1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những điểm tương đồng và dị biệt của những từ sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh để miêu tả cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh.

11 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 137,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGÔN NGỮ HỌC ------BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ Tên đề tài : Những điểm tương đồng và dị biệt của những từ sử dụng biện pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

- -BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

Tên đề tài :

Những điểm tương đồng và dị biệt của những từ sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh để miêu tả cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Môn : Ngôn ngữ học đối chiếu

Giảng viên : TS Phạm Thị Thúy Hồng

Sinh viên : Nguyễn Bá Thắng

Lớp : K60 Ngôn ngữ học Chất lượng cao

Mã số sinh viên : 15034444

Trang 2

MỤC LỤC

I) PHẦN MỞ ĐẦU: 2

1) Tên đề tài: 2

2) Lý do chọn đề tài: 2

3) Mục đích nghiên cứu: 2

4) Phương pháp nghiên cứu: 2

5) Cơ sở lý luận: 3

II) PHẦN NỘI DUNG: 3

1) Những điểm giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong việc sử dụng từ nói giảm nói tránh để diễn tả cái chết: 3

a) Đau khổ 3

b) Cát bụi: 4

c) Ngủ: 5

d) Hơi thở : 5

e) Đi, ra đi, rời bỏ: 6

f) Nằm: 6

g) Kết thúc: 7

2) Điểm khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong việc sử dụng từ nói giảm nói tránh để diễn tả cái chết: 7

a) Về đâu sau khi chết ? 7

b) Gặp ai sau khi chết? 8

c) Địa vị , giai cấp trong xã hội: 8

III) KẾT LUẬN: 9

IV) TÀI LIỆU THAM KHẢO: 10

Trang 3

I) PHẦN MỞ ĐẦU:

1) Tên đề tài: Những điểm tương đồng và dị biệt của những từ nói giảm nói

tránh để miêu tả cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh

2) Lý do chọn đề tài:

Trong thực tế giao tiếp, những người tham gia giao tiếp đều ít nhiều phải đối mặt với những tình huống mà họ không thể trực tiếp nói ra một điều gì đó, hoặc nếu nói trực tiếp thì sẽ làm cho người nghe và thậm chí là cả người nói cảm thấy lúng túng, khó xử Trong những trường hợp như vậy, cách diễn đạt gián tiếp là xu hướng mà người nói sẽ lựa chọn để làm cho bản thân cũng như người nghe tránh được những bất tiện

Đề tài về cái chết, sự chết chóc, luôn là một đề tài mang tính nhạy cảm lớn không chỉ trong tiếng Việt, tiếng Anh mà còn hầu hết trong các ngôn ngữ khác Trong giao tiếp, người sử dụng ngôn ngữ thường dùng những từ ngữ có xu hướng giảm nhẹ về ngữ nghĩa để tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ, nặng nề cho người nghe Trong văn học, từ nói giảm nói tránh còn giúp tạo giá trị thẩm mỹ, làm đẹp cho ngôn từ

Qua bài viết này, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của từ nói giảm nói tránh trong ngôn ngữ giao tiếp mặc dù thuộc hai nền văn hóa khác biệt, đặc biệt về cái chết Đồng thời giúp người Việt học tiếng Anh hay người Anh học tiếng Việt

có thể áp dụng và sử dụng phù hợp các từ này trong mục đích giao tiếp của mình

3) Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra điểm tương đồng và dị biệt giữa các từ nói

giảm nói tránh về cái chết trong tiếng Anh và tiếng Việt

4) Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu, quan sát, liệt kê.

Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ tìm ra điểm giống và khác nhau thông qua việc

so sánh nghĩa của từ hay cụm từ tương ứng giữa tiếng Việt và tiếng Anh khi sử dụng từ nói giảm nói tránh để diễn tả cái chết Ngoài ra, cũng sẽ giải thích lý do sử dụng những từ ngữ đó dựa vào yếu tố văn hóa của các nước sử dụng hai ngôn ngữ này

5) Cơ sở lý luận:

a) Định nghĩa về nói giảm nói tránh: Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thổ tục, thiếu văn hóa

b) Sự tri nhận về cái chết trong hai ngôn ngữ:

Trang 4

- Đoàn Tiến Lực cho rằng người Việt thể hiện sự tri nhận của mình về cái chết thông qua 5 phạm trù: Hệ quả sinh học của cái chết, chết là cuộc hành trình, chết là đến với cuộc sống hạnh phúc, chết là nghỉ ngơi, chết là mất mát

- Trong đó, Eliecer Crespo Fernández trong bài viết của ông chia ra làm 6 phạm trù: cái chết là sự mất mát, chết là một cuộc sống sướng, chết là sự nghỉ ngơi, chết là một phần thưởng, chết là sự kết thúc , chết là một chuyến

đi

c) Định nghĩa về cái chết: Có rất nhiều định nghĩa về cái chết Ở đây tôi xin trích dẫn hai định nghĩa khái quát và phổ biến Trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, chết là ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống( không thể phục hồi) của một cơ thể Còn trong đại từ điển tiếng Việt, chết là mất khả năng sống ( Nguyễn Như Ý, 1998: trang 344)

II) PHẦN NỘI DUNG:

1) Những điểm giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong việc sử dụng

từ nói giảm nói tránh để diễn tả cái chết:

“ Chết” là một từ tối kỵ trong hầu hết các ngôn ngữ Chính vì vậy mà khi đề cập đến từ “ chết”, người nói thường có xu hướng liên tưởng đến từ chết để đề cập đến vấn đề này Ở đây, tôi thống kê được 7 yếu tố tương đồng này giữa tiếng Việt và tiếng Anh

a) Đau khổ:

Trong kinh Phật dạy: cuộc đời là bể khổ, khi con người chết đi có nghĩa là những đau khổ đó sẽ không còn nữa Và tư tưởng đó đã ảnh hưởng đến việc sử dụng từ có nói giảm nói tránh về cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh:

- Tiếng Việt: không còn cảm thấy đau đớn nữa, hết đau đớn, thoát khỏi về khổ, được giải thoát,…

Ví dụ: Nước biển ép vào người cô càng lúc càng mạnh dần, như muốn xuyên

thủng cơ thể Nhưng cô không còn cảm thấy đau đớn nữa Xung quanh cô chỉ

còn lại một màu đen Thế giới đã biến mất

(Trở về, Nguyễn Thị Hằng Anh)

- Tiếng Anh: put (one) out of (one's) misery , feel no pain,…

Trang 5

Ví dụ: Why doesn't the doctor simply put her out of her misery? He took pills to

put himself out of his misery

b) Cát bụi :

Triết lý phương Đông cho rằng con người được tạo thành bởi năm yếu tố: đất, nước, gió, lửa và không khí Còn theo triết lý phương Tây thì con người là sản phẩm của Thượng đế, được Thượng đế tạo ra từ đất sét Nhìn chung con người được tạo ra có mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên Và đến lúc chết, con người lại trở về với thiên nhiên, sẽ hóa thành tro, thành bụi, thành cát như lúc mới được

“tạo ra” Đó là lý do tại sao mà cả tiếng Việt và tiếng Anh đều sử dụng hình ảnh cát bụi( dust) để diễn tả cái chết trong cách nói giảm nói tránh của mình

- Tiếng Việt: trở về với cát bụi, về lại cát bụi,…

Ví dụ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi về lại cát bụi…”

( Một câu hát trong bài “Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

- Tiếng Anh: come to dust, return to dust, dust to dust, consign to earth, bit the dust, turn to dust…

Ví dụ: All lovers young, all lovers must

Consign to thee, and come to dust.

(Poetry, Shakespeare)

Như đã đề cập ở trên, chết là một vấn đề vô cùng nhạy cảm, là một điều không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận được Để giảm bớt đi nỗi buồn, người ta thường liên tưởng rằng người đã chết đó đang ngủ, một giấc ngủ dài, giấc ngủ thiên thu và

có thể không bao giờ tỉnh lại, đang yên nghỉ thực sự

- Tiếng Việt: chìm vào giấc ngủ dài, giấc ngủ dài, giấc ngủ thiên thu, nhắm mắt xuôi tay, nằm xuống, yên nghỉ,…

Trang 6

Ví dụ: Lời dặn cuối cùng của NSƯT Hán Văn Tình trước khi nhắm mắt xuôi tay

( tiêu đề trong một bài viết ở trang VNTINNHANH,

http://vntinnhanh.vn/giai-tri/loi-dan-cuoi-cung-cua-nsut-han-van-tinh-truoc-khi-nham-mat-xuoi-tay-120093)

- Tiếng Anh: a long sleep, take one’s last sleep, the lone couch of this

everlasting sleep, take the dirt nap, close one’s eyes, lay down one’s life, resting in peace, lay to rest, eternal rest, resting, sleeps with the fish,

Hamlet sleep …

Ví dụ: Rob Ryder cannot give him whippings no more He has gone to a long

sleep- a very long sleep

(The Death of William Shakespeare, Whiteley, O.)

d) Hơi thở:

Hơi thở được xem là một yếu tố rất quan trọng cho sự sống của con người Nếu một người không còn thở nữa, có nghĩa là họ đã chết Do đó, dễ dàng nhận thấy cả tiếng Việt và tiếng Anh đều lấy hình ảnh hơi thở để diễn tả cái chết bằng biện pháp nói giảm nói tránh

- Tiếng Việt: tắt thở, trút hơi thở cuối cùng, …

Ví dụ: Cô thống Biệu trút hơi thở cuối cùng khi người ta đang chia đất, ma nổi

đầy đồng Toàn những con ma sống mà không bùa nào trị được

(Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa)

- Tiếng Anh: cease the breathe, breathe the last, the breath is out of the body, last gasp, dying breath, yield one’s breath, sleeps with the fish, kicked the oxygen habit, kicked the can, kicked the bucket, …

Ví dụ: She breathed her last at about two o'clock that afternoon Cradled in his

wife's arms, he breathed his last

e) Đi, ra đi, rời bỏ:

Trang 7

Chết còn được hiểu là thời gian sống ở thế giới này đã hết, đã đến lúc phải ra đi, tìm và đến một thế giới khác, không còn ở thế giới này nữa

- Tiếng Việt: ra đi, qua đời, rời bỏ cuộc đời, vĩnh biệt rồi, chẳng còn, mất đi,

Ví dụ: Bác đã ra đi rồi sao, Bác ơi!

Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời

(Bác ơi, Tố Hữu, trang 30-31) Lượng con ông Độ đây mà… Rõ tội nghiệp, về đến nhà thì bố mẹ chẳng

còn.

(Thư nhà, Hồ Phương)

- Tiếng Anh: depart of life, his/ her time was up, leave this world, pass away, leave us, lose one’s life, go to a new life, leave his life ,not going to shop at Walmart anymore, …

Ví dụ: My aunt passed away last month When I pass on, I won't care about the

funeral

f) Nằm :

Khi chết người ta chết thường nằm xuống, được chôn cất

- Tiếng Việt: nằm xuống, ngã xuống, …

Ví dụ: Anh ấy đã nằm xuống trong trận chiến ở Quảng Trị.

- Tiếng Anh: Laid down his/her life, ….

g) Kết thúc :

- Tiếng Việt: kết thúc, đến hồi kết,…

Ví dụ: Cuộc đời cậu ấy đã đến hồi kết.

Trang 8

- Tiếng Anh: met an untimely end, Journey's end, is no more

Ví dụ: His life is no more.

2) Điểm khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong việc sử dụng từ nói giảm nói tránh để diễn tả cái chết:

a) Về đâu sau khi chết ?

 Chúng ta biết rằng văn hóa của một đất nước có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ của đất nước đó Văn hóa người Việt là một ví dụ, nó chịu ảnh hưởng rất lớn của đạo Phật

Theo triết lý của nhà Phật thì cuộc đời này là vô thường, con người có sinh

ắt có tử Cái đích chính mà con người hướng đên đó là giải thoát, là thành tựu ở cỗi niết bàn Tư tưởng này có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng từ nói giảm nói tránh diễn tả cái chết trong tiếng Việt khi nói đến nơi mà con người sẽ trở về khi chết Đó có thể là thế giới Cực lạc ( trong kinh A Di Đà), là nơi chín suối( theo mê tín của người Việt), hay là cõi âm ti, … Và các từ nói giảm nói tránh có thể liệt kê

trong tiếng Việt ở đây kể như: về miền cực lạc, về nơi cực lạc, đi Tây phương, về Cực lạc, lâm chung, quy tiên, về nơi chín suối, xuống suối vàng, về cõi âm ti, …

Ví dụ: Tôi đâu có biết rằng, Đọt chưa được về nơi chín suối Càng không thể biết

được, từ giờ phút đó cho đến hết đời, đồng chí Đọt của tôi tuyệt nhiên không có một giây phút yên lòng

(Bến đò xưa lặng lẽ, Xuân Đức)

 Tương tự như vậy trong tiếng Anh, ngôn ngữ cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi tôn giáo Nếu như văn hóa phương Đông có thế giới Cực lạc thì ở phương Tây, người ta mong muốn và mơ được đến thiên đường Ở đó, họ sẽ được gặp các

thiên thần: go to heaven, go to his/her heavenly father, angels carried him/her away, went to the Happy Hunting Grounds, checked into the Horizontal

Hilton, checked into the Motel Deep 6come to better place, climbed the

stairway to heaven, crossed the Great Divide…

Ví dụ: He went to his Heavenly Father, as the priest of his home, and placed his

hands on wife

(Ecuador Missions Trip, Pat McGuffin)

b) Gặp ai sau khi chết ?

Trang 9

 Ngoài đạo Phật, người Việt Nam cũng có phong tục thờ cúng ông bà, tổ tiên rất

đặc trưng Do đó chết chỉ mang nghĩa là: về với tổ tiên, về với ông bà, thăm các cụ, đoàn tụ với tổ tiên, đoàn tụ với ông bà, về với cội nguồn, …

Ví dụ: Mẹ tôi đe dọa tôi nếu tôi không về nhà, rằng bà sẽ đi đoàn tụ với ông bà

 Tuy nhiên, ở những nơi nói tiếng Anh nơi mà Cơ đốc giáo được xem là tôn giáo phổ biến nhất thì người ta tin rằng con người do Thượng đế tạo ra Chính

vì vậy, đơn giản chết là trở về nhà, về đoàn tụ với Chúa Đó là lý do mà trong tiếng Anh có những từ nói giảm nói tránh về cái chết liên quan tới đức

Chúa( Jesus, Christ, Father, Maker, God, Lord) như : asleep in Christ, fall asleep in the arms of Jesus, go to his Heavenly Father, depart to God, meet his/ her Maker, go to be with the Lord, went to Davy Jones' Locker, got his/her wings …

Ví dụ: Michel went to be the with Lord yesterday

c) Địa vị , giai cấp trong xã hội:

 Như là một đặc trưng của tiếng Việt, ngôn từ chuyên chở cả thái độ, tình cảm của người nói đên người nghe, nên để nói về cái chết, trong tiếng Việt có vô vàn từ Đây là đặc điểm thứ ba chỉ có trong tiếng Việt Đó là từ nói giảm nói tránh trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.Nó có thể được phân loại vào giai tầng, chức vụ, nghề nghiệp, tôn giáo của người đã chết hay tình cảm thái độ của người sống đối với người đã chết Do vậy trong tiếng Việt, vua chết gọi là

băng hà Trong ngôn ngữ Phật giáo, Hòa thượng chết gọi là viên tịch Trong

chiến tranh, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, người lính, người chiến sỹ đã chết gọi

là hy sinh, …

Ví dụ:

- Nguyên nhân nào gây ra cái chết của vua Quang Trung, ngày nay không ít

người còn thắc mắc Ngay cả ngày vua băng hà cũng có nhiều cứ liệu khác

nhau

- Cô gái cho biết: “Ở đội em có ba Nguyệt, nhưng một người đã hy sinh rồi”.

(Mảnh trăng cuối rừng, Nguyễn Minh Châu, trang 833)

- Hòa thượng Thích Chơn Thiện - phó pháp chủ Hội đồng chứng minh Giáo

hội Phật giáo Việt Nam viên tịch lúc 10g50 ngày 811 tại chùa Tường Vân

-TP.Huế, hưởng thọ 75 tuổi

Trang 10

(Báo Tuổi trẻ, http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20161108/hoa-thuong-thich-chon-thien-vien-tich/1215880.html )

III) KẾT LUẬN:

Trong ca dao tục ngữ của tiếng Việt có câu: “ Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”

Thật vậy, việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thế của người nghe hay người đọc, đặc biệt đối với các vấn đề dễ đau lòng như khi đề cập đến cái chết của người thân, người quen Chính vì vậy, các từ có sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người

Qua bài tiểu luận này, chúng ta có thể tìm hiểu rõ hơn về hai nên văn hóa, thấy được mặc dù thuộc hai nền văn hóa khác biệt nhau, nhưng cả tiếng Việt và tiếng Anh đều có những đặc điểm tương đồng được thể hiện rõ trong cách nói tránh khi diễn tả cái chết

Hi vọng rằng, người đọc sẽ có được cái nhìn rõ hơn về việc sử dụng từ nói giảm nói tránh diễn tả từ chết trong tiếng Việt và được đối chiếu so sánh sang tiếng Anh; đồng thời người đọc cũng sẽ có được một lượng từ vựng đáng kể cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh để có thể sử dụng và ứng dụng tốt nhất vào trong đời sống thực tiễn của mình, nhằm mục đích đạt kết quả giao tiếp tốt nhất

IV) TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Lê Quang Thiêm ( 2008) Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Nhà xuất bản

Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Nguyễn Như Ý( chủ biên).(1998) Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn

hóa- Thông tin

3 Nguyễn Viết Toàn( 2007) Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, Uyển ngữ trong

cụm từ diễn đạt cái chết trong tiếng Anh, số 11, 145: 20-24

4 Trương Viên ( 2002) Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Anh và việc chuyển dịch sang tiếng Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội.

5 Whiteley, O (1920) Diary of Opal Whiteley Cảnh 62: The Death of

William Shakespeare Từ website: http://intersect.uoregon.edu/opal/toc.html

6 Xuân Đức, ( 2007) Bến đò xưa lặng lẽ, Chương 9, từ website:

http://xuanduc.vn/baiviet.aspx?id=265&nhom=1

Trang 11

7 Eliecer Crespo Fernández The language of Death: Euphemism and

Conceptual Metaphorization in Victorian Obituaries

8 Trần Thị Hồng Hạnh SOME REMARKS ON LINGUISTIC - CULTURAL FEATURES OF VIETNAMESE EUPHEMISMS, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời

sống, Số 8- (238)-2015

9 101 Euphemisms for Dead, Death or Dying Từ website:

https://www.verywell.com/euphemisms-for-dead-death-or-dying-1131903

Ngày đăng: 12/04/2019, 23:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w