy giải bài toán cólời văn cho học sinh:

Biện pháp 1: Dạy giải toán có lời văn theo các bước thông thường

Biện pháp 2: Dạy đặt đề toán theo tóm tắt hoặc hình vẽ rồi giải

Cụ thể:

Biện pháp 1: Dạy giải toán có lời văn theo các bước thông thường.

Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh giải toán qua 4 bước thông thường: Bước 1: Đọc kĩ đề toán

Bước 2: Tóm tắt bài toán

Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải (Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?)Bước 4: Giải bài toán

Với 4 bước thông thường học sinh có thể giải bài toán khá tốt ngay trong tiếthọc nhưng sau đó một thời gian nếu gặp dạng toán tương tự mà GV không hướng

Trang 4

dẫn giải thì HS sẽ bị lúng túng, hoặc nếu giải đúng thì cũng là do giải mò may ra thìđúng chứ học sinh chưa hiểu bản chất của bài toán

Biện pháp 2: Dạy đặt đề toán theo tóm tắt, hình vẽ rồi giải.

Giáo viên đưa ra một số tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ, hình vẽ, yêu cầu họcsinh đặt đề toán theo tóm tắt rồi giải

Ví dụ 1: Giải bài toán theo tóm tắt sau:

Kết quả đạt được: Học sinh đã cơ bản giải được các bài toán có lời văn ngaysau khi học xong các dạng toán

Sau một năm thực hiện áp dụng hai biện pháp nêu trên và căn cứ vào kết quảđạt được, chúng tôi đánh giá ưu và nhược điểm của các biện pháp như sau:

3.1.2 Ưu điểm của các biện pháp cũ

Học sinh thực hiện các bước giải toán thành thạo

Học sinh cơ bản biết giải toán có lời văn ngay trong tiết học và trong thờiđiểm học các dạng toán đó

3.1.3 Nhược điểm của các biện pháp cũ

a) Đối với biện pháp: Dạy giải toán có lời văn theo các bước thông thường

5 viên bi

18 viên bi

Trang 5

Học sinh lúng túng khi tóm tắt bài toán về phép chia (cả hai dạng: chia thànhmột số nhóm và chia thành các phần bằng nhau)

Học sinh lúng túng khi giải các bài tập do giáo viên để học sinh tự làm Các em

sẽ lẫn lộn từ dạng toán nọ sang dạng toán kia và làm các phép tính không chính xác

Cách hướng dẫn học sinh của giáo viên gặp khó khăn: Sau khi phân tích bàitoán xong, GV muốn cho các em giải nhưng chỉ có thể hỏi: Bạn nào đã biết cáchgiải bài toán này? Hoặc theo em bài toán này giải bằng phép tính gì? Hoặc GV phảicho HS khá giỏi nêu miệng các bước giải thì HS nhận thức chậm mới có thể làmđược bài Như vậy những học sinh nhận thức chậm không thể nắm vững được bảnchất của bài toán

Học sinh không có thói quen xác định dạng toán để lựa chọn cách giải đúng.Dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn khi giải toán bằng hai phép tính ở lớp Ba

b) Đối với biện pháp: Dạy đặt đề toán theo tóm tắt, hình vẽ rồi giải

Vì dạng toán này phải mất thêm thời gian cho việc lập đề toán nên thời giandành cho việc phân tích và giải bài toán đối với học sinh nhận thức chậm còn thiếu,đặc biệt là những học sinh không chú ý nghe giảng

Trên cơ sở áp dụng các biện pháp nêu trên trong năm học 2018 – 2019, saukhi tổng kết, đánh giá lại từng biện pháp và xem xét tính hiệu quả của các biệnpháp đó, chúng tôi nhận thấy các biện pháp đã áp dụng cần bổ sung thêm cho hoànchỉnh, cũng có biện pháp không phù hợp cần thay thế Để đảm bảo được hiệu quảcủa việc dạy giải toán bằng hai phép tính cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinhkhối

nói chung trong năm học 2016 – 2017 chúng tôi đã cải tiến hai biện pháp cũ, bổsung hai biện pháp mới cho phù hợp với điều kiện thực tế, đó là:

1 Giúp học sinh ghi nhớ tên dạng toán, cách tóm tắt và cách giải các bài toán đơn.

2 Thành lập bài toán mới trước khi giải phép tính thứ hai của các bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp Ba.

Trang 6

3.2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

3.2.1 Tính mới và sự khác biệt của biện pháp mới so với biện pháp cũ

3.2.1.1 Tính mới: Qua việc áp dụng hai biện pháp đã nêu trên chúng tôi

nhận thấy:

Đối với học sinh: Các em có thói quen xác định các dạng toán trước khi giảitoán, nắm chắc các dạng toán đã học, tóm tắt bài toán đúng và nhanh, lựa chọnphép tính và lời giải chính xác, hiểu rõ bản chất của bài toán

Đối với giáo viên: Việc dạy giải toán có lời văn bằng hai phép tính đã trởnên hứng thú, say mê và dễ dàng hơn, việc phân tích bài toán, hướng dẫn các bướcgiải có cơ sở không bị quá tường minh, không bị theo khuôn mẫu nên học sinh dùhọc yếu cũng hiểu bài toán một cách cặn kẽ và giải chính xác

3.2.2.1 Biện pháp 1: Giúp học sinh ghi nhớ tên dạng toán, cách tóm tắt

và cách giải các bài toán đơn.

Đầu năm học lớp 3, học sinh tiếp tục được học bảng nhân, chia từ bảng 6đến bảng 9 Một số học sinh nhận thức chậm có thể do quên hoặc nắm kiến thức

về giải toán có lời văn bằng phép tính nhân hoặc chia ở lớp 2 chưa vững Họcsinh rất dễ lúng túng khi chọn phép tính giải, nhiều học sinh nói liều một trongbốn phép tính may ra thì đúng Nhưng thực ra là không hiểu gì Để giúp học sinh

Trang 7

giải quyết vướng mắc này tôi đã giúp học sinh ghi nhớ cách xác định dạng toán

a Cách thực hiện: Tôi chia các bài toán trong quá trình hình thành bảng nhân

và bảng chia làm ba dạng toán cơ bản:

Dạng toán 1 Biết một – tìm nhiều

Dạng toán 2 Biết nhiều – tìm một

Dạng toán 3 Chia thành các phần bằng nhau

Nhưng vấn đề đặt ra là học sinh phải biết tóm tắt và tóm tắt thành thạotừng dạng toán ngay từ khi bắt đầu học phép tính nhân, chia Học sinh nhìn vàotóm tắt để đọc và hiểu được bài toán, xác định được dạng toán Sau khi đã tómtắt xong, việc giải bài toán không còn phụ thuộc vào sách giáo khoa nữa

Vậy để tóm tắt thành thạo ba dạng toán cơ bản ở lớp, chúng ta cần có “mẹo”

để khi tóm tắt, phần câu hỏi không bị lộn làm cho học sinh khó quan sát, khó hiểunội dung bài, giúp học sinh không chán nản với việc tóm tắt bài toán

b Các bước thực hiện:

* Dạng toán 1: Biết một – tìm nhiều

- Bước tóm tắt: Tóm tắt theo trình tự các lời văn trong bài toán, sau khitóm tắt xong, GV quy ước dòng trên của tóm tắt là dòng các dữ kiện đã biết và

gọi là dòng biết, dòng dưới của tóm tắt là dòng bài toán hỏi, yêu cầu chúng ta

phải tìm và gọi là dòng tìm (Cách làm này cũng được vận dụng cho các dạng

toán khác về phép chia).

Ví dụ: Mỗi lọ hoa cắm được 3 bông hoa Hỏi 6 lọ hoa như thế cắm được

mấy bông hoa?

Tóm tắt: 1 lọ: 3 bông (Biết 1 lọ có 3 bông hoa)

6 lọ: … bông? (Tìm 6 lọ - nhiều lọ có bao nhiêu bông hoa)

* Ghi chú: GV quy ước với học sinh lớp 2 và 3: các số từ 2 trở lên gọi là nhiều)

- Bước phân tích và xác định dạng toán:

- Bài toán cho biết gì? - 1 lọ có 3 bông hoa

Trang 8

- Bài toán hỏi gì? - 6 lọ có mấy bông hoa?

- Bài toán thuộc dạng toán nào? - Biết 1 - tìm nhiều

- Bước giải: Ban đầu giáo viên có thể thao tác trên vật thật hoặc trên môhình để học sinh nhận biết cách giải, các em có thể giải bằng phép cộng Khi đó,

GV hướng dẫn HS chuyển thành phép nhân dựa vào mối quan hệ giữa phépcộng và phép nhân bằng cách hỏi: Dựa vào tóm tắt em hiểu “mấy” được lấy

“mấy” lần (3 được lấy 6 lần và thực hiện phép tính 3  6) Lúc này giáo viên

chốt lại dạng toán biết 1 - tìm nhiều giải bằng phép tính nhân.

* Dạng toán 2: Biết nhiều – tìm một

- Bước tóm tắt: Dạng toán này bao giờ cũng xuất hiện từ “đều, như nhauhoặc bằng nhau” có nghĩa các nhóm được chia với số lượng bằng nhau Vậy tómtắt theo trình tự sau:

Ví dụ: Có 18 bông hoa chia đều vào 6 lọ Hỏi mỗi lọ cắm được mấy bông hoa?

Dựa vào câu hỏi, ta thấy đại lượng “lọ” viết trước dấu hai chấm, đại lượng

“bông” viết sau dấu hai chấm nên ta cũng tóm tắt ở dòng biết tương tự như vậy Với ví dụ này ta sẽ tóm tắt câu đầu của bài toán nhưng lộn lại để có lọ viết trước, bông viết sau:

6 lọ: 18 bông (Biết 6 lọ - nhiều lọ có 18 bông hoa)

1 lọ: … bông? (tìm 1 lọ có bao nhiêu bông hoa)

Giáo viên đặc biệt lưu ý học sinh không được chuyển số lượng và đạilượng tương ứng sai so với đề bài Ví dụ: 18 bông 18 lọ hoặc 6 lọ 6 bông

- Bước phân tích và xác định dạng toán:

- Bài toán cho biết gì? - 6 lọ có 18 bông hoa

- Bài toán hỏi gì? - 1 lọ có mấy bông hoa?

- Bài toán thuộc dạng toán nào? - Biết nhiều - tìm một

- Bước giải: GV có thể thao tác trên vật thật hoặc trên mô hình để họcsinh biết gắn bài toán với thực tế Chia đều 18 bông hoa vào 6 lọ tức là chúng tathực hiện động tác chia hoa vào 6 lọ Vậy trong toán học ta cũng thực hiện phép

Trang 9

tính chia Và cuối cùng giáo viên chốt lại dạng toán biết nhiều - tìm 1 giải bằng

phép tính chia

* Dạng toán 3: Chia thành các phần bằng nhau

- Bước tóm tắt: Dạng toán này bao giờ cũng xuất hiện từ “các hoặc mộtsố” có nghĩa chia thành các nhóm bằng nhau Vậy tóm tắt theo trình tự sau:

Ví dụ: Có 18 bông hoa cắm đều vào các lọ hoa, mỗi lọ có 3 bông hoa.

Hỏi cắm được mấy lọ hoa?

Hướng dẫn học sinh hiểu câu hỏi đầy đủ: có 18 bông hoa thì cắm đều vàođược mấy lọ hoa Dựa vào câu hỏi đầy đủ vừa khôi phục, ta thấy đại lượng

“bông” viết trước, đại lượng “lọ” viết sau nên ta cũng tóm tắt ở dòng biết tương

tự như vậy Với ví dụ này ta sẽ tóm tắt dữ kiện thứ hai của bài toán trước nhưng

phải đảo vị trí các đại lượng để có bông viết trước, lọ viết sau:

3 bông: 1 lọ

18 bông: … lọ?

- Bước phân tích và xác định dạng toán: Với dạng toán này, giáo viên hướngdẫn học sinh gắn bài toán với thực tế bằng cách thao tác trên vật thật hoặc trên môhình, chỉ cho học sinh thấy ở tóm tắt không xuất hiện số 1 ở đầu dòng cả dòng “biết”

và dòng “tìm” thì đặt tên cho dạng toán: Chia thành các phần bằng nhau

- Bài toán cho biết gì? - 3 bông cắm được 1 lọ

- Bài toán hỏi gì? - 18 bông cắm được mấy lọ?

- Bài toán thuộc dạng toán nào? - Chia thành các phần bằng nhau

- Bước giải: GV hướng dẫn chia đều 18 bông hoa vào các lọ, mỗi lọ có 3bông, tức là chúng ta thực hiện động tác chia hoa vào một số lọ sao cho mỗi lọ

có 3 bông Vậy trong toán học ta cũng thực hiện phép tính chia Và cuối cùng

giáo viên chốt lại dạng toán chia thành các phần bằng nhau thì giải bằng phép

tính chia

Chúng tôi rất quan tâm đến việc tóm tắt bài toán là vì học sinh tóm tắtđược bài toán tức là học sinh đã hiểu bài toán và dễ dàng xác định được dạng

Trang 10

toán để chọn được phép tính giải đúng Mặt khác nó rất thuận lợi cho việc tìmhiểu và phân tích bài toán của giáo viên Sau khi hình thành kĩ năng tóm tắt bàitoán thành ba dạng như trên ta thấy các dữ kiện của bài toán được sắp xếp theohai dòng: dòng trên là điều “bài toán cho biết gì?”, dòng dưới là điều “bài toánhỏi gì?” Đây là các câu hỏi giáo viên rất hay dùng để phân tích bài toán

Ngoài 3 dạng toán về phép nhân và phép chia có vận dụng bảng nhân vàbảng chia như đã trình bày ở trên thì các dạng toán đơn khác ở lớp Ba cũng rấtđặc trưng, khả năng vận dụng nhiều nên giáo viên cũng cần cho học sinh thuộcdạng toán và tóm tắt thành thạo Bao gồm:

- Quy tắc: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số: Muốn tìm một trongcác phần bằng nhau của một số ta lấy số đó chia cho số phần Giải bằng tính chia

- Quy tắc: Gấp một số lên nhiều lần: Muốn gấp một số lên nhiều lần ta lấy

số đó nhân với số lần Giải bằng tính nhân

- Quy tắc: Giảm một số đi nhiều lần: Muốn giảm một số đi nhiều lần talấy số đó chia cho số lần Giải bằng tính chia

- Quy tắc: So sánh số lớn gấp số bé bao nhiêu lần: So sánh số lớn gấp số

bé bao nhiêu lần ta lấy số lớn chia cho số bé Giải bằng tính chia

- Quy tắc: So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị: Muốn so sánh hai

số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị ta lấy số lớn trừ đi số bé

* Nếu là giáo viên không dạy đuổi từ lớp Hai lên lớp Ba thì giáo viên cần cóthời gian củng cố các dạng toán đã học về cộng trừ ở lớp Một và Hai cho học sinh vàyêu cầu học sinh thường xuyên nhắc lại dạng toán và cách giải Bao gồm:

- Bài toán về tìm tổng (giải bằng phép cộng): trong bài toán có các dữkiện: cho thêm, thêm, bay đến thêm, và bài toán hỏi: cả hai, tất cả, …

- Bài toán về tìm hiệu (giải bằng phép trừ): trong bài toán có các dữ kiện:bớt, cho đi, biếu, tặng, bay đi, và bài toán hỏi: còn, còn lại, …

- Bài toán về tách ra làm hai phần (giải bằng phép trừ): Từ đặc biệt để xácđịnh dạng toán là “trong đó”

Trang 11

và bài toán hỏi về đại lượng thứ hai.

- Bài toán về ít hơn (giải bằng phép trừ): trong bài toán có các dữ kiện: đạilượng thứ nhất (kém, ít hơn, ngắn hơn, nhẹ hơn) đại lượng thứ hai, và bài toánhỏi về đại lượng thứ hai

3.2.2.2 Biện pháp 2: Thành lập bài toán mới trước khi giải phép tính thứ hai

của các bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp Ba.

- Các bước thực hiện chung:

Bước 1: Đọc, phân tích, tóm tắt bài toán.

Bước 2: Đọc lại bài toán dựa vào tóm tắt

Bước 3: Xác định dữ kiện chưa biết rõ ràng, dạng toán của dữ kiện đó

Bước 4: Giải bước giải thứ nhất

Bước 5: Ghép dữ kiện còn lại với bước giải 1 hoặc ghép bước giải 1 với dữ kiệncòn lại và câu hỏi để thành bài toán mới, sau đó xác định dạng toán của bài toánmới

Bước 6: Giải bước giải thứ hai và đáp số

- Ví dụ minh họa cụ thể: (Chúng tôi chỉ minh họa cụ thể từ bước thứ 3 trở đi)Dạng thứ nhất: Bài toán giải bằng hai phép tính trong đó bước giải thứ

nhất thuộc dạng toán Biết một - tìm nhiều

Ví dụ 1: Từ một cuộn dây dài 50m, người ta cắt lấy 4 đoạn, mỗi đoạn dài8m Hỏi cuộn dây điện còn lại dài bao nhiêu mét?

Bước 3: Dữ kiện chưa biết rõ ràng:

- Dữ kiện này khiến ta phải tìm số dây nào?

- Người ta cắt lấy 4 đoạn, mỗi đoạn dài8m (Dạng toán: Biết 1 tìm nhiều)

- Số mét dây đã cắt đi

Trang 12

Bước 4: Giải bước giải thứ nhất Số mét dây đã cắt đi là:

8  4 = 32 (m)Bước 5: Ghép dữ kiện còn lại với bước

giải 1 và câu hỏi để thành bài toán mới

và xác định dạng toán của bài toán

mới

- Ghép: Từ một cuộn dây dài 50m,người ta cắt đi 32m Hỏi cuộn dây điệncòn lại dài bao nhiêu mét?

- Dạng toán: Tìm hiệuBước 6: Giải bước giải thứ hai và đáp số Cuộn dây điện còn lại dài là:

50 – 32 = 18 (m)

Ví dụ 2: Có 3 thùng dầu, mỗi thùng chứa 125l, người ta lấy ra 185l dầu từ

các thùng đó Hỏi còn lại bao nhiêu lít dầu?

Bước 3: Dữ kiện chưa biết rõ ràng:

- Dữ kiện này khiến ta phải tìm số dầu nào?

- Có 3 thùng dầu, mỗi thùng chứa 125l.

(Dạng toán: Biết 1 tìm nhiều)

- Số dầu có

Bước 4: Giải bước giải thứ nhất Số dầu có là:

125  3 = 375 (l)

Bước 5: Ghép dữ kiện còn lại với bước

giải 1 và câu hỏi để thành bài toán mới

và xác định dạng toán của bài toán

Ví dụ 3: Một công ti vận tải có bốn đội xe Đội Một có 10 xe ô tô, 3 độicòn lại mỗi đội có 9 xe ô tô Hỏi công ti đó có bao nhiêu xe ô tô?

Bước 3: Dữ kiện chưa biết rõ ràng:

- Dữ kiện này khiển ta phải tìm số xe nào?

- 3 đội còn lại mỗi đội có 9 xe ô tô.(Dạng toán: Biết 1 tìm nhiều)

- Số xe của 3 đội

Bước 4: Giải bước giải thứ nhất Số xe của 3 đội là:

Trang 13

9  3 = 27 (xe)Bước 5: Ghép dữ kiện còn lại với bước

giải 1 và câu hỏi để thành bài toán mới

và xác định dạng toán của bài toán

mới

- Ghép: Một công ti vận tải có bốn đội

xe Đội Một có 10 xe ô tô, 3 đội còn lại

có 27 xe ô tô Hỏi công ti đó có baonhiêu xe ô tô?

- Dạng toán: Tìm tổngBước 6: Giải bước giải thứ hai và đáp

số

Công ti đó có số xe ô tô là:

10 + 27 = 37 (xe)Đáp số: 37 xe ô tôDạng thứ hai: Bài toán giải bằng hai phép tính trong đó bước giải thứ nhất

thuộc dạng toán Tìm hiệu.

Ví dụ 1: Cô Lan có 1000g đường, cô đã dùng làm bánh hết 400g Sau đó côchia đều số đường còn lại vào 3 túi nhỏ Hỏi mỗi túi có bao nhiêu gam đường?

Bước 3: Dữ kiện chưa biết rõ ràng:

- Dữ kiện này khiến ta phải tìm số

đường nào trước?

- Số đường còn lại chia đều vào 3 túi

- Số đường còn lại

Bước 4: Giải bước giải thứ nhất Số đường còn lại là:

1000 – 400 = 600 (g)Bước 5: Ghép dữ kiện còn lại với bước

giải 1 và câu hỏi để thành bài toán mới

và xác định dạng toán của bài toán

mới

- Ghép: Cô Lan chia đều 600g đườngvào 3 túi nhỏ Hỏi mỗi túi có bao nhiêugam đường?

- Dạng toán: Biết nhiều - tìm mộtBước 6: Giải bước giải thứ hai và đáp

số

Mỗi túi có số đường là:

600 : 3 = 200 (g)Đáp số: 200g đường

Ví dụ 2: Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 25m, chiều rộng kémchiều dài 8m Tính chu vi mảnh đất đó?

Bước 3: Dữ kiện chưa biết rõ ràng: - Chiều rộng kém chiều dài 8m (Dạng

Ngày đăng: 13/04/2019, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w