1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của lợn mắc bệnh tiêu chảy thành dịch do virus (Porcine epidemic diarrhea PED) gây ra trên lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang

152 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 4,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là công trình nghiên cứu về một số các đặc điểm bệnh lý của lợn Mán và lợn Rừng nuôi mắc PED ở Việt Nam, cung cấp những thông tin khoa học về triệu chứng lâm sàng, biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể, một số chỉ tiêu huyết học cơ bản khi lợn mắc PED. Cung cấp các thông tin về chỉ tiêu huyết học của lợn Rừng trong chăn nuôi trang trại. Từ đó, giúp cho việc chẩn đoán phân biệt lợn Mán và lợn Rừng bị tiêu chảy do mắc PED với các bệnh khác gây ra tiêu chảy ở lợn để có thể đưa ra phác đồ điều trị hợp lý, hiệu quả.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THƠM

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA LỢN MẮC TIÊU CHẢY THÀNH DỊCH DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) GÂY RA TRÊN LỢN MÁN VÀ LỢN RỪNG TẠI TỈNH HÀ GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THƠM

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ

CỦA LỢN MẮC TIÊU CHẢY THÀNH DỊCH DO VIRUS (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) GÂY RA TRÊN LỢN MÁN VÀ LỢN RỪNG TẠI TỈNH HÀ GIANG

Người hướng dẫn khoa học : 1 PGS.TS Nguyễn Hữu Nam

2 PGS.TS Phạm Hồng Ngân

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thơm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Nam và PGS.TS Phạm Hồng Ngân, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Nhờ có sự hướng dẫn miệt mài và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy mà luận án của tôi đã được hoàn thành, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Bệnh lý thú y, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Cao đẳng Kỹ thuật - Công nghệ

Hà Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp công tác tại khoa Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trường Cao đẳng Kỹ thuật & Công nghệ - Hà Giang đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi thực hiện nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án

Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Thơm

Trang 5

2.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2016 5 2.1.2 Giống lợn Mán (hay còn gọi là lợn địa phương, bản địa) 6

2.3 Lịch sử và tình hình nghiên cứu mắc tiêu chảy ở lợn (PED) 20 2.3.1 Nghiên cứu về tiêu chảy thành dịch (PED) ở lợn trên thế giới 21 2.3.2 Nghiên cứu về tiêu chảy thành dịch (PED) ở lợn tại Việt Nam 22

Trang 6

2.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc tiêu chảy thành dịch (PED) 31

2.7 Biện pháp phòng và trị tiêu chảy thành dịch (PED) ở lợn 37

3.2.1 Khảo sát tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do tiêu chảy trên lợn Mán lợn và Rừng tại

3.2.2 Xác định tỷ lệ mắc PEDV trên lợn Mán lợn và Rừng trong các đàn lợn bị

3.2.3 Xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích chủ yếu trên lợn Mán lợn và

3.2.4 Xác định biến đổi bệnh lý vi thể một số cơ quan trên lợn mắc PED và áp

dụng phương pháp hóa mô miễn dịch để xác định sự có mặt của virus trong

3.2.5 Xác định một số chỉ tiêu huyết học cơ bản trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED 40

3.3.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng bộ Kít PED-Ag test 41

Trang 7

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 52 4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do tiêu chảy trên lợn Mán và lợn

4.2.1 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy thành dịch (PED) trên lợn Mán và lợn

Rừng bằng kít chẩn đoán nhanh (kít PED-AG test) tại tỉnh Hà Giang 61 4.2.2 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy thành dịch (PED) trên lợn Mán và lợn

4.3 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích chủ yếu trên lợn Mán

và đàn lợn Rừng mắc tiêu chảy thành dịch (PED) tại tỉnh Hà Giang 69 4.3.1 Xác định triệu chứng lâm sàng trên lợn Mán và lợn Rừng mắc tiêu chảy

4.3.2 Xác định bệnh tích chủ yếu của lợn mắc tiêu chảy thành dịch (PED) trên

4.4 Xác định biến đổi bệnh lý vi thể một số cơ quan trên lợn Mán và lợn Rừng

mắc tiêu chảy thành dịch (PED) và áp dụng phương pháp hóa mô miễn dịch để xác định sự có mặt của virus trong các mô của lợn bệnh 76 4.4.1 Kết quả xác định các bệnh tích vi thể chủ yếu trên lợn Mán và lợn Rừng

4.4.2 Áp dụng phương pháp hóa mô miễn dịch xác định sự tồn tại của virus

4.5 Xác định chỉ tiêu huyết học cơ bản trên lợn Mán và lợn Rừng mắc tiêu

4.5.1 Xác định các chỉ số hồng cầu của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED tại tỉnh

4.5.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu bạch cầu trên lợn Mán và lợn Rừng mắc

Trang 8

4.5.3 Kết quả khảo sát hàm lƣợng protein huyết thanh trên lợn mắc PED 102

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 107

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

EDTA Ethylenediaminetetraacetic acid

ELISA Enzyme-linked immunosorbent assay

PEDV Porcine epidemic diarrhea virus

RT-PCR Reverse transcription polymerase chain reaction TGE Transmissible gastroenteritis

TGEV Transmissible gastroenteritis virus

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

2.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2016 5

4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do tiêu chảy trên lợn Mán và lợn Rừng

4.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do tiêu chảy trên lợn Mán và lợn Rừng theo tuần tuổi tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2016 58 4.3 Kết quả xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy thành dịch (PED) của lợn Mán và lợn Rừng bằng kít chẩn đoán nhanh (Kít PED-Ag test) tại Hà Giang 62 4.4 Kết quả xác định tỷ lệ dương tính với PEDV trên lợn Mán và lợn Rừng tại

4.5 Triệu chứng lâm sàng trên lợn Mán và đàn lợn Rừng (1 – 4 tuần tuổi) mắc

4.6 Kết quả xác định bệnh tích đại thể chủ yếu trên lợn Mán, lợn Rừng mắc PED

4.7 Kết quả xác định bệnh tích vi thể trên lợn Mán và lợn Rừng con theo mẹ

4.8 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở một số cơ quan trên lợn con theo mẹ (

4.9 Kết quả nhuộm IHC một số cơ quan trên lợn mắc PED 91 4.10 Các chỉ số hồng cầu trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED (2 tuần tuổi) 93 4.11 Các chỉ số bạch cầu trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED (2 tuần tuổi) 100 4.12 Hàm lượng protein huyết thanh trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED 102 4.13 Tổng số lợn Mán và lợn Rừng được điều tra tại tỉnh Hà Giang giai đoạn

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

3.2 Các bước tiến hành kiểm tra mẫu bệnh bằng Atigen rapid PED Ag test Kit 42 3.3 Kết quả chẩn đoán bằng Atigen rapid PED Ag test Kit 43

3.5 Minh họa tóm tắt quy trình IHC-A và cơ chế IHC-B 49 4.1 Hình ảnh triệu chứng bệnh tích trên lợn Mán mắc PED 71 4.2 Hình ảnh triệu chứng bệnh tích trên lợn Rừng mắc PED 72 4.3 Hình ảnh triệu chứng bệnh tích trên lợn Rừng mắc PED 76

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thơm

Tên Luận án: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý lợn mắc tiêu chảy thành dịch do

virus (Porcine epidemic diarrhea - PED) gây ra trên đàn lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà

Giang

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tỷ lệ lợn Mán, lợn Rừng mắc tiêu chảy thành dịch (PED) trong một số trang trại nuôi lợn Mán và lợn Rừng thuộc tỉnh Hà Giang;

- Xác định rõ các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích (đại thể và vi thể) chủ yếu của bệnh (PED);

- Xác định được sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học ở lợn mắc (PED)

Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp điều tra dịch tễ học thường quy: phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra, hồi cứu tài liệu lưu trữ, dịch tễ học mô tả

Xác định tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết theo công thức tiêu chuẩn

Xác định sự hiện diện của virus Porcine Epidemic Diarrhoea (PEDV) trong mẫu phân lợn tiêu chảy bằng bằng bộ Kit PED- Ag test

Xác đinh sự có mặt của virus Porcine Epidemic Diarrhoea (PEDV) ở lợn có biểu hiện tiêu chảy, chưa được tiêm vacxin phòng PED bằng RT-PCR

Triệu chứng lâm sàng của lợn dương tính với phản ứng RT-PCR được xác định là các triệu chứng của PED Những lợn này sau đó được mổ khám đánh giá bệnh tích đại thể và lấy mẫu từ các cơ quan, làm tiêu bản để đánh giá biến đổi vi thể

Sau khi thực hiện phản ứng RT-PCR và có kết quả, chúng tôi hồi cứu, tổng hợp lại những triệu chứng lâm sàng chủ yếu đã được ghi chép từ trước

Xác lợn chết được mổ khám theo tiêu chuẩn trong TCVN 8402: 2010 (Bộ khoa học và Công nghệ, 2010)

Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch theo Boenisch (2001)

Xác định các chỉ tiêu huyết học bằng máy phân tích tự động Celldyn 3700

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thô được xử lý và tính toán trên Excel, số liệu tổng hợp được xử lý bằng chương trình thống kê Minitab 16.0 Phép thử chi bình phương (χ2) được sử dụng để so sánh tỷ lệ dương tính và giá trị P < 0,05 được coi là có ý nghĩa

Trang 13

Kết quả chính và kết luận

1) Tỷ lệ mắc tiêu chảy của lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang khá cao, chiếm 30,23 ± 0,82 % (lợn Mán), 29,92 ± 0,68% (lợn Rừng) Tỷ lệ chết ở lợn Mán cao hơn.so với lợn Rừng

2) Kết quả kiểm tra bằng kít chẩn đoán nhanh PEDV -Ag test tỷ lệ lợn nhiễm PEDV tại tỉnh Hà Giang khá cao chiếm tỷ lệ (77,8%; 48,3%)

Kết quả xét nghiệm tỷ lệ lợn mắc PED bằng phản ứng RT – PCR cho thấy, sự hiện diện của PEDV có ở tất cả các địa phương lấy mẫu; 27/34 chiếm 72,7% mẫu bệnh phẩm trên lợn Mán; 26/35 chiếm 74,3% mẫu bệnh phẩm trên lợn Rừng thu thập được từ tỉnh Hà Giang cho kết quả dương tính với phản ứng RT-PCR

3) Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn Mán lợn và Rừng (1 – 4 tuần tuổi) mắc PED có các triệu chứng điển hình như: ủ rũ, mệt mỏi, lười bú, giảm ăn hoặc bỏ ăn, ỉa chảy nhiều, nôn mửa, lợn con sút cân, gầy gò Lợn con mắc tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, triệu chứng tiêu chảy chiếm tỷ lệ rất cao (100%)

- Bệnh tích đại thể bệnh PED trên lợn Mán và lợn Rừng chủ yếu tập trung trên ruột và dạ dày

4) Kết quả xét nghiệm hóa mô miễn dịch cho kết quả dương tính với PEDV Chủ yếu ở: không tràng, hạch màng treo ruột, hồi tràng 100% Tá tràng 90% ; lách 80% Ở kết tràng, dạ dày, gan, phổi, thận, tỷ lệ các mẫu dương tính chiếm từ 20 – 60% số mẫu nghiên cứu Mức độ khu trú của virus ở các cơ quan rất khác nhau, sự có mặt của PEDV trong cùng một cơ quan trên đàn lợn Rừng và đàn lợn Mán mắc PED là tương đối giống nhau

5) Lợn con 2 tuần tuổi mắc PED, số lượng hồng cầu trên lợn Mán, lợn Rừng giảm xuống còn 4,66 ± 0,55 (triệu/mm3); trên lợn Mán còn 4,45 ± 0,27 (triệu/mm3)

Lợn Mán và lợn Rừng mắc PED tỷ lệ bạch cầu trung tính đều tăng lần lượt là: 60,45, 4,02%, 57,67 2,69%, Ở lợn đối chứng là: 38,50 2,27 %,40,67 2,45% so với lợn đối chứng tăng lần lượt là 21,95 1,75% và 17,00% (p < 0,05)

Tỷ lệ bạch cầu ái toan của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED lần lượt là: 5,70 1,09%

và 5,48 0,97 % Trong khi đó tỷ lệ này ở lợn Mán và lợn Rừng đối chứng là 5,05 1,04 %; 5,20 0,95% (p < 0,05) Tỷ lệ bạch cầu ái kiềm tăng lợn Mán và lợn Rừng mắc PED lần lượt là: 0,75 0,49%; 0,65 0,53% (p < 0,05) Trong khi đó tỷ lệ này ở lợn Mán và lợn Rừng đối chứng đều là 0,65, 0,58 % Tỷ số A/G ở lợn Mán và lợn Rừng mắc PED giảm xuống lần lượt là: 0,62%; 0,64% (P > 0,05)

Kết quả nghiên cứu các chỉ số sinh hóa máu của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED cho thấy; tỷ lệ α1 globulin, α1 globulin, β globulin ở lợn mắc PED đều tăng so với lợn đối chứng Tuy nhiên, sự biến đổi về các chỉ tiêu này giữa lợn Mán và lợn Rừng mắc PED so với lợn đối chứng đều không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)

Trang 14

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen Thi Thom

Thesis title: Study on pathological characteristics of Man pig and wild pig breeding

infected porcine epidemic diarrhea virus (PED) in Ha Giang province

Major: Veterinary pathology and Therapeutics of the diseases of domestic animals Code: 9 64 01 02

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives

The results of this study will provide full information on the pathophysiology of

diarrhea caused by the Porcine Epidemic Diarrhea (PED) virus in Man pig and wild pig

breeding

Clarification of epidemiological characteristics of PED in pigs and pigs raised in

Ha Giang province Clarify the major pathological characteristics of PED

Materials and Methods

In order to study the contents of the topic, we applied the following research

methods:

Application of routine epidemiological investigation methods: face-to-face

interviews, questionnaires, archives, epidemiological description

To determine the morbidity, mortality and death rates according to the standard

formula

Apply modern and advanced methods such as PCR Determination of

hematological parameters by automated analyzer

Pigs surgery in accordance with TCVN 8402: 2010 Microscopic examination of

pig organs by paraffin molding of the Department of Veterinary Pathology

Main findings and conclusions

1, Rate of Man pig and wild pig breeding infected PEDV in Ha Giang province by

Anigen rapid PED Ag test Kit in turn as 77.8%; 48.3%; by RT-PCR in turn as 72.7% and

74.3% (at ganglion samples); 57.1%; 54.3% (at faeces samples); 79.4% and 74.3% (at

intestine samples) PEDV-positive rates in the different study sites are different

2, The main clinical symptoms when Man pig and wild pig breeding infected

porcine epidemic diarrhea virus (PED) such as: Seducing, tired; loose, fishy, yellow

Trang 15

excrement; deep sunkiness eyes, drink plenty of water, lying on the mother's abdomen, lazy suck, hypothermia, rapid breathing, vertigo, vomiting, pale mucous membranes

3, Lesions of Man pig and wild pig breeding infected PEDV

- Observing the major lesions of Pigs and PED pigs we found no difference between the two subjects Pigs died in the state of skinny skin, the stools of gold around the anus; Stomach was inflated, containing undigested milk; Small intestines, thin walls, yellowish pigmentation and lots of bubbles (100%) Hepatic necrosis, hemorrhage (80.8%; 85.2%) On the other hand, visceral organs such as the lung, liver, kidneys, and spleen have dark red hematuria, the result of circulatory disorders in the pathological coils of dehydration diarrhea

- Microscopic lesions are damaged intestinal villi, degenerated intestinal epithelial cells, necrosis The velvet feathers are eaten very quickly, deprivation should be shorter and the head imprisonment seen more in the ileum, ileum The broken lieberkuhn line, peeling epithelial epithelial cells, coronary artery and inflamed infiltration of mucosal mucosa Intestinal hemorrhoids, hemorrhage, proliferate payer plaques in the intestinal wall Liver, congestion, liver cells degenerate, liver structure changes, boundaries between liver cells are unknown Inflammation of the lungs, congestion, enlarged blood vessels, red blood cells, infiltrated inflammatory cells in the bronchial and alveoli

4, Immunohistochemistry staining results show: Most of the organs in the pig's

body were positive The foci of the virus in the organs is very different Duodenum, no colon, mesenteric lymphadenitis, ileum are the organs most affected by PEDV (90% to

- Some numeral of white blood cells: White blood cell, monocyte, lymphocyte decrease; Granulocyte, eosinophilia, erythrocytes increase

- Serum protein content: total protein content, Albumin, γ globulin, A/G rate; α1 globulin, α2 globulin, β globulin increase

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hà Giang là một tỉnh miền núi, nhưng ngành chăn nuôi lợn ở Hà Giang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh và nhanh chóng chuyển đổi thành sản xuất hàng hoá Ngoài những giống lợn ngoại cho năng suất và chất lượng cao, như Landrade, Yorkshire, được người chăn nuôi đưa vào sản xuất, thì giống lợn Mán, lợn Rừng lai (lợn địa phương) vẫn gắn liền với đời sống và là nguồn thu nhập của đồng bào địa phương Bên cạnh đó, trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của người dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quý hiếm, để đáp ứng nhu cầu thị trường, các giống gia súc bản địa và hoang dã đang được các nhà chăn nuôi đầu

tư và khai thác, một trong những động vật hoang dã được nhiều người Việt Nam

ưa chuộng đó là lợn Rừng Cùng với trào lưu đó, hiện nay ở Hà Giang đang có xu thế phát triển chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng theo mô hình trang trại và bước đầu đã cho kết quả khả quan

Tuy nhiên, thực trạng chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đã tạo môi trường hết sức thuận lợi cho việc thường xuyên tồn tại nhiều mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi Từ đó, các dịch bệnh xảy ra ở lợn vẫn không ngừng phát triển

và biến đổi Các dịch bệnh nguy hiểm như tai xanh, lở mồm long móng, cúm lợn, dịch tả lợn, hội chứng hao mòn sau cai sữa, vẫn xảy ra trên lợn và gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi lợn nói chung và cho các nông hộ chăn nuôi lợn nói riêng tại tỉnh Hà Giang Đa số các bệnh đó đều có tác nhân gây bệnh là virus với đặc điểm lây lan nhanh, độc lực cao nên gây thiệt hại lớn Trong số các bệnh nguy hiểm trên lợn, mắc ở lợn hay còn gọi là PED (viết tắt của Porcine Epidemic Diarrhea) đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm trên đối với người chăn nuôi lợn cũng như các nhà chuyên môn Chăn nuôi, Thú y Bệnh đã được báo cáo lần đầu tiên ở Anh năm 1971, gây bệnh cho lợn mọi lứa tuổi, lúc đó được gọi là dịch tiêu chảy do virus năm 1976, đợt dịch tiếp theo giống EVD cũng

do coronavirus gây ra ở châu Âu và được gọi theo tên tiếng Anh là PED

(Pensaert et al., 1981) Dịch tiêu chảy cấp trên lợn (PED) là bệnh truyền nhiễm,

lây lan rất nhanh, gây thiệt hại lớn cho đàn lợn với đặc điểm gây ói mửa và tiêu

chảy trên lợn ở mọi lứa tuổi (Pospischil et al., 2002) Từ đầu năm 2000 trở lại

đây, bệnh xảy ra nghiêm trọng ở châu Á, trong đó có Việt Nam Bệnh xảy ra ở

Trang 17

nhiều lứa tuổi của lợn, gây tử vong cao ở lợn con theo mẹ với tỷ lệ cao

(Puranaveja et al., 2009, Park and Daesub, 2012)

Dịch tiêu chảy cấp (PED) trên lợn trên đàn lợn Mán và lợn Rừng xảy ra khá phổ biến, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu đưa ra những kết quả chính xác để giải đáp các câu hỏi đặt ra như: tình hình lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang mắc PED ra sao? Đặc điểm bệnh lý của lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang mắc PED về biểu hiện lâm sàng và bệnh tích (đại thể và vi thể) chủ yếu của bệnh (PED), sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học ở lợn Mán và lợn Rừng mắc (PED) như thế nào? Ở Việt Nam

đã có một số nghiên cứu về đặc điểm PED trên lợn Song, đặc điểm của PEDV ở các địa phương khác nhau, ở các giống lợn khác nhau thì có những điểm khác nhau nhất định Việc áp dụng những kết quả nghiên cứu trên để phòng và điều trị bệnh PED trên đàn lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang còn nhiều bất cập chưa mang lại hiệu quả Ở Hà Giang, hiện tại những thông tin và hiểu biết của người quản lý và người chăn nuôi còn rất hạn chế, chưa có công bố chính thức nào về tình hình nhiễm PEDV tại tỉnh Trước thực trạng đó, nhằm hiểu rõ hơn về đặc điểm bệnh lý của bệnh tiêu chảy thành dịch (PED) gây ra cho đàn lợn Mán, lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang Đồng thời có thêm cơ sở khoa học cho việc chủ động xây dựng các biện pháp trong công tác phòng ngừa sự xâm nhập của virus PED trên lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang, cũng như các tỉnh miền núi phía BắcViệt Nam Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu của luận án nhằm xác định một số các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED, bao gồm các dấu hiệu về triệu chứng lâm sàng, biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể, các chỉ tiêu huyết học khi lợn mắc PED để làm căn cứ trong chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán phân biệt với các lợn mắc tiêu chảy do các mầm bệnh khác

Trang 18

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Căn cứ vào dịch tễ học và tình hình chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng tại các huyện của tỉnh Hà Giang Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, sự biến đổi khí hậu; cùng với điều kiện kinh tế, trình độ dân trí và điều kiện môi trường, phương thức chăn nuôi của từng địa phương, tình hình dịch bệnh của tỉnh Hà Giang Do đó, trong khuôn khổ đề tài chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu tại các trang trại chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng của 3 huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang

Đối tượng nghiên cứu: lợn Mán và lợn Rừng nuôi tại các trang trại và gia trại của 3 huyện Vị Xuyên, Bắc Quang và Hoàng Su Phì tại tỉnh Hà Giang mắc tiêu chảy và mắc dich tiêu chảy cấp (PED) Trọng tâm nghiên cứu là lợn con theo

mẹ từ 1-9 tuần tuổi

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học, Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh lý Thú y (làm tiêu bản bệnh lý), Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

- Địa điểm theo dõi và lấy mẫu: tại các trang trại và gia trại nuôi lợn Mán

và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang

- Thời gian nghiên cứu: thời gian nghiên cứu và số liệu của đề tài được thu thập từ tháng 12/2014 đến tháng 8/2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định được các đặc điểm bệnh lý chủ yếu trên lợn Mán và lợn Rừng mắc PED tại tỉnh Hà Giang

- Phương pháp hóa mô miễn dịch đã xác định được sự hiện diện của virus

porcine epidemic diarrhea trong các mô của lợn Rừng mắc PED

- Cung cấp các thông tin về chỉ tiêu huyết học của lợn Rừng trong chăn

nuôi trang trại

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đây là nghiên cứu về PED trên lợn Mán và lợn Rừng tại Hà Giang Việt Nam Cùng với việc phát triển nuôi lợn Mán và lợn Rừng như hiện nay, nhất thiết phải có nhiều nghiên cứu về dịch bệnh để có biện pháp phòng ngừa và phát triển bền vững đối tượng nuôi này Do vậy, kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa

Trang 19

quan trọng cho các nhà quản lý chăn nuôi, các nhà thú y và người nuôi trong việc sàng lọc và nhân giống lợn Mán, lợn Rừng Bảo vệ đàn lợn Mán, lợn Rừng và đề

ra chiến lược phát triển phù hợp giúp người nuôi an tâm sản xuất và phát triển kinh tế, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở Việt Nam

- Kết quả của luận án chỉ ra được những đặc điểm bệnh lý của lợn Mán và lợn Rừng mắc PED, các thông tin có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán phân biệt các bệnh tiêu chảy trên lợn Mán và lợn Rừng

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu đã khẳng định lợn Mán và lợn Rừng nuôi tại tỉnh Hà Giang có thể mắc PED và đã làm rõ các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của lợn Mán

và lợn Rừng mắc PED Là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ thú y, người chăn nuôi có thể chẩn đoán xác định bệnh để có biện pháp can thiệp kịp thời giảm thiểu các thiệt hại kinh tế

- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tiền đề để tiếp tục nghiên cứu về virus PED, là tiền đề cho việc nghiên cứu tiếp theo

- Chủ động trong công tác phòng ngừa sự xâm nhập của virus PED trên lợn Mán và lợn Rừng tại tỉnh Hà Giang cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN Ở HÀ GIANG

Ngành chăn nuôi lợn ở Hà Giang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh và nhanh chóng chuyển đổi thành sản xuất hàng hoá Ngoài những giống lợn ngoại cho năng suất và chất lượng cao, như Landrade, Yorkshire… được người chăn nuôi đưa vào sản xuất, thì giống lợn Mán (lợn địa phương) vẫn gắn liền với đời sống và là nguồn thu nhập của đồng bào địa phương Bên cạnh đó, trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của người dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quý hiếm, để đáp ứng nhu cầu thị trường, các giống gia súc bản địa và hoang dã đang được các nhà chăn nuôi đầu tư và khai thác, một trong những động vật hoang dã được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn Rừng Cùng với trào lưu đó, hiện nay ở Hà Giang đang có xu thế phát triển chăn nuôi lợn Mán và lợn Rừng theo mô hình trang trại và bước đầu đã cho kết quả khả quan

2.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2016

Để có bức tranh khái quát về tình hình chăn nuôi các đối tượng lợn khác nhau trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong 3 năm

Chúng tôi đã tổng hợp số liệu từ Chi cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2014,

Trang 21

phẩm thịt thơm ngon, giá thành lợn hơi luôn ở mức cao từ 40.000 - 50.000đ/kg đối giống lợn địa phương, lợn Rừng giá 150 - 180.000đ/ kg giá bán ổn định, ít

bị ảnh hưởng, sản phẩm dễ tiêu thụ Trong khi đó đối với chăn nuôi giống lợn lai được chăn nuôi theo hướng Công nghiệp tuy rút ngắn thời gian nuôi, giảm nhân công lao động, quay vòng chu kỳ nuôi lứa/năm tăng lên so với nuôi giống địa phương nuôi theo phương pháp truyền thống, việc phát triển tăng đàn nhanh hơn, tỷ lệ nạc cao, đáp ứng được nhu cầu số lượng trên thị trường, phù hợp với chăn nuôi gia trại, trang trại Nhưng kinh phí đầu tư thức ăn cao, khả năng chống chịu bệnh kém dẫn tới dễ bị nhiễm bệnh Sản phẩm khó tiêu thụ, giá bán không ổn định nên có xu hướng giảm về số lượng trong 3 năm gần đây

Đặc biệt, năm 2016 giá thịt lợn hơi trên thị trường giảm mạnh đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến người chăn nuôi tại tỉnh Hà Giang việc lợn nhập từ các tỉnh lân cận (Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, ) với số lượng lớn vào địa bàn đã dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm lợn thịt giống lai của các hộ chăn nuôi trên địa bàn gặp khó khăn do một số thương lái khi thu mua ép giá, dẫn đến giá lợn hơi xuống thấp dưới mức 20.000 - 25.000đ/kg, trong khi giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp vẫn giữ ở mức cao từ 12.000-13.000đ/kg Chăn nuôi theo hình thức tập chung gặp khó khăn nhiều hơn do chi phí đầu tư lớn, giá thịt lợn hơi xuất chuồng thấp, giá trị thu được không đủ chi phí bù đắp cho đầu tư So với các hộ chăn nuôi lợn lai, các hộ chăn nuôi lợn Rừng, lợn đen địa phương bị ảnh hưởng ít hơn

do giá bán giảm ít, chi phí đầu tư thức ăn thấp chủ yếu là tận dụng những loại thức ăn có sẵn tại địa phương

Cần chuyển đổi cơ cấu giống cho hợp lý, đặc biệt chú trọng phát triển giống lợn Rừng, lợn địa phương để đa dạng hóa sản phẩm và hạn chế rủi ro Khuyến khích phát triển các gia trại sản xuất con giống nhằm chủ động được nguồn giống cung cấp cho người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh theo hướng tạo ra sản phẩm sạch, sản phẩm an toàn, phù hợp với xu thế người tiêu dùng, tăng khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi

2.1.2 Giống lợn Mán (hay còn gọi là lợn địa phương, bản địa)

Lợn Mán thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Articodactyla), họ Suidae, chủng Sus, loài Sus domesticus Lợn Mán là giống lợn được nuôi phổ biến trong làng bản đồng bào các dân tộc Dao, Nùng, Tày, Mông,… ở Hà Giang Số lượng ước tính khoảng trên 5.000 con lợn trưởng thành đang được nuôi rải rác trong các làng bản vùng sâu, vùng xa Lợn Mán có hình

Trang 22

dáng rất gần với lợn Rừng, tầm vóc nhỏ, mõm dài, hơi nhọn và chắc, thích hợp cho việc đào bới tìm kiếm thức ăn Da dày, mốc, lông đen dài, có bờm dài và dựng đứng, chân nhỏ, đi bằng móng và rất nhanh nhẹn, thích nghi với việc thả rông, tự tìm kiếm thức ăn Tốc độ sinh trưởng chậm và phụ thuộc vào nguồn thức

ăn Lợn này có màu lông đen, hung, nâu Trong phạm vi Dự án Biodiva đã đánh giá sự đa dạng trên 1053 mẫu của quần thể lợn tỉnh Hà Giang (theo Nguyễn Thiện, 2006)

Lợn Mán là một giống được nuôi chủ yếu ở các huyện miền núi của tỉnh

Hà Giang Đây là giống có nhiều tập tính của động vật hoang dã như tính bầy đàn, tự kiếm nơi kín đáo để làm tổ khi đẻ, có khả năng tự kiếm ăn cao ít lệ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng Việc tiếp xúc với chúng cũng khó hơn nhiều so với các giống lợn khác Giống lợn này giữ vai trò quan trọng trong chăn nuôi nông

hộ, tận dụng những phế phụ phẩm nông lâm nghiệp có sẵn trong gia đình và khả năng chống chịu với các bệnh nhiệt đới Lợn Mán có chất lượng thịt thơm ngon, với lượng mỡ thấp và đặc biệt là có hương vị “núi rừng” Ngoài ra, lợn Mán đã được xếp vào nguồn gen quý cần được bảo tồn, phát triển (theo chương trình khai thác phát triển nguồn gen các giống bản địa), tăng lên về số lượng và chất lượng đàn lợn theo các vùng địa lý khác nhau

+ Đặc điểm chung của giống là: tầm vóc nhỏ bé, mình thuôn, tai nhỏ, lưng thẳng có nhiều con lưng võng, mặt nhỏ, mõm dài, nhọn, mắt nhỏ tinh nhanh, bụng gọn không sệ, dáng đi nhanh nhẹn, chân nhỏ thon và cao, móng chân gọn dày, 2 móng phụ dài và nhọn Lông da đen dài và cứng

+ Về tính thích nghi: lợn Mán được nuôi chủ yếu được nuôi theo phương thức chăn thả hoặc bán chăn thả thức ăn được con người cung cấp, ngoài ra chúng còn tự kiếm thức ăn trong tự nhiên, nên lợn có khả năng dũi đất rất khoẻ, khả năng tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên tốt như rễ cây, củ, côn trùng Nếu nuôi chăn thả lợn mẹ tự làm tổ đẻ trong rừng hay lên nương, sau một thời gian mới dẫn con về nhà Lợn con tự bỏ vú không có quá trình cai sữa, lợn đực được thiến hoạn lúc 1 tháng tuổi Lợn có khả năng chịu đựng kham khổ cao, tận dụng thức

Trang 23

rất tốt, hầu như không mắc phải các bệnh truyền nhiễm như các giống lợn ngoại

Do cách thức sinh hoạt mà chúng chỉ thường mắc các bệnh như cảm lạnh, ký sinh trùng

Là giống bản xứ luôn dũi đất tìm thức ăn có nơi còn gọi là lợn dũi đất, chỉ đạt 25 - 30 kg/con là tối đa, được nuôi thả rông và tự kiếm ăn, nuôi lâu lớn, thức ăn chủ yếu là chất sơ (90%), chúng ăn sống trực tiếp hầu hết tất cả các loại cây, rau,

củ, quả có sẵn tại địa phương Thịt lợn Mán đặc biệt thơm ngon, mềm giòn s ngắn, trán nhăn, tai bé, mình dài thon, chân gầy, đặc biệt là lông dài và cứng (lông càng cứng càng rậm ăn càng thơm ngon, vì càng rậm chứng tỏ càng lai lợn Rừng nhiều),

03 lỗ chân lông chụm 01 lỗ (Lương Thanh Hải, 2013)

2.1.3 Giống lợn Rừng

Lợn Rừng là loài vật mới nuôi phổ biến hiện nay ở nhiều tỉnh trong cả nước, bởi phẩm chất thịt thơm ngon, gần như không có mỡ, ít cholesteron và đặc biệt có da dày, giòn ngậy Phong trào nuôi lợn Rừng ngày càng lan rộng do đó giá thịt hơi khá hấp dẫn (luôn giữ giá 100.000 đ/kg) và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng mạnh Lợn Rừng (wild pig) vốn chính là thủy tổ của các giống lợn hiện nay Theo phân loại động vật thì lợn Rừng thuộc giới động vật (Amimalia), ngành dây sống (Chordata), phân ngành có xương sống (Vertebarata), nhóm động vật có hàm (Gnathosomata), lớp có vú (Mamalia), phân lớp thú cao hay thú

có nhau (Eutheria), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), họ lợn (Sus), loài lợn Rừng (Sus Serofa) Võ Văn Sự (2005), Tổng quan về chăn nuôi lợn Rừng ở Việt Nam từ

2005 - 2009, Hội thảo chăn nuôi lợn Rừng phía Bắc Hà Nội, Đào Lệ Hằng (2008), 45 câu hỏi - đáp chăn nuôi lợn Rừng

Theo nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu và phát triển nông nghiệp quốc tế thì lợn Rừng có tới 36 giống Phổ biến nhất là các giống: lợn Rừng thần, lợn Rừng lông nhím, lợn Rừng hươu, lợn Rừng sông, lợn Rừng lông dài, lợn Rừng Ấn Độ, lợn Rừng ria trắng châu phi, lợn Rừng Nam Mỹ… được phân bố rất rộng, hầu như trên khắp thế giới từ châu Âu, châu Á đến châu Mỹ và châu Phi Lợn Rừng hiện nay được tạp giao với nhiều giống lợn địa phương cho

ra Tăng Xuân Lưu và cs (2010) cũng đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của lợn Rừng Thái Lan, Việt Nam nhiều dòng con lai khác biệt nên hệ thống phân loại còn khá phức tạp (Võ Văn Sự, 2005 và Hoà Bình, 2006)

+ Ngoại hình: lợn Rừng có dáng thon, cao khoảng 65 - 70cm, một số

Trang 24

giống lợn châu Âu có thể cao tới eo người (90 - 120cm) Thân hình chắc khỏe, mình mỏng Phần vai trước thường cao hơn chân sau làm cho hình dáng của lợn Rừng vai cao mông thấp Mông, bụng gọn, đuôi dài và không bao giờ uốn cong laị như lợn nhà và luôn ve vẩy Hai vai và bên trên của hai chân phía trước đều có

u hoặc tấm mỡ sụn lồi ra thành trai cứng Độ lớn và độ dày của u chai cứng hoặc tấm mỡ sụn này tăng theo tuổi (3 - 5cm) Mặt lợn Rừng dài, tai nhỏ dựng ép sát đầu Mắt to, lồi, màu đen, híp phần cuối đuôi mắt, tia nhìn dữ tợn Mũi lợn Rừng mềm nhưng mạnh khỏe phù hợp với phương thức kiếm ăn trong cuộc sống hoang

dã của chúng là đào bới đất, dũi mô đất để đào bới củ, gốc cây, côn trùng Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi

rõ (Đặng Tình, 2007)

Răng nanh là đặc điểm nổi bật của lợn Rừng Răng nanh mọc dài ra khỏi mõm khi lợn 2- 4 năm tuổi Lợn Rừng có 4 nanh dài, mỗi bên mọc 2 cái, mỗi cái mọc ở ¼ hàm Mỗi nanh dài khoảng 10 - 12cm, thậm chí có con sở hữu bộ nanh cong, to, dài tới 22,8cm Mỗi bên hàm có một đôi nanh, nanh trên và nanh dưới khép kín và xếp khít nhau, 2 đầu nanh trên khớp với nhau tạo thành đầu nhọn Mút đầu răng trên và mút đâu răng dưới thường miết sát lẫn nhau nên 2 nanh giống như được mài sắc mỗi ngày nên nanh của lợn Rừng rất sắc và nhọn, đặc biệt là ở lợn Rừng đực (Võ Văn Sự, 2009)

Lợn Rừng là động vật ăn tạp nên ngoài đặc điểm răng nanh phát triển đặc biệt thì lợn Rừng cũng giống như các động vật nuôi con bằng sữa khác về sự không phát triển lắm của hệ thống răng, lợn Rừng có 44 răng Răng cửa phía dưới dài, hẹp và chìa thẳng ra phía trước để làm nhiệm vụ như cái xẻng

Lông của lợn Rừng là kiểu lông nhám, cứng Lỗ chân lông ở trên lớp da tạo thành búi, mỗi búi có 3 lỗ 1sợi lông dài Theo Tăng Xuân Lưu và cs (2010) cũng đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của lợn Rừng Thái Lan, Việt Nam nhiều dòng con lai khác biệt nên hệ thống phân loại còn khá phức tạp

Trên sống lưng của lợn Rừng từ trán tới đuôi có mào lông (bờm), mỗi sợi lông dài có khoảng 6 - 15cm Phần mào lông này bình thường đã mọc dựng đứng hơn các phần khác nhưng sẽ dựng đứng đặc biệt khi lợn Rừng nghe tiếng âm thanh lạ hoặc ngửi thấy mùi lạ, mùi của kẻ thù (lợn nhà không có lông mào) Mào lông hay bờm lông này có màu đen đậm hơn các vùng khác trên cơ thể Riêng lợn Rừng 4 tháng đầu có bộ lông sọc dưa rất đẹp được bởi những

Trang 25

vệt màu nâu vàng lẫn trắng chạy dài theo thân mình hoặc màu nâu nhạt hoặc đỏ chạy trên nền lông đen tùy giống Bộ lông này giúp cho lợn ngụy trang để giấu mình và đánh lạc hướng kẻ thù trong môi trường tranh tối tranh sáng trong rừng Trong khoảng 2- 6 tháng, các sọc dưa nhạt màu dần và ở 1 năm tuổi, chúng có bộ lông chính thức mang màu đặc trưng của giống lợn ổn định cho đến khi chết

+ Khả năng sinh trưởng và sinh sản: lợn Rừng sinh trưởng chậm và đạt kích thước tối đa tùy theo từng giống, môi trường và tuổi Lợn Rừng châu Âu thường có tầm vóc to lớn hơn nhiều so với lợn Rừng châu Á Trong khi lợn Rừng châu Á chỉ có thể cao 65- 70cm, nặng 70 - 150 kg thì lợn Rừng châu Âu có thể cao tới 90 - 100 cm, dài 150- 160cm, nặng tới 200 -350 kg Con đực thường to hơn con cái 30 - 30 kg Lợn sơ sinh rất bé nhỏ, nặng 0,2 - 0,5 kg, dài 15 - 20 cm Tuổi cai sữa: 55 - 60 ngày tuổi Trọng lượng lợn con khi cai sữa là 4 - 5 kg: tuổi giết thịt có thể tính từ 6 tháng tuổi Trọng lượng lúc xuất chuồng thường dao

động từ 25 - 50 kg tùy theo nhu cầu của thị trường Nguyễn Lân Hùng và

Bảng 2.2 Một số sinh trưởng cơ bản của lợn Rừng

Tháng tuổi Trọng lượng (kg) Tốc độ sinh trưởng (g/ ngày)

Trang 26

Bảng 2.3 Các đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn Rừng

6 Thời gian động dục 2 - 3 ngày (đối với nái tơ)

3 - 4 ngày (đối với nái rạ)

Nguồn: Khuyết danh (2018) + Tập tính: lợn Rừng có nhiều kiểu vận động (bơi, chạy, nhảy, quỳ, bò…

và phát được khoảng 10 loại âm thanh để liên lạc trong đàn) Chúng thường sống quây tụ thành bầy đàn với qui mô 5 - 25 con, cũng có lúc hợp nhóm thành bầy lớn 50 - 80 con Lợn đực trưởng thành thường tách đàn sống đơn lẻ và chỉ nhập đàn vào mùa giao phối (tháng 12 - tháng 1) Trước khi sinh con, lợn mẹ đào hố trên mặt đất và lót ổ, ngụy trang bằng các loại cây, cỏ mềm Lợn mẹ đẻ và nuôi con rất khéo trong suốt 3 - 4 tháng sau khi sinh Mỗi lợn con sẽ chiếm lĩnh bất di bất dịch một núm vú cho đến khi cai sữa Lợn Rừng có linh cảm rất tốt và rất khôn khéo né tránh các nguy hiểm Nếu khu vực chúng sống có nhiều thức ăn thì chúng chỉ loanh quanh trong lãnh thổ khoảng 10m2/con Nếu thức ăn bị cạnh tranh nhiều bởi hươu, nai,… thì chúng có thể đi kiếm ăn trong vòng bán kính 50 -

80 m, nhưng không có tập tính di cư Lợn Rừng thích đầm mình vào nơi ẩm ướt, vũng nước nhỏ và thích dũi đất tìm kiếm thức ăn hơn là với lên ăn lá cây Theo

Lê Đình Phùng và cs (2011) đã nghiên cứu tập tính hoang dã của lợn Rừng Thái Lan khối lượng sơ sinh 0,37kg/con, khối lượng cai sữa đạt 120 ngày đạt 13,83kg/con

+ Thức ăn và kẻ thù: lợn Rừng là loài ăn tạp, chúng ăn từ các loại rễ cây, cỏ,

củ, quả, cây nông nghiệp, nấm, quả sồi, hạt đậu, các loại hoa quả… Các động vật dưới đất giun, dế, rết,… các loại động vật trên mặt đất như bọ cạp, trứng, kỳ nhông, thỏ con, rắn, chim non của các loài chim làm tổ trên mặt đất, sâu, bọ, côn trùng, xác chết… Kẻ thù trong tự nhiên của chúng là báo, sư tử, hổ, chó sói, thợ săn,…

Trang 27

Năm 2012, tỉnh Hà Giang có 7 trang trại chăn nuôi lợn Rừng, với tổng số khoảng 8.000 con (theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, 2012) Giống lợn Rừng mà các trang trại nghiên cứu và áp dụng ghép đôi giao phối: lợn đực Rừng Việt Nam phối giống với lợn cái F1 (bố lợn Rừng Việt Nam, mẹ lợn Mán) hoặc cái là lợn Rừng Thái Lan

- Lợn Rừng Thái Lan: có thân hình thon, mình mỏng, dáng cao, mặt nhọn hình tam giác, mõm dài, tai dựng đứng, nhỏ, mắt lồi, trông dữ tợn, ở má có vệt lông màu trắng chạy vắt qua mũi Mũi rất thính, linh hoạt, mềm nhưng rất khoẻ Lợn thường dùng mũi để đào bới tìm thức ăn

- Lợn Rừng Việt Nam: dáng cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn Lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ, vểnh và thính, mũi rất thính và khoẻ Da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông chạy dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến kheo Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy

vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ

Lợn Rừng và con lai đang được nuôi nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc Thức ăn của chúng chủ yếu là tận dụng nguồn nông sản tại địa phương Trong điều kiện chăn nuôi lợn Rừng, con lai ở nông hộ thì năng suất còn thấp, chưa xác định được mức dinh dưỡng theo hệ thống Các mô hình chăn nuôi lợn theo hướng tập trung đang phát triển mạnh tại hầu hết các địa phương trong cả nước, góp phần cung cấp nguồn thực phẩm thịt lợn cho nhu cầu của người tiêu dùng Đặc biệt, người chăn nuôi đang quan tâm bảo tồn nguồn gen quý của một số giống lợn địa phương và gen lợn Rừng, con lai ở Việt Nam Với đặc điểm tốt về khả năng thích nghi, chống chịu điều kiện khắc nghiệt ở miền núi và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, yều cầu kỹ thuật không cao Bên cạnh đó, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu lớn về thịt lợn Rừng, con lai và lợn địa phương thuần đang được quan tâm Điều này cho thấy, người chăn nuôi đang dần thuần hóa nuôi theo hướng tập trung nhưng vẫn giữ được tập tính hoang dã của chúng (Võ Văn Sự và cs., 2008)

Lợn Rừng cũng như lợn Mán là động vật hoang dã, khi sống trong điều kiện tự nhiên có sức đề kháng cao, ít bệnh Tuy nhiên khi mới được thuần hoá, được chăm sóc trong điều kiện khác, sẽ làm giảm sức đề kháng, nên lợn dễ bị

Trang 28

bệnh Lợn Rừng cũng như lợn Mán thường mắc một số bệnh như các giống lợn khác, như: bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh tai xanh, mắc (PED), những bệnh này đã gây thiệt hại kinh tết rất lớn cho các nông hộ chăn nuôi lợn nói chung và các nông hộ chăn nuôi lợn Rừng, lợn Mán nói riêng tại tỉnh Hà Giang

2.2 HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ TIÊU CHẢY

Tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hóa Biểu hiện lâm sàng tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, độ tuổi mắc Tùy theo yếu tố nào được xem là nguyên nhân chính mà nó được gọi với nhiều tên khác nhau: bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh tiêu chảy sau cai sữa, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa hay Colibacillosis, Salmonellosis,… hoặc tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở nhiều bệnh ký sinh trùng, bệnh do virus, bệnh do vi khuẩn

Theo Trịnh Văn Thịnh (1985); Lê Minh Chí (1995); Theo Hồ Văn Nam

và cs (1994) lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức Những lợn khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn hoặc hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là quá trình nhiễm trùng dẫn đến lợn chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế Đó cũng là nguyên

nhân làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao

Tiêu chảy thường gặp ở gia súc, đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Trong lịch sử nghiên cứu về tiêu chảy, nhiều tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra tiêu chảy Việc phân biệt rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản Ngày nay, người ta thống nhất rằng, phân loại nguyên nhân gây tiêu chảy chỉ có ý nghĩa tương đối, chỉ nêu lên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên, yếu tố nào là phụ xuất hiện sau, từ đó vạch ra phác đồ phòng và điều trị bệnh có hiệu quả Nhưng cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là nhiễm trùng Theo Nguyễn Bá Hiên (2001), Fairbrother (1992) tiêu chảy là một bệnh gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn

Đoàn Thị Băng Tâm (1987), Sử An Ninh (1993), Lê Văn Tạo và cs (1993), Phan Thanh Phượng và cs (1995) cho biết ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy

ra quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm Vi khuẩn đường ruột có vai trò không

Trang 29

thể thiếu được trong tiêu chảy (Hồ Văn Nam và cs., 1997, Archie, 2001),

Khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ, các nhà khoa học đã nhận xét bệnh

tiêu chảy xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc trên thế giới (Lecce et al., 1976), (Griffin,

1989) Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn và cs (1998) cho thấy tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ sơ sinh cho đến độ tuổi sinh sản, nhưng trầm trọng nhất

là ở lợn sơ sinh đến cai sữa

Đoàn Thị Kim Dung (2004) cho biết các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng

trong tiêu chảy ở lợn, như E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên

2.2.1 Nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

Tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu

tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây nên tiêu chảy, có thể là nguyên phát hay thứ phát Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản:

2.2.1.1 Do môi trường ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây ra bệnh dịch, mối quan hệ giữa cơ thể - mầm bệnh - môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định về sức khỏe, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện

về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn và gây bệnh Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, thức ăn kém chất lượng như thối, mốc và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức

ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật thì vi khuẩn thường trực sẽ tăng độc tố và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)

Đào Trọng Đạt và cs (1996); Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) cũng cho rằng các yếu tố stress lạnh, độ ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75% đến 85% Việc làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng

Trang 30

Sử An Ninh (1981), Niconxki (1986), Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) cho rằng các yếu tố khí hậu, thời tiết không thuận lợi là yếu tố tác động rất mạnh đến quá trình loạn khuẩn ở lợn và là nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy

Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều tiết trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

2.2.1.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật

Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu,… là nguyên nhân gây ỉa chảy ở gia súc Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể, đồng thời phương thức chăn nuôi không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh

Theo Hoàng Văn Tuấn (1998), Đoàn Kim Dung (2003) cho rằng: tỷ lệ mắc tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn, nếu chuồng nuôi đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo sẽ

là giảm tỷ lệ bệnh đường tiêu hóa

Theo Trịnh Văn Thịnh (1985), Đào Trọng Đạt và cs (1996) trong quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn thì công tác chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con và lợn mẹ đúng kỹ thuật phù hợp với lứa tuổi là yếu tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ tiêu chảy cao hay thấp, trong thành phần và sự cân đối các chất dinh dưỡng trong khẩu phần đóng vai trò quan trọng

Theo Phan Thanh Phượng và cs (1988) trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, cần cho lợn nái ăn thức ăn giàu đạm, vitamin và đủ nguyên tố vi lượng Khi lợn con mới sinh cần cho bú sữa đầu, sau đó tập ăn sớm cho lợn, sau cai sữa cần phải cho lợn ăn thức ăn đủ số lượng và chất lượng phù hợp với đặc điểm sinh

lý lứa tuổi

2.2.1.3 Tiêu chảy do vi khuẩn

Trong đường tiêu hóa của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi tác dụng lên men phân giải

Trang 31

các chất dinh dưỡng giúp cho quá trình tiêu hóa được thuận lợi và vi khuẩn có hại thì khi có điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh

Họ vi khuẩn đường ruột là họ vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Họ vi khuẩn này muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành vi khuẩn gây bệnh thì phải có 3 điều kiện

- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột và từ

đó phát triển lên

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E.coli, Salmonella

sp.shigella, Klebsiella, Clostridium perfringens… đó là những vi khuẩn quan

trọng, gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật

Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết: chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vi

khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí C perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành

vai trò chính

Cù Hữu Phú và cs (2000) khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella ở lợn tiêu chảy cho biết tỷ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80-90% số mẫu xét

nghiệm

Phan Thanh Phượng và cs (1996) vi khuẩn yếm khí C perfringens là một

trong những tác nhân gây bệnh quan trọng trong tiêu chảy của lợn ở lứa tuổi từ

1-120 ngày tuổi Ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc do vi khuẩn này gây ra có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60%

Nguyễn Như Pho (2003) cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai

đoạn lúc sơ sinh đến sau cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6-12 tuần tuổi thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae, vi khuẩn yếm khí

C perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần

tuổi đến cai sữa

Trang 32

2.2.1.4 Tiêu chảy do virus

Virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao

Khooteng (1995) đã thống kê có hơn 10 loại virus có tác động làm tổn

thương đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy như: Enterovirus, Rotavirus,

Coronavirus, virus dịch tả lợn

Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia

súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng (Archie, 2000)

Lecce (1976), Nilson (1984) nghiên cứu về virus gây bệnh đường tiêu hóa

đã xác định được vai trò của Rotavirus trong tiêu chảy ở lợn

Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) cũng đã cho

rằng: Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong

giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với

tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Theo Bergenland (1992) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa mắc tiêu chảy có rất nhiều loại vi rút, 29% phân lợn bệnh tiêu chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có vi rút TGE, 2% có Enterovirus, 0,7% có Parvovirus

2.2.1.5 Tiêu chảy do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc

Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản sinh

nhiều loại độc tố Afratoxin (Afratoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Độc tố Afratoxin gây độc cho người và gia súc gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, hủy hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Afratoxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm, mẫn cảm nhất là vịt, gà, lợn

và các gia súc khác Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700µg Afratoxin/kg thức ăn

sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)

Trang 33

2.2.1.6 Tiêu chảy do ký sinh trùng

Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như: cầu trùng

Eimeria, Isospora suis, Crystosporidium, Ascaris suum, Trichuris suis… hoặc

một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongloides,

Haemonchus, mecistocirrus…)

Bệnh do Isospora suis, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn

lợn con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)

Cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2006) Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút

Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) cho biết trong đường ruột của lợn tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ

Theo Phan Địch Lân và Phạm Sỹ Lăng (1995) giun đũa ký sinh trong ruột non của lợn là loài Ascarissuum Giun đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt phải trứng (ấu trùng gây nhiễm), khi vào cơ thể lợn trứng sẽ thực hiện quá trình di hành và phát triển thành giun trưởng thành

ký sinh ở đường tiêu hóa

Theo Phan Địch Lân (1995) lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30% Khi nghiên cứu vai trò của ký sinh trùng đường ruột, (Phạm Văn Khuê và cs.,

1996, Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2006, Thân Thị Đang và cs , 2010) cho biết: lợn bình thường và bị tiêu chảy đều có ký sinh trùng đường tiêu hoá ký sinh, song nhìn chung tỷ lệ nhiễm và mức độ nhiễm của chúng ở lợn bị tiêu chảy cao hơn rõ rệt so với ở lợn không bị tiêu chảy Lợn nhiễm giun đũa biểu hiện lâm sàng là tiêu chảy (Phân Địch Lân và cs., 1995) Sán lá ruột lợn và giun đũa lợn

ký sinh trong đường tiêu hoá, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá,

Trang 34

gây viêm ruột ỉa chảy (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

Nguyễn Kim Thành (1999) cho biết trong đường ruột ở lợn bị tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với số lượng không nhỏ

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo chuyên gia chuyên nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Lê Văn Tạo (1993) thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn thì cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc tiêu chảy viêm ruột mạn tính

2.2.2 Cơ chế sinh bệnh của tiêu chảy

Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, đã tạo nên một áp lực lớn ở ống tiêu hóa Kết quả làm tăng nhu động ruột dẫn đến tiêu chảy Đầu tiên tiêu chảy là một phản xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài Nhưng do nguyên nhân gây bệnh không ngừng phát triển và kích thích tổn thương niêm mạc, tiêu chảy kéo dài về sau tất yếu sẽ có hại cho cơ thể

2.2.3 Bệnh lý lâm sàng của tiêu chảy

Bệnh lý lâm sàng của tiêu chảy ở gia súc là sự biến đổi về tổ chức tình trạng mất nước và điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh

Về giải phẫu bệnh, nhiều tài liệu cho thấy viêm ruột ở gia súc thường là thể cata - viêm chủ yếu ở niêm mạc ruột Những trường hợp viêm dạ dày - ruột ở tầng sâu là rất ít gặp

Khi nghiên cứu về tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E.coli, Nguyễn Như Pho

(2003) cho rằng, ruột chỉ sung huyết, không thấy xuất huyết, không có vết loét hoặc hoại tử như trong bệnh phó thương hàn

Sự mất nước kéo theo mất các chất điện giải trong đó đặc biệt là các ion: HCO3-, K+, Na+, Cl- đồng thời khi gia súc bị rối loạn tiêu hóa cũng làm cản trở đến khả năng tái hấp thu nước Ở gia súc ỉa chảy nếu lượng dịch mất đi trong đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn, uống, thận sẽ cố gắng bù lại bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra Nếu thận không bù được, mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ ăn, thân nhiệt hạ thấp và có thể trụy tim, mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo da lên nếp da chậm trở lại

vị trí cũ (Archie, 2000) Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da khô, lông dựng ngược

Trang 35

Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải, sinh độc tố, hệ

vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức bị phân hủy, ngấm vào máu, trước hết tác động vào gan, làm cho chức năng gan bị rối loạn Đồng thời, khi bị viêm ruột, cơ thể không nhưng không hấp thu được nước do thức ăn đem vào mà còn bị mất nước

và điện giải do niêm mạc tăng tiết cùng dịch rỉ viêm, dịch tiết có thể tăng 80 lần bình thường Mặt khác, do ruột bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột cũng tăng lên nhiều lần Gia súc bị tiêu chảy, đồng thời cũng kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác nhau

2.2.4 Hậu quả của viêm ruột tiêu chảy

Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây ra hậu quả cụ thể: tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó là sự mất nước, mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axit - bazơ (Lê Minh Chí, 1995) Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu như không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước, điện giải trong điều trị tiêu chảy luôn phải đặt lên hàng đầu (Archie, 2000)

Ở lợn mắc tiêu chảy, khả năng tiêu hóa, khả năng chuyển hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng điều giảm nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs., 1997)

Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng và hậu quả để lại nặng nề hơn Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây bệnh khác nhau thì cũng để lại nhưng hậu quả khác nhau

2.3 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MẮC TIÊU CHẢY Ở LỢN (PED)

Mắc ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) là một bệnh truyền nhiễm

cấp tính nguy hiểm do một loại virus thuộc giống Alphacoronavirus, họ

Coronaviridae gây ra Dịch PED thường xảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi với tỷ

lệ ốm và tỷ lệ chết có thể lên đến 100% Dịch PED đã và đang gây thiệt hại kinh

tế nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Lee,

Trang 36

dịch liên tục được phát hiện và xảy ra phổ biến ở các quốc gia châu Âu khác như

Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ, và ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật

Bản, Thái Lan (Chen et al., 2013) Ở Việt Nam, dịch PED lần đầu tiên được phát

hiện vào năm 2008 và từ đó đến nay dịch bệnh thường xuyên xảy ra và gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi

2.3.1 Nghiên cứu về tiêu chảy thành dịch (PED) ở lợn trên thế giới

Từ đầu những năm 2000 trở lại đây, những trận dịch bùng phát cấp tính

đã trở nên hiếm có ở những vùng mà virus trước kia đã từng lan rộng Hiện nay, các ổ dịch PED ít được ghi nhận ở châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh này Hơn nữa, bệnh thường được thấy nhất ở lợn choai, lợn trưởng thành và lợn mới sinh sản, trong khi lợn con bú mẹ lại ít khi nhiễm bệnh

Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, dịch PED lưu hành rộng rãi ở châu Âu, gây bệnh ở lợn mọi lứa tuổi Trong khoảng thời gian từ cuối thập niên

80 đến thập niên 90, dịch có xu hướng giảm đáng kể, với rất ít ổ dịch rời rạc được ghi nhận ở một số nước như Tây Ba Nha, Hungary, Anh và cộng hòa Séc Trong năm 2005- 2006, dịch PED xảy ra nghiêm trọng ở Ý, với tỷ lệ chết ở lợn con theo mẹ từ 8,3% đến 11,9% Từ năm 2014 đến nay, PED được mô tả xuất

hiện trở lại ở một số nước như Đức (Hanke et al., 2015), Ý (Boniotti et al.,

50.000 con), chủ yếu là lợn dưới 7 ngày tuổi (Chen et al., 2013) Ở Nhật, dịch

PED xuất hiện lần đầu tiên năm 1993, gây chết 14.000 con, tỉ lệ chết từ 30 tới 100% lợn con, dịch PED năm 1996 gây chết 39.509 con Ở Hàn Quốc, dịch PED xuất hiện đầu tiên năm 1992, sau đó đến năm 2007-2008, dịch liên tiếp xuất hiện

ở các Quốc gia Ðông Nam Á như Thái Lan, Philippines và Việt Nam Trong thời gian cuối năm 2007 - 2008, tại Thái Lan, dịch phát hiện đầu tiên ở tỉnh Nakornpathom trước khi nó lan rộng trong cả nước Dịch lan rộng đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn của Thái Lan Phân tích cây phát sinh loài, thấy

Trang 37

tất cả các PEDV phân lập được trong thời gian bùng phát dịch đều giống chủng ở

Trung Quốc JS - 2004 - 2 (Puranaveja et al., 2009)

2.3.2 Nghiên cứu về tiêu chảy thành dịch (PED) ở lợn tại Việt Nam

Năm 2008, PEDV đã được phát hiện trong một số đàn lợn mắc tiêu chảy ở Việt Nam Trong năm 2008 - 2009, bệnh lan rộng nhanh chóng ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ gây ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi lợn nước ta Bệnh xảy ra rất nhanh, trên toàn đàn lợn và gây chết gần như 100% lợn con theo mẹ Tỷ lệ tử vong trên đàn lợn giữa các tỉnh dao động từ 65 - 91% Theo nhận định của các chuyên gia thì nguyên nhân của tiêu chảy cấp có thể là do mắc ở lợn (PED) hoặc

do viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) gây ra Năm 2010, dịch vẫn tiếp tục xảy

ra ở một số trại, thậm chí tái phát ở những trại đã từng xảy ra dịch trong năm

2009 Theo thống kê của phòng xét nghiệm nhanh công ty CP Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2010 cả nước có 31 trại bị nhiễm PED và tỉnh có nhiều ca bệnh nhất là Đồng Nai với 15 ca bệnh Các trại bị nhiễm bệnh này chủ yếu tập trung ở miền Nam (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Củ Chi) Ở miền Bắc, theo báo cáo không chính thức các công ty, trang trại tại Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hòa Bình,… dịch tiêu chảy do PEDV đã xảy ra nghiêm trọng từ đầu năm 2010

và cho đến nay tình hình dịch bệnh tại các tỉnh phía Bắc Việt nam ngày càng trầm trong hơn Các nghiên cứu trước đó tại Viện Thú y Quốc gia, Trung tâm chẩn đoán Thú y TW, Phòng thí nghiệm trọng điểm CNSH Thú y - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã xác định được các ca nhiễm PED trên lợn ở phía Bắc Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện tại có rất ít nghiên cứu tiến hành về tiêu chảy thành dịch

ở lợn (PED) Theo Do Tien Duy et al (2011), Nguyễn Tất Toàn (2012), bệnh

được phát hiện ở Việt nam từ năm 2008 Sau đó, bệnh ngày càng lan rộng và bùng phát ở nhiều khu vực Bệnh gây thiệt hại nặng nề cho các trang trại bởi tỉ lệ mắc toàn đàn rất cao (gần 100%) Theo thống kê không chính thức của phòng xét nghiệm nhanh công ty CP Việt Nam trong năm tháng đầu năm 2010 cả nước có 31 trại bị nhiễm PED Các trại bị nhiễm bệnh này chủ yếu tập trung ở các tỉnh nam bộ như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu

Cũng tại các tỉnh phía Nam, một số nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan lây truyền dịch bệnh cũng như đặc điểm về triệu chứng và bệnh tích của dịch tiêu chảy cấp xảy ra ở các trại lợn khu vực phía nam để góp phần định

Trang 38

hướng trong việc chẩn đoán bệnh PED và xây dựng biện pháp hạn chế sự lây lan bệnh này ở các trại lợn tại Việt Nam (Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy, 2012) Qua khảo sát các ổ dịch tiêu chảy cấp, tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết xuất hiện trên heo con theo mẹ là rất cao (tương ứng 93,94% và 81,67%) Hai tỷ lệ này giảm dần theo lứa tuổi Các yếu tố liên quan đến việc lan truyền dịch bệnh giữa các trại phụ thuộc vào: khoảng cách đến với trại lợn bị bệnh (trại càng gần có nguy cơ lây bệnh càng cao), vệ sinh sát trùng (thực hiện trên 2 tuần, một lần có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn so với 1 tuần, một lần), quy mô chăn nuôi (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có quy mô chăn nuôi nhỏ, dưới 50 lợn nái), và nguồn nước sử dụng (tỷ

lệ nhiễm bệnh cao ở trại có nguồn nước chưa qua xử lý) Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của dịch tiêu chảy cấp trên lợn con là tiêu chảy phân lỏng (100%), ói mửa (90,33%), sau đó suy nhược, mất nước và chết nhanh Các bệnh tích thường gặp ở cơ quan tiêu hóa của lợn con là dạ dày căng phồng, chứa sữa đông, thức ăn không tiêu hóa (94,42%) và thành ruột non mỏng, phồng to, chứa nhiều nước và dịch chất bên trong (86,33%) Bệnh tích vi thể cũng xảy ra trên cả dạ dày và 3 đoạn của ruột non với sự hư hại nặng phần niêm mạc và các tuyến Các kết quả này góp phần định hướng trong việc chẩn đoán bệnh PED và xây dựng biện pháp hạn chế sự lây lan bệnh này ở các trại lợn tại Việt Nam

Ở khu vực phía Bắc, các nghiên cứu đã xác định được mắc trên lợn (Porcine epidemic diarrhea - viết tắt: PED) xảy ra tại 26 trại ở 6 tỉnh, trong đó một số trại cộng nhiễm cả virus TGE và virus Rota Tại các trại, PED thường bùng phát vào mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 4), thời gian lây lan nhanh, thường xảy ra đầu tiên trên đàn lợn nái, tỷ lệ lợn biểu hiện tiêu chảy cao (trung bình 76,8%) Lợn ở tất cả các lứa tuổi đều bị tiêu chảy (có thể lên tới 100%), tỷ

lệ chết cao ở lợn con theo mẹ (68,6%) Có sự khác biệt lớn về mức độ cảm nhiễm, tỷ lệ biểu hiện tiêu chảy, tỷ lệ chết, thời gian tiêu chảy giữa các trại và giữa các nhóm tuổi, giới tính Triệu chứng chủ yếu ở lợn mắc PED là tiêu chảy, nôn mửa, bỏ ăn, kèm theo các rối loạn về hô hấp, thần kinh, mức độ trầm trọng tăng dần theo tuổi Bệnh tích đại thể ở lợn con thường gặp là thành ruột non mỏng, căng phồng toàn bộ hoặc từng đoạn (61,3 - 94%); dạ dày sung huyết, xuất huyết (19,4 - 84%); hạch lympho màng treo ruột, gan sung huyết, ứ huyết; tĩnh mạch màng treo ruột sung huyết nặng, khó quan sát thấy mạch bạch huyết ở màng treo ruột Bệnh tích vi thể chủ yếu đường tiêu hóa: lông nhung đứt nát, ngắn lại; tế bào biểu mô hấp thu thoái hóa không bào; biểu mô phủ dạ dày, ruột

Trang 39

bong tróc; sung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm tế bào viêm ở lớp đệm và lớp hạ niêm mạc đường tiêu hóa (Nguyễn Văn Điệp và cs., 2014)

Kết quả xét nghiệm bằng kỹ thuật RT-PCR đã chỉ ra rằng các lợn có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, bệnh tích như trên đều mắc PED (Nguyễn Văn Điệp

và cs., 2014) Mẫu bệnh phẩm được lấy từ phân, ruột và hạch ruột có thể dùng để chẩn đoán PED bằng kỹ thuật RT-PCR cho kết quả tốt

Bệnh tiêu chảy do virus PED gây ra có tính lây lan nhanh tuy nhiên chưa

có loại vacxin nào phòng bệnh thì nguy cơ tái phát, nguy cơ biến chủng của virus cũng là vấn đề rất đáng lo ngại Trước tình hình đó, việc hiểu biết về đặc điểm căn bệnh và chẩn đoán nhanh là hết sức cấp thiết trong phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe vật nuôi và kinh tế cho người chăn nuôi

2.4 NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH NGUYÊN (PEDV)

2.4.1 Một số đặc điểm của PEDV

2.4.1.1 Phân loại và hình thái của PEDV

Virus gây bệnh PED thuộc chi Alphacoronavirus, họ Coronaviridae, trong

bộ Nidovirales (Ủy ban quốc tế về phân loại virus – ICTV, 2011), cùng với TGEV, coronavirus ở mèo, chó và coronavirus 229E ở người Phân loại về huyết thanh học, người ta xác định virus PED hiện mới chỉ có 1 serotype Các chủng PEDV phân lập từ Châu Âu, Hàn Quốc và Trung Quốc đều tương đồng về mặt huyết thanh với chủng CV777 phân lập từ thực địa của Bỉ năm 1978 (Song and Park, 2012)

Hình thái của PEDV trong tế bào biểu mô đường tiêu hoá tương tự như các coronavirus khác (Ducatelle, 1982) Virus có một nhân đậm đặc điện tử với quầng sáng ở giữa và những phần toả ra từ nhân dạng chuỳ dài xấp xỉ 20nm Hạt virus xác định từ mẫu phân có hình thái đa dạng và đường kính từ 90 đến 190 nm

2.4.1.2 Cấu trúc phân tử của virus gây bệnh

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, PEDV là một virus có vỏ ngoài, vật chất di truyền là RNA dạng sợi dương có kích thước khoảng 28kb (hình 2.2) Hệ gen bao gồm ít nhất bảy khung đọc mở mã hoá cho 4 loại protein cấu trúc [gai (S), vỏ (E), màng (M) và nucleocapsid (N)] và 3 loại protein không cấu trúc (replicase 1a, 1b và ORF3), với thứ tự trên hệ gen 5‟-replicase (1a/1b)-S-ORF3-E-M-N-3‟

(Duarte et al., 1994; Kocherhans, 2001) Gen polymerase gồm 2 khung đọc mở

Trang 40

(Open Reading Frame – ORF) 1a và 1b, chiếm 2/3 bộ gen tính từ đầu 5‟ và mã hoá cho các polyprotein tái bản không cấu trúc (replicase 1a và 1b) Các gen mã hoá cho protein cấu trúc chính như S (150-220 kDa), E (7kDa), M (20-30kDa) và

N (58kDa) nằm ở vị trí tiếp nối gen polymerase Gen ORF3 là một gen phụ trợ, nằm giữa các gen cấu trúc Nó mã hoá cho một protein bổ trợ, số lượng và trình

tự của các gen thay đổi ở các coronavirrus khác nhau

Protetin cấu trúc của PEDV tương tự như các coronavirus khác Virus có một protein gai (S) với trọng lượng phân tử khoảng 180-200 kDa, một protein màng (M) 27-32 kDa, một protein nucleocapsid gắn với ARN nặng 57-58 kDa

(Duarte et al., 1994; Duarte and Laude, 1994)

Protein S của PEDV là glycoprotein loại 1 gồm 1383 amino acid (aa) Nó chứa một chuỗi peptid tín hiệu (1-18aa), các epitop trung hoà (499-638, 748-755), 764-771 và 1368-1374), một vùng xuyên màng (1334 - 1356), và một vùng ngắn nằm trong bào tương Protein S cũng có thể được chia thành vùng S1 (1-

789 aa) và vùng S2 (790-1383 aa) dựa trên tính tương đồng của nó ở coronavirus khác nhau Giống như các protein S của coronavirus khác, protein S của PEDV là một loại gai glycoprotein (kháng nguyên bề mặt) trên bề mặt virus, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà tương tác với các glycoprotein thụ thể đặc hiệu trên tế bào vật chủ trong quá trình xâm nhập, kích thích tạo kháng thể trung hoà ở vật chủ tự nhiên Ngoài ra, glycoprotein S cũng liên quan tới sự thích nghi sinh trưởng trong điều kiện phòng thí nghiệm và sự giảm độc lực khi gây bệnh

trên động vật (Park et al., 2007) Trong nghiên cứu chế tạo vacxin phòng bệnh, hiện tại các nhà khoa học chủ yếu tập trung vào glycoprotein này (Puranaveja et

al., 2009)

ORF3 là gen mã hoá cho protein không cấu trúc và là protein phụ trợ, không cần thiết cho quá trình nhân lên của PEDV Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra chức năng quan trọng của protein này trong việc quyết định độc tính của PEDV Sự biến đổi của gen ORF3 trong quá trình cấy chuyển nhiều lần trên tế bào có thể làm giảm độc tính của chủng thực địa Sự khác biệt của gen ORF3 cũng được thể hiện rõ rệt giữa các chủng thực địa và các chủng nuôi cấy

trong phòng thí nghiệm (Park et al., 2007)

Việc đồng thời biểu hiện protein M và N cho phép tạo thành các hạt giả

Ngày đăng: 12/04/2019, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Cù Hữu Phú (2004). Lựa chọn chủng E.coli để chế tạo Autovacxin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con theo mẹ. Viện Thú y 35 năm xây dựng và phát triển (1969 - 2004). NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 110-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli
Tác giả: Cù Hữu Phú
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
9. Đoàn Thị Kim Dung (2003). Sự biến đổi một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, các phác đồ điều trị. Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2003
10. Đoàn Thị Kim Dung (2004). Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con, các phác đồ điều trị. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
11. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chương, Chu Đức Thắng và Phạm Ngọc Thạch (1997). Tình hình nhiễm Salmonela và vai trò của Salmonela trong bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập IV, số 2. Tr 39- 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salmonela" và vai trò của "Salmonela
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chương, Chu Đức Thắng và Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1997
20. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui và Đoàn Băng Tâm (1993). Nghiên cứu chế tạo vacxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con. Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, 9. Tr 324 - 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui và Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
28. Nguyễn Thị Kim Lan (2004). Thử nghiệm phòng và trị bệnh E.coli dung huyết cho lợn con ở Thái Nguyên và Bắc Giang. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y. XII (3). tr.35-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 2004
37. Phan Thanh Phƣợng, Trần Thị Hạnh, Phạm Thị Ngọc và Ngô Hoàng Hƣng (1996). Nghiên cứu xác định vai trò vi khuẩn yếm khí Clostridium pefringens trong tiêu chảy của lợn. Tạp chí Nông nghiệp và Công nghệ Thực phẩm, 12. tr. 495-496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clostridium pefringens
Tác giả: Phan Thanh Phƣợng, Trần Thị Hạnh, Phạm Thị Ngọc và Ngô Hoàng Hƣng
Năm: 1996
40. Tạ Thị Vịnh và Đặng Vân Khánh (1996). Bước đầu thăm dò xác định E.coli và Salmonella trên lợn bình thường và lợn mắc hội chứng tiêu chảy tại Hà Tây và Hà Nội, tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập III (1). tr 40 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.coli" và "Salmonella
Tác giả: Tạ Thị Vịnh và Đặng Vân Khánh
Năm: 1996
16. Khuyết danh (2018). Đặc điểm sinh trưởng sinh sản của lợn Rừng. Truy cập ngày 6/4/2018 tại http://caytrongvatnuoi.com/chan-nuoi-heo/dac-diem-sinh-truong-sinh-san-cua-lon-rung/ Link
42. Trần Tuyên (2013). Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE). Truy cập ngày 3/4/2016 tại http://marphavet.com/vi/news/Benh-Dieu-Tri/Benh-viem-da-day-ruot-truyen-nhiem-TGE-16/ Link
1. Archie H. (2000). Sổ tay dịch bệnh động vật. (Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch). NXB Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 207 - 214 Khác
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2010). Tiêu chuẩn TCVN 8402:2010 - Bệnh động vật, Quy trình mổ khám, ban hành theo quyết định 2339/QĐ-BKHCN Khác
3. Bùi Trần Anh Đào, Nguyễn Hữu Nam và Bùi Thị Tố Nga (2009). Một số đặc điểm huyết học trên lợn mắc bệnh dịch tả. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập XVI Số 4/2009 Khác
6. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ và Huỳnh Văn Kháng (1996). Bệnh ở lợn nái và lợn con. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
7. Đỗ Đức Việt (1994). Một số chỉ tiêu sinh lý, hình thái máu của một số giống lợn ở vùng đồng bằng sông Hồng. Luận án phó tiến sỹ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
8. Đỗ Kim Tuyên (2006). Một số đặc điểm của lợn Rừng thuần nhập từ Thái Lan về Việt Nam Khác
13. Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Ngọc Hải (2017). Tình hình bệnh tiêu chảy cấp trên heo (PED) và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh PED ở thành phố Cần Thơ. Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc chăn nuôi-thú y 2017. NXB Nông Nghiệp TP. Hồ Chí Minh. tr. 392 - 398 Khác
14. Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Ngọc Hải (2017). Tình hình bệnh tiêu chảy cấp trên heo (PED) và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh PED ở thành phố Cần Thơ. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Toàn quốc Chăn nuôi - Thú y. NXB Nông Nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 392 - 398 Khác
15. Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Ngọc Hải và Nguyễn Hoàng Việt (2017). Khảo sát tỷ lệ nhiễm virus gây bệnh tiêu chảy cấp (Porcine epidemic diarhea virus - pedv) trên heo nái và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh ped tại tỉnh Tiền Giang.Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 52. tr.1 – 7 Khác
17. Lê Đình Phùng và Hà Thị Nguyệt (2011). Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, tập tính sinh hoạt, khả năng và tập tính sing sản của lợn rừng Thái Lan nhập nội nuôi ở miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 67 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w