Đã phân tích 415 mẫu đất và nước của vùng quy hoạch sản xuất rau an toàn và các mẫu rau ăn tươi ở 8 huyện, thị tại tỉnh Bắc Ninh cho thấy mẫu đất, nước và rau không bị ô nhiễm kim loại nặng, vi sinh vật nhưng có dư lượng nitrate vượt ngưỡng theo QCVN 03:2008BTNMT; Đã phát hiện sự tương quan thuận giữa hàm lượng nitrat trong rau ăn tươi nói trên với lượng bón N (urea) và tương quan nghịch với thời gian cách ly từ khi bón đến lúc thu hoạch.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐẶNG TRẦN TRUNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘ AN TOÀN RAU ĂN TƯƠI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐẶNG TRẦN TRUNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘ AN TOÀN RAU ĂN TƯƠI SẢN XUẤT TẠI BẮC NINH, XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN, NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
Ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 9.62.01.10 Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Quang Thạch
PGS.TS Đỗ Tấn Dũng
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Trần Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy
cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin trân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Tấn Dũng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt là tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS.TS.NGND Nguyễn Quang Thạch đã dành nhiều tâm trí, thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học; Phòng thí nghiệm Trung tâm, Khoa Công nghệ thực phẩm, Viện Sinh học Nông hghiệp - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn và giúp
đỡ tôi về chuyên môn; các lãnh đạo và đồng nghiệp cơ quan Huyện Uỷ Yên Phong, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, khích lệ và chia sẻ với tôi mọi khó khăn trong thời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Đặng Trần Trung
Trang 52.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 7 2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 7 2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam 10 2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở tỉnh Bắc Ninh 13 2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng và độ an toàn thực phẩm
2.3.1 Yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm của rau 15 2.3.2 Giá trị dinh dưỡng (Nutritive value) của rau và sự ảnh hưởng của điều
2.3.3 Độ an toàn (Safety) của cây rau và ảnh hưởng của điều kiện canh tác 17 2.4 Một số giải pháp kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn hiện nay 28
Trang 62.4.1 Khái niệm rau an toàn 28 2.4.2 Một số cải tiến trong sản xuất rau an toàn hiện nay 29
3.1.2 Thiết bị, dụng cụ và phân bón, hóa chất sử dụng trong nghiên cứu 43
3.2.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất, nước tưới, phân bón và độ an toàn
rau ăn tươi tại một số vùng trồng tỉnh Bắc Ninh 44 3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất
lượng và độ an toàn của một số loại rau ăn tươi 45 3.2.3 Xây dựng mô hình phù hợp cho sản xuất rau tươi an toàn tại Bắc Ninh 45
3.3.2 Phương pháp lấy mẫu và xử lý mẫu trên đồng ruộng 45 3.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ
đến rau xà lách, hành hoa, mùi tàu và mùi ta 46 3.3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất
và chất lượng và độ an toàn của rau xà lách, hành hoa, mùi tàu và mùi ta 46 3.3.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của chế phẩm sinh học
EMINA đến năng suất, chất lượng và độ an toàn rau xà lách, hành hoa,
3.3.6 Phương pháp bố trí thí nghiệm về kỹ thuật sản xuất rau xà lách và mùi
3.3.7 Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật cho các loại rau ăn tươi: xà lách,
3.3.8 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho các thí nghiệm đồng ruộng 51 3.3.9 Phương pháp xác định sinh trưởng và năng suất của rau 51
3.3.11 Phương pháp phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh
3.3.12 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất của các mô hình 54
Trang 73.3.13 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 55
4.1 Thực trạng đất canh tác, nước tưới, bón phân, chất lượng và độ an toàn
rau ăn tươi tại một số vùng trồng tỉnh Bắc Ninh 56 4.1.1 Phân tích kim loại nặng, Coliform trong đất canh tác, nước tưới các vùng
4.1.2 Đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong đất, thực trạng sử dụng phân bón và
thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta 58 4.1.3 Thực trạng một số thành phần dinh dưỡng trong rau ăn tươi tại Bắc Ninh 62 4.1.4 Thực trạng dư lượng nitrate, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật trong rau tại tỉnh Bắc Ninh 64 4.2 Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn tại Bắc Ninh 72 4.2.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, sâu bệnh hại,
chất lượng và độ an toàn của xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta 72 4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, năng suất,
chất lượng và độ an toàn rau xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta 82 4.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh EMINA và liều lượng đạm
đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn của xà lách, hành
4.2.4 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn bằng phương
4.3 Xây dựng mô hình trình diễn và đề xuất quy trình kỹ thuật sản xuất rau
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 115
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Thành phần dinh dưỡng của một số loại rau ăn tươi 5 2.2 Tình hình sản xuất rau ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012-2017 13
3.1 Các giống rau được sử dụng trong các thí nghiệm 43 4.1 Hàm lượng kim loại nặng trong đất canh tác tại địa điểm điều tra 56
4.2 Hàm lượng kim loại nặng và Coliform trong nước tưới tại địa điểm điều tra 57
4.3 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất canh tác xà lách, hành hoa, mùi ta và mùi
4.4 Lượng phân đạm vô cơ bón cho một số loại rau ăn tươi 58 4.5 Lượng phân kali bón cho một số loại rau ăn tươi tại Bắc Ninh 59 4.6 Lượng phân lân bón cho một số loại rau ăn tươi tại Bắc Ninh 60 4.7 Lượng phân chuồng bón cho một số loại rau ăn tươi tại Bắc Ninh 61 4.8 Thời gian cách ly sau khi bón đạm lần cuối tại Bắc Ninh 62 4.9 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây rau xà lách, hành hoa,
4.10 Thành phần dinh dưỡng trong một số loại rau ăn tươi tại tỉnh Bắc Ninh 63 4.11 Dư lượng nitrate, tồn dư kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật trong rau
4.12 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ an
toàn rau xà lách trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 73 4.13 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến tỷ lệ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau xà lách
trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 74 4.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ an
toàn của hành hoa trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 75 4.15 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến tỷ lệ nhiễm sâu, bệnh hại trên hành hoa
trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 77 4.16 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ an
toàn của mùi tàu trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 78
Trang 104.17 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau mùi
tàu trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 79 4.18 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ
an toàn của mùi ta trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 81 4.19 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau mùi
ta trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 82 4.20 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng, năng suất, chất
lượng và độ an toàn của xà lách trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên
4.21 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau
xà lách trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 85 4.22 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng
và độ an toàn của hành hoa trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong-
4.23 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên hành
hoa trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 87 4.24 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng, năng suất, chất
lượng và độ an toàn của mùi tàu trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên
4.25 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau
mùi tàu trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 89 4.26 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng, năng suất, chất
lượng và độ an toàn của mùi ta trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên
4.27 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau
mùi ta trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên Phong- Bắc Ninh 91 4.28 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn rau xà lách trồng vụ
4.29 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên các nền đạm khác nhau đến mức
độ nhiễm sâu, bệnh hại trên rau xà lách trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại
Trang 114.30 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn rau hành hoa trồng vụ
4.31 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên các nền đạm khác nhau đến mức
độ nhiễm sâu, bệnh hại trên hành hoa trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại
4.32 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn mùi tàu trồng vụ đông-xuân
4.33 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến mức độ
nhiễm sâu, bệnh hại trên rau mùi tàu trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại
4.34 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn mùi ta trồng vụ đông-xuân
4.35 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA trên nền đạm khác nhau đến mức độ
nhiễm sâu, bệnh hại trên rau mùi ta trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Yên
4.36 Ảnh hưởng của loại dung dịch dinh dưỡng đến sinh trưởng và năng suất
của xà lách cuộn được trồng thủy canh vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện
4.37 Ảnh hưởng của độ EC đến sự sinh trưởng và năng suất của xà lách cuộn
thủy canh trồng vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện SHNN 102 4.38 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất
của xà lách cuộn trồng thủy canh vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện Sinh
4.39 Hàm lượng NO3-, một số kim loại nặng và vi sinh vật gây hại trong rau xà
lách trồng thủy canh vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện SHNN 104 4.40 Sinh trưởng và năng suất của rau m i tàu trồng thủy canh ở dung dịch dinh
dưỡng khác nhau vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện SHNN 105 4.41 Sinh trưởng và năng suất của rau m i tàu thủy canh trồng ở các mức EC
khác nhau vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện Sinh học Nông nghiệp 106
Trang 124.42 Một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của rau m i tàu ở các mật độ
trồng khác nhau vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện SHNN 106 4.43 Hàm lượng NO3-, một số kim loại nặng, vi sinh vật và trứng giun trong rau
mùi tàu trồng thủy canh vụ đông-xuân năm 2016 tại Viện SHNN 107 4.44 Kết quả về sinh trưởng, năng suất và độ an toàn và hiệu quả kinh tế của xà
lách từ mô hình trồng vụ đông-xuân năm 2017 tại Yên Phong- Bắc Ninh 109 4.45 Kết quả về sinh trưởng, năng suất và độ an toàn của hành hoa từ mô hình
trồng vụ đông-xuân năm 2017 tại Yên Phong- Bắc Ninh 110 4.46 Kết quả về sinh trưởng, năng suất và độ an toàn của mùi ta từ mô hình
trồng vụ đông-xuân năm 2017 tại Yên Phong- Bắc Ninh 112
Trang 13DANH MỤC ĐỒ THỊ
3.1 Đồ thị chuẩn xác định hàm lượng đường xylose 130 3.2 Đồ thị chuẩn xác định hàm lượng đường fructose 130 3.3 Đồ thị chuẩn xác định hàm lượng đường glucose 131 3.4 Đồ thị và phương trình tương quan giữa nồng độ NO3- và độ hấp thụ
Trang 14DANH MỤC HÌNH
2.1 Diễn biến đất trồng và sản lượng rau quả tươi trên thế giới giai đoạn
2.2 Phân bố sản lượng rau tươi trung bình tính trong giai đoạn 2006-2016 ở
2.3 Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam giai đoạn 1994-2016 10 4.1 Tương quan giữa liều lượng N tổng số (A), liều lượng phân urea (B), liều
lượng phân chuồng (C) và số ngày cách ly (D) với hàm lượng nitrate
4.2 Tương quan giữa liều lượng N tổng số (A), liều lượng phân urea (B), liều
lượng phân chuồng (C) và số ngày cách ly (D) với hàm lượng nitrate
4.3 Tương quan giữa liều lượng N tổng số (A), liều lượng phân urea (B), liều
lượng phân chuồng (C) và số ngày cách ly (D) với hàm lượng nitrate
4.4 Tương quan giữa liều lượng N tổng số (A), liều lượng phân urea (B), liều
lượng phân chuồng (C) và số ngày cách ly (D) với hàm lượng nitrate
Trang 15TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Đặng Trần Trung
Tên luận án: Đánh giá thực trạng độ an toàn rau ăn tươi sản xuất tại Bắc Ninh, xác định nguyên nhân, nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 9 62 01 10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng an toàn rau ăn tươi sản xuất tại Bắc Ninh, xác định được nguyên nhân gây mất an toàn rau và giải pháp khắc phục để sản xuất rau ăn tươi an toàn
tại Bắc Ninh
Phương pháp nghiên cứu
* Vật liệu nghiên cứu:
- Tập trung trên 4 loại rau ăn tươi: rau xà lách, hành hoa, m i tàu, m i ta
- Các loại phân bón: Phân chuồng ủ hoai; phân Bokashi, phân vi sinh đa chức, phân Polyfa, phân Biof Phân vô cơ: phân ure 46,3%N; phân kali (kali clorua 60% K2O, kali sulphate 50% K2O), phân super lân Lâm Thao Chế phẩm sinh học EMINA do Viện Sinh học Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cung cấp
* Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng độ an toàn rau ăn tươi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn (RAT) tại huyện Yên Phong, Bắc Ninh:
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến một số cây rau ăn tươi + Nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến một số cây rau ăn tươi
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm EMINA một số cây rau ăn tươi
+ Nghiên cứu sản xuất rau xà lách, mùi tàu sạch bằng kỹ thuật thủy canh
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp điều tra, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp lấy mẫu, phương pháp phân tích chất lượng dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm mẫu rau xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta thí nghiệm
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật bón các loại phân hữu cơ, phân đạm, phân bón lá, chế phẩm và số lần phun EMINA đến chất lượng rau
Phương pháp sản xuất một số rau sạch bằng kỹ thuật thủy canh
Phương pháp lấy mẫu, thu thập, phân tích chất lượng rau an toàn Các số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2013, Minitab 16
Kết quả chính và kết luận
1 Đã điều tra, thu thập, phân tích 415 mẫu đất và nước của vùng quy hoạch sản
Trang 16xuất rau an toàn ở 8 huyện, thị tại tỉnh Bắc Ninh Kết quả cho thấy, hàm lượng kim loại nặng (Pb, Hg, Cd, Cu, As) và vi sinh vật gây bệnh (Coliform) đều dưới ngưỡng tiêu chuẩn theo QCVN 03:2008/BTNMT của Bộ Tài nguyên môi trường Tuy nhiên, có tỷ lệ cao mẫu rau với dư lượng NO3- vượt ngưỡng từ 2 – 4 lần Trong đó, loại rau ăn tươi điển hình là hành hoa có tỷ lệ vượt ngưỡng chiếm tới 73,3%, tiếp theo là mùi ta (56,7%), xà lách (40%) và mùi tàu (36,7%) Có tương quan thuận giữa hàm lượng nitrate tích lũy trong rau với lượng bón N (urea) và thời gian cách ly từ khi bón đến lúc thu hoạch càng ngắn
2 Các loại phân hữu cơ sử dụng trong nghiên cứu: Phân chuồng, Bokashi, vi sinh đa chức (VSĐC), Polyfa, Biof ở lượng bón từ 5-7 tấn/ha cho xà lách, mùi tàu, mùi
ta có xu hướng tác động chung là tăng lượng bón sẽ làm tăng năng suất rau nhưng cũng làm tăng tích lũy nitrat Tuy nhiên, hàm lượng nitrat trong sản phẩm chưa vượt ngưỡng quy định Riêng cây hành hoa khi bón phân chuồng ngay ở mức bón 5 tấn/ha lượng nitrat đã vượt ngưỡng quy định Ở mức bón trên, các dạng phân hữu cơ nghiên cứu đều
chưa gây tích lũy dư lượng kim loại nặng Pb, Cd và vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Salmonella)
3 Biện pháp phun Emina (nồng độ 0,1%, lượng phun 600 lít/ha) cho cây xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta có tác dụng làm giảm rõ rệt hàm lượng nitrat tích lũy Phun EMINA bổ sung còn làm tăng năng suất rau trồng Năng suất xà lách , mùi tàu,
m i ta đều cao nhất ở mức bón 40N và phun EMINA 2 lần (riêng hành hoa cùng mức 40N nhưng chỉ phun EMINA 1 lần) Các công thức bón này đều cho sản phẩm có dư lượng nitrat và hàm lượng kim loại nặng chưa vượt ngưỡng
4 Có thể sản xuất rau xà lách và mùi tàu an toàn bằng phương pháp thủy canh
- Xà lách cuộn VA80 trồng thích hợp nhất trên hệ thống thủy canh hồi lưu với dung dịch dinh dưỡng SH3 có độ dẫn điện EC từ 800µS/cm - 1200µS/cm, khoảng cách trồng 15 cm × 15 cm là phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất tối ưu
- Rau mùi tàu cao sản: trồng thích hợp nhất trên hệ thống thủy canh tĩnh với dung dịch dinh dưỡng SH5 có độ EC 1500 µS/cm, mật độ trồng 270 cây/m2 là thích hợp cho
sự sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao nhất
- Có thể sử dụng kỹ thuật bón phân trong sản xuất rau ăn tươi an toàn tại Bắc Ninh như sau: + Đối với xà lách: bón lót 7 tấn VSĐC + 50 kg K2O + 60 kg P2O5, bón thúc 40 kg N/ha, phun EMINA (0,1%) 2 lần, 5 ngày phun 1 lần (600 lít/ha)
+ Đối với mùi ta: bón lót 7 tấn Bokashi + 50 kg K2O + 60 kg P2O5, bón thúc 20
kg N/ha, phun EMINA (0,1%) 2 lần, 5 ngày phun 1 lần (600 lít/ha)
+ Đối với hành hoa: bón lót 5 tấn VSĐC + 50 kg K2O + 60 kg P2O5, bón thúc
30 kg N/ha, phun EMINA (0,1%) 1 lần (600 lít/ha)
Các công thức phân bón này đã được kiểm chứng thành công qua 06 mô hình tại Yên Phong, Bắc Ninh
Trang 17THESIS ABSTRACT PhD candidate: Dang Tran Trung
Thesis title: Determination of causes of unsafety of eating-raw vegetables produced in Bac Ninh and research on cultivation technique for safe eating-raw vegetables production Major: Crop Science Code: 9 62 01 10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives
Study on the safety status of eating-raw vegetables produced in Bac Ninh, determination of the causes of unsafe state and cultivation technique for safe eating-raw vegetables production
Materials and Methods
* Research content
Assessment of the status of safety of vegetables produced in Bac Ninh province
Research on cultivation technique for safe eating-raw vegetables in Yen Phong
- Determination of effects of organic fertilizers on eating-raw vegetables
- Determination of effects of N fertilizers (urea) on eating-raw vegetables
- Determination of effects of product EMINA on eating-raw vegetables
- Determination of effects of some factors in hydroponics on lettuce and culantro
* Methods
Investigation and analysis of the status of safety of vegetables produced in Bac Ninh; Collection of fresh vegetables; Analysis of nutrition contents and safety of lettuce, scallions, culantro and coriander:
- The experiment setups were arranged according to RCBD (Randomized Complete Block Design) and CRD (Completely Randomized Design) methods
- Nutrition contents in vegetables were analyzed according to the methods issued
by Vietnam Mintry of Agriculture and Rural Development (TCVN)
- Statistic analysis was performed according to ANOVA methos using Excel
2013, Minitab 16
Main findings and conclusions
1 Properties of 415 samples of soil and water and safety of eating raw
Trang 18vegetables produced in 8 districts of Bac Ninh province were analyzed The results showed that the contents of heavy metals (Pb, Hg, Cd, Cu, As) and microorganism
(E.coli, Salmonella and coliform) in soil, water and collected vegetables were lower
than the regulation in the standard of QCVN 03: 2008/BTNMT (issued by Ministry of Natural Resources and Environment) However, there was some vegetable samples with the high nitrate residues at 2-4 times compared to the regulation of QCVN 03:2008/BTNMT (“the standard”) The nitrate content in these scallions, coriander, lettuce, cilantro samples were excessed 73.3%, 56.7%, 40%, 36.7% compared to “the standard”, respectively The results showed that, nitrate content in vegetables had a positive correlation with the urea amount application and had a negative correlation with the interval-time of last urea-application
2 There was no difference about yields when application 7 tons/ha or 5 tons/ha
of composts (manure, Bokashi, VSĐC, Polyfa, Biof) A high application of compost might increase nitrate contents in vegetables, although nitrate contents at application of 5-7 tons/ha were lower than “the standard” (exception in scallions)
3 The increase of N-fertilizer from 0 – 40 kg/ha led the increase of yield and nitrate content The yields were highest at N-application of 40 kg/ha in scallions, and at
30 kg/ha in culantro and coriander The accumulations of NO3- were different in different vegetables at different N-application; The nitrate contents in lettuce was highest (over "the standard") at N-application of 40kg/ha; While nitrate contents in culantro, coriander and scallions were highest (below "the standard") at N-applications
of >40 kg/ha, >30 kg/ha >20 kg/ha, respectively Simultaneous application of urea and EMINA had no effects on yield increase but might had effects on decrease of nitrate content in vegetables
4 The most appropriate hydroponic techniques for safe vegetable production might be: For lettuce (var VA80): Using of continuous-flow solution culture; nutrition was SH3 (EC from 800µS/cm to 1200µS/cm); distance of plant × plant of 15 cm × cm For culantro (var Cao San): Ussing of static culture; nutrition was SH5 (EC 1500µS/cm), density was 270 plant/m2
5 For production of safe eating raw vegetables in Bac Ninh, the below cultivation techniques should be used: For lettuce: basal fertilizing of 7 tons/ha VSĐC +
50 kg K2O + 60 kg P2O5, top dressing of 40 kg N/ha, spraying of EMINA (0,1%) 2 times with an interval of 5 days (amount of 600 L/ha) For coriander: basal fertilizing of
7 tons/ha Bokashi + 50 kg K2O + 60 kg P2O5, top dressing of 20 kg N/ha, spraying of EMINA (0,1%) 2 times with an interval of 5 days (amount of 600 L/ha) For scallions: basal fertilizing of 5 tons/ha VSĐC + 50 kg K2O + 60 kg P2O5, top dressing of 30 kg N/ha, spraying of EMINA (0,1%) 1 (amount of 600 L/ha)
Trang 19PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau xanh là thực phẩm thiết yếu trong bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình Tuy nhiên, vấn nạn ngộ độc thực phẩm do rau xanh đang ngày càng đáng lo ngại khi mà mỗi ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn có tin tức về những ca ngộ độc phải nhập viện cấp cứu, đặc biệt là tại các thành phố lớn như
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… và kể cả ở Bắc Ninh Có thể nói, vấn đề rau sạch, rau an toàn hay rau nhiễm độc đang là vấn đề rất bức xúc trong sản xuất nông nghiệp, trong đời sống xã hội hiện nay
Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2012), rau quả an toàn được định nghĩa như sau: “Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định” Việc đánh giá rau sạch, rau an toàn dựa trên 4 tiêu chí – cũng là 4 nguyên nhân chính gây nên sự mất an toàn Đó là hiện tượng nhiễm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hàm lượng nitrat (NO3-), kim loại nặng và sự hiện
diện của vi sinh vật có hại trong sản phẩm rau vượt tiêu chuẩn cho phép (Pham et
al., 2013) Dư lượng thuốc BVTV là lượng thuốc BVTV còn lại trong rau sau khi
thu hoạch do người trồng sử dụng với liều lượng quá cao, không đảm bảo thời gian cách ly là nguyên nhân gây ngộ độc phổ biến và nghiêm trọng nhất Nguyên nhân gây độc thứ hai là rau bị nhiễm các ký sinh trùng và vi sinh vật gây bệnh
như Salmonella, E coli, trứng giun sán do việc bón phân tươi chưa ủ hoai mục
hay trồng gần hoặc sử dụng nguồn nước tưới không đảm bảo (từ nước thải sinh hoạt, bệnh viện ) Người ăn rau nếu không nấu chín, đặc biệt là đối với các loại rau ăn tươi (rau ăn sống) sẽ dễ bị nhiễm các bệnh do ký sinh trùng và vi sinh vật gây ra như tiêu chảy, thương hàn, nhiễm giun sán các loại… Nguyên nhân gây mất an toàn thứ ba là dư lượng nitrat trong rau quá cao do việc sử dụng mất cân đối các loại phân bón đa lượng hay bón phân nitơ quá mức hoặc quá gần ngày
Trang 20thu hoạch đã làm tăng dư lượng nitrat trong nhiều loại rau Sự dư thừa nitrate trong máu do hấp thu từ thức ăn, nhất là từ rau tươi có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng Các nghiên cứu cho thấy, trong cơ thể con người nitrate (NO3-) dễ dàng chuyển hóa thành dạng nitrite (NO2-) và là nguyên nhân gây hiện tượng phì
tuyến thượng thận, gây rối loạn tiêu hóa và gây ung thư dạ dày (Craun et al.,
1981; Til and Kuper, 1995) Sự dư thừa nitrate còn làm thiếu hụt vitamin A và làm thai nhi phát triển chậm (WHO, 1996) Trong khi đó theo khuyến cáo của WHO (2005), mỗi người trưởng thành cần ăn tối thiểu 400 gram rau xanh và quả mỗi ngày để đảm bảo được cung cấp đủ vitamin và khoáng chất nên sự hấp thu nitrate không mong muốn từ rau quả tươi là khó tránh khỏi Nguyên nhân thứ tư
đó là dư lượng các kim loại nặng có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3 và có tính độc như thủy ngân (Hg), arsenic (As), chì (Pb) và cadmium (Cd) dễ dàng được rau xanh hấp thu từ đất và phân bón ô nhiễm, khi xâm nhập vào cơ thể có thể gây các chứng bệnh về thận, xương, bàng quang và ung thư… (Tuan Anh Tran and Losanka Petrova Popova, 2013)
Bắc Ninh là một trong những địa phương có truyền thống sản xuất rau ở miền Bắc Việt Nam Ngoài phục vụ nội tỉnh, sản phẩm rau Bắc Ninh còn cung cấp cho thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận Trong đó, Hà Nội là một thị trường tiêu thụ lớn với 7,5 triệu người (2016) nhưng sản lượng rau an toàn tự sản xuất chỉ đáp ứng được 14% nhu cầu tiêu thụ (Lê Mỹ Dung, 2017) Là một tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh có diện tích trồng rau khá lớn 9,4 nghìn ha, tổng sản lượng đạt 225,1 nghìn tấn So với các tỉnh lân cận, Bắc Ninh có năng suất rau vào loại cao nhất 239,5 tạ/ha, trong khi Hà Nội là 211,4 tạ/ha, Vĩnh Phúc 194,8 tạ/ha và Quảng Ninh là 156,9 tạ/ha (Cục Trồng trọt – Bộ NN&PTNN, 2017) Điều này cho thấy trình độ thâm canh rau ở Bắc Ninh rất cao Tuy nhiên, d đã
có những hệ thống sản xuất rau theo quy trình sản xuất an toàn của VietGap triển khai tại một số huyện ở Bắc Ninh nhưng số lượng còn rất nhỏ lẻ Toàn tỉnh mới
có 5 cơ sở được cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với tổng diện tích 41,5ha, 8 cơ sở được chứng nhận rau VietGAP với diện tích 23,1ha (Sở NN&PTNT Bắc Ninh, 2017) Công tác đánh giá chất lượng rau ở Bắc Ninh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ nên chưa có các số liệu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm rau tại tỉnh Tình trạng mất an toàn trên rau ăn lá là phổ biến chung, trên rau ăn tươi là loại rau ăn trực tiếp không qua chế biến (rau sống) chắc chắn còn nghiêm trọng hơn Do đó việc nghiên cứu đánh giá thực trạng, nguyên nhân gây mất
Trang 21an toàn trên rau sản xuất tại Bắc Ninh và xác định được các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn cho Bắc Ninh là việc làm rất bức xúc và cần thiết
Nhằm đáp ứng những yêu cầu bức xúc nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và một số biện pháp kỹ thuật cho sản xuất rau ăn tươi an toàn tại Bắc Ninh Các kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ là những dẫn liệu khoa học quý làm cơ sở cho các nhà quản lý nhằm hoạch định kế hoạch, chính sách đồng thời cung cấp các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho người sản xuất rau ăn tươi an toàn không chỉ riêng trên địa bàn Bắc
Ninh mà còn cho những v ng có điều kiện tương tự
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu thực trạng an toàn rau ăn tươi sản xuất tại Bắc Ninh, xác định nguyên nhân gây mất an toàn rau và giải pháp khắc phục để sản xuất rau ăn tươi
an toàn tại Bắc Ninh
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại rau ăn tươi phổ biến (rau xà lách, rau mùi tàu, rau mùi ta và hành hoa) tại Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Điều tra, phân tích hiện trạng đất, nước tưới của một số vùng sản xuất rau chính ở Bắc Ninh, thực trạng an toàn của 4 đối tượng rau ăn tươi: xà lách, hành hoa, m i tàu và m i ta Bước đầu xác định nguyên nhân gây mất an toàn trong sản xuất rau ăn tươi
Nghiên cứu xây dựng biện pháp kỹ thuật trồng rau ăn tươi an toàn cho xà lách, mùi ta, mùi tàu và hành hoa
Xây dựng một số mô hình sản xuất rau ăn tươi (xà lách, m i ta và hành hoa)
an toàn
1.3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Điều tra hiện trạng đất, nước tưới và thực trạng rau ăn tươi xà lách, m i
tàu, m i ta và hành hoa được thực hiện tại 8 huyện, thị tỉnh Bắc Ninh: Huyện Yên Phong, TP Bắc Ninh, Huyện Từ Sơn, Huyện Tiên Du, Huyện Gia Bình, Huyện Quế Võ, Huyện Thuận Thành, Huyện Lương Tài
Trang 22Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật và xây dựng mô hình sản xuất rau ăn tươi an toàn tại huyện Yên Phong, Bắc Ninh
Các thí nghiệm sản xuất rau thủy canh được thực hiện tại khu thí nghiệm Viện Sinh học nông nghiệp - Học Viện Nông nghiệp Việt nam
Các thí nghiệm phân tích tại phòng thí nghiệm Trung tâm, Khoa Công nghệ thực phẩm - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Đề tài được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2017
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp các dẫn liệu về điều kiện sản xuất rau an toàn tại một số vùng sản xuất rau chính, thực trạng an toàn của 4 loại rau ăn tươi (xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta) tại Bắc Ninh Bước đầu xác định nguyên nhân gây mất an toàn trong sản xuất rau ăn tươi ở Bắc Ninh Dữ liệu này sẽ làm cơ sở khoa học để quy hoạch sản xuất và đề xuất chính sách phát triển rau an toàn tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tượi an toàn cho xà lách, hành hoa, mùi tàu và mùi ta tại Bắc Ninh và các v ng có điều kiện tương tự
- Xây dựng được 6 mô hình trồng rau an toàn cho 3 loại rau ăn tươi gồm
xà lách, hành hoa, m i ta đầu tiên tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cho hiệu quả tốt, có thể áp dụng mở rộng tại tỉnh Bắc Ninh hoặc những v ng có điều kiện sinh thái tương tự
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng rau ăn tươi Đây là tài liệu có thể được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học về cây rau
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp một số biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi
an toàn phục vụ sản xuất rau xà lách, mùi ta, mùi tàu, hành hoa có thể áp dụng tại Bắc Ninh và các v ng có điều kiện sinh thái tương tự
Trang 23PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÂY RAU
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Rau mặc dù không phải là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu nhưng lại
có vai trò quan trọng đối với sự sống của con người Rau xanh là nguồn cung cấp chính các loại vitamin, khoáng chất và chất xơ cho cơ thể (Trần Khắc Thi, 2000) Theo Bùi Thị Gia (2001), giá trị dinh dưỡng một số loại rau thể hiện tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của một số loại rau ăn tươi
Vitamin
Kcal/
kg Protein Glucid Cellulose Ca P Fe Caroten
(µg/kg)
C (mg/kg)
B 2 (mg/kg)
Cà chua 0,6 4,2 0,8 12 26 1,4 1115 40 0,04 19 Dưa chuột 0,6 3,0 0,7 23 27 1,0 90 5 0,04 15
Xà lách 1,5 2,2 0,5 77 34 0,9 1050 15 0,12 15 Cải bắp 1,8 5,4 1,6 48 31 1,1 280 30 0,05 30
Cà rốt 1,5 8,0 1,2 43 39 0,8 5040 8 0,06 38 Rau thơm 0,2 2,4 3,0 170 49 3,8 3560 41 0,15 18
Nguồn: Bùi Thị Gia (2001)
Rau xanh chứa nhiều vitamin A, viatmin C, vitamin B gồm B1, B2, B12, axit panthothenic, biotin, axit folic Với khẩu phần ăn theo thói quen hiện nay của con người, rau xanh đã cung cấp khoảng 90 – 99% vitamin A, 60 – 70 % vitamin B2 và gần 100 % vitamin C Vitamin có tác dụng to lớn trong quá trình phát triển của cơ thể, mỗi loại vitamin có chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kì một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng trong hoạt động sống, làm giảm sức dẻo dai và hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật (Tạ Thu Cúc, 2007)
Ngoài cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng
kể Chất khoáng trong rau xanh chủ yếu là Calcium (Ca), Phosphorus (P), sắt (Fe) Ngoài ra, rau cũng cung cấp một số vi lượng quan trọng khác như kẽm (Zn), đồng (Cu), iodine (I), selenium (Se), manganese (Mn)… Các chất khoáng
có tác dụng điều hòa, cân bằng kiềm tan trong máu và tham gia nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng trong cơ thể Đặc biệt các nguyên tố sắt, kẽm, selenium rất cần cho sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh (Tạ Thu Cúc, 2007)
Trang 24Thức ăn từ rau còn cung cấp một lượng lớn chất xơ Mặc dù chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có khả năng làm tăng hoạt động của nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, làm tăng khả năng tiêu hóa và ngăn ngừa bệnh táo bón (Tạ Thu Cúc, 2007)
Theo nghiên cứu của Stephen et al (2012), ăn ít rau là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật toàn cầu Ước tính có khoảng 16 triệu người bị tàn tật và 1,7 triệu người chết mỗi năm trên toàn thế giới do không
ăn đủ rau Có nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ giữa ăn nhiều rau tươi với giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính quan trọng như bệnh tim mạch, tiểu
đường, một số loại ung và giảm tỷ lệ thư tử vong do bệnh tật (Hsin-Chia Hung et
al., 2004; Luc Dauchet et al., 2006; Andrea Bellavia et al., 2013) Theo báo cáo
của Karel et al (2014) cho thấy, khi mỗi người trưởng thành ăn đến 600 gram rau
và quả mỗi ngày có thể làm giảm tỷ lệ bệnh tật trên thế giới xuống 1,8%
Mặc dù vậy, phần lớn dân số thế giới không ăn đủ lượng rau theo khuyến cáo của các chuyên gia dinh dưỡng Dữ liệu từ 52 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình tham gia Cuộc Khảo sát Y tế Thế giới 2002-2003 cho thấy, 77,6% nam giới và 78,4% phụ nữ được khảo sát ăn ít hơn khẩu phần hàng ngày Cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng ăn ít rau cho thể xảy ra ở cả các nước có thu nhập cao, trung bình hoặc thấp Ví dụ như trong một báo cáo gần đây ở Hoa Kỳ, 26% trong tổng số ca tử vong và 14% người bị bệnh và các khuyết tật khác có thói quen ăn
ít rau Theo báo cáo này, ăn ít rau xanh là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh tật ở
Hoa Kỳ (Murray et al., 2013)
2.1.2 Giá trị kinh tế của cây rau
Hiện nay sản xuất rau đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với những loại cây trồng khác So với lúa, trên một diện tích, cây rau có giá trị cao hơn từ 2- 3 lần, thậm chí có loại có giá trị cao gấp 3-5 lần (Tạ Thu Cúc, 2007)
Rau có giá trị xuất khẩu cao so với các loại cây trồng khác và có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần nếu được chế biến Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), khi sản xuất 1 ha dưa chuột và chế biến thành dưa chuột dầm dấm cho thu lợi nhuận từ 18 -20 triệu đồng, chế biến quả từ 1ha trồng cà chua thành cà chua cô đặc lợi nhuận tăng them từ 4,5 – 6,5 triệu đồng Theo Ngô Quang Vinh và cs (2002), khi sản xuất mướp đắng trái vụ, nông dân lãi 40 – 44 triệu đồng/ha, trong khi đó gieo trồng dưa leo trái vụ, nông dân có thể lãi được 30 triệu đồng
Trang 25Hiện nay, sản phẩm rau quả của Việt Nam đã được xuất khẩu đến 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc
là bốn thị trường chính nhập khẩu rau quả của Việt Nam, chiếm 85% tổng giá trị xuất khẩu Trong giai đoạn hiện nay, một số thị trường nhập khẩu rau quả của Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh, bao gồm Nga (67%), Nhật Bản (56%), Trung Quốc (50%) và Hoa Kỳ (23%), Hàn Quốc (15%) và Thái Lan (12%) Mặc
dù thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam là các nước có yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng và an toàn thực phẩm, nhưng sản phẩm dành cho xuất khẩu vẫn được chấp nhận do được sản xuất từ các doanh nghiệp lớn được đầu tư công nghệ cao Kết quả Tổng điều tra năm 2016 cho thấy, hình thức sử dụng nhà lưới, nhà kính, nhà màng trong sản xuất nông đã được ứng dụng ở nhiều địa phương, điển hình là Lâm Đồng, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tại thời điểm 01/7/2016, cả nước có 5.897,5 ha nhà lưới, nhà kính, nhà màng, phân bố ở 327 xã Trong đó có có 2.144,6 ha nhà màng, nhà kính trồng rau, chiếm 36,4% tổng diện tích (nông nghiệp và thủy sản TW Ban chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, 2017) Kết quả là năm 2016, tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 2,4 tỷ USD, cao hơn 200 triệu USD so với mục tiêu hàng năm Trong 6 tháng đầu năm 2017, giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã đạt 1,7
tỷ USD, tăng 45% so với cùng kỳ năm ngoái Tổng giá trị xuất khẩu rau quả Việt
Nam dự kiến đạt được 3 tỷ USD năm 2017 (Pham Thi Thu Huong et al., 2013;
Vietnamnews, 2017)
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Tổ chức Nông nghiệp Lương thực của Liên hợp quốc (FAO, 2018) dự đoán dân số thế giới sẽ lên tới tám tỉ người vào năm 2030 Do đó, nhu cầu sản phẩm nông nghiệp sẽ tăng lên đáng kể Trong báo cáo của FAO, “Nông nghiệp: Hướng tới năm 2015/30”, đã có những tiến bộ đáng kể trong ba thập kỷ qua trong việc sản xuất lương thực và thực phẩm Trong khi dân số toàn cầu đã tăng hơn 70 phần trăm, thì mức tiêu thụ lương thực bình quân đầu người đã tăng gần
20 phần trăm Ở các nước đang phát triển, mặc d tăng gấp đôi dân số, tỷ lệ những người sống trong tình trạng bị thiếu dinh dưỡng mãn tính đã giảm xuống còn 18% vào năm 1995/97 nhờ khẩu phần ăn được bổ sung nhiều sản phẩm rau quả hơn Theo báo cáo này, sản lượng cây trồng dự kiến sẽ tăng 70% trong năm
Trang 262030 so với sản lượng hiện tại Trái cây và rau quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong thức ăn và là nguồn chủ yếu cung cấp các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết cho con người Cũng theo báo cáo này, nhu cầu về rau quả sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới (FAO, 2018)
Hình 2.1 Diễn biến đất trồng và sản lượng rau quả tươi trên thế giới
giai đoạn 1994-2016
Nguồn: FAO (2018)
Hiện tại, ở các nước phát triển, Hoa Kỳ tiếp tục thống trị thương mại quốc
tế về rau quả, đứng đầu về nhập khẩu và xuất khẩu rau-quả, chiếm khoảng 18% trong số 40 tỷ đô la Mỹ về thương mại các mặt hàng tươi sống Nếu tính theo khu vực thì Liên minh châu Âu (EU) đóng vai trò lớn nhất, với 15 mặt hàng rau quả xuất khẩu, nhập khẩu đóng góp khoảng 20% tổng lượng hoa quả tươi và rau tươi toàn thế giới Ở châu Âu, Đức là nước xuất khẩu chính, Tây Ban Nha là nhà cung cấp chủ yếu, trong khi đó Hà Lan đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phân phối Ở Nam bán cầu, Chilê, Nam Phi và New Zealand đã trở thành các nhà cung cấp chính trong thương mại quốc tế về các mặt hàng trái cây tươi mặc dù các nước này xuất khẩu không đáng kể mặt hàng rau tươi (FAO, 2018) Theo thống kê mới nhất của FAO (2018), diện tích trồng và sản lượng rau tươi trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi trong khoảng 12 năm trở lại đây (hình 2.1)
FAO (2018) ước tính sản xuất rau quả dự kiến sẽ tăng với tốc độ 3,2% mỗi năm đối với rau và 1,6% mỗi năm cho trái cây Tuy nhiên, xu thế này không đồng nhất trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển nơi mà thiếu
cơ sở hạ tầng và công nghệ thích hợp tạo thành trở ngại lớn nhất trong cạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển sẽ tiếp
Trang 27tục dẫn đầu về cung cấp rau quả tươi cho các nước phát triển Hầu hết các nước đang phát triển đều có mức tăng cao trong sản xuất rau quả, như ở Châu Á (đứng đầu là Trung Quốc) và Nam Mỹ (đứng đầu là Brazil và Chilê) Châu Á là nhà sản xuất rau hàng đầu với tổng sản lượng 61% và tăng trưởng 51% mỗi năm Tuy nhiên, Hoa Kỳ tiếp tục là nước dẫn đầu trong xuất khẩu trái cây và rau tươi trên toàn thế giới gồm cam, nho và cà chua Trong khi đó Brazil chiếm thị phần lớn trong thương mại quốc tế về nước cam ép đông lạnh Chile hiện đã trở thành nước xuất khẩu trái cây tươi lớn với sản lượng 45% sang thị trường Châu Mỹ Mặc dù là nhà xuất khẩu rau quả lớn ngay từ những năm 1990, Hoa Kỳ vẫn là nhà nhập khẩu ròng các sản phẩm rau quả Người tiêu dùng Mỹ luôn đón nhận các giống rau quả mới, nên thị phần nhập khẩu đã tăng lên Theo một báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng giá trị các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu vào
Mỹ đã tăng hơn 50% kể từ năm 1990 Nếu dự báo này đúng trong dài hạn, Hoa
Kỳ có thể đạt được giá trị nhập khẩu của các sản phẩm nông nghiệp ổn định ở mức 4% mỗi năm trong các thập niên đầu thế kỷ 21 này, trong khi đó xuất khẩu
dự kiến sẽ tăng từ 5 đến 7% mỗi năm (FAO, 2018) Hình 2.2 cho biết phân bố sản lượng rau tươi ở các khu vực trên thế giới
Hình 2.2 Phân bố sản lượng rau tươi trung bình tính trong
giai đoạn 2006-2016 ở các khu vực trên thế giới
Nguồn: FAO (2018)
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ rau tươi của Siegel et al (2014)
với mức thu nhập quốc gia ở 170 quốc gia cho thấy, nhìn chung, nguồn cung toàn cầu (không bao gồm sản xuất tự cung) thấp hơn 22% so với nhu cầu của người dân theo các khuyến cáo về dinh dưỡng, thậm chí ở một số nước thấp hơn nhu cầu đến 95% Tỷ lệ này khác nhau ở mức thu nhập quốc gia, với cung trung bình
Trang 28so với nhu cầu chỉ chiếm tỷ lệ là 0,42 ở các quốc gia có thu nhập thấp và cung trung bình chiếm 1,02 ở các nước có thu nhập cao
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Theo xu thế của các nước châu Á, sự đô thị hóa và tăng dân số ở các thành phố ở Việt Nam dẫn đến nhu cầu ngày càng tăng đối với các loại rau được sản xuất thương mại Với dân số khoảng 5 triệu ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số thành phố khác cho thấy nhu cầu đáng kể về rau cần được cung cấp Với mức tiêu thụ rau trung bình vào đầu thập kỷ trước là 220 g/người/ngày ở Việt Nam, nhu cầu rau hàng ngày hiện đã tăng đến khoảng 1100
g cho mỗi người ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm cả các phần không ăn được bị loại bỏ trước khi chế biến (Ali, 2007; Everaarts and de Putter, 2009)
Theo FAO (2018), giai đoạn từ 1994 đến 2011, diện tích trồng rau của Việt Nam chỉ khoảng gần 300.000 ha, cho sản lượng xấp xỉ 7 triệu tấn/năm Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích trồng rau và sản lượng đã tăng mạnh Năm
2016, diện tích trồng rau tăng lên đến 907.771 ha, cho sản lượng rau trên 13,5 triệu tấn (hình 2.3)
Hình 2.3 Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam giai đoạn 1994-2016
Nguồn: FAO (2018)
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt… nên điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau Việt Nam có thể trồng được trên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với các tiến
bộ khoa học công nghệ, các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu
Trang 29tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Hiện tại, chủng loại rau được sản xuất rất phong phú đa dạng với 60 - 80 loại rau trong vụ đông xuân, 20 - 30 loại rau trong vụ hè thu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu (Trần Khắc Thi and Nguyễn Công Hoan, 2005)
Sản xuất rau ở Việt Nam được tập trung ở 2 vùng chính: thứ nhất là vùng rau tập trung, chuyên canh ven thành phố, thị xã và khu công nghiệp chiếm 46% diện tích và 45% sản lượng rau cả nước Sản xuất rau ở vùng này chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa Chủng loại rau vùng này rất phong phú bao gồm 60-
80 loại rau trong vụ đông xuân, 20 - 30 loại rau trong vụ hè thu Thứ hai là vùng rau sản xuất theo hướng hàng hoá, luân canh với cây lương thực tại các vùng đồng bằng lớn, chiếm 54% về diện tích và 55% về sản lượng rau cả nước Rau ở vùng này tập trung cho chế biến, xuất khẩu và điều hoà và lưu thông rau trong nước Những năm gần đây đã hình thành được một số vùng trồng rau tập trung như: v ng trồng cải bắp có Lâm Đồng, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên; vùng trồng cà chua có các tỉnh như Lâm Đồng, Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên; vùng trồng ớt như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Đà Nẵng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang; vùng trồng dưa chuột gồm Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Giang Một ví dụ về vùng sản xuất rau gần các thành phố lớn ở Việt Nam là đồng bằng sông Hồng Đồng bằng sông Hồng gồm
9 tỉnh, với diện tích khoảng 1.500.000 ha, bằng 13% tổng diện tích của miền Bắc Việt Nam Đồng bằng sông Hồng sản xuất 63% sản lượng nông nghiệp của miền Bắc Việt Nam (GSO, 2007) Gạo là cây cây trồng chính của v ng, nhưng nhiều loại rau cũng được trồng Theo GSO (2007), đồng bằng sông Hồng chiếm 25% diện tích sản xuất rau của Việt Nam và cho sản lượng 30% tổng sản lượng rau ở Việt Nam trong giai đoạn 2002-2005 Sản phẩm rau chiếm vị trí quan trọng trong thương mại, trong khi lúa chủ yếu được sử dụng cho nhu cầu lương thực trong gia đình Trong lĩnh vực sản xuất rau ở đồng bằng sông Hồng, thu nhập từ trồng rau bao gồm 83% thu nhập từ khu vực trồng trọt ở vùng ven đô và 89% ở khu vực nông thôn (To Thi Thu Ha, 2008)
Bình quân sản lượng rau trên đầu người thu hoạch từ đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực Nếu tính theo số liệu của FAO (2018), với tổng sản lượng rau năm 2016 đạt 13.512.879 tấn trên số dân 92,7 triệu, bình quân sản lượng rau của Việt Nam đạt 145,77 kg/người Tuy nhiên, có
sự phân bố không đều giữa các địa phương Có thể dẫn chứng một số ví dụ như
Trang 30Lâm Đồng có bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ 800 - 1.100 kg/người trên năm Đây là v ng sản xuất rau hàng hoá lớn nhất cả nước cung cấp rau cho cả nội địa và xuất khẩu Hưng Yên cũng là tỉnh có bình quân sản lượng rau/đầu người cao hơn bình quân cả nước, cung cấp rau cho tiêu dùng nội địa và chế biến xuất khẩu Trong khi đó, Sơn La có bình quân rau trên đầu người thấp hơn hẳn, chỉ khoảng 40-55 kg/người/năm; sản xuất chủ yếu đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và một phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005; Tạ Thu Cúc, 2007)
Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình Theo nghiên cứu của IFPRI (2002), ICARD (2004) (dẫn theo Viện Kinh tế nông nghiệp, 2005), hầu hết các hộ đều tiêu thụ rau và 93% hộ tiêu thụ quả Các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%) Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau quả cho mỗi người mỗi năm, trong đó rau chiếm 3/4 Thành phần tiêu thụ rau quả cũng thay đổi theo v ng Đậu, su hào và cải bắp là những loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khi cam, chuối, xoài
và quả khác lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có thể thấy với trường hợp su hào với trên 90% số hộ nông thôn
ở miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng tiêu thụ, nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ Ở các khu vực thành thị, tỷ lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản phẩm rau quả đều cao và cao hơn so với khu vực nông thôn Khi thu nhập cao hơn, các hộ cũng tiêu thụ nhiều rau quả hơn Tiêu thụ rau quả theo đầu người giữa của các hộ giàu nhất gấp 5 lần các hộ nghèo nhất (Viện Kinh tế nông nghiệp, 2005)
Việt nam nằm trong số các nước có ngành rau quả phát triển với tốc độ nhanh và có giá trị xuất khẩu cao Tuy nhiên, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa cao, được thể hiện ở những nguyên nhân chính bao gồm: Nguyên liệu đầu vào cho chế biến thiếu tính đồng nhất; giống, quy hoạch, công nghệ thiếu đồng bộ; sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; tổn thất sau thu hoạch lớn (gần 30%); sản xuất thiếu bền vững, luôn tiềm ẩn nguy cơ không đảm bảo an toàn thực phẩm… Bên cạnh đó cơ cấu chế biến chưa hợp lý, xuất khẩu chủ yếu ở dạng sơ chế nên giá trị gia tăng thấp Sản phẩm có chất lượng chưa cao, thiếu tính cạnh tranh, giá thường thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực từ 5-10% Ngoài ra thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản
Trang 31chưa được khai thác tốt, thiếu định hướng lâu dài (nhất là thị trường nội địa); chưa tạo dựng được thương hiệu uy tín trên thị trường ngay cả với những sản phẩm có thế mạnh Mức độ áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp còn rất thấp: chè, rau quả dưới 5% Kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và an toàn vệ sinh thực phẩm đang là một thách thức nghiêm trọng… (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2016)
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở tỉnh Bắc Ninh
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, năm 2016, Bắc Ninh gieo trồng được hơn 15.000 ha rau màu và cây công nghiệp các loại, với 35 vùng sản xuất khoai tây, 36 vùng sản xuất rau xanh và 7 vùng sản xuất hoa, cây cảnh Trong
đó, diện tích trồng cà rốt là 1.257,7ha, chiếm 14,3% tổng diện tích cây thực phẩm, năng suất ổn định đạt 370 tạ/ha/năm, sản lượng đạt 46.919 tấn Về cơ bản, cà rốt
và rau màu sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ tự do, số lượng được sơ chế để xuất khẩu còn thấp và chưa ổn định (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2016)
Đến năm 2017, toàn tỉnh đã có diện tích sản xuất rau 9.398,7 ha, giảm 240,8 ha; năng suất bình quân đạt 241,1 tạ/ha, tăng 29,8 tạ/ha; sản lượng 226.623,9 tấn, tăng 22.930 tấn so với năm 2012 Tình hình sản xuất rau được trình bày cụ thể trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất rau ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012-2017
Cây rau Năm
Ghi chú: ĐVT: Diện tích (ha); năng suất (tạ/ha); sản lượng (tấn)
Nguồn: Sở NN&PTNT Bắc Ninh (2017)
Tỉnh Bắc Ninh đã hình thành 66 vùng sản xuất rau tập trung có quy mô từ
05 ha trở lên Các vùng sản xuất tập trung đã phát huy hiệu quả, mang lại thu
nhập cao cho người sản xuất Có 05 cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều
kiện an toàn thực phẩm với tổng diện tích là 41,5ha; 08 cơ sở đã được chứng nhận rau VietGAP với tổng diện tích là 23,1 ha Trên địa bàn tỉnh đã có 9 doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh rau an toàn, bước đầu hình thành một số mô hình chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa người dân và doanh nghiệp có hiệu quả, điển hình như: Công ty Hương Việt Sinh, Công ty TNHH
Trang 32XNK nông sản Hải Phong… đã liên kết sản xuất với nông dân để cung cấp nguồn rau an toàncho các siêu thị, bếp ăn tập thể tại Bắc Ninh và Hà Nội, khuyến
khích người dân sản xuất, chế biến, tiêu dùng nông sản sạch
Ngày 20/12/2016 của UBND tỉnh Băc Ninh đã phê duyệt “Quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn tập trung tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó, quy hoạch đến năm 2025: Toàn tỉnh có 2.650 ha sản xuất rau an toàn, (diện tích gieo trồng rau toàn tỉnh đạt khoảng 5.300 ha); năng suất rau an toàn bình quân đạt 235,8 tạ/ha trở lên; sản lượng thu được ước khoảng 124.960 tấn.Định hướng đến năm 2030 mở rộng diện tích quy hoạch sản xuất rau
an toàn trên địa bàn toàn tỉnh là 3.192 ha, trong đó, huyện Gia Bình là 585 ha; huyện Lương Tài là 530 ha; huyện Quế Võ là 1.522 ha; huyện Thuận Thành là
375 ha; huyện Tiên Du là 180 ha Đây là tiền đề quan trọng để các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ Hiện nay, sản xuất hữu cơ nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ngành, sự ủng hộ của nông dân Mục tiêu của Bắc Ninh trong những năm tới là nâng tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 chiếm từ 25 - 30% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của cả tỉnh Đồng thời, hình thành và phát triển 35 vùng sản xuất trồng trọt ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố với tổng diện tích 641,5ha (Trần Hồ và Dương Trường, 2017)
Bên cạnh các yếu tố đầu vào thuận lợi như v ng quy hoạch sản xuất tập trung, các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm vi sinh có nguồn gốc hữu cơ khá đa dạng, được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp thì việc phát triển rau hữu cơ, rau an toàn ở Bắc Ninh cũng gặp không ít khó khăn
Đó là, trong giai đoạn đầu sản xuất hữu cơ yêu cầu quản lý nghiêm ngặt ở tất cả các khâu tốn nhiều công lao động cho nên khó triển khai thực hiện trên diện rộng Các chế phẩm hữu cơ có tác dụng chậm hơn so với hóa học dẫn đến năng suất cây trồng thấp, mẫu mã sản phẩm chưa đẹp… Mặt khác, hiện nay trên thị trường sản phẩm thông thường và sản phẩm hữu cơ, sản phẩm an toàn chưa có sự phân biệt rõ ràng, xuất hiện tình trạng thiếu minh bạch, lợi dụng để bán giá cao, làm mất niềm tin của người tiêu dùng (Tâm Thời and Thái Sơn, 2017)
Qua tổng quan tình hình sản xuất rau tại Bắc Ninh cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá điều kiện sản xuất, thực trạng an toàn, xác định nguyên nhân gây mất an toàn và đề xuất giải pháp sản xuất rau an toàn tại Bắc Ninh là vấn đề hết sức bức thiết
Trang 332.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ
ĐỘ AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA RAU XANH
2.3.1 Yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm của rau
Theo FAO (Camelo, 2004), sản phẩm rau có chất lượng tốt hơn khi có một hoặc nhiều thuộc tính vượt trội trong việc mang lại sự hài lòng cho người tiêu dùng FAO đã định nghĩa một sản phẩm có chất lượng tốt là “có những thuộc tính được sự chấp nhận của người tiêu d ng trong điều kiện xác định” Như vậy,
t y trường hợp sử dụng cụ thể, một sản phẩm nông nghiệp có thể được coi là đạt tiêu chuẩn “chất lượng công nghiệp”, “chất lượng dinh dưỡng”, “chất lượng xuất khẩu” hay “chất lượng ăn được” Tuy nhiên, theo tổ chức này, một sản phẩm rau quả phải đảm bảo những tiêu chí chất lượng như Hình thái (Appearance); Hương vị (Flavour); Giá trị dinh dưỡng (Nutritive value) và Độ an toàn (Safety)
2.3.2 Giá trị dinh dưỡng (Nutritive value) của rau và sự ảnh hưởng của điều kiện canh tác
Theo quan điểm của các chuyên gia dinh dưỡng, trái cây và rau quả không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày do hàm lượng chất khô thấp Rau quả có hàm lượng nước cao và ít carbohydrate (trừ khoai lang, khoai tây, sắn, và các loại củ khác) Rau cũng ít protein (trừ một số loại đậu) và lipid Nhưng rau quả rất có giá trị, đóng vai trò chủ yếu cung cấp các khoáng chất, chất chống oxy hóa và vitamin Các quốc gia khác nhau đã đưa ra lượng rau quả khuyến cáo cần được ăn hàng ngày cho người dân Tuy nhiên, khối lượng rau quả ăn theo khuyến cáo chỉ nên tham khảo Nhiều nghiên cứu đã cho thấy điều kiện trồng trọt, giống, khí hậu, và kỹ thuật canh tác có ảnh hưởng rất lớn đến hàm lượng vitamin và khoáng chất trong rau quả khi thu hoạch (Camelo, 2004) Vì vậy, hàm lượng vitamin, khoáng chất và các chống oxy hóa tính trên khối lượng rau có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện canh tác và biện pháp kỹ thuật, và do đó sẽ sai khác
so với các định mức khuyến cáo
Vitamin C, bao gồm axit ascorbic (AA) và acid dehydroascorbic (DHA), là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong nhiều loại rau Theo Lee and Kader (2000), hàm lượng vitamin C trong trái cây và rau quả có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như kiểu gen, điều kiện khí hậu trước thu hoạch, kỹ thuật canh tác, giai đoạn thu hoạch, phương pháp thu hoạch và xử lý sau thu hoạch Mặc d đã có nhiều nghiên cứu về hàm lượng AA của trái cây và rau, nhưng có ít thông tin về hàm lượng của cả 2 dạng vitamin C trong cùng một
Trang 34sản phẩm là AA và DHA Nghiên cứu của Albrecht et al.,(1991) cho thấy rau cải
có chứa hàm lượng AA và lưu huỳnh cao hơn các loại rau ăn lá Lượng phân bón chứa lưu huỳnh có tương quan chặt chẽ với hàm lượng AA của rau cải
Các điều kiện khí hậu có ảnh hưởng mạnh đến thành phần hoá học của cây trồng (Klein and Perry, 1982) Mặc dù ánh sáng không cần thiết cho việc tổng hợp AA trong thực vật, nhưng độ dài chiếu sáng và cường độ ánh sáng trong suốt mùa vụ có ảnh hưởng nhất định đến lượng AA hình thành AA được tổng hợp từ đường tạo thành từ quang hợp trong thực vật Vì vậy, các bộ phận được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời tối đa có chứa vitamin C cao hơn so với những bộ phận phía trong và bị che khuất trên cùng một cây Nói chung, cường độ ánh sáng thấp hơn trong quá trình phát triển của cây rau thì hàm lượng AA của mô thực vật thấp hơn (Harris, 2013) Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển, và do đó ảnh hưởng đến sự sinh tổng hợp và tích lũy các thành phần hóa học trong rau Theo Lee and Kader (2000), quả bưởi có nhiều vitamin C khi trồng ở nhiệt độ thấp (20-22 °C vào ban ngày và 11-13 °C vào ban đêm) so với nhiệt độ cao (30-35 °C vào ban ngày và 20-25 °C vào ban đêm) Bưởi được trồng
ở các khu vực ven biển California thường chứa nhiều vitamin C hơn so với trồng
ở khu vực sa mạc của California và Arizona
Phân bón cũng có ảnh hưởng đến hàm lượng vitamin của rau quả Augustin (1975) báo cáo rằng có sự suy giảm hàm lượng AA của một số giống khoai tây khi tăng lượng phân nitơ Trong đó, giống khoai tây Russet Burbank có hàm lượng AA giảm từ 130,7 mg/100g DW xuống còn 111,7 mg/100g DW; giống khoai tây Norgold có hàm lượng AA giảm từ 126,1 mg/100g DW xuống còn 119,17 mg/100g DW tương ứng với lượng phân đạm tăng từ 45 lên 225 kg N/ha Lisiewska and Kmiecik (1996) báo cáo rằng tăng nồng độ phân bón nitơ từ 80 lên 120 kg N/ha đã làm giảm 7% hàm lượng vitamin C trong súp lơ Sử dụng lượng phân nitơ cao làm giảm hàm lượng vitamin C trong cây cam, chanh, bưởi
và quýt, trong khi tăng phân chứa kali tăng hàm lượng AA đã được báo cáo bởi Nagy (1980) Dựa trên những báo cáo này, phân bón nitơ ở mức cao, dường như làm giảm hàm lượng vitamin C trong nhiều loại rau quả Sự tăng trưởng của thực vật thường được tăng cường bằng cách bón đạm, nên rất có thể có hiệu ứng pha loãng tương đối trong các mô thực vật đối với các chất dinh dưỡng Phân bón nitơ quá cao cũng làm hệ số tán cây vượt quá hệ số tối ưu và do đó có thể làm giảm cường độ ánh sáng dưới điểm bù của quang hợp và tích lũy AA trong các
Trang 35phần lá bị che khuất Sử dụng phân bón nitơ quá mức làm tăng nồng độ NO3 và đồng thời làm giảm lượng AA, có thể có tác động tiêu cực lên chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cây rau (Mozafar, 1993) Mặc dù nồng độ vitamin C bị giảm khi tăng lượng bón phân chứa nitơ trong rau xà lách không cuộn (Müller and Hippe, 1987), nhưng sự tương quan này ngược lại ở bắp cải trắng và xà lách
cuộn (Poulsen et al., 1995) Sự khác biệt này ở các loại rau khác nhau có thể là
do đặc điểm sinh trưởng khác nhau
Lượng mưa và nước tưới không thường xuyên có thể làm tăng nồng độ
vitamin C, protein, canxi, magiê và mangan (Poulsen et al.,, 1995) Hàm lượng
vitamin C của súp lơ thay đổi ngược với lượng mưa trung bình trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng và tăng lên khi cây bị thiếu nước nhẹ cũng được
báo cáo bởi Toivonen et al (1994) Hàm lượng vitamin C cao có thể đóng vai trò
như phản ứng chống lại hạn hán
Việc sử dụng các hóa chất nông nghiệp, như thuốc trừ sâu và các chất điều chỉnh tăng trưởng, có thể gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dinh dưỡng của trái
cây và rau Theo báo cáo của Liang et al (1996) sử dụng gibberellins có lợi cho
chất lượng trà xanh, như làm tăng hàm lượng vitamin C lên 18% Như vậy, có thể thấy với mức bón nitơ thấp và tưới ít thường xuyên hơn, có thể làm nồng độ vitamin C cao và nồng độ nitrate thấp
2.3.3 Độ an toàn (Safety) của cây rau và ảnh hưởng của điều kiện canh tác
An toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm chính và có thể được quan tâm từ rất sớm An toàn thực phẩm chính thức được FAO và WHO phát triển năm 1962, sau một giai đoạn chuẩn bị dài (Camelo, 2004) và được hầu hết các nước chấp nhận hoặc đưa vào danh sách tham khảo Các nguyên tắc này cũng áp dụng cho trái cây và rau Vào tháng 1 năm 1997, Tổng thống Hoa Kỳ đã công bố Sáng kiến
An toàn về Thực phẩm Điều này thúc đẩy một loạt các biện pháp được thực hiện bởi các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ Trong c ng năm đó, “Sáng kiến để đảm bảo
sự an toàn của trái cây và rau quả trong nước và nhập khẩu” đã được xuất bản Trong sáng kiến này, một loạt các khuyến nghị hoặc hướng dẫn được đưa ra đã dẫn tới việc phát triển của “Good Agricultural Practices (GAP”) hoặc Good Manufacturing Practices (GMPs) Mục tiêu chung là để đảm bảo rằng trái cây hoặc rau cho tiêu dùng, có nguồn gốc trong nước hoặc nước ngoài, phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và an toàn cao nhất Mặc dù không bắt buộc nhưng mục tiêu là giảm rủi ro về mặt sinh học bằng cách ngăn ngừa ô nhiễm thực phẩm và nâng
Trang 36cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát nếu nhiễm bẩn xảy ra Các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới sử dụng các nguyên tắc này để phát triển GAPs và GMPs của riêng mình (FAO, 2018) Việt nam cũng đã ban hành tiêu chuẩn VietGAP (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008a, b)
Theo Camelo (2004), trái cây và rau phải có mùi vị hấp dẫn, tươi, có hàm lượng dinh dưỡng và có ngoại hình tốt Bên cạnh những đặc điểm này, rau và quả cũng phải đảm bảo không gây nguy hiểm cho sức khoẻ Người tiêu dùng không
có cách nào để phát hiện sự hiện diện của các chất nguy hiểm đối với thực phẩm
và hoàn toàn phụ thuộc vào trách nhiệm của tất cả các thành viên trong chuỗi sản xuất và phân phối An toàn thực phẩm là không chứa các chất gây nguy hiểm cho sức khoẻ và đặc biệt quan trọng đối với trái cây và rau Sự hiện diện của dư lượng thuốc trừ sâu trên sản phẩm là mối quan tâm chính của người tiêu dùng Tuy nhiên, có nhiều chất gây ô nhiễm khác có thể nguy hiểm như sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh, độc tố của sinh vật và các chất độc hại, kim loại nặng, hàm lượng nitrate và một số chất khác
2.3.3.1 Sự ô nhiễm vi sinh vật có hại và ảnh hưởng của điều kiện canh tác đến
sự ô nhiễm này trên rau
Theo một số nghiên cứu, ba loại vi sinh vật có thể nhiễm vào trái cây và rau,
có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người: virus (ví dụ viêm gan A), vi khuẩn
(Salmonella spp., Escherichia coli, Shigella spp.) và các loại ký sinh trùng khác
Các độc tố nấm và nấm thường không gây ra vấn đề nghiêm trọng Điều này là do rau quả có sự phát triển của nấm thường được phát hiện và loại bỏ trước khi hình thành mycotoxins Trong hầu hết các trường hợp, vi khuẩn là nguyên nhân chính
cho các bệnh liên quan đến ăn trái cây và rau (Farnham et al., 2004)
Sản phẩm có thể bị ô nhiễm vi sinh vật thông qua các cơ chế phức tạp Do vậy, cách tốt nhất để có sản phẩm an toàn là ngăn ngừa ô nhiễm tại các khâu khác nhau trong suốt chuỗi sản xuất và phân phối (Bracken, 2000) Các thủ tục chặt chẽ về thực hành nông nghiệp tốt (theo tiêu chuẩn GAP) là những yếu tố quan trọng để thực hiện hệ thống đó Điều này cần được kết hợp với các hệ thống phân tích điểm phân tích điểm nguy hiểm (Analysis Critical Control Point) để xác định những điểm quan trọng mà ở đó các mối nguy an toàn thực phẩm phải được kiểm soát
Một số mầm bệnh ở người có trong môi trường tự nhiên Tuy nhiên, sự trầm tích (từ các chất thải do con người, động vật hoặc động vật hoang dã thải ra) là
Trang 37nguồn gây ô nhiễm chính cho sản phẩm rau thông qua tưới hoặc nước rửa Các vi sinh vật trong nước bề mặt (sông, hồ ) có thể đến từ việc đổ rác từ thượng nguồn chứa các chất thải từ các khu dân cư không được xử lý Nước ngầm cũng có thể bị
ô nhiễm từ bể tự hoại tràn qua đất vào tầng chứa nước Nếu chỉ có nước bị nhiễm bẩn thì tưới nhỏ giọt nước ngầm là hệ thống tưới duy nhất được đề nghị để tránh ô nhiễm các cây có phần ăn được trên mặt đất (Harris, 1998; Bracken, 2000)
Các nguyên nhân chính của ô nhiễm có thể bao gồm: phân động vật hoặc chất thải thải được sử dụng làm phân bón hữu cơ hoặc sự hiện diện của động vật trong khu vực sản xuất Vì vậy, phân chuồng nên được ủ làm phân ủ bằng biện pháp ủ “nóng” aerobically để đạt được nhiệt độ 60-80 °C trong tối thiểu là 15 ngày nhằm giết mầm bệnh Việc ủ phân “nguội” hoặc thông qua nuôi giun đất không đảm bảo rằng vi sinh vật đã bị vô hiệu hóa Nước thải và chất thải đô thị chỉ nên được sử dụng nếu có hệ thống khử trùng hiệu quả Ngoài ra, chủng loại sản phẩm cũng có ảnh hưởng: trong các loại rau có đặc tính axit thấp trong mô,
vi khuẩn có xu hướng chiếm ưu thế, trong khi quả chủ yếu bị nhiễm nấm Cây trồng gần mặt đất như dâu tây và rau ăn lá nói chung, dễ bị nhiễm bẩn bởi nước, đất, hoặc động vật khi so sánh với cây trồng leo hoặc cây cao Một số thành phần hóa học của các mô như axit hữu cơ, tinh dầu, chất màu, phytoalexins có tác dụng đối kháng và chống lại sự phát triển của vi sinh vật (Camelo, 2004)
Ngoài ra, sử dụng một số biện pháp không độc hại cũng làm giảm đáng kể
sự nhiễm vi sinh vật Nghiên cứu của (Reddy et al., 2000) về ảnh hưởng tốt của
việc xịt chitosan trước khi thu hoạch Thí nghiệm được tiến hành khi quả dâu tây được phun với 2, 4 và 6 g/L dung dịch chitosan khi trái cây chuyển sang màu đỏ Một đợt phun chitosan thứ hai được thực hiện sau 10 ngày Trái cây được chọn 5
và 10 ngày sau mỗi lần phun Quả thu hoạch từ cây phun chitosan đã được thử
nghiệm với mức độ gây thối của nấm Botrytis cinerea Chitosan làm giảm đáng
kể việc thối do nấm sau thu hoạch và duy trì chất lượng của quả so với đối chứng Tỉ lệ quả bị phân hủy giảm với nồng độ chitosan tăng lên Đồng thời, quả
từ cây phun chitosan có hàm lượng anthocyanin và axit có thể cao hơn quả từ các cây không được xử lý Phun chitosan với nồng độ 6g/L được thực hiện hai lần, cách nhau 10 ngày, bảo vệ trái cây khỏi bị phân hủy và giữ được chất lượng quả
ở mức chấp nhận được trong suốt thời gian bảo quản 4 tuần ở ở 3 °C
Trang 382.3.3.2 Sự ô nhiễm hóa chất và ảnh hưởng của điều kiện canh tác đến sự ô nhiễm này trên cây rau
Hóa chất nông nghiệp bao gồm chất diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, chất khử trùng, thuốc diệt chuột, chất điều hòa sinh trưởng, sáp, chất tẩy uế, chất phụ gia và tất cả các sản phẩm khác có tính chất hóa học được sử dụng trong quá trình sản xuất hoặc xử lý sau thu hoạch Trong đó, hóa chất BVTV là vấn đề rất đáng lo ngại vì đây là nguyên nhân chính và nguy hiểm nhất gây ngộ độc thực phẩm hiện nay
Hóa chất BVTV hay còn gọi là thuốc BVTV là những loại hóa chất bảo vệ cây trồng hoặc những sản phẩm bảo vệ mùa màng, là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hoặc các vật mang mầm bệnh Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loại sống cạnh tranh với cây trồng cũng như nấm bệnh cây Hóa chất BVTV là những hóa chất độc, có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại và cả cây trồng, vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp
Căn cứ vào bản chất hóa học của các loại hóa chất BVTV, chúng được phân chia thành các nhóm: clo hữu cơ, lân hữu và carbamat
- Hóa chất BVTV thuộc nhóm hợp chất Clo hữu cơ thuộc nhóm hóa chất BVTV tổng hợp, điển hình của nhóm này là DDT, Lindan, Endosulfan Hầu hết các loại hóa chất BVTV thuộc nhóm này đã bị cấm sử dụng
- Hóa chất BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ: Là các este của axit phosphoric Đây là nhóm hóa chất rất độc với người và động vật máu nóng, điển hình của nhóm này là Methyl Parathion, Ethyl Parathion, Mehtamidophos, Malathion Hầu hết các loại hóa chất BVTV trongnhóm này cũng đã bị cấm do độc tính của chúng cao Theo y văn dấu hiệu và triệu chứng nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật gốc photpho hữu cơ và cacbamat bao gồm: nhức đầu, choáng váng, cảm giác nặng đầu, nhức thái dương, giảm trí nhớ, dễ mệt mỏi, ngủ không ngon giấc, ăn kém ngon, chóng mặt Ở một số trường hợp, có rối loạn tinh thần và trí tuệ, giật nhãn cầu, run tay và một số triệu chứng rối loạn thần kinh khác
- Hóa chất BVTV thuộc nhóm Carbamat: Là các este của axit Carbamic có phổ phòng trừ rộng, thời gian cách ly ngắn, điển hình của nhóm này là Bassa, Carbosulfan, Lannate Cũng như nhóm lân hữu cơ, các triệu chứng nhiễm độc thuốc BVTV nhóm này là rất khó khăn, phần lớn các dấu hiệu lâm sàng mang tính chủ
Trang 39quan Các triệu chứng nhiễm độc gồm nhức đầu, choáng váng, dễ mệt mỏi, ngủ không ngon giấc, ăn kém ngon, chóng mặt (Tổng cục Môi trường, 2015)
Có thể thấy, thuốc BVTV có tính rất độc đối với sức khỏe con người Tuy nhiên trong quá trình canh tác hiện nay không thể tránh khỏi việc sử dụng thuốc BVTV Vì vậy, để đảm bảo tính an toàn của rau xanh cần tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc không để tồn dư trong sản phẩm
Mặc dù các loại nông dược ngày nay ít độc hơn, các sản phẩm phân hủy của chúng nói chung là vô hại và đã có các phương pháp thí nghiệm tốt hơn trong việc phát hiện sự tồn dư của chúng Ngoài ra, người sản xuất đã có ý thức tốt hơn
về việc sử dụng, tuân thủ thời gian cách ly trước khi thu hoạch và tuân thủ liều lượng sử dụng… (Camelo, 2004)
• Sau khi sử dụng thuốc BVTV, lượng thuốc trừ sâu sẽ lưu lại trên cây trồng
và lượng thuốc này có thể tiếp tục tiêu diệt sâu bệnh hại trên cây trồng
• Thông thường các dư lượng bị phân huỷ do tác động của không khí, nước,
vi sinh vật và cây trồng
• Tuy nhiên, nếu cây trồng được thu hoạch sớm và có thuốc BVTV được sử dụng quá nhiều (có nghĩa là dư lượng trong sản phẩm nhiều) có thể gây hại cho người và gia súc khi tiêu thụ sản phẩm
• Các chất độc của thuốc BVTV cần phải có thời gian để phân huỷ thành các chất ở mức không độc cho người và gia súc Khoảng thời gian ngắn nhất từ khi phun thuốc lần cuối đến khi thu hoạch cấn thiết để đảm bảo thuốc BVTV có
đủ thời gian phân hũy tối đa đến mức độ cho phép và không còn gây ra tác động xấu đến sức khoẻ của người và động vật khi tiêu thụ nông sản gọi là thời gian cách ly
• Thời gian cách ly được xem là số ngày từ khi phun thuốc lần cuối đến khi thu hoạch nông sản Điều này được hiểu là khi cây trồng được thu hoạch tại thời điểm này cây đã bị cắt đứt sự sống (không còn hoạt động sống), có nghĩa là thời gian cách ly không bao gồm thời gian mà cây trồng đã bị cắt đứt sự sống bởi vì các dư lượng từ các sản phẩm nông hoá được sử dụng để kiểm soát dịch hại chỉ được chuyển hóa và bị phá vỡ bởi thực vật sống
• Thời gian cách ly có thể khác nhau tùy thuộc vào cây trồng đã được phun thuốc, các sản phẩm nông dược đang được sử dụng và phụ thuộc vào tốc độ phân
Trang 40hũy của thuốc Cùng một loại nông dược có thể được đăng ký để sử dụng trên nhiều loại cây trồng nhưng thời gian cách ly sẽ khác nhau cho mỗi loại cây trồng
• Đối với lần phun thuốc cuối nên sử dụng những loại thuốc có thời gian cách ly thấp chẳng hạn như một số hoạt chất nhất định của pyrethroids như cypermethrin and deltamethrin hoặc một vài hoạt chất của organo-phosphate (OP) Nhưng để đảm bảo mức độ an toàn trong sản phẩm rau quả, việc sử dụng hóa chất nông nghiệp phải nằm trong khuôn khổ GAPs để đảm bảo an toàn tối đa
và giảm thiểu rủi ro đối với sức khoẻ của người tiêu dùng Các sản phẩm cụ thể được sử dụng để kiểm soát côn trùng hoặc bệnh tật theo cần tuân theo các chỉ dẫn của nhà sản xuất, đặc biệt là thời gian cách ly từ lúc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến khi thu hoạch (FAO, 2018)
2.3.3.3 Sự ô nhiễm kim loại nặng và ảnh hưởng của điều kiện canh tác đến sự
ô nhiễm này trên rau
Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3, có số nguyên tử cao và thường thể hiện tính kim loại ở nhiệt độ phòng Kim loại nặng được chia làm 3 loại: các kim loại độc (Hg, Cr, Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, As, Co, Sn…), những kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru…), các kim loại phóng xạ (U, Th,
Ra, Am…)
Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ kim loại nặng trong thực vật bao gồm khí hậu, sự lắng đọng trong không khí, tính chất của đất trồng cây và mức độ trưởng thành của cây vào thời điểm thu hoạch Bản chất của đất là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định hàm lượng kim loại nặng trong rau Tuy nhiên, hàm lượng kim loại nặng trong cây trồng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như sử dụng phân bón, bùn thải, tưới bằng nước thải hoặc ôn nhiễm từ khí thải Khi kim loại nặng có nguồn gốc từ nguồn con người, có thể ảnh hưởng mạnh đến sự phân bố của chúng và rất dễ nhiễm bẩn vào nông sản khi
đất và nước ô nhiễm được sử dụng làm đất nông nghiệp (Muchuweti et al.,
2006) Như vậy, hiểu biết về sự phân bố và trao đổi của kim loại nặng trong vùng
rễ (rhizosphere) là rất cần thiết vì rễ quyển là nơi quan trọng nhất trong quá trình
xâm nhập các kim loại nặng vào chuỗi thức ăn (Lorenz et al., 1994)
Nghiên cứu của Huang et al (2007) khảo sát về nồng độ Hg, Cd, Pb, Zn,
Cu, As, Ni, và Cr trong các mẫu đất, ngũ cốc và rau quả từ quận Yangzhong, Trung Quốc cho thấy, lớp đất mặt có hàm lượng cao các kim loại nặng Hg, Cd,
Cu, Pb, Zn, và As Mức Cd và Hg cao được quan sát ở hầu hết các loại đất nông