1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động logistics trong dịch vụ kho tại công ty TNHH một thành viên ICD tân cảng sóng thần

68 160 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo PGS.TS Nguyễn Như Tiến trong cuốn “Logistics - khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam”: “Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động c

Trang 1

1 1

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc GVHD: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ SVTH: Hồ Nguyễn Như Ngọc

1 Lí do chọn đề tài

LỜI MỞ ĐẦU

Cơ chế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, đặc biệt tronggiai đoạn Việt Nam gia nhập AFTA, WTO, …Các hoạt động dịch vụ được coi làmột trong những yếu tố cạnh tranh của bất cứ một doanh nghiệp nào Xu hướngtoàn cầu hoá nền kinh tế hàng hoá được chuyển đưa ra các quốc gia, Logisticstrở thành ngành có vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến tay người tiêudùng ở bất cứ nơi đâu Mục đích của Logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụcho khách hàng với tổng chi phí là nhỏ nhất Điều này liên quan đến việc hạ giáthành sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, nâng cao khả năng cạnhtranh cuỉa các doanh nghiệp Qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò quantrọng của hoạt động Logistics trong hoạt động kinh tế dịch vụ của nền kinh tế

Vì vậy, hoạt động này hiện nay cần có sự chú trọng đầu tư, tìm cách nâng caohiệu quả hoạt động hơn nữa để có thể cạnh tranh với các Công ty Logistics củanước ngoài đang mở rộng hoạt động tại các nước đang phát triển và ngay cả tạiViệtNam

Vậy thì với vị trí vô cùng quan trọng trong chuỗi chung ứng dịch vụLogistics, kho bãi đang đóng góp một phần không nhỏ tới doanh thu, lợi nhuậncũng như sự phát triển của Logistics Không có kho hàng, hoạt động Logisticskhông thể diễn ra hoặc có hiệu quả Nó không chỉ đóng vai trò quan trọng chochính doanh nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng cho bạn hàng, các tổ chức,nền kinh tế của quốc gia do tiết kiệm được chi phí sản xuất, bảo quản và dự trữ,giá thành vận chuyển Nói cách khác, kho bãi vận tải góp phần làm tăng giá trịhàng húa, tăng chất lượng dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu khách hàng Tuy nhiên,thực tế cho thấy, hoạt động này ở nước ta còn khá manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu.Điều này làm hạn chế khả năng phát huy tiềm lực của logistics tại Việt Nam

Ngày nay, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao hơn về chất lượng dịch

vụ nói riêng và hàng hóa nói chung Do vậy, việc phát triển hoạt động kho bãi,vận tải đang là vấn đề được các doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước quantâm

Với góc độ là sinh viên kinh tế, tôi nhận thấy được tính cấp thiết của việcphát triển hoạt đông kho bãi trong chuỗi cung ứng dịch vụ Tôi đã mạnh dạn

Trang 2

chọn đề tài: “Hoạt động logistics trong dịch vụ kho tại công ty TNHH một thành viên ICD Tân Cảng – Sóng Thần“ làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nội dung của đề tài hệ thống hoá lại lý thuyết, thực trạng của logistics Việt Namđặc biệt là trong lĩnh vực kho bãi Đồng thời, nghiên cứu cụ thể ở công ty đanghoạt động trong lĩnh vực này Từ đó chỉ ra hướng phát triển hiệu quả cho hoạtđộng kho vận nhằm tận dụng những điểm mạnh của doanh nghiệp để nắm bắtcác cơ hội, cũng như có giải pháp cho những khó khăn, thách thức

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: là các vấn đề liên quan đến hoạt động logistics trong dịch vụ kho Phạm vi: Hệ thống kho hàng tại Công ty TNHH MTV ICD Tân Cảng - SóngThần

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thu thập thông tin để nghiên cứu

và trình bày các nội dung của đề tài

5 Kết cấu khoá luận tốt nghiệp

Chương 1: Cơ sở lí luận về logistics và dịch vụ kho trong logistics

Chương 2: Thực trạng hoạt động logistics trong dịch vụ kho tại công ty TNHHMTV ICD Tân Cảng – Sóng Thần

Chương 3: Giải pháp – kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kho tại công

ty TNHH MTV ICD Tân Cảng – Sóng Thần

Trang 3

CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG QUẢN TRỊ KHO

1.1 Logistics là gì?

1.1.1 Khái niệm về logistics:

Logistics là một trong số ít những thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ

“Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả các ngôn ngữ khác Vìbao hàm nghĩa của từ quá rộng nên không một đơn ngữ nào có thể truyền tảiđược hết ý nghĩa của nó

Trên thế giới thuật ngữ này đã xuất hiện từ lâu Logistics lần đầu tiên đượcphát minh và ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, được các quốc gia ứng dụng rấtrộng rãi trong hai cuộc Đại chiến thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùngvới vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.Napoleon đã từng nói: “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệpbàn về logistics” vì ông cho rằng “Logistics là một chuỗi hoạt động để duy trìlực lượng quân đội”

Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội

đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậuchiến và lần đầu tiên được triển khai, ứng dụng trong thương mại sau khi chiếntranh thế giới lần thứ hai kết thúc

Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ vềlogistics hay hệ thống logistics Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nghiêncứu logistics và dưới những giác độ của những nhà nghiên cứu khác nhau, màhiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics

- Theo từ điển “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, USFifth Edition, Hornby, Oxford University Press, 1995”:

“Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạtđộng phức hợp nào đó (Logistics – the organization of supplies andservice for any complex operation)”

- Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics quốc tế (CLM – The Council ofLogistics Management):

“Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kếhoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu

Trang 4

giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cungcấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của kháchhàng”.

- Theo PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn “Quản trị Logistics”:

“Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dựtrữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đếntay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinhtế”

- Theo PGS.TS Nguyễn Như Tiến trong cuốn “Logistics - khả năng ứng dụng

và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam”:

“Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vậtliệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối chođến khi đưa đến tay người tiêu dùng”

Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng trongnội dung tất cả các tác giả đều cho rằng Logistics chính là hoạt động quản lýdòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho,sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng Mục đích giảm tối đachi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trìnhvận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoámột cách kịp thời (Just-in-Time) Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của

“nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển

“dịch vụ, thông tin” Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liênquan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ,người bán buôn…

1.1.2 Vai trò của logistics

Vai trò của logistics đối với nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế

Logistics ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại và ảnhhưởng đến sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia và hơn nữa là nền kinh

tế toàn cầu

Trang 5

* Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC –

Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thịtrường cho các hoạt động kinh tế

Logistics đóng góp một phần quan trọng trong GDP, hiệu quả của nó ảnh hưởngđến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Ở ViệtNam, dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20% GDP Ước tính GDP năm 2006khoảng 57,5 tỷ USD Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6 – 11,1 tỷUSD Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ

Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10%GDP Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30% Sự pháttriển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinhdoanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng Logistics pháttriển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩmdịch vụ

* Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện… tới sản

phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng

Từ thập niên 70 của thế kỉ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộccác doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển.Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cao khiến khiến các doanh nghiệp cónhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàngtồn kho Chính trong gia đoạn này, cách thức tối ưu hoá quá trình sản xuất, lưukhó, vận chuyển hàng hoá được đặt lên hàng đầu Và với sự trợ giúp của côngnghệ thông tin, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này

* Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian - địa điểm (just in time)

Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã làm cho hàng hoá và sự vận động của chúngphong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lí chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đốivới dịch vụ vận tải giao nhận Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệpphải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu

Trang 6

thông nói riêng và hoạt động logistics nói chung phải đảm bảo yêu cầu gao hàngđúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồnkho ở mức tối thiểu sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặtchẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hoá, tiêu thụ với vận tải giaonhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưngđồng thời cũng phức tạp hơn.

* Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

giá cả hàng hoá trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phílưu thông Trong chi phí lưu thông hàng hoá, phí vận tải chiếm một tỷ lệ khôngnhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá trên thị trường, đặc biệt lf hàng hoátrong buôn bán quốc tế Theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tảiđường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF Vì vậy dịch

vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và cácchi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chiphí lưu thông

* Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận.

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô rộng và phức tạp hơn nhiều sovới hoạt động vận tải giao nhận thuần tuý Trước kia, người kinh doanh dịc vụvận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản Ngàynay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm cóthể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanhnghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch

vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng

và phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp dịch vụnhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấpdịch vụ logistics (logistics service provider) Rõ ràng, dịch vụ logistics đã gópphần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

* Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.

Trang 7

sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh,vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất vàkinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộngthị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch

vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hoá trêncác tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địađiểm dặt ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác

và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

* Logistics hỗ trợ nhà quản lí ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong quá trình sản xuấ kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toánhóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổsung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, kho bãichứa thành phẩm, bán thành phẩm, Để giải quyết những vấn đề này một cách

có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì logistics cho phép nhà quản

lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chiphí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.3 Các loại hình dịch vụ logistics chủ yếu

 Các dịch vụ logistics lõi (Core Freight Logistics Services)

Dịch vụ logistics lõi chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và mang tínhquyết định đối với các dịch vụ khác Dịch vụ logistics lõi bao gồm:

 Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container

 Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh doanhkho bãi con tainer và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị

 Dịch vụ đại lí vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lí làm thủ tục hải quan vàlập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá

 Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lí thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cảchuỗi logistics; hoạt động xử lí lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hànghoá tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó;hoạt động cho thuê và thuê mua container

Trang 8

 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải (Related Freight

 Dịch vụ thương mại bán buôn

 Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lí hàng lưu kho,thu gom, tập hợp, phân loại hàng hoá, phân phối lại và giao hàng

 Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác

1.1.4 Phân loại logistics

1.1.4.1 Phân loại theo hình thức logistics

Căn cứ vào phân công lao động và tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp

có các mô hình nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP – Logistics ServiceProvider) như sau:

- Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics)

Người chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt độnglogistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Theo đó, chủ hàng phải đầu tư vàocác phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản

lý và vận hành hoạt động logistics First Party Logistics làm phình to quy môcủa doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệpkhông có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý

và vận hành hoạt động logistics

- Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics)

Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụcho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi,thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp

Trang 9

hoạt động logistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường

bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan,trung gian thanh toán…

- Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics)

Người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logisticscho từng bộ phận chức năng, như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tụcxuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tụcthông quan và vận chuyển hàng hoá tới địa điểm đến quy định Do đó, 3PL baogồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hànghoá, xử lý thông tin…và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của kháchhàng

- Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics)

Người tích hợp (integrator) - người hợp nhất, gắn kết các nguồn lựctiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác đểthiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics 4PL chịu tráchnhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cungứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải…4PL hướng đến quản trị cảquá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục sản xuất, nhậpkhẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng

- Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics)

Hình thức này phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhàcung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phốitrên nền tảng thương mại điện tử

1.1.4.2 Phân loại theo quá trình

- Logistics đầu vào (in bound logistics)

Là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu,thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quátrình sản xuất

- Logistics đầu ra (out bound logistics)

Là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùngmột cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuậntối đa cho doanh nghiệp

- Logistics ngược (reverse logistics)

Trang 10

Là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnhhưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêudùng trở về để tái chế hoặc xử lý.

1.1.4.3 Phân loại theo đối tượng hàng hoá

- Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics)

Là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như:quần áo, giày dép, thực phẩm…

- Logistics ngành ô tô (automotive logistics)

Là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô

- Logistics hoá chất (chemical logistics)

Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hoá chất, bao gồm cả hàng độchại, nguy hiểm

- Logistics hàng điện tử (electronic logistics)

Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hàng điện tử

- Logistics dầu khí (petroleum logistics)

Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành dầu khí

1.1.5 Xu hướng hoạt động dịch vụ logistics trên thế giới

Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là xu thế tất yếu, toàn cầu hoálàm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triểnmạnh mẽ, từ đó kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các dịc vụ phụtrợ… và sẽ dẫn đến bước phát triển tất yếu của dịch vụ Logistics toàn cầu(Global Logistics)

Dịch vụ Logistics đãqua nhiều giai đoạn phát triển, đến nay đang trong thời kỳquản trị cung ứng (SCM) vs đặc trưng nổi bật là phát triển quan hệ đối tác, kếthợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất, nhà cung cấp với người tiêu thụ và bên thứ nhất(1PL) là chủ hàng, logistics bên thứ 2 (2PL) là nhà cung cấp hoạy động đơn lẻ;Logistics bên thứ 3 (3PL) làm nhiệm vụ tích hợp, kết hợp việc luân chuyển, tồntrữ và xử lý thông tin; Logistics bên thứ 4 (4PL) hướng tới quản trị cả quá trìnhnhận hàng từ nơi sản xuất, xuất nhập khẩu đưa hàng đến nơi tiêu thụ; Logisticsbên thứ 5 (5PL) được hình thành nhằm vào quản lý toàn chuỗi phân phối trênnền tảng thướng mại điện tử

Theo dự báo, trong vài thập niên đầu thế kỷ 21, dịch vụ Logistics toàn cầu sẽphát triển theo 3 xu hướng chính như sau:

Trang 11

Thứ nhất, xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử ngày

càng phổ biến và sâu rộng hơn các lĩnh vực của Logistics Mạng thông tin toàncầu đã, đang và sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu Quản trị hậu cần làmột lĩnh vực phức tạp với chi phí lớn nhưng lại là yếu tố chủ đạo, quyết định lợinhuận của doanh nghiệp trong thương mại điện tử Các nội dung bao gồm: Xử lýđơn đặt hàng, thực hiện đơn hàng, giao hàng, thanh toán và thu hồi hàng hoá màkhách hàng không ưng ý…

Thứ hai, phương pháp quản lý Logistics kéo (Pull) ngày càng phát triển mạnh

mẽ và dần thay thế cho phương pháp quản lý Logistics đẩy (Push) theo truyềnthống

Quản lý hậu cần – hoặc dựa trên logistics kéo hoặc logistics đẩy – là cần thiếtnhằm tiết giảm chi phí Trong các nền kinh tế dựa trên logistics đẩy trước đây,cắt giảm chi phí được thực hiện thông qua sự hợp nhất, liên kết của nhiều công

ty, sự sắp xếp lại các nhà máy dựa trên sự nghiên cứu các nguồn nguyên liệu thô

và nhân lực rẻ hơn, sự tự động hoá hoặc quá trình tái cơ cấu công nghệ, kỹ thuậttrong các nhà máy Cùng với đó,những sự cải tiến này đã giúp các công ty tăngnăng suất lao động và cắt giảm chi phí hậu cần Ngày nay, nguồn thu lợi nhuận

từ quá trình nâng cấp và cải tiến này đã được thực hiện trên quy mô lớn hơntrong hầu hết các khu vực sản xuất chế tạo

Nền sản xuất dựa trên logistics kéo đối lặp nằm hẳn với cơ chế logistics đẩytruyền thống nước đây – đó là cơ chế sản xuất được điều khiển bởi cung (supply

- driven) và được dẫn dắt, chỉ đạo theo một kế hoạch sản xuất đã được sắp đặttrước Trong hệ thống sản xuất điều khiển bởi cung, các thiết bị và sản xuất đãđược sắp đặt trước Trong hệ thống sản xuất điều khiển bởi cung, các thiết bị vàsản phẩm hoàn thiện được “đẩy” vào các quá trình sản xuất hoặc chuyển vào cácnhà kho lưu trữ sự sắp sẵn của công suất máy móc Rõ ràng, cơ chế sản xuất dựatrên logistics đẩy không thự tế và phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, dẫn đến

sự dư thừa và lãng phí Logistics kéo là quá trình sản xuất được dẫn dắt bởi hoạtđộng trao đổi mua bán trên thực tế hơn là dự đoán mức nhu cầu Cơ chế “cầnkéo” (Logistics kéo ) chỉ sản xuất những sản phẩm đã được bán hoặc đượckhách hàng đặt hàng mua Chuỗi cung cấp hậu cần kéo liên kết quá trình kếhoạch hoá sản xuất và quá trình thiết kế với việc phân phối các sản phẩm sảnxuất Đây chính là mô hình được điều khiển bởi cầu (demand – driven) nhằm

Trang 12

mục tiêu chính là đáp ứng được nhu cầu dự trữ cuối cùng của người tiêu dùng.Trong khi, cơ chế hậu cần “đẩy” hạn chế khả năng liên kết giữa các nhà cungcấp, nhà sản xuất và nhà phân phối, thì cơ chế hậu cần “kéo” đã đạt được mứcthành công cao hơn và tính hiệu quả của quá trình liên kết.

Thứ ba, xu hướng thuê dịch vụ Logistics từ công ty Logistics chuyên nghiệp

ngày càng phổ biến

Toàn cầu hoá nền kinh tế càng sâu rộng thì tính cạnh tranh lại ngày càng gay gắttrong mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong lĩnh vực Logistics cũng vậy, để đápứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, thì ngày càng có nhiều nhà cungcấp dịch vụ Logistics ra đời và cạnh tranh quyết liệt với nhau Bên cạnh nhữnghãng sản xuất có uy tín đã gặt hái được những thành công lớn trong hoạt độngkinh doanh nhờ khai thác tốt hệ thống Logistics như: Hawlett – Packred,Spokane Company, Ladner Buiding Products, Favoured Blend Coffee Company,Sun Mcrosystems, SKF,Proter & Gamble… thì tất cả các công ty vận tải, giaonhận cũng nhanh chóng chớp thời cơ phát triển và trở thành những nhà cung cấpdịch vụ Logistics hành đầu thế giới và hệ thống Logistics toàn cầu như: TNT,THL, Maersk Logistics, NKY Logistics, APL Logitics, Kuehne & Nagel,Schenker, Birkart, Ikea,… Để tối ưu hoá, tăng sức cạnh tranh của các doanhnghiệp, nếu như trước đây, các chủ sở hữu hàng hoá lớn thường tự mình đứng ra

tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân,thù giờ đây việc đi thuê các dịch vụ Logistics ở bên ngoài ngày càng trở nên phổbiến

Hiện nay xu hướng hoạt động dịch vụ Logistics trên thế giới đang diễn ra mạnh

mẽ với xu hướng các nhà vận tải đang tích hợp thêm các dịch vụ trong chuỗicung ứng của mình

Chẳng hạn:

+ Phần lớn các hãng tàu lớn trên thế giới và các nhà giao nhận lớn đều mở thêmdịch vụ logistics (3PL) như: Maesk Logistics (của Maersk Line), APL Logistics(của APL Line – NOL), MOL Logistics (của MOL),… Kuchne-Nagel mở thêm

bộ phận contract logistics, hay DHL cũng vậy…

+ Phần lớn các hãng vận tải dường bộ lớn cũng mở hoạt động logistics của mìnhnhư Ryder, YRC Logistics…

1.2 Dịch vụ kho trong logistics

Trang 13

1.2.1 Khái niệm

Luật Thương mại Việt Nam 2005 (Điều 233) đưa ra khái niệm “dịch vụ

logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác

có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

Khái niệm dịch vụ logistics được sử dụng như hiện nay để chỉ các doanh nghiệp

có khả năng kết hợp lại thành một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch

vụ liên hoàn nêu trên Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hànghoá như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao bì, ghi nhãnhiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bịcho hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành phẩm) luôn ở trạng thái sẵn sàng nếu có

yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level).

“Kho” là loại hình cơ sở logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản vàchuẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụcao nhất và chi phí thấp nhất Theo cách hiểu truyền thống, nhà kho đóng vai tròquan trọng trong việc lưu giữ nguyên liệu và thành phẩm dài hạn những nhà sảnxuất tiến hành sản xuất hàng hoá, sau đó lưu kho và cuối cùng bán hàng hoátrong kho ra thị trường Theo cách hiểu hiện đại, với sự xuất hiện của thuật ngữ

"just in time" và những thay đổi trong chuỗi logistics, không chỉ đơn thuần làphương tiện cất trữ hàng hoá trong một khoảng thời gian dài mà còn là nơi tạo ragiá trị gia tăng cho hàng hoá theo yêu cầu của doanh nghiệp

Như vậy, “dịch vụ kho trong logistics” để chỉ các doanh nghiệp có khả năngcung cấp các dịch vụ liên quan đến khâu lưu kho trong chuỗi các dịch vụ giaonhận về hàng hoá

1.2.2 Các loại hình kinh doanh kho

 Kho công cộng

Kho báo thuế (Bonded Warehouse): là kho chủ hàng dùng để chứa hàng hoánhập khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế hoặc để tránh chi trả nhữngnghĩa vụ này cùng lúc, hoặc chủ hàng muốn lưu hàng hoá trong kho trước khibán ra thị trường

Trang 14

Kho ngoại quan (Custom Warehouse): là kho lưu trữ hàng hoá đã làm thủ tụchải quan được gởi để chờ xuất khẩu, hoặc hàng hoá từ nước ngoài gửi để chờxuất khẩu hoặc nhập khẩu vào VN theo quy định pháp luật.

 Kho đa năng

Cross-docking là kho đa năng phân loại, tổng hợp, đóng gói, hoàn thiện hànghoá để phụ vụ người tiêu dùng Loại kho này đóng vai trò như một trung tâmphân phối tổng hợp Sản phẩm được chuyển từ nơi sản xuất đến kho cross-docking theo những lô hàng lớn, tại đây lô hàng sẽ được tách ra, chuẩn bị theonhững đặt hàng của khách hàng rồi được gửi đi cho khách Do đã được chuẩn bịđầy đủ, nên khi chở đến nơi hàng sẽ được đưa ngay vào sử dụng mà không cầnqua kho nữa

Cross-docking rất phát triển và phục vụ cho hệ thống siêu thị và các nhà bán lẻhàng hoá được chở đến cross-docking, được phân loại và chuẩn bị tại đây rồichuyển ra cửa hàng Hầu hết các kho đa năng đều được bố trí trong khoảng giữacác nhà sản xuất và nơi tiêu thụ Các công ty có nhu cầu sử dụng loại kho này cóthể tự tổ chức tại kho của mình hoặc đi thuê kho, thuê các công ty logistics

 Kho cho thuê theo hợp đồng

Các công ty có thể sử dụng kho thuê theo hợp đồng Hợp đồng thuê kho là sựthoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê và quyền lợi và nghĩa vụ của cácbên, trong đó bên cho thuê sẽ cung cấp dịch vụ kho bãi theo thoả thuận chokhách hàng và bên đi thuê sẽ thanh toán tiền thuê kho cho bên cho thuê Loạikho này là loại kho cũng được thay đổi cho phù hợp với mục đích sử dụng củacông ty và hoạt động logistics trong nội bộ công ty Thuê kho theo hợp đồng là

sự thoả thuận về lợi ích dài hạn của các bên, các bên sẽ cùng nhau chia sẻ rủi rotrong những hoạt động sản xuất chung nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, năngsuất và hiệu quả kinh doanh

1.2.3 Vai trò và chức năng của dịch vụ kho

* Vai trò:

Dịch vụ kho liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, bảo quản hàng hoá của doanhnghiệp vậy vai trò của kho là:

Trang 15

- Đảm bảo tính liên tục cho quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá, là nơigiúp doanh nghiệp lưu trữ toàn bộ sản phẩm và quản lý được số lượng sản phẩmtrên toàn bộ hệ thống.

- Góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối Nhờ đó kho có thểchủ động tạo ra các lô hàng với quy mô kinh tế trong quá trình sản xuất và phânphối nhờ đó giảm chi phí bình quân trên một đơn vị, kho góp phần tiết kiệm chiphí lưu thông thông qua việc quản lí tốt hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm vàhiệu quả cơ sở vật chất của kho

- Hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp thông qua việcđảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng, trạng thái lô hàng giao, gópphần giao hàng đúng thời gian và thời điểm

* Chức năng của kho:

Các công ty kinh doanh phân phối ngày càng phát triển, thì mức độ phức tạptrong vận hàng quản lí kho càng cao Hàng trong kho ngày càng lớn, chủng loạisản phẩm càng phong phú, điều này thường dẫn đến nhu cầu mặt bằng kho bãi

và trình độ nhân lực quản lí

Nhiều nhà phân phối từng phải trả những khoản chi phí khổng lồ cho việc gomhàng và dọn hàng trong kho, quản lí vòng nhập hàng, và chuyển về nơi gomhàng

Kho bãi hiện đại thường có những chức năng sau:

- Gom hàng: khi một lô hàng/nguyên vật liệu không đủ số lượng thì người gomhàng sẽ tập hợp, chỉnh đốn và sắp xếp hợp lí cho lô hàng lẻ thành những lô hàng

đủ số lượng để sử dụng cách vận chuyển trọn gói container

- Khi hàng hoá/nguyên vật liệu được nhận từ nhiều nguồn hàng nhỏ, kho đóngvai trò là điểm tập kết thành những lô hàng lớn như vậy sẽ có điểm lợi thế vềquy mô khi vận chuyển tới nhà máy, thị trường bằng các phương tiện vậnchuyển

- Phối hợp hàng hoá: (tổ chức các mặt hàng kinh doanh) Để đáp ứng tốt đơnhàng gồm nhiều mặt hàng đa dạng của khách hàng, kho bãi có nhiệm vụ tách lôhàng lớn ra, phối hợp và ghép loại hàng hoá khách nhau thành một đơn hànghoàn chỉnh, đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng

Trang 16

- Đảm bảo và lưu giữ hàng hoá: Đảm bảo hàng hoá nguyên vẹn về số lượng,chất lượng trong suốt quá trình tác nghiệp, tận dụng tối đa diện tích và dung tíchkho, chăm sóc giữ gìn hàng hoá trong kho

1.2.4 Nguyên tắc sắp xếp hàng trong kho

Nhằm đảm bảo việc sắp kho hàng một cách khoa học đòi hỏi thủ kho chú ý cácnguyên tắc sau:

 HÀNG NHẬP TRƯỚC – XUẤT TRƯỚC (FIFO: First-In, First-Out): khi

xếp hàng vào sẽ để ở khu vực gần cửa tiện cho việc xuất hàng

 HÀNG NHẬP SAU – XUẤT TRƯỚC (LIFO: Last-In, First-Out): khi

nhập hàng nào trước thì xếp bên trong, hàng nào nhập sau thì để phía bênngoài gần cửa

 HẾT HẠN TRƯỚC – XUẤT TRƯỚC (FEFO: First Expiry, Out):

First-hàng tồn kho còn lại cuối cùng sẽ ưu tiên xuất trước

 Hàng hóa thường xuyên xuất nhập hay nặng nề nên cho vào kho gần cửa

ra

 Hàng hóa xếp an toàn, dễ tìm, đếm lấy hàng, không bị đổ, rơi hàng

 Nếu thùng hàng đã mở và đã sử dụng dở dang, nhãn ở ngoài thùng phải

ghi lại cho phù hợp

 Đồ thủy tinh rất dễ vỡ do va chạm do đó bốc xếp phải cẩn thận

 Những mặt hàng bằng chất dẻo có tuổi thọ khá dài, nhất là từ

polyetylen

và polypropylen Nếu làm từ polystyren thì hư nhanh khi tiếp xúc với cácdung môi hữu cơ, dòn, dễ vỡ và để lâu trong các thùng giấy cac tôngcũng bị hư hỏng

 Nhiều mặt hàng y tế được bao gói và vô trùng, vì vậy khi xuất cũng để

nguyên như vậy không nên mở ra vì có thể làm cho những đồ dùng đókhông còn sạch nữa, gây nhiễm trùng, nếu là kim tiêm hay xilanh,.v v nên xuất nguyên lô, nguyên thùng

 Sản phẩm bằng giấy như giấy vệ sinh hay mặt nạ,… bị hỏng nhanh trong

Trang 17

điều kiện ẩm ướt và thường có khối lượng lớn, vì vậy nên để riêng trongkho.

 Xếp hàng theo chủng loại: hàng khô, hàng có tính hút mùi, hàng độc hại, hàng dễ bốc cháy… được phân tích sau:

- Những loại nhỏ có thể được lưu trữ trong ngăn kéo hoặc khay đựng

Trang 18

- Hàng hóa được lưu trữ tốt nhất trong pa-lét đặt trên quầy tầng kệ không cómối mọt xâm hại.

- Đối với những vật nặng thì phải được đặt ở tầng quầy kệ thấp trên sàn nhà

- Cho vào thùng, bỏ vào hộp hoặc thùng bìa cứng đối với hàng còn lẻ

- Những mặt hàng nhẹ nhưng cồng kềnh đòi hỏi giá đỡ hoặc để cố định

- Hàng hóa phải được sắp xếp một cách khác nhau vì khác biệt kích cỡ nhưngphải theo phương pháp lưu trữ thống nhất để các thành viên trong kho có thể tìmthấy dễ dàng

- Hàng hóa có giá trị cao được đặt trong khung có khóa

- Nguyên liệu và hàng có thể tích lớn, kiện hàng kểnh càng nên để ngoài bãi hayngoài hiên trong sân của kho có mái che mưa nắng nếu không bị ảnh hưởng củamôi trường và mất cắp

- Lưu ý các hệ thống thông gió, hệ thống làm làm lạnh tránh bị che lấp làm hệthống không lưu thông được hơi gió, hơi lạnh sẽ làm hàng hóa hư hỏng bởi nhiệtđộ

- Cần có đủ các phương tiện mở các kiện hàng làm bằng thùng giấy, kim loại,bao ny lông, và kiểm đếm cẩn thận trước khi chuyển vào các kho lẻ

Khi các vấn đề trên không được quan tâm đúng mức sẽ gây nhiều thiệt hại vềkinh tế

kỹ thuật đã ký kết trong hợp đồng trước đó

Trang 19

Biên bản này ghi nhận về những chi tiết cụ thể về chất lượng, màu sắc,kích cỡ, độ ẩm, … so với nội dung thoả thuận trong hợp đồng, nếu từchối hay huỷ bỏ thì phải nêu lý do Bản sao của bản báo cáo sẽ đượcchuyển đến phòng kế toán, một bản đến phòng thu mua để tiện cho việckiểm tra và trả hoá đơn.

Những biên nhận về số hàng dôi ra so với đơn đặt hàng nên kèm “Biên bản” với những chi tiết cụ thể và bên giao – bên nhận ký tên xác nhận Thủ kho được quyền từ chối trong trường hợp này và ký tên xác nhận vàohoá đơn kiêm Phiếu xuất kho (có đơn vị phát hành Phiếu xuất kho riêng)

số lượng và trọng lượng thực nhận Sau đó thủ kho lập Phiếu nhập kho và gửi về Phòng kế toán một liên với hoá đơn kiêm Phiếu xuất kho của đơn

nhận vào phiếu xuất kho của đơn vị cung cấp.

Khi về đến kho của đơn vị thì bàn giao cho thủ kho Thủ kho cũngkiểm đếm lại sau khi bốc xếp bốc hàng chất xếp vào kho Thủ kho vànhân viên giao nhận cùng ký xác nhận vào Phiếu Nhập kho hàng Sau đó,

nhân viên giao nhận sẽ giao lại phòng kế toán: Phiếu Nhập kho và Phiếu xuất kho để thanh toán với người bán (nếu chưa trả tiền, hay trả tiền

trước)

P.Xuất Kho của

nhà máy: 2 liên 1 liên: Kho ký trả lại xe tải 1 liên: Kho -> P.Kế toán (kho

photo lại một bản để lưu)

P.Kế toán: căn cứ vào P.XK này

có phần thực nhập để làm cơ sở lập Phiếu Nhập kho

Sau khi hàng hoá đã nhập kho, thủ kho và người giao hàng ký nhận sau

lýng phiếu P.XK của nhà máy: ghi rõ họ tên, chức vụ và viết chữ “Đã nhận đủ

hàng” Có 2 liên Phiếu Xuất Kho của nhà máy: 1 liên trả lại tài xế - 1 liên khogiao lại cho P.Kế toán

Trang 20

Trường hợp Nhập hàng từ nhà máy của công ty về kho trung tâm có sự cố khibên giao là tài xế xe và bên nhận là kho thì sẽ lập biên bản: nếu đổ bể nhiều thì

trả lại liền,nếu một thời gian sau mở lô hàng ra phát hiện thấy bể hay hư hỏng

thì mời Phòng Kỹ thuật hoặc KCS xuống giám định và ký tên hoặc có ý kiếnthêm vào biên bản hàng đổ bể hư hỏng đó thì biên bản mới có giá trị, sau đóchứng từ đưa lên phòng kế toán 1 liên và kho giữ 1 liên

+ Trường hợp 4: Nhập hàng trả lại: nhà phân phối trả lại hàng hoá do bị

hư hại hoặc không đúng, hàng hết hạng sử dụng, hàng khuyến mãi – đổihàng khác Trường hợp này bộ phận Kỹ thuật hoặc bộ phận kiểm tra chấtlượng (KCS/QC) sẽ giám định lô hàng này với những dự kiện như: sốđơn đặt hàng, bản báo cáo về sự sai sót loại nguyên vật liệu, và nhữngthông tin được đề cập như trên thì rát cần thiết Khi nhận được báo cáocủa bộ phận giám định, bộ phận kho sẽ làm một bản báo cáo về “Số hàngthực nhập”, thủ kho ký tên và sau đó làm 2 bản: Một bản phải được lưu ởkho vào bìa hồ sơ “Biên bản” và bản còn lại gửi cho bộ phận kế toán để

họ kiểm tra những hoá đơn mua hàng, chứng từ thanh toán…

+ Trường hợp 5: Hàng hoá tạm nhập

Hàng hoá mới nhập tạm để giải phõnge nên chưa được xếp vàokhu vực đã định vị hoặc hàng hoá đã xuất kho nhưng chưa giao đượcngày hôm đó nên chở về kho tạm nhập chờ ngày hôm sau giao lại, trườnghợp nhập lại kho này có sự kiểm đếm lại của thủ kho và xử lý như sau:

Hàng hoá để vào góc kho riêng

Khu hàng – tạm nhập – tái xuất Kho: Ghi vào Nhật ký Kho: Hàng tạmnhập của Hoá Đơn hay P.XX số…

Trang 21

Và chứng từ chuyển về Phòng kế toán xử lý hoặc nhân viên giao nhận giữlại qua ngày hôm sau đem giao cho khách hàng.

P.XK: 2 liên

P.Kế toán xử lý

HOÁ ĐƠN

+ Trường hợp 6: Kho lẻ nhập hàng từ kho chẵn qua kho lẻ

Nếu đơn vị phân hàng hoá làm 2 khu kho: khu kho hàng chẵn (hàngnguyên thùng, nguyên đai kiện) và khu hàng lẻ (hàng phát lẻ mỗi ngày)nhân viên ở kho lẻ chịu trách nhiệm phát hàng lẻ mỗi ngày và khi pháthết hàng phải làm thủ tục xuất hàng từ kho chẵn qua kho lẻ, nếu họ quêncập nhật số liệu trên thẻ kho họ sẽ bị khiển trách

+ Trường hợp 7: Đối với các kho ở cảng

Thông thường các tàu cập cầu cảng theo khu vưc kho xếp hàng như khuhàng kim khí điện máy, khu thực phẩm… Khi Đại lý tàu biển báo có tàusắp đến, căn cứ vào Bảng liệt kê hàng hoá (Cargo Manifest) Phòng Điều

độ cảng sẽ qui hoạch tàu sẽ cập cầu cảng nào và hàng hoá sẽ được xếpvào kho nào Căn cứ vào bảng qui hoạch đó phòng Thương vụ cảng sẽlập Hoá đơn kiêm Phiếu xuất kho cho từng chủ hàng (công ty nhập khẩu)

Các trường hợp xuất hàng

+ Trường hợp 1: Doanh nghiệp mua hàng đến kho của doanh nghiệp bán hàng nhận hàng

Trang 22

chuyển P.kếtoán có ghithực xuất

+ Trường hợp 4: Xuất hàng từ kho chẵn qua kho lẻ nội bộ

Nếu kho chẵn và kho lẻ nằm trong khuôn viên do Trưởng kho hayTrưởng phòng Kho vận tải quản lý thì việc chuyển nội bộ đơn giản, chỉcần ghi vào thẻ kho bên kho chẵn cột “xuất” và thẻ kho bên kho là cột

 Thủ kho lẻ chứng kiến và giao cho nhân viên phụ trách mặt hàngcủa kho lẻ sẽ tiếp nhận và xếp hàng vào khu vực kho hàng màmình phụ trách

 Thủ kho lẻ kiểm hàng đầy đủ và ký tên nhận hàng trên “PhiếuChuyển kho nội bộ”

 Kho chẵn sẽ lưu Phiếu chuyển nội bộ

 Kho lẻ sẽ làm Phiếu Nhập kho và nhân viên khu vực tiến hành lậpthẻ kho

+ Trường hợp 5: Xuất hàng từ kho của doanh nghiệp (kho trung tâm phân phối) đến các chi nhánh.

Trang 23

Thủ tục xuất hàng từ kho chẵn đến các chi nhánh như sau:

 Phòng kế toán chuyển xuống kho “Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ”, căn cứ vào đó Phó kho (nếu Phó khophụ trách

kho hàng chẵn) xuất hàng

 Kho lập “Biên bản Giao nhận hàng hoá vận chuyển”

 Sau mỗi ngày xuất hàng thì Phó kho sẽ lập “Bảng cáo xuất khochẵn trong ngày để thủ kho đối chiếu lại trên máy vi tính và thẻkho xem coi có khớp không?

1.2.6 Nguyên nhân dẫn đến các rủi ro phổ biến trong kho

Trong quá trình bảo quản và lưu giữ hàng hoá, việc xảy ra mất mát hoặc hư hỏng làkhó tránh khỏi, bảng dưới đây sẽ nêu ra một số nguyên nhân thường gặp dẫn đến hưhỏng hoặc thất thoát hàng hoá trong kho

Bảng 1.1 Các loại hư hỏng, mất mát hàng hoá và nguyên nhân

Trang 24

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động logistics của doanh nghiệp

1.3.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài

 Sự ổn định về chính trị và đường lối ngoại giao

 Sự cân bằng của các chính sách nhà nước

 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội

 Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Trước năm 2005, luật pháp VN chưa hề có quy định về việc kinh doanh dịch vụlogistics cũng như các hình thức dịch vụ logistics Đến tận khi luật Thương mạiđược Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 và nghị định 140/2007/NĐ-CP củaChính phủ mới có quy định chi tiết về các dịch vụ logistics và điều kiện kinhdoanh dịch vụ logistics

Trước kia, các dịch vụ logistics mà chủ yếu là dịch vụ vận tải, giao nhận thì Nhànước nắm quyền chi phối Gần đây, việc kinh doanh dịch vụ logistics được Nhànước cho phép mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia kinh doanh Điều nàytạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong ngành cung ứng dịch vụ logistics đồng thời

Trang 25

cũng tạo nên sự đa dạng, phong phú của các dịch vụ logistics, chất lượng dịch

vụ cũng tốt hơn

1.3.1.2 Kinh tế

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp cung ứng dịch vụlogistics nói riêng Các yếu tố kinh tế bao gồm một phạm vi rất rộng từ các yếu

tố tác tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics và các yếu tố liên quan đếnviệc huy động và sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ logistics để cung ứng các dịch vụ logistics cho khách hàng Các yếu tố cơ bảnnhất ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và các dịch

vụ logistics là: Tốc độ tăng trưởng của GDP; lãi suất tiền vay, tiền gửi ngânhàng; tỉ lệ lạm phát; tỉ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh toán;chính sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu; tiềmnăng phát triển và gia tăng đầu tư Các yếu tố này ảnh hưởng đến phương thức

và cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp sự thay đổi của các yếu tố này vàtốc độ thay đổi, cu kỳ thay đổi đều tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ đối với các hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Thậm chí còn có thể làm thay đổi cả mụctiêu, phương hướng và cả chiến lược của doanh nghiệp

Trong thời gian vừa qua, tốc độ tăng trưởng hàng năm của nước ta đều đạt trungbình trên 8% Chính vì vậy càng kích thích việc đầu tư và mở rộng quy mô củacác doanh nghiệp khiến cho nhu cầu sử dụng các dịch vụ logistics không ngừngtăng, đây là cơ hội cho phép các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics mởrộng quy mô, sản phẩm dịch vụ logistics cũng như thị trường của mình cũng là

cơ hội cho các doanh nghiệp mới có thể gia nhập thị trường

1.3.1.3 Khoa học công nghệ

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc áp dụng các tiến

bộ này vào sản xuất kinh doanh làm cho hiệu quả ngày càng cao hơn Các doanhnghiệp cung ứng dịch vụ logistics nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa họccông nghệ không những cho chính doanh nghiệp mình mà còn nhằm thực hiệndịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sự phát triển củathương mại điện tử đã đưa ra các doanh nghiệp tiên tiến đến việc ứng dụng

Trang 26

thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình Điều đó đã làm chochất lượng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp cung ứng tăng lên rõ rệt và sẽmang lại sức cạnh tranh cao cho các doanh nghiệp có ứng dụng dịch vụ mới vàokinh doanh.

1.3.1.4 Cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên

Đối với sự phát triển của các dịch vụ logistics thì yếu tố cơ sở hạ tầng và điềukiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thôngvận tải (đường, phương tiện, bến bãi ), hệ thống thông tin, hệ thống bến cảngnhà kho, điện nước Hệ thống cơ sở hạ tầng tốt là điều kiện thuận lợi cho pháttriển dịch vụ logistics, đặc biệt là dịch vụ vận tải Điều kiện tự nhiên là yếu tốcần được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đặc biệt quan tâm Bởicác yếu tố như nắng, mưa, hạn hán, lụt, dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến việccung ứng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ vận tải Bên cạnh đó cũng phải kể đến ảnhhưuowngr của sự khan hiếm các nguyên, nhiên vật liệu, sự gia tăng chi phí nănglượng

1.3.1.5 Sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics

Cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao Khi đề cậpđến vấn đề cạnh tranh, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics phải xemxét đối thủ của mình là ai, số lượng bao nhiêu, mức độ cạnh tranh thế nào Trongthời gian qua cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước làđịnh hướng mở cửa kinh doanh dịch vụ logistics Số lượng các doanh nghiệplogistics được mở ngày càng nhiều và dẫn đến cạnh tranh trong ngành ngày mộtgay gắt hơn không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước

mà còn có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp logistics nước ngoài

Trang 27

1.3.1.6 Khách hàng

Khách hàng chiếm vị trí trung tâm trong mọi hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, để hoạtđộng có hiệu quả thì các donah nghiệp phải bán được hàng tức là phải có kháchhàng thuê dịch vụ logistics Khách hàng của các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ logistics chủ yếu là các doanh nghiệp Các doanh nghiệp này có nhu cầu sửdụng dịch vụ logistics lớn thì ngành dịch vụ logistics mới phát triển được Hiệnnay không ít doanh nghiệp tự mình thực hiện các hoạt động logistics mà khôngthuê dịch vụ ngoài Vì vậy, ngành dịch vụ logistics muốn phát triển thì phải chocác doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thấy được lợi ích to lớn của việc sử dụngdịch vụ logistics

1.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong doanh nghiệp

Đây là những yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, bao gồmcác nhân tố: tiềm lực doanh nghiệp, hệ thống thông tin, nghiên cứu và pháttriển

1.3.2.1 Tiềm lực doanh nghiệp

Tiềm lực doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt: quy mô của doanh nghiệp; cơ sởvật chất kĩ thuật; cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo; tài năng, trình độ chuyên môn

và kinh nghiệm quản lí của các nhà lãnh đạo; trình độ tay nghề, sự thành thạo kĩthuật, nghiệp vụ lao động; tiềm lực tài chính, khả năng huy động vốn

Doanh nghiệp có quy mô lớn thì có khả năng cung ứng các dịch vụ logistics vớinhiều loại hình dịch vụ, đảm bảo chất lượng của dịch vụ, có thể hoạt động trênphạm vi thị trường lớn, cung ứng dịch vụ cho nhiều khách hàng khác nhau cùnglúc

Cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp có đầy đủ, đảm bảo thì mới có thể cungcấp cho khách hàng những dịch vụ mà khách hàng yêu cầu với chất lượng tốt.Với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì các cơ sở vật chất kĩ thuậtphải kể đến là: phương tiện vận tải, kho bãi, máy móc thiết bị phục vụ cho đónggói, bảo quản hàng hoá

Trang 28

Người lãnh đạo doanh nghiệp có tài năng, trình độ quản lí sẽ dẫn dắt doanhnghiệp đi lên, ngày càng phát triển Ngược lại, doanh nghiệp sẽ ngày càng đixuống thậm chí dẫn đến phá sản.

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, các nhân viên là nhữngngười trực tiếp cung ứng dịch vụ cho khách hàng Vì vậy, đây là yếu tố rất quantrọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của dịch vụlogistics

Tài chính có thể coi là yếu tố ảnh hưởng hàng đầu đến sự phát triển doanhnghiệp logistics cũng như sự phát triển các dịch vụ logistics Doanh nghiệp kinhdoanh cũng như sự phát triển của cá dịch vụ logistics Doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ logistics cần một nguồn tài chính lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng:phương tiện vận tải, kho bãi Có nguồn tài chính lớn doanh nghiệp mới có thể

mở rộng quy mô, đa dạng các dịch vụ cung ứng cho khách hàng

1.3.2.2 Hệ thống thông tin

Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu thập thông tin về các yếu tố thuộcmôi trường vĩ mô, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn hàng Đối với doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì yếu tố thông tin là quan trọng Thu thậpđược thông tin thiết thực, kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhiều cơ hộitốt trong kinh doanh Cũng từ đó có các quyết định, các chính sách và chiến lượckinh doanh thích hợp

1.3.2.3 Nghiên cứu và phát triển

Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển tuy chi phí tốn kém song hoạt động nayđem lại kết quả ngoạn mục nhất Nó giúp doanh nghiệp: đổi mới, đa dạng hoá vàphát triển các loại hình dịch vụ logistics; hiện đại hoá dây chuyền công nghệ vàphương thức cung ứng dịch vụ cho khách hàng; nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ lao động Các doanh nghiệp cần nắm vững được tầm quan trọng củayếu tố này để đầu tư thích đáng và thu được thành công trong hoạt động kinhdoanh của mình

Như vậy, qua nghiên cứu tổng thể các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển củacác doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, chúng ta cũng thấy được ảnhhưởng của các nhân tố này đê sự phát triển của các dịch vụ logistics Các doanh

Trang 29

nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics càng phát triển thì các dịch vụ logistics cũngngày càng phát triển.

1.4 Thực trạng hoạt động logistics tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), hiệu quả hoạt động logistics Việt Nam ở mứctrung bình, chỉ số LPI xếp thứ 48 thế giới với năng lực tổng hợp đạt 3,0; riêng

độ hiệu quả của quy trình thông quan ở mức thấp nhất 2,81 theo thang điểm 5(WB 2014) Mặc dù còn sơ khai, song thị trường logistics đã có sức hấp dẫn

Bảng 1 2 Báo cáo chỉ số LPI của Việt Nam giai đoạn 2007-2014

(Nguồn: w w w .lpi w o r ld b a n k or g / inte r nation a l / gl o bal)Logistics Performance Index (LPI) là chỉ số năng lực logistics của quốc gia doNgân hàng Thế giới khảo sát và công bố Chỉ số LPI được xác định dựa trên 06tiêu chí chính để hình thành nên môi trường dịch vụ logistics đó là:

 Customs: Độ hiệu quả của quy trình thông quan (Customsclearance)

 Infrastructure: Chất lượng cơ sở hạ tầng

 Shipment International:Khả năng chuyển hàng đi với giá cả cạnhtranh

 Competence logistics: chất lượng dịch vụ logistics

 Tracking & tracing: Khả năng theo dõi tình hàng hóa sau khi gửi

 Timeliness: Thời gian thông quan và dịch vụ

Trang 30

Các yếu tố trên được đánh giá trên thang điểm từ 1 đến 5 điểm và kết quả xếphạng về chỉ số LPI năm 2014 được trình bày trong Phụ lục A Theo kết quả xếphạng, Đức là quốc gia có chỉ số LPI tốt nhất, đứng vị trí thứ nhất thế giới ViệtNam đứng vị trí thứ 48 trong tổng số 160 quốc gia được khảo sát Đây là vị tríkhá cao, chứng tỏ khả năng để phát triển ngành dịch vụ logistics vủa Việt Nam

là tương đối lớn Tuy nhiên, nếu đánh giá xếp hạng của WB qua các kỳ 2007,

2010 và 2012 thì chỉ số LPI của Việt Nam đều xếp ở vị trí 53, chỉ mới tăng nhẹvào năm 2014 Điều này cũng phản ánh ngành dịch vụ logistics của Việt Namhầu như không được cải thiện nhiều để có những bước tăng trưởng vượt bậc.Một nhận xét chung mà nhiều nhà nghiên cứu hiện nay đánh giá về ngành dịch

vụ logistics của Việt Nam là: Thị trường tiềm năng nhưng ngành dịch vụ này còn kém phát triển; Chi phí logistics cao; Các hoạt động dịch vụ logistics còn ở trình độ thấp, manh mún, tự phát; Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics thì qui mô nhỏ, chủ yếu làm thuê một vài công đoạn; Cơ sở hạ tầng cứng và mềm cho sự phát triển của dịch vụ này ở Việt Nam còn rất hạn chế Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải chưa hoàn chỉnh, năng lực vận chuyển thấp, chưa sử dụng mô hình vận tải đa phương thức Khung pháp lí cho hoạt động dịch vụ logistics chưa hoàn chỉnh Các vấn đề liên quan đến tốc độ thông quan còn nhiềuhạn chế Nguồn nhân lực có trình độ cao về lĩnh vự này còn thiếu trầm trọng Hiện nay, chưa có một tổ chức kinh tế nào thống kê một cách chính xác Việt Nam có bao nhiêu doanh nghiệp logistics Rất nhiều doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh loại hình dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận,… là những dịch vụ trong chuỗi cung ứng Theo nhiều tài liệu, hiện nay cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp và trên 30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư vàkinh doanh dưới nhiều hình thức Ngoài những doanh nghiệp logistics của cáctập đoàn nước ngoài đăng kí doanh nghiệp tại Việt Nam là có nhiều liên hệ với chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn nước ngoài thì hầu hết các doanh nghiệp Viêt Nam là doanh nghiệp nhỏ, hoạt động rời rạc, đơn lẻ, mỗi doanh nghiệp chỉ biết đến lợi ích riêng của mình, thiếu hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nêncuộc canh tranh khốc liệt, chủ yếu là cạnh tranh về giá Trong 4 cấp độ cung cấp, số đông doanh nghiệp là những nhà đầu tư nhỏ, kinh doanh manh mún mới

ở cấp độ 1,2 Theo viện Nomura (Nhật Bản), doanh nghiệp logistics Việt Nam mới đáp ứng được ¼ nhu cầu thị trường trong nước (NCEIF 2010) Phần lớn nhà

Trang 31

kinh doanh Việt xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB Thói quen mua CIFbán FOB dẫn đến doanh nghiệp trong nước chỉ khai thác vận tải và bảo hiểmđược 16% đến 23% lượn hàng xuất nhập khẩu bằng đường biển (giai đoạn 2009-2012) Mặc dù thị trường logistics phát triển nhanh, song trên 70% giá trị tạo ralại thuộc các công ty nước ngoài (giai đoạn 2006-2012).

Thực hiện lộ trình cam kết gia nhập WTO, công ty logistics 100% vốn nướcngoài được vào hoạt động, đây là thách thức lớn khi doanh nghiệp trong nướcphải cạnh tranh gay gắt ngay tại sân nhà Đáng lo ngại trong lúc doanh nghiệpnhỏ còn cạnh tranh thiếu lành mạnh thì các tập đoàn quốc tế với năng lực cạnhtranh cao, bề dày kinh nghiệm lớn và nguồn tài chính khổng lồ đã từng bướcthâm nhập và chiếm lĩnh những khâu chủ yếu của thị trường dịch vụ này

Đặc điểm về hiện trạng dịch vụ logistics của Việt Nam qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 2001-2005, hoạt động giao nhận kho vận, đặc biệt là giao nhận vận tải

quốc tế đã có những bước chuyển biến đáng kể, gần như các công ty Nhà nước chiếm ưu thế và làm đại lý cho các công ty giao nhận vận tải có quy mô toàn cầu nước ngoài Tuy vậy, khối lượng thuê ngoài dịch vụ giao nhận kho vận chỉ ở mức khoảng 25% phần còn lại các doanh nghiệp chủ hàng tự tổ chức đầu tưphương tiện hoặc tự làm

Là một ngành kinh doanh còn mới mẻ, khó cạnh tranh bình đẳng với các công tynước ngoài nên ngành giao nhận kho vận là một trong những ngành kinh doanhđược Nhà nước bảo hộ và khuyến khích phát triển

Cơ cấu hàng chỉ định (nominated) và không chỉ định trong vận tải ngoại thươngmất cân đối trầm trọng bắt nguồn từ tập quán mua CIF bán FOB, điều này dẫnđến các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khai thác vận tải và bảo hiểm được 10 đến18% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu

Giai đoạn 2006 đến nay, thị trường dịch vụ logistics phát triển và chuyển biến

mạnh mẽ hơn với khoảng 1.000 doanh nghiệp hoạt động dịch vụ logistics,nhưng số vốn và tay nghề còn hạn chế Đối trọng là các công ty đa quốc gia có

bề dày kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ và uy tín cả trăm năm Rõ ràng, “miếngbánh” ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam đang thuộc về các công ty nướcngoài với phần lớn nhất: 70%

Trang 32

Như vậy, nhìn chung ngành logistics Việt Nam còn non yếu, phát triển chưatương xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đấtnước Có thể kể ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là:

- Chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về Logistics và vai trò củaLogistics

- Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, truyền thông và thông tin còn yếukém

- Khung pháp lý cho hoạt động Logistics chưa hoàn chỉnh Vài trò địnhhướng của nhà nước trong phát triển ngành Logistics chưa rõ ràng vàchưa có sự quan tâm đúng mức

- Các doanh nghiệp Logistics trong nước còn nhỏ về quy mô, non vềkinh nghiệm, tầm phủ kinh doanh chỉ hạn chế trong thị trường nội địa

và một số nước trong khu vực, chỉ mới tập trung khai thác các khâuđơn lẻ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, mà phổ biến là giao nhận vậntải

- Thiếu sự liên kết trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệpLogistics Việc xây dựng thương hiệu Logistics Việt Nam chưa đượcquan tâm đầy đủ

- Nguồn nhân lực phục vụ cho ngành Logistics còn thiếu và yếu

Trang 33

Tóm tắt chương 1

Đây là chương đầu tiên của bài luận, khái quát các lí thuyết có liên quan đến nộidung của đề tài, được chia làm 4 phần, đi vào 4 nội dung chính sau: Logistics làgì?; Dịch vụ kho trong logistics; Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3-3PL;

và cuối cùng là Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh logisticscủa doanh nghiệp

Phần đầu tiên đã định nghĩa một cách cơ bản về logistics, cách phân loại cũngnhư vai trò của logistics Tiếp đó chỉ ra các xu hướng chính của hoạt độnglogistics trên thế giới, từ đó liên hệ với thực trạng hoạt động logistics tại ViệtNam

Nếu phần đầu nêu ra khái niệm về logistics thì phần thứ hai tập trung vào dịch

vụ kho trong logistics với các khái niệm, các loại hình kinh doanh kho, vai trò vàchức năng của dịch vụ kho Bên cạnh đó, phần này cũng nếu ra một số nguyêntắc chất xếp hàng trong kho, các trường hợp xuất nhập hàng và những rủi ro phổbiến trong kho cùng với biện pháp đề phòng

Phần tiếp theo sẽ khái quát chung về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba –3PL Sau đó sẽ đưa ra các tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp 3PL và nhận xét cảukhách hàng về các công ty 3PL lớn trên thị trường Việt Nam

Phần cuối cùng nêu ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụlogistics của các doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm cả các nhân tố bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp

Như vậy, thông qua việc làm rõ các khái niệm, các lí thuyết có liên quan đến đềtài, chương 1 đã đặt nền tảng về cơ sở lí luận cho đề tài

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG DỊCH

VỤ KHO TẠI CÔNG TY TNHH MTV ICD TÂN CẢNG – SÓNG THẦN

2.1 Giới thiệu về công ty TNHH MTV ICD Tân Cảng - Sóng Thần

 Tên đầy đủ: Công ty TNHH Một Thành Viên ICD Tân Cảng –Sóng

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:

- Loại hình doanh nghiệp: DN nhà nước ( Đơn vị Quốc Phòng kinh tế)

- Là công ty con của Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn

- Ngày 13/12/2000, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định

số 622/QĐ-CSQL công nhận ICD của Công ty Tân cảng Sài Gòn–Bộ Quốcphòng được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập tại khu vực SóngThần, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương

- Ngày 21/12/2000, tại Quyết định số 5967/QĐ-HQ, Tư lệnh Hải quânquyết định chấn chỉnh ICD Sóng Thần thành địa điểm thông quan nội địaICD Tân Cảng – Sóng Thần thuộc Công ty Tân Cảng Sài Gòn với ngànhnghề kinh doanh xếp dỡ hàng hóa, dịch vụ cảng biển, kho bãi.v.v…

Ngày đăng: 13/04/2019, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w