1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Giải pháp xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn

97 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 633 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài. Cùng với xu hướng phát triển chung trong lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, giảm tỷ trọng tín dụng. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng hiện tại và trong tương lai tín dụng vẫn đem lại nguồn thu chính cho các ngân hàng này. Việc kiểm soát chất lượng tín dụng là một phần không thể thiếu trong quản trị ngân hàng với mục tiêu đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn và hiệu quả. Chính vì thế, làm thế nào để hạn chế, quản lý và xử lý nợ xấu đang là một đề tài được các nhà quản trị ngân hàng ngày một quan tâm. Ngày nay, nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên, các ngân hàng thương mại cũng phải luôn mở rộng quy mô cho vay, điều đó có nghĩa là rủi ro cho vay cũng phát sinh nhiều hơn và nợ xấu có thể tăng lên nhiều hơn. Hoạt động cho vay chiếm trên một nửa thu nhập của Agribank Lạng Sơn và có tác động lớn tới nguồn thu của các hoạt động khác như: hoạt động thanh toán, tài trợ thương mại... Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Agribank Lạng Sơn vẫn tồn tại nhiều rủi ro và nợ xấu do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong những năm qua, nợ xấu trong cho vay đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Làm thế nào để hạn chế, quản lý và xử lý được nợ xấu là một vấn đề quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của Agribank. Thời gian qua, NHNN Chi nhánh Lạng Sơn đã chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo các ngân hàng trên địa bàn thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm được phê duyệt theo Quyết định 202/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lạng Sơn như: Tăng trưởng tín dụng đảm bảo chất lượng Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn . Góp phần đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn” 2. Mục tiêu nghiên cứu. - Mục tiêu tổng quát Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về nợ xấu - Mục tiêu cụ thể Phân tích thực trạng nợ xấu Agribank chi nhánh Lạng Sơn Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Agribank Lạng Sơn trong giai đoạn 2015-2017. 4. Phương pháp nghiên cứu. Quy trình nghiên cứu: được thực hiện qua 2 bước là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ là đặt ra những bảng câu hỏi, phỏng vấn như: Nợ xấu là gi? Nội dung phòng ngừa và xử lý nợ xấu? Tiêu chí đánh giá kết quả phòng ngừa và xử lý nợ xấu? - Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu? - Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Agribank Lạng Sơn trong những năm 2015-2017? Những phương pháp quản lý nợ xấu nào đang được sử dụng? Tính hiệu quả của các phương pháp này? Những hạn chế và nguyên nhân trong việc áp dụng các phương pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại Agribank Lạng Sơn trong những năm qua? - Các giải pháp nào mà Agribank Lạng Sơn cần thực hiện nhằm phòng ngừa và xử lý nợ xấu. Còn nghiên cứu chính thức là tập trung khai thác, thu thập số liệu trực tiếp từ Agribank Lạng Sơn Số liệu thu thập, xử lý: sau khi có số liệu từ nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức thì sẽ tiến hành xử lý số liệu, xem xét, đánh giá về quá trình xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn Các phương pháp cụ thể là: phương pháp tổng hợp, thông kê, phân tích diễn giải và quy nạp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. 5. Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn Kết quả của đề tài nghiên cứu này là nguồn cung cấp thông tin hữu ích cho Agribank Lạng Sơn, và các TCTD khác đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Nghiên cứu cung cấp cho ban lãnh đạo Agribank Lạng Sơn các thông tin thiết thực về nợ xấu trong cho vay ngắn hạn, những ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu, quá trình xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp các cán bộ phụ trách có sự xem xét đầy đủ hơn về những hạn chế trong các khâu thẩm định, cấp tín dụng, thu hồi nợ, quá trình xử lý nợ xấu. Từ đó, giúp cho ngân hàng có những biện pháp khắc phục, cải thiện tình hình nợ xấu tại ngân hàng, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng về lâu dài, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong thời đại của kinh tế hội nhập và phát triển. 6. Kết cấu của đề tài. Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo…, thì bài khóa luận gồm 3 chương chính: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn Chương 4: Giải pháp nhằm tăng cường xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-NGUYỄN HOÀNG NAM

GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU

CỦA AGRIBANK LẠNG SƠN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

MÃ SỐ: 8340101

Người hướng dẫn khoa học:

PSG.TS BÙI VĂN HƯNG

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

Tôi xin cam  đoan  bài luận văn cao học này là do tự bản thân thực hiện có sự

hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu củangười khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp, trích dẫn sử dụng trong bài viết là nhữngthông tin xác thực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Học viênNguyễn Hoàng Nam

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

viên Viện Đào tạo Sau đại học, Quản trị kinh doanh - trường Đại học Kinh tế Quốcdân, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS T.S Bùi Văn Hưng cùng các anhchị, ban lãnh đạo của Agribank Lạng Sơn

Trang 4

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

TT-NHNN Thông tư - Ngân hàng Nhà nước

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.

Cùng với xu hướng phát triển chung trong lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngân hàngthương mại Việt Nam đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình theo hướng tăng tỷtrọng dịch vụ, giảm tỷ trọng tín dụng Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng hiện tại

và trong tương lai tín dụng vẫn đem lại nguồn thu chính cho các ngân hàng này Việc kiểm soát chất lượng tín dụng là một phần không thể thiếu trong quản trị ngânhàng với mục tiêu đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn và hiệu quả Chính vì thế,làm thế nào để hạn chế, quản lý và xử lý nợ xấu đang là một đề tài được các nhàquản trị ngân hàng ngày một quan tâm Ngày nay, nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để

mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ vàcác nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên, các ngân hàng thương mạicũng phải luôn mở rộng quy mô cho vay, điều đó có nghĩa là rủi ro cho vay cũngphát sinh nhiều hơn và nợ xấu có thể tăng lên nhiều hơn

Hoạt động cho vay chiếm trên một nửa thu nhập của Agribank Lạng Sơn và có tácđộng lớn tới nguồn thu của các hoạt động khác như: hoạt động thanh toán, tài trợthương mại Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Agribank Lạng Sơn vẫn tồn tạinhiều rủi ro và nợ xấu do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong những năm qua, nợxấu trong cho vay đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của chinhánh Làm thế nào để hạn chế, quản lý và xử lý được nợ xấu là một vấn đề quantrọng trong sự tồn tại và phát triển của Agribank Thời gian qua, NHNN Chi nhánhLạng Sơn đã chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo các ngân hàng trên địa bànthực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm được phê duyệt theo Quyết định202/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lạng Sơn như:

Tăng trưởng tín dụng đảm bảo chất lượng

Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn

Góp phần đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Giải pháp xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn”

2 Mục tiêu nghiên cứu.

- Mục tiêu tổng quát

Trang 8

Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về nợ xấu

- Mục tiêu cụ thể

Phân tích thực trạng nợ xấu Agribank chi nhánh Lạng Sơn

Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu củaAgribank Lạng Sơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến nợ xấu và xử lý nợ xấu tạiAgribank Lạng Sơn trong giai đoạn 2015-2017

4 Phương pháp nghiên cứu.

Quy trình nghiên cứu: được thực hiện qua 2 bước là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứuchính thức Nghiên cứu sơ bộ là đặt ra những bảng câu hỏi, phỏng vấn như: Nợ xấu

là gi? Nội dung phòng ngừa và xử lý nợ xấu? Tiêu chí đánh giá kết quả phòng ngừa

và xử lý nợ xấu? - Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu? - Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Agribank Lạng Sơn trong những năm 2015-2017? Những phương pháp quản lý nợ xấu nào đang được sử dụng? Tính hiệuquả của các phương pháp này? Những hạn chế và nguyên nhân trong việc áp dụng các phương pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại Agribank Lạng Sơn trong những năm qua? - Các giải pháp nào mà Agribank Lạng Sơn cần thực hiện nhằm phòng ngừa và xử lý nợ xấu Còn nghiên cứu chính thức là tập trung khai thác, thu thập số liệu trực tiếp từ Agribank Lạng Sơn

Số liệu thu thập, xử lý: sau khi có số liệu từ nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chínhthức thì sẽ tiến hành xử lý số liệu, xem xét, đánh giá về quá trình xử lý nợ xấu củaAgribank Lạng Sơn

Các phương pháp cụ thể là: phương pháp tổng hợp, thông kê, phân tích diễn giải vàquy nạp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn

Kết quả của đề tài nghiên cứu này là nguồn cung cấp thông tin hữu ích choAgribank Lạng Sơn, và các TCTD khác đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.Nghiên cứu cung cấp cho ban lãnh đạo Agribank Lạng Sơn các thông tin thiết thực

Trang 9

về nợ xấu trong cho vay ngắn hạn, những ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu, quá trình

xử lý nợ xấu Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp các cán bộ phụ trách có sự xem xétđầy đủ hơn về những hạn chế trong các khâu thẩm định, cấp tín dụng, thu hồi nợ,quá trình xử lý nợ xấu Từ đó, giúp cho ngân hàng có những biện pháp khắc phục,cải thiện tình hình nợ xấu tại ngân hàng, góp phần lành mạnh hóa tình hình tàichính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng về lâu dài, góp phầnnâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong thời đại của kinh tế hội nhập vàphát triển

6 Kết cấu của đề tài.

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo…, thì bài khóaluận gồm 3 chương chính:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài

Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ xấu của ngân hàng

thương mại

Chương 3: Thực trạng xử lý nợ xấu của Agribank Lạng Sơn

Chương 4: Giải pháp nhằm tăng cường xử lý nợ xấu của Agribank Lạng

Sơn

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Luận văn thạc sỹ của Đào Ngọc Chung (2015), Xử lý nợ xấu tại ngân hàng thươngmại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Bắc Hà Nội, Đại học Kinh tếQuốc dân Tác giả trình bày khái quát về rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân

Trang 10

hàng thương mại và đi sâu nghiên cứu nội dung về nợ xấu và xử lý nợ xấu của ngânhàng thương mại Tiếp theo, tác giả đi sâu phân tích thực trạng về xử lý nợ xấucủa BIDV Chi nhánh Bắc Hà Nội qua các năm từ 2012-2014 Tác giả phân tíchthực trạng phân loại nợ, phân tích cơ cấu nhóm nợ; nợ xấu theo thành phần kinh tế,

nợ xấu theo trích lập dự phòng rủi ro Từ đó, tác giả đánh giá các nguyên nhândẫn đến nợ xấu tại ngân hàng Từ những phân tích có cơ sở tại chương 2 và địnhhướng xử lý nợ xấu của BIDV Chi nhánh Bắc Hà Nội trong thời gian tới và đưa

ra một số nhóm giải pháp và kiến nghị đối với các đơn vị liên quan

Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) nghiên cứu giải pháp xử lý nợxấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, luận văn chỉ mớiđưa ra phương pháp xử lý nợ xấu, chưa nói đến đo lường nợ xấu, phòng tránh nợxấu

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Huy Hoàng (2007) với tên đề tài “ Xử lý nợ xấu tạiNgân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” Luận văn của tác giả đã làm nổi bật thựctrạng nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu thông qua các số liệu cụ thể thuthập được từ ngân hàng, từ đó tác giả đã đưa ra những giải pháp cụ thể gắn liền vớiđặc điểm kinh doanh của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) với tên đề tài “ Luận cứ khoahọc về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam’”

Đề tài của tác giả đã đúc kết lại lý thuyết cơ bản về các mô hình quản lý rủi ro tíndụng Tác giả Huyền Diệu đã luậngiải một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản vềquản lý rủi ro tín dụng và xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng từ đó phân tíchcác điều kiện thực tiễn để áp dụng tại các NHTM Việt Nam Gần đây nhất, có mộtcông trình được bảo vệ rất thành công với những đóng góp thực sự có giá trị chohoạt động quản lý nợ xấu NHTM Việt Nam, đó là luận án tiến sỹ của tác giảNguyễn

Thị Hoài Phương ( 2012) với tên đề tài “ Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mạiViệt Nam” Đề tài của tác giả lựa chọn cách tiếp cận việc quản lý nợ xấu ngân hàngtheo tiêu chuẩn quốc tế, Hiệp ước Basel II được sử dụng như một chuẩn mực trongviệc quản lý nợ xấu

Trang 11

Bài viết của Huznh Thế Du (2004) trong chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,

TP Hồ Chí Minh đã đưa ra một số mô hình xử lý nợ xấu trên thế giới: Gồm mô hình

xử lý nợ tập trung VD: Hoa Kz và các nước Đông Á như: Thái Lan, Indonesia, HànQuốc và mô hình xử lý nợ phi tập trung VD: Hungary, Ba Lan Tác giả phân tíchrất kỹ về mặt ưu - nhược điểm của từng loại mô hình Ngoài ra, tác giả còn có sự sosánh các điểm tương đồng về xuất phát điểm và quá trình phát triển của hệ thốngNHTM Việt Nam và hệ thống NHTM Trung Quốc đồng thời cũng nghiên cứu thựctrạng về nguyên nhân, quá trình phát sinh và xử lý nợ xấu ở Việt Nam và TrungQuốc trong các năm 2003 và 2004 Nghiên cứu của tác giả được kết luận với nhữngđánh giá và biện pháp trong việc xử lý nợ của cả hai quốc gia này Như vậy, vớinghiên cứu của tác giả Huznh Thế Du, vấn đề về quá trình xử lý nợ xấu, cũng nhưxây dựng mô hình quản lý nợ xấu đối với các NHTM Việt Nam đã được đề cập.Bài viết của Nguyễn Đào Tố (2008) trên tạp chí Ngân hàng, số 5 nhấn mạnh tới sựcần thiết phải ứng dụng những nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu, từ đó xây dựng

mô hình quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM Việt Nam Bài viết của HuznhThị Phương Thảo (2014), trên tạp chí Tài chính - Bảo hiểm, đã đề cập tới việc ViệtNam không nằm trong danh sách các quốc gia thành viên của Uỷ Ban Basel, tức làkhông chịu áp lực phải vận dụng các quy định an toàn của hiệp ước này, song việcvận dụng các hiệp ước Basel trong hoạt động quản trị Ngân hàng nước ta hết sức ýnghĩa và cần thiết Các bài viết này có ưu điểm là đã tiếp cận cách quản lý nợ xấuhiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là ứng dụng các nguyên tắc của Ủy banBasel về Giám sát ngân hàng

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Tuệ (2009) “ Tăng cường xử lý nợ xấu tạingân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” Tác giả đã tìm ra những hạn chế, tồn tạitrong công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng và nguyên nhân của hạn chế đó bằng việcphân tích các số liệu về nợ xấu Từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường xử lý nợxấu cho ngân hàng

Luận văn thạc sỹ của Hoàng Dương (2009)“ Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ

có vấn đề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An”, Đề ánPhan Đức Tiến (2009) “ Giải pháp thu nợ tồn đọng khó thu tại Ngân hàng Nông

Trang 12

nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An” Như vậy, mới chỉ có một vài nghiêncứu quan tâm đến vấn đề nợ xấu tại Agribank mà cụ thể là ở chi nhánh tỉnh NghệAn: Trong khi đó nợ xấu phát sinh trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh có xuhướng tăng, các khoản vay tiềm ẩn rủi ro cao, quan tâm về nợ xấu chưa đúng mức.

Để đảm bảo an toàn tín dụng, cần có công trình nghiên cứu, hạn chế phát sinh nợxấu và xử lý nợ xấu nhiều hơn nữa

Nguyễn Thị Ngọc (2014), Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạtđộng mua hàng đá Granite và đá Marble của công ty TNHH đầu tư xây dựng vàThương mại An Thái, Đại học Thương Mại Luận văn đã phân tích được những rủi

ro, có dẫn chứng cụ thể về rủi ro trong hoạt động mua hàng Từ đó, đã đưa ra cácgiải pháp phòng ngừa,hạn chế rủi ro trong hoạt động mua hàng tại công ty TNHHđầu tư xây dựng và Thương mại An Thái

Nguyễn Văn Tuyên( 2017), Những giải pháp hạn chế rủi o tín dụng tại ngân hàngTMCP đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu,Đại học Bà Rịa- Vũng Tàu Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng vàthực tế tại ngân hàng đã phân tích được thực trạng quản trị rủi ro tại ngân hàngBIDV- chi nhánh Phú Mỹ, có sự khảo sát về nghiệp vụ giành cho nhân viên ngânhàng, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của quản trị rủi ro tại ngân hàngBIDV- chi nhánh Phú Mỹ Đưa ra được nhiều giải pháp hay và sáng tạo nhằm hạnchế, khắc phụ điểm yếu của công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng BID- chinhánh Phú Mỹ

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Nợ xấu của NHTM.

2.1.1 Khái niệm nợ xấu và tác hại của nó.

Trong các sách giáo khoa tài chính nước ngoài Nợ xấu được hiểu là cáckhoản nợ hầu như không có khả năng thanh toán và bắt bộc phải xử lý bằng búttoán xóa nợ

Nợ xấu theo khoản 6 Điều 2 của Quy ñịnh về phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để XLRR tín dụng trong hoạt ñộng ngân hàng của TCTD ban hành

Trang 13

kèm theo Quyết ñịnh 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam

“là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5)”

Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thuhồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Đối vớicác ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường làcác doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗhoặc phá sản,

Các khoản nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của hoạt động tín dụng cóthể gây cho NHTM rủi ro đọng vốn (do khách hàng trả chậm) hoặc rủi ro mất vốn(do khách hàng không trả nợ)

Như vậy có thể thấy nợ xấu thực chất là khoản tín dụng được cấp ra nhưngkhông thu hồi được theo thỏa thuận Đó chính là mối quan hệ tín dụng không hoànhảo, trước hết nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn và tínhhoàn trả, gây nên sự đổ vỡ long tin của người cấp tín dụng đối với người nhận tíndụng

Nợ được ngay lập tức bằng văn bản của tín dụng con nợ tài khoản và do đó loại bỏbất kỳ số dư còn lại trong tài khoản đó Nợ xấu đại diện cho tiền bị mất do mộtdoanh nghiệp là lý do tại sao nó được coi là một khoản chi phí

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu Quan điểm về nợ xấ u khác nhau ởcác quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thìquan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt Nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTMthì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời haynhững khoản cho vay không còn hoạt động (NPLs: non - performing loans) Nhữngkhoản cho vay trở nên không sinh lời khi người vay dừng việc thanh toán và khoảncho vay này bắt đầu bị vỡ nợ

Định nghĩa về nợ xấu đã được IMF năm 2005 đưa ra như sau:

“Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãivà/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến

90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán

Trang 14

dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầyđủ”

Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i):quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ Với quan điểm này, nợxấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của kháchhàng Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ,hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ

Như vậy, quan điểm về nợ xấu của IMF dựa trên kết quả thu hồi nợcủa ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ Đâyđược coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới

Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV)

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của thống đốc NHNN ngày 21/1/2013 vềviệc Quy định phân loại tài sản có, mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòngrủi ro (DPRR) trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh nước ngoàithì nợ xấu được định nghĩa tại Điều 3 như sau:

“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêuchuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Các nhóm

nợ được phân loại theo Điều 10 và Điều 11 trong Quyết định này là:

- Phân loại nợ theo Điều 10 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ( Nhóm 3: thời gian quá hạn từ 91 - 180 ngày, Nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 -

360 ngày, Nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày)

- Phân loại nợ theo Điều 11 lại chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng.( Nhóm 3: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng(TCTD), đánh giá là không có khảnăng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất, Nhóm 4: Các khoản

nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, Nhóm 5: Các khoản nợ đượcTCTD đánh giá là không còn có khả năng thu hồi, mất vốn)

Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trênhai yếu tố: (i): đã quá hạn trên 91 ngày hoặc (ii): khả năng trả nợ đáng lo ngại” Tuynhiên, việc các NHTM Việt Nam tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả

Trang 15

năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ theo Điều 10 hay Điều 11 củaThông tư số 02/2013/TT-NHNN

Với quan điểm trên thì theo tác giả, nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năngtrả nợ của khách hàng Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn, hoặc thậm chí mớicho vay, nhưng có các dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay làđáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu

2.1.2 Phân loại nợ xấu và ý nghĩa

Nếu vay ngân hàng trong quá trình trả nợ mà không có khả năng thanh toán, hay trảchậm thì bị coi là nợ xấu của ngân hàng Hiện nay ngân hàng chia làm 5 nhóm nợxấu tùy theo mức độ và thời gian thanh toán chậm:

+  Nhóm 1: Dư nợ đủ tiêu chuẩn ( Không quá hạn từ 1 đến dưới 10 ngày)

+  Nhóm 2: Nợ nần cần chú ý (Nợ từ 10 đến dưới 90 ngày)

+  Nhóm 3: Dư nợ dưới tiêu chuẩn (trên 90 đến 180 ngày)

+  Nhóm 4: Dư nợ có nghi ngờ (Từ 181 đến 360 ngày)

+  Nhóm 5: Dư nợ có khả năng mất vốn (nợ quá hạn trên 360 ngày)

Đối với nợ nhóm 1 và nhóm 2 thì nhiều ngân hàng vẫn xét duyệt cho vay thế chấptuy nhiên vẫn bị nhiều lý do khắc khe và đối với nợ từ nhóm 3 thì khó có thể đượccấp vốn từ các ngân hàng

Nợ quá hạn là các khoản nợ quá thời hạn trả theo hợp đồng tín dụng bao gồm nợnhóm 2,3,4,5 Như vậy nợ quá hạn được coi như nợ xấu nếu dư nợ dưới tiêu chuẩn (rơi vào nhóm 3)

Với những người đi vay bị nợ xấu sẽ được lưu trên hệ thống CIC và thông tin này

sẽ được lưu hành chung cho tất cả các ngân hàng tra cứu thông tin

2.1.3 Hậu quả của nợ xấu

a) Đối với Ngân hàng thương mại

- Nợ xấu xảy ra làm phát sinh tăng chi phí, giảm lợi nhuận ngân hàng: khicác khoản cho vay phát sinh nợ xấu, việc đầu tiên các ngân hàng phải làm là tìm cácbiện pháp để thu hồi nợ Quá trình thu hồi nợ xấu vừa làm mất thời gian do phátsinh thêm nhiều công việc cho cán bộ ngân hàng, vừa phát sinh thêm các khoản chiphí cho việc thu hồi nợ Đối với các khoản nợ phức tạp và liên quan đến nhiều bên

Trang 16

thì thời gian để thu hồi được nợ càng kéo dài và chi phí càng tốn kém Như vậy, đểthu hồi được các khoản nợ xấu, ngân hàng sẽ phải chấp nhận hy sinh một phần lợinhuận của mình để trang trải chi phí cho việc thu hồi nợ (nói theo cách khác là tăngchi phí quản lý, từ đó làm giảm lợi nhuận) Ngoài ra, các khoản nợ xấu không thuđược sẽ làm giảm lợi nhuận trong hoạt động của ngân hàng.

- Nợ xấu xảy ra làm mất cân đối dòng tiền, tiềm ẩn nguy cơ mất khả năngthanh toán: khi ngân hàng không thu hoặc chậm thu được vốn và lãi cho vay, trongkhi ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động từ tổ chức và dân cư đểcho vay theo thời hạn đã xác định Điều này có thể dẫn tới tình trạng ngân hàng mấtcân đối thu chi tạm thời trong thời gian ngắn Nếu tình trạng này xảy ra đối với cáckhoản nợ nhỏ lẻ, cá biệt và không thường xuyên thì mức độ ảnh hưởng đối với ngânhàng là nhỏ, không đáng kể Tuy nhiên, nếu tình trạng chậm trả hoặc không trảđược nợ của khách hàng kéo dài và mang tính đồng loạt với quy mô lớn thì mức độảnh hưởng đến khả năng cân đối dòng tiền, cân đối thu chi là rất lớn, ngân hàng cóthể phải đối mặt với tình trạng mất khả năng thanh toán

- Nợ xấu xảy ra làm giảm sút năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng: nhưbất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào, khi rủi ro và tổn thất xảy ra, hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng, đôi khi bị giảm sút nghiêm trọng Ngânhàng cũng vậy, nợ xấu làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả,thậm chí không còn hiệu quả, năng lực tài chính giảm sút Ngân hàng buộc phải thuhẹp quy mô hoạt động làm cho uy tín, sức cạnh tranh của ngân hàng hạn chế

b) Đối với khách hàng

- Đối với khách hàng vay: như đã nêu trên, khi một khoản nợ xấu xảy ra,ngân hàng mất đi cơ hội thực hiện khoản vay mới Điều này cũng đồng nghĩa vớiviệc người đi vay mất cơ hội tiếp cận với khoản vay của ngân hàng Nợ xấu cànglớn, ngân hàng càng thu hẹp quy mô và đối tượng cho vay, thận trọng hơn trong chovay Như vậy, người đi vay sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trong tiếp cận vốn vay,không có nguồn vốn để đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh hay tiêu dùng Đốivới các chủ thể vay trực tiếp gây ra nợ xấu (là người chậm trả hoặc không trả nợ) thìkhả năng tiếp tục được vay từ chính ngân hàng đó hay ngân hàng khác là rất khó

Trang 17

khăn, thậm chí không thể vay tiếp do hệ thống ngân hàng sẽ có những cảnh báo đốivới các đối tượng vay này.

- Đối với khách hàng tiền gửi: các ngân hàng huy động vốn từ các chủ thểcho vay để thực hiện hoạt động cho vay Khi hoạt động cho vay không đem lại hiệuquả, ngân hàng không thể thu hồi lại được gốc và lãi của khoản vay, ngân hàng phải

sử dụng nguồn vốn tự có của mình để trả lại cho người gửi tiền Đến mức độ nào

đó, khi nguồn vốn của chính ngân hàng cũng không thể bù đắp nổi cho tổn thất dorủi ro tín dụng gây ra, ngân hàng mất khả năng thanh toán và người gửi tiền phải đốimặt với nguy cơ không thể thu hồi lại vốn đã gửi ngân hàng

2.2 Quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.

2.2.1 Khái niệm quản lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.

Hoạt động cho vay của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro và khả năngphát sinh nợ xấu là một biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng Nợ xấu phát sinh sẽgây hậu quả không nhỏ không chỉ đến hoạt động ngân hàng mà còn tác động đến cảnền kinh tế Vì thế, cần có những biện pháp ngăn ngừa rủi ro và xử lý tổn thất làviệc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín dụng ngân hàng nóichung và hoạt động cho vay nói riêng

Xuất phát từ tầm quan trọng và hậu quả mà nợ xấu có thể mang lại, việcquản lý nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm và đề ra những yêu cầu cụ thể

Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về nợ xấunhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững

2.2.2 Nội dung quản lý nợ xấu

2.2.2.1 Xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu

Việc xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu có vai trò quan trọng trong quản lý nợ xấu Chỉtiêu về nợ xấu không chỉ giúp định hướng mà còn có tác động trực tiếp đến công tác

xử lý nợ xấu phát sinh

Ban giám đốc cùng Phòng Tín dụng sẽ xây dựng những chỉ tiêu về nợ xấu

cho một thời kỳ hoặc một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)trên cơ sở nền kinh tế vĩ mô, quy mô tín dụng, cơ cấu ngành và đặc điểm về nguồnnhân lực của ngân hàng Tùy điều kiện và mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu về nợ xấu có thể

Trang 18

được xây dựng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng Khi xây dựng các chỉ tiêu về nợxấu xong thì toàn bộ các phòng ban trong ngân hàng sẽ phải chấp hành và thực hiệnđúng yêu cầu.

Chỉ tiêu về nợ xấu cần đảm bảo các nội dung định lượng (tỷ lệ phần trăm sovới tổng dư nợ, doanh số nợ xấu phát sinh) và định tính (định hướng theo ngành,theo thời gian, theo địa bàn…)

+ Khách hàng tỏ ra không đáng tin: Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng,việc khách hàng không giữ uy tín sẽ là một dấu hiệu rõ nét tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu.Khả năng quản lý

+ Bằng chứng phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ công ty, đặc biệt là trong độingũ cán bộ quản lý: Việc xảy ra mâu thuẫn giữa những người điều hành có thể ảnhhưởng không nhỏ đến tình hình kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu để trả

nợ, tiềm ẩn nợ xấu

+ Nghỉ ốm dài hoặc bất ngờ của những nhân sự chủ chốt, mất các nhà quản

lý cấp cao: Sự thay đổi bất ngờ và bất thường của đội ngũ cán bộ quản lý là dấuhiệu cảnh báo hoạt động kinh doanh có sự thay đổi theo chiều hướng bất lợi hoặc có

sự vi phạm pháp luật

+ Tin đồn bất lợi về doanh nghiệp: Việc phát sinh tin đồn bất lợi, dù đúnghay không đúng cũng sẽ có những ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như

Trang 19

uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nợ xấu.+ Đầu tư vào lĩnh vực ngoài kinh nghiệm, chuyên môn, thiếu nhận biết về vịtrí của công ty trên thị trường hoặc có vấn đề về cạnh tranh: Trong thời kỳ hội nhậpkinh tế sâu rộng, việc kinh doanh mạo hiểm cũng như không nhận biết được điểmmạnh, điểm yếu của mình sẽ không thể giúp doanh nghiệp phát triển mở rộng hay ítnhất là giữ vững vị thế hiện có của mình.

Hoạt động kinh doanh

+ Có hoạt động pháp lý chống lại khách hàng, bao gồm cả những khó khănvới cơ quan thuế hoặc hải quan : Việc vi phạm những quy định của pháp luật, ngay

cả những lỗi đối với việc kê khai thuế, hải quan sẽ ảnh hưởng tới quyền được hoạtđộng kinh doanh của khách hàng theo quy định của pháp luật, có thể phải ngừnghoạt động đối với những vi phạm nghiêm trọng

+ Các nhà cung cấp, nhà phân phối lớn thay đổi chính sách bán, mua hàng :Việc thay đổi chính sách của các đối tác, đặc biệt là đối tác lớn sẽ ảnh hưởng khôngnhỏ tới hoạt động kinh doanh nói chung, doanh thu, lợi nhuận của khách hàng nóiriêng

+ Tình hình môi trường vĩ mô : Ngân hàng cần nắm được những yếu tố vĩ

mô, nằm ngoài tầm kiểm soát của người vay và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ củangười vay như chi phí tăng nhưng lại không thể chuyển một phần sang cho kháchhàng, lãi suất cao hơn, vấn đề về ngành kinh doanh để chủ động đánh giá hoạtđộng kinh doanh của khách hàng có chịu tác động theo hướng bất lợi hay không

b - Dấu hiệu tài chính

Kết quả kinh doanh

+ Doanh thu tăng quá nhanh nhưng vốn lưu động lại thiếu do tăng cườngchính sách bán chịu hoặc phải chịu sức ép cạnh tranh, chênh lệch lợi nhuận biênthấp sẽ ảnh hưởng tới vốn duy trì hoạt động cũng như khả năng thanh toán củakhách hàng

+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn mức bình quân của ngành

+ Các khoản thu nhập và chi phí bất thường tăng đột biến

+ Xuất hiện lỗ ròng hoặc lưu chuyển tiền tệ âm : Một doanh nghiệp sẽ không

Trang 20

thể duy trì được lâu sự tồn tại của mình trong những điều kiện như vậy.

Tài sản cố định

+ Giá trị còn lại tài sản cố định giảm mạnh : khách hàng thực hiện bán, thanh

lý tài sản nằm ngoài kế hoạch thay mới, dấu hiệu khách hàng có thể gặp khó khăn,chuyển đổi tài sản cố định thành tài sản có tính lỏng cao hơn, thuận tiện cho việcthu hẹp hoặc ngừng hoạt động

+ Tốc độ đầu tư tài sản cố định tăng quá nhanh : việc đầu tư tài sản cố địnhquá mức, nằm ngoài khả năng tài chính cũng như huy động vốn của khách hàng sẽảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như vốn lưu động phục vụ kinh doanh củakhách hàng

+ Hoạt động của tài sản thấp bất thường : dấu hiệu cho thấy hoạt động sảnxuất kinh doanh có nguy cơ bị thu hẹp hoặc khách hàng có khó khăn về vốn lưuđộng để duy trì hoạt động sản xuất

Cơ cấu tài chính và quản lý nợ vay

+ Cơ cấu nợ vay/vốn chủ sở hữu thay đổi đột biến theo chiều hướng tăng tỷtrọng vốn vay

+ Tốc độ tăng nợ vay không tương xứng với tốc độ tăng doanh thu

+ Trì hoãn tăng vốn hoặc tài trợ dài hạn, hoặc tăng vốn nhưng với mức lãisuất cao

+ Thu nhập để lại có xu hướng giảm dần

+ Khả năng trả lãi kém đi

+ Yêu cầu ngân hàng thay đổi các điều khoản đảm bảo hoặc các cam kết trảnợ

Các khoản phải thu và phải trả

+ Vòng quay các khoản phải thu/phải trả thương mại chậm lại : Giá trị cáckhoản phải thu cũng như thời gian các khoản phải thu đều quan trọng Những khoảnphải thu bị chậm thanh toán, quá hạn hoặc không thể thu hồi sẽ ảnh hưởng tới năng

Trang 21

lực tài chính của khách hàng Cùng với đó, các khoản phải trả tăng đột biến chothấy khách hàng đang gặp khó khăn, bắt đầu phải trì hoãn các khoản phải trả và đâycũng chính là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy có vấn đề rắc rối.

+ Các khoản phải thu, phải trả quá tập trung vào một số đối tác lớn

+ Các khoản dự phòng phải thu khó đòi tăng nhanh

Hàng tồn kho

+ Hàng tồn kho quá nhiều : điều này có thể thấy doanh nghiệp đang vận hànhdưới mức năng lực bán hàng của mình hoặc doanh thu giảm

+ Nguyên vật liệu mua bị trả lại nhiều

+ Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho tăng nhanh

Trên cơ sở những dấu hiệu và số liệu nêu trên, ngân hàng sẽ thực hiện đánhgiá khách hàng, khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng để xác định khoản nợ đó là

nợ xấu hay không Việc xác định khoản vay là nợ xấu sẽ dựa trên mức độ ảnhhưởng nghiêm trọng của các dấu hiệu về tài chính và phi tài chính đến khả năng trả

nợ của khách hàng, trên cơ sở thiết lập một bộ chỉ tiêu (bao gồm các dấu hiệu tàichính và phi tài chính) quy đổi theo tỷ lệ nhất định tương ứng với khả năng trả nợcủa khách hàng Thông thường, việc đánh giá khách hàng, khả năng trả nợ cũng nhưxác định nợ xấu được các NHTM chuẩn hóa thành Hệ thống xếp hạng tín dụng nội

Bảng 2.1 Phân loại khách hàng, phân loại nợ

Trang 22

*/ Đôn đốc thu hồi nợ 

Các NHTM cần tiến hành phân tích, phân loại các khoản nợ xấu để từ đó đề

ra biện pháp đôn đốc, thu hồi, xử lý phù hợp với từng khoản vay Cần quản lý tàichính chặt chẽ với các khách hàng có nợ xấu, đặc biệt là các khách hàng lớn Đốivới các doanh nghiệp đang hoạt động thì cần tạo điều kiện để họ duy trì hoạt độngbình thường Các biện pháp đôn đốc thu hồi chỉ nên thực hiện trong một thời giannhất định đồng thời cần vận dụng kết hợp với một số biện pháp khác

*/ Tái cơ cấu các khoản nợ, tái cấu trúc doanh nghiệp

Biện pháp này được áp dụng đối với những khoản nợ có khả năng thu hồi.Sau khi thương lượng với khách hàng về giải pháp thực thi cũng như yêu cầu camkết của khách hàng, Ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp sau :

+ Gia hạn nợ: là việc khách hàng được phép kéo dài thêm thời hạn trả nợ

Trang 23

cuối cùng Đây là phương án giúp khách hàng giảm bớt được áp lực thanh toán nợtrong một khoảng thời gian nhất định, từ đó có thể phục hồi hoạt động kinh doanhcũng như thu xếp vốn để trả nợ ngân hàng.

+ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: là việc khách hàng được thay đổi thời gian trảtừng phần của khoản nợ hoặc thay đổi số tiền từng kỳ trả nợ đã thỏa thuận ban đầunhưng không làm thay đổi tổng số tiền phải trả và thời hạn trả hết nợ cuối cùng.+ Cấp thêm vốn cho khách hàng: Ngân hàng chỉ xem xét cấp thêm vốn khikhách hàng chứng minh được kế hoạch kinh doanh sẽ giúp khách hàng vượt quagiai đoạn khó khăn và chắc chắn có hiệu quả Việc áp dụng phương pháp này cótính mạo hiểm vì thế cần được cân nhắc và kiểm soát chặt chẽ

+ Chứng khoán hóa các khoản nợ: Ngân hàng có thể chuyển các khoản nợxấu thành vốn cổ phần đối với các doanh nghiệp cổ phần hoặc trái phiếu Ngânhàng áp dụng biện pháp này khi các khách hàng gặp khó khăn nhưng được đánh giá

là có triển vọng phục hồi Trong trường hợp khách hàng là cổ đông của Ngân hàngthì Ngân hàng có thể tạo điều kiện để cổ đông đó bán cổ phiếu cho bên thứ ba để trả

nợ Ngân hàng

*/ Xử lý tài sản bảo đảm, yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu, khách hàng trây ỳ không thanh toánhoặc không có khả năng thanh toán nợ thì Ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp xử lýtài sản bảo đảm hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

+ Thanh lý tài sản bảo đảm tiền vay: Thông thường khi xét duyệt cho vay,khách hàng cần có tài sản bảo đảm nhất định để đảm bảo cho nghĩa vụ nợ tại ngânhàng Khi khách hàng không trả nợ, ngân hàng sẽ xem xét áp dụng biện pháp xử lýtài sản bảo đảm để thu hồi nợ Tài sản sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý để bàngiao cho Ngân hàng, ngân hàng có thể sẽ tự bán công khai tài sản ; hoặc bán quatrung tâm bán đấu giá tài sản ; hoặc bán cho Công ty mua bán nợ

+ Quản lý, khai thác tài sản: Tùy theo trường hợp cụ thể, ngân hàng có thểtiếp nhận tài sản, tiếp tục quản lý, khai thác tài sản để thu hồi nợ

Trang 24

+ Yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh : Trong trường hợp việcđòi nợ từ phía người vay gặp khó khăn, ngân hàng có thể yêu cầu người bảo lãnh thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh dưới hình thức thanh toán nợ trực tiếp hoặc xử lý tài sản bảođảm của người bảo lãnh.

*/ Sử dụng công cụ pháp lý để đòi nợ

Để áp dụng biện pháp này đạt hiệu quả, ngân hàng cần đảm bảo hồ sơ khoảnvay đầy đủ và phù hợp về mặt pháp lý Ngân hàng thực hiện kiện khách hàng ra tòa đểđòi nợ Phán quyết của tòa án sẽ buộc khách hàng trả nợ hoặc chuyển giao tài sản bảođảm tiền vay cho ngân hàng để xử lý thu hồi nợ Trường hợp khách hàng là các doanhnghiệp không trả được nợ, ngân hàng với tư cách là chủ nợ chính có thể làm đơn xin

mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản

Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này thường không mang lại nhiều kết quả dothủ tục rắc rối, mất nhiều thời gian và chế tài giám sát việc thi hành quyết định của tòa

án chưa thật sự phát huy hiệu quả

*/ Xử lý bằng vốn Ngân sách

Nợ xấu phát sinh từ các khoản cho vay theo chính sách của Chính phủ thì Chínhphủ phải đứng ra giải quyết, bù đắp tổn thất cho các NHTM Chính phủ sẽ dùng vốnngân sách để mua lại toàn bộ nợ xấu thuộc diện cho vay theo chính sách của Chínhphủ, sau đó xử lý dần trong một số năm Biện pháp này có hạn chế do ngân sách là cóhạn, Chính phủ luôn phải cân nhắc chi tiêu ngân sách và không phải khoản nợ xấu nàophát sinh cũng được xử lý trong thời gian ngắn

Trang 25

2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.

Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, từnhiều phía cả Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp Việc xử lý nợ xấu của cácngân hàng thương mại chịu sự tác động của các yếu tố chủ yếu sau:

- Nhân tố chủ quan:

Thứ nhất, năng lực tài chính của NHTM:

Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng đến công tác xử lý nợ xấu Đối với các ngân hàng có tiềm lực tài chínhmạnh, có đủ nguồn tài chính để trích dự phòng rủi ro tín dụng, khả năng trích dựphòng rủi ro, đặc biệt dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu thì việc xử lý nợ xấutốt hơn các ngân hàng nhỏ

Thứ hai, trình độ của cán bộ tín dụng:

Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc đượccác khách hàng tốt, dự án tốt Cán bộ tín dụng phải tiếp xúc với nhiều khách hàng ởnhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc giakhác nhau Để có được sự đánh giá chính xác về khách hàng, họ phải thực sự am hiểukhách hàng, lĩnh vực ngành nghề mà khách hàng kinh doanh, môi trường mà kháchhàng sống Cán bộ tín dụng phải có kỹ năng phân tích tổng thể và chi tiết các thôngtin về khách hàng cũng như về dự án đề nghị vay vốn, đồng thời mỗi cán bộ tín dụngcũng cần có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng vay vốn Như vậy,cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo bài bản và tự đào tạo kỹ lưỡng và toàn diện.Trình độ chuyên môn cán bộ của cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng đến công tác xử lý

nợ xấu của mỗi ngân hàng Với đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực xử lý nợxấu được đào tạo bài bản, có nhiều kinh nghiệm thực tế về xử lý nợ xấu sẽ giúp quátrình xử lý nợ diễn ra nhanh chóng và triệt để Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ tíndụng không có nhiều nghiệp vụ trong việc xử lý nợ xấu, đồng thời với chủ trươngchính sách của ngân hàng không đầy đủ chặt chẽ thì có thể dẫn tới quá trình xử lý

nợ kéo dài

Trang 26

- Nhân tố khách quan:

Thứ nhất, hành lang pháp lý: Hầu hết Chính phủ các nước đều nhận ra

tác động tiêu cực của các khoản nợ xấu đối với nền kinh tế và đã phối hợp thựchiện các biện pháp như ban hành luật, quy định về xử lý nợ xấu Hàng lang pháp

lý phải rõ ràng, thuận lợi và đủ mạnh để giải quyết nợ xấu, cụ thể phải có cácLuật có hiệu lực về thế chấp, tịch thu tài sản và phá sản ngân hàng, có chínhsách thích hợp, có giới hạn ngân sách cứng đối với những doanh nghiệp có vấn

đề

Hệ thống luật pháp là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động tài chínhngân hàng Một hệ thống luật hoàn chỉnh là yêu cầu quan trọng cho sự pháttriển của hoạt động ngân hàng Sự thiếu chặt chẽ, hoàn chỉnh của môi trườngpháp luật tác động xấu tới hoạt động ngân hàng nói chung và nợ xấu ngânhàng nói riêng Kẽ hở của hệ thống văn bản pháp luật tạo điều kiện cho kháchhàng lừa đảo, chiếm dụng vốn ngân hàng, chây ỳ không chịu trả nợ hoặc gâykhó khăn cho quá trình xử lý nợ của ngân hàng Hệ thống pháp luật hay thayđổi, kém minh bạch, hiệu lực thực thi yếu cũng có thể làm cho hệ thống ngânhàng trở nên kém lành mạnh và trong đó thường là tỷ lệ nợ xấu cao, tồn đọnglâu trong các ngân hàng Ở một số nước hệ thống pháp luật vừa thiếu, vừayếu chính là rào cản lớn nhất đối với ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu

Thứ hai, môi trường kinh tế:

Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng củanhững biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi

ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnhvực của nền kinh tế trong đó ngân hàng là ngành chứa đựng nguy cơ rủi rolớn nhất Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, môi trường kinh tế

vĩ mô khó khăn làm giảm khả năng trả nợ của người vay khiến chất lượngtài sản của hệ thống ngân hàng suy giảm Bên cạnh đó, một số nguyên nhân

từ kinh tế vĩ mô như tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và tập trungvào một số ngành, sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài quốcgia, hiệu quả của hoạt động giám sát hệ thống, ảnh hưởng từ những cú sốc

Trang 27

bên ngoài cũng khiến nợ xấu ngân hàng tăng cao.

Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế suy giảm, các doanh nghiệp, các hộgia đình và ngay cả Nhà nước cũng có thể gặp khó khăn trong việc trả số nợhiện tại của họ Một doanh nghiệp yếu kém, nợ nần nhiều, làm ăn không có lãi,thị phần suy giảm sẽ khó có khă năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn Vì vậy, nhữngdiễn biến kinh tế vi mô ở khu vực sản xuất vật chất, cụ thể là khu vực các doanhnghiệp, sẽ ngay lập tức tác động đến hệ thống ngân hàng, đặc biệt là đến danhmục tín dụng ngân hàng, đồng thời cũng ảnh hưởng đến công tác xử lý nợ xấu

Ngược lại, trong điều kiện môi trường kinh tế lành mạnh phát triển,minh bạch, sự phát triển đầy đủ của các thị trường vốn, thị trường chứngkhoán, thị trường bất động sản tạo điều kiện cho các ngân hàng thươngmại được chủ động lựa chọn nhiều biện pháp xử lý nợ xấu phù hợp và đạtđược hiệu quả cao nhất

Thứ ba, sự quan tâm, quyết tâm chỉ đạo của Chính phủ, Bộ ngành và chính

quyền địa phương trong việc xử lý nợ xấu Hậu quả của gánh nặng nợ xấu tồn đọnggây ra cho hệ thống ngân hàng không phải chỉ do ngành ngân hàng gây ra mà mộtphần là do hậu quả của các chính sách, cơ cấu kinh tế bất hợp lý, sự điều hành chỉđạo yếu kém của lãnh đạo đại bộ phận các doanh nghiệp nhà nước Việc xử lý nợxấu theo chỉ đạo của Nhà nước hầu hết phải chờ cơ chế của Chính phủ, các Bộngành và Ngân hàng Nhà nước, vì vậy cần đòi hỏi có sự triển khai đồng bộ và thốngnhất để tránh việc triển khai xử lý nợ mất nhiều thời gian

2.4 Biện pháp và cơ sở pháp lý để xử lý nợ xấu.

nợ xấu, đánh giá sơ bộ khả năng thu hồi

- Bước 2: Sau khi tiếp nhận khoản nợ xấu, trên cơ sở hồ sơ, phân tích thông tin

Trang 28

khách hàng chuyển giao cho chuyên viên xử lý nợ xấu đồng thời gửi báo cáo chi tiếtcho khối quản trị rủi ro.

- Bước 3: Khối quản trị rủi ro sau khi nhận được hồ sơ, báo cáo phân tích nợ xấu

từ Tổ xử lý nợ xấu có trách nhiệm đánh giá lại và đưa ra kế hoạch hành động tiếp theo:như phát mại tài sản, yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, khởi kiện, bán

nợ …

- Bước 4: Sau khi kế hoạch được khối quản trị đề ra, Tổ xử lý nợ xấu, cán bộ tíndụng phụ trách khoản vay có trách nhiệm thực hiện cập nhật dữ liệu vào hệ thống thôngtin nợ xấu, tập trung các biện pháp để thu hồi nợ đạt hiệu quả cao nhất, giảm thiệt hạithấp nhất cho Ngân hàng, tiến hành xử lý rủi ro toàn bộ hoặc phần nợ còn lại bằng quỹ

dự phòng rủi ro, chuyển ra ngoại bảng theo dõi và tiếp tục đôn đốc thu hồi nợ

2.4.2 Cơ sở pháp lý

Sau khi khoản nợ của khách hành được xác định là nợ xấu, Ngân hàng tiến hành cácbiện pháp xử lý nợ xấu, cơ sở pháp lý để xử lý là Hợp đồng tín dụng được ký kếtgiữa Ngân hàng với khách hàng cho khoản vay Hợp đồng tín dụng là một dạng củaHợp đồng kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010(đã bổ xung, sửa đổi) và các quy định pháp luật khác liên quan

Theo quy định của Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam về xử lý nợ xấu, khi một khoản nợ được xác định là nợ xấu,Ngân hàng được phép sử dụng các biện pháp xử lý để thu hồi nợ như phát mại tàisản bảo đảm, yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay, khởi kiện ra toà, thực hiện nghiệp vụmua bán nợ và tất cả các biện pháp để thu hồi nợ

Luật sửa đổi bổ sung Tổ chức Tín dụng năm 2017

2.5 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số ngân hàng có những điểm tương đồng với Agribank Lạng Sơn

“Đứng cho vay, quỳ thu nợ” Đó là câu mà dân nhà băng tự đúc kết nhằm ám chỉnhững khoản vay bị xếp vào diện nợ xấu Từng được coi là chuyên gia xử lý nợ xấu,ông Phạm Xuân Hòe, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước(NHNN) chia sẻ kinh nghiệm xử lý nợ xấu, biến con nợ dây dưa thành doanhnghiệp phát tài

Trang 29

“Lấy nợ nuôi nợ”

Trước khi về làm Vụ phó Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN, ông Phạm Xuân Hòe, từng

có nhiều năm xử lý nợ xấu ở 2 chi nhánh thuộc Vietinbank cũng như góp phần xử lýmột số khoản nợ xấu của Vụ Epco-Minh Phụng.Theo ông Hòe, việc phát mãi tài sản thế chấp chỉ là bất đắc dĩ, mà cán bộ ngân hàng

có tâm là phải tìm hiểu con nợ để giúp họ làm ăn trả được nợ cho mình.Nghề ngân hàng làm nghiệp vụ nào cũng có cái khó của nó Làm kho quỹ thì sợnhất thừa, thiếu quỹ, sợ nhầm tiền giả, vì nếu dính trưởng vừa phải đền vừa bị kỷluật Nghề kế toán thì đòi hỏi chính xác, nhưng khó nhất là nghề tín dụng, khi phải

đi thu hồi nợ xấu, dân ngân hàng thường nói câu cửa miệng “để làm tốt nghề tíndụng trước tiên phải biết thu hồi nợ” Vì cho vay ra thì dễ, theo đuổi thu được nợ vềmới là hành trình gian khổ

Câu chuyện đầu tiên là sự trải nghiệm về xử lý nợ xấu của Công ty Bia Hương Sen

mà nay đã phát triển thành tập toàn lớn nhất của Thái Bình về doanh thu, nộp thuếcho ngân sách nhà nước

Thời điểm ông Hòe được điều về làm giám đốc Chi nhánh Vietinbank Thái Bình(năm 1999), thì đây là nhà máy bia hiện đại bậc nhất Việt Nam, và đây cũng là con

nợ lớn nhất trong các doanh nghiệp vay tại Vietinbank Thái Bình, với dư nợ trên 87

tỷ đồng

Nhà máy bia hiện đại, nhưng sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nợ gốc quá hạn,

nợ lãi treo ra ngoại bảng mỗi ngày một phình to Trong khi đó, chủ nhà máy tiếp tụcdùng các kênh quan hệ để xin Vietinbank cho vay thêm, còn ngân hàng đứng trước nguy cơ không có khả năng thu nợ, mà cho vay thêm lại không được

Lúc đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình cùng anh Phạm Huy Hùng, Chủ tịch HĐQT Vietinbank bây giờ (khi ấy là Phó tổng giám đốc phụ trách mảng tín dụng)

đã cùng chi nhánh, lãnh đạo tỉnh và doanh nghiệp lặn lội vào Nam làm việc với Bia Sài Gòn để tìm đầu ra cho Nhà máy Bia Hương Sen Saquá trình làm việc thì một bản hợp đồng gia công giữa Tổng Công ty Bia Sài Gòn với Công ty Bia Hương Sen

Trang 30

được ký kết bao tiêu đầu ra theo năm, với điều kiện về chất lượng sản phẩm, nguyênliệu, mẫu mã, công thức nấu do bia Sài Gòn cung cấp và bao tiêu

Sau khi có hợp đồng, Vietinbank Thái Bình bơm thêm tiền vốn lưu động cho BiaHương Sen với hạn mức khoảng 25 đến 30 tỷ đồng Đây là chiêu “lấy nợ nuôi nợ”,rồi cử cán bộ ngân hàng xuống làm kế toán tại doanh nghiệp để giám sát chặt dòngtiền ra vào của nhà máy

Từ đó, đã giúp Hương Sen không những trả hết nợ vay trung dài hạn cũ trong gần 5năm mà còn tiếp tục mở rộng đầu tư thêm nhà máy mới, vươn lên thành Tập đoànHương Sen chuyên kinh doanh nước giải khát, mỗi năm đóng góp cho ngân sáchhàng trăm tỷ tiền thuế

Hiện tại thì công ty Bia Hương Sen đã trở thành khách hàng quen thuộc đối vớiVietinbank Thái Bình mà nhiều ngân hàng thương mại khác trên địa bàn tỉnh TháiBình muốn có được Nếu thời điểm đó, Vietinbank Thái Bình cứ đè công ty BiaHương Sen ra để phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ nhà máy, thì công ty BiaHương Sen cũng phá sản trong khi chưa chắc Vietinbank Thái Bình đã thu được hếtnợ

Đánh vào điểm yếu của con nợ

Câu chuyện thứ hai là về hành trình xử lý nợ xấu tại Vietinbank Cầu Giấy (nay làVietinbank Nam Thăng Long) Khi ông Hòe được điều về làm giám đốc chi nhánhnày, quy mô chưa đầy 900 tỷ dư nợ mà đã có nợ xấu, nợ nhóm 2 trên 50% Nhưngchỉ sau một năm rưỡi quyết liệt xử lý nợ xấu, chi nhánh đã kinh doanh có lãi

Đúng là “đứng cho vay, quỳ thu nợ” Cái vinh, cái nhục của nghề tín dụng ngânhàng là vậy Việc NHNN đề xuất Chính phủ lập Công ty mua bán tài sản (VAMC)

để xử lý nợ xấu là rất cần thiết, tránh tình trạng các ngân hàng phải tự mày mò xử lý

nợ xấu Tuy nhiên, công ty này muốn hoạt động hiệu quả cần phải một hành langpháp lý có tính chuyên biệt, mới có thể nhanh chóng xử lý được đống nợ xấu tớihơn 200 ngàn tỷ đồng

Ấn tượng và cam go nhất là cuộc đấu với đống nợ gần 90 tỷ đồng của nhóm bacông ty kinh doanh nhập khẩu ô tô tải Trung Quốc Mất đến 2 tháng trời để kiểmđếm khung, máy, lốp, các loại linh kiện, nhưng khó khăn nhất là khách hàng không

Trang 31

hợp tác trong việc trả nợ Qua thời gian tìm hiểu và đọc lại hồ sơ cho vay đối vớinhóm ba công ty kinh doanh nhập khẩu ô tô tải Trung Quốc, ngân hàng

quyết định phải xử lý đến tài sản thế chấp là nhà của một số người đứng ra bảo lãnh,mắt xích này đã bắt buộc cuộc đấu nội bộ của nhóm khách hàng trở nên mạnh mẽhơn Nhóm công ty này thấy không còn cách nào khác là phải quay lại hợp tác vớingân hàng, tránh rơi vào vòng lao lý, tốn công tốn của, tốn thời gian cho cả hai bên.Sau sự hợp tác đó thì khoản nợ của 3 công ty này được xử lý với tỷ lệ thu hồi gần93%

Nhưng vụ đòi nợ xấu đình đám nhất, và ấn tượng nhất chính là chuyện xử lý nhữngkhoản nợ xấu vụ Epco-Minh Phụng

Ấn tượng nhất với ông Hòe là khoản nợ được thu hồi khi chuyển nhượng hơn 1triệu m2 đất của Minh Phụng về cho UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu, với tổng giá trị

nợ gốc 500 tỷ và lãi tính theo tiền gửi ngân hàng trong nhiều năm (theo án Tòatuyên) khoảng hơn 100 tỷ đồng Kết thúc vụ giao dịch này, Vietinbank thu về hơn

600 tỷ đồng cả gốc và lãi

“Khi đó, con nợ là Tăng Minh Phụng đã lĩnh án trọng tội, nếu ngân hàng đứng ra xẻđất để bán theo kiểu kinh doanh bất động sản thì pháp luật không cho phép, banlãnh đạo Vietinbank đã quyết định chuyển nhượng lại cho UBND tỉnh Bà Rịa VũngTàu, lập tức được ủng hộ ngay, món nợ xấu mới được xử lý

Như vậy, việc xử lý nợ xấu ngân hàng rất khó khăn vì hành lang pháp lý ở ViệtNam còn thiếu nhiều lắm Ví dụ như đoạn giải trình với cơ quan Thanh tra về xử lýtài sản của Vụ Epco-Minh Phụng có tới gần 40 trang Xử lý nợ xấu đã quyết liệt,miệt mài tốn bao công sức nhưng khi giải trình để cơ quan Thanh tra hiểu được lại

là chuyện không giản đơn

5 bài học xử lý nợ xấu mà Việt Nam có thể áp dụng từ kinh nghiệm quốc tế

Theo khuyến nghị của Vụ pháp chế, NHNN, Việt Nam cần đa dạng hóa các hìnhthức xử lý nợ xấu và có thể xem xét áp dụng các bài học kinh nghiệm các nướckhác

Trang 32

Tổng kết kinh nghiệm quốc tế, Vụ Pháp chế NHNN cho biết có một số điểm có thểxem xét áp dụng tại Việt Nam.

Thứ nhất, để nhanh chóng xử lý nợ xấu tại các tổ chức tài chính, hầu hết Chính phủcủa các nước đều bơm vốn (bằng tiền mặt hoặc bằng trái phiếu được Chính phủ bảolãnh) cho một số ngân hàng lớn, cho các công ty xử lý nợ tập trung để ngay lập tứclàm sạch sổ sách cho các ngân hàng, không gây áp lực trích lập cho các ngân hàngtrong ngắn hạn, đảm bảo các ngân hàng nhận vốn đều đáp ứng các quy định về antoàn vốn để thực hiện mở rộng tín dụng cho nền kinh tế và giúp đẩy nhanh quá trìnhthu mua nợ của các công ty xử lý nợ tập trung

Ngoài ra, Chính phủ các nước cũng xem xét, quyết định xóa nợ cho một số tập đoànkinh tế nhà nước Tất cả các khoản hỗ trợ này không mang tính bao cấp mà Chínhphủ đều có các cơ chế để thu hồi Được cấp tín dụng đúng lúc, đúng thời điểm sẽ hỗtrợ các ngân hàng, doanh nghiệp nhanh chóng thoát khỏi gánh nặng chi phí, nợ nần,khơi thông nguồn vốn tín dụng, duy trì, mở rộng sản xuất Đồng thời, thông quaviệc hỗ trợ tài chính từ Chính phủ, hệ thống ngân hàng cũng có điều kiện để giảmmặt bằng lãi suất, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh

Thứ hai, cơ chế xử lý ngoài tòa án góp phần đảm bảo quyền chủ nợ của tổ chức tíndụng, từ bài học của Italia, việc cho phép áp dụng cơ chế xử lý ngoài tòa đối với cáckhoản nợ có bảo đảm của doanh nghiệp (quy định martian) đã tránh được quy trình

xử lý kéo dài tại tòa án và rút ngắn thời gian thu hồi nợ kéo dài hàng năm trước kiaxuống chỉ còn vài tháng, tạo ra những ưu thế cho các khoản vay có thế chấp bằngđộng sản mà chủ nợ không nắm giữ với sự linh hoạt trong giao kết và thực hiện.Thứ ba, về khung pháp lý cho các công ty quản lý tài sản (AMC), để các AMC hoạtđộng thực sự hiệu quả thì AMC phải được giao quyền lực đủ mạnh Quyền lực củaAMC phải được giao cụ thể với nguồn ngân sách nhất định, gắn với một thời hạn cụthể để giúp xử lý các khoản nợ xấu đang ở mức cao Đồng thời, phải xác định rõrằng AMC là các công ty quản lý tài sản chứ không phải là kho lưu giữ nợ xấu của

hệ thống tài chính

Thứ tư, về phát triển khung pháp lý cho thị trường mua - bán và xử lý tài sản xấu

Từ bài học của Hàn Quốc cho thấy, mua bán nợ chính là một trong những biện pháp

Trang 33

quan trọng để thoát khỏi khủng hoảng và áp lực nợ xấu Việc tham gia của cácthành phần kinh tế có chức năng kinh doanh mua, bán nợ xấu sẽ tận dụng được cácnguồn lực xã hội, góp phần cùng AMC đẩy nhanh tốc độ và chất lượng xử lý nợxấu Nếu không có thị trường mua, bán nợ thì AMC sẽ trở thành độc quyền mà độcquyền thường dẫn đến hàng loạt các vấn đề về tính minh bạch, lợi ích nhóm, tiêucực…

Thứ năm, xử lý nợ xấu phải đi đôi với tái cấu trúc doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN.Bài học của Hàn Quốc cho thấy, để xử lý tận gốc nợ xấu cách duy nhất là phải táicấu trúc doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu của nềnkinh tế Theo đó, các nước đều thành lập những cơ quan chuyên biệt tham gia mua

nợ xấu của hệ thống tổ chức tài chính, từ đó, trực tiếp tham gia vào quá trình táithiết, quản trị, từng bước nâng cao chất lượng doanh nghiệp, tạo giá trị thặng dư cho

xã hội

Thứ sáu, đa dạng hóa các hình thức xử lý nợ xấu: Hàn Quốc áp dụng rất nhiều biệnpháp xử lý nợ xấu từ bán buôn, bán lẻ các khoản nợ xấu cho các nhà đầu tư trongnước và nước ngoài đến phát hành các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản, bánđấu giá các khoản nợ có chủ nợ bị phá sản, bán tài sản thu hồi nợ, đấu thầu quốc tế

và tái cấu trúc nợ, chuyển nợ thành vốn góp để tranh thủ trình độ quản lý, điều hànhcủa các nguồn lực đặc biệt là nguồn lực nước ngoài để đẩy nhanh quá trình xử lý nợxấu, tái cấu trúc doanh nghiệp

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA AGRIBANK LẠNG SƠN

3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn

3.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ Cùng chảy quatrung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược Nó bắt nguồn từ huyện ĐìnhLập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc về khu tự trị Quảng Tây - TrungQuốc Thành phố cách thủ đô Hà Nội 154 km, cách biên giới Việt Trung 18 km.Nằm trên trục đường quốc lộ 1A,đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung

Trang 34

Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh,đường quốc Lộ 4A đi Cao Bằng Thành phố nằm trên nền đá cổ, có độ cao trungbình 250 m so với mực nước biển, gồm các kiểu địa hình: xâm thục bóc mòn,cacxtơ và đá vôi, tích tụ.Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn được quyhoạch thành một nút trên tuyến Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội -Hải Phòng, thành một động lực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, vùng Đông Bắc ViệtNam, và sau năm 2010 trở thành một cực của Tứ giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ(Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh).

Theo Nghị định 82/2002/NĐ-CP, ranh giới thành phố Lạng Sơn được xác định nhưsau:

 Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc

 Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủyhuyện Chi Lăng

 - Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên –huyện Cao Lộc

 Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp –huyện Văn Quan

3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 7.918,5 ha, trong đó đất sử dụngcho nông nghiệp là 1.240,56 ha, chiếm 15,66% diện tích đất tự nhiên Diện tíchđất lâm nghiệp đã sử dụng 1.803,7 ha, chiếm 22,78% diện tích đất tự nhiên Diệntích đất chuyên dùng 631,37 ha, chiếm 7,9% diện tích đất tự nhiên

Tài nguyên nước: Thành phố Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng chảy qua địa phận Thànhphố dài 19 km, lưu lượng trung bình là 2.300m³/s, có suối Lao Ly chảy từ thịtrấn Cao Lộc qua khu Kỳ Lừa ra sông Kỳ Cùng và suối Quảng Lạc dài 97 km, rộng

6 – 8 m Ngoài ra, trong vùng còn có một số hồ đập vừa và nhỏ như hồ Nà Tâm, hồThẩm Sỉnh, Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông

Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản ở Lạng Sơn chủ yếu là đá vôi, đất sét, cát, đácuội, sỏi Có 2 mỏ đá vôi chưa xác định được trữ lượng, nhưng chất lượng đá vôi

có hàm lượng Cacbonac canxi rất cao đủ điều kiện để sản xuất xi măng Mỏ đất sét

Trang 35

có trữ lượng trên 22 triệu tấn, dùng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng.Ngoài ra còn có một trữ lượng nhỏ vàng sa khoáng, kim loại đen (Mangan), bôxit

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố: GDP ước tăng 15,2% so với năm 2005

Cơ cấu nhóm ngành trong GDP: Thương mại - dịch vụ chiếm 62,84%; Côngnghiệp - xây dựng chiếm 32,71%; Nông nghiệp chiếm 4,45% GDP bình quân đầungười đạt 1.300USD/người Thành phố Lạng Sơn là trung tâm thương mại của vùngnúi Đông Bắc của Việt Nam Năm 2006, thành phố đón 1 triệu 180 nghìn lượtkhách du lịch, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ thực hiền được 4.048 tỷ đồng,đạt 99,6% kế hoạch, tăng 21,3%

Giữ tốc độ tăng dân số tự nhiên ở mức 0,9% Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn14,2%, giảm 0,99% so với năm 2005 Triển khai Quyết định số 134/2004/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ, đã tổ chức xét duyệt, cấp kinh phí hỗ trợ xây dựng, sửachữa nhà cho 60 hộ, với kinh phí hỗ trợ 300 triệu đồng, bằng 100% kế hoạch

3.2 Khái quát về ngân hàng Agribank Lạng Sơn

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Lạng Sơn

Năm 1992 Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam ký quyết định thành lậpNHNo & PTNT Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn Cùng với việc thành lập một số chinhánh NHNo&PTNT khác tại khu vực miền Bắc, NHNo&PTNT Việt Nam quyếttâm đưa NHNo&PTNT chi nhánh Lạng Sơn là NHTM có quy mô và phạm vi hoạtđộng lớn nhất tỉnh Lạng Sơn, là mắt xích quan trọng trong mạng lưới NHNo trênkhắp cả nước

NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh Lạng Sơn là chi nhánh loại I trực thuộc

Trang 36

NHNo&PTNT Việt Nam có địa chỉ tại số 3 đường Lý Thái Tổ, phường Đông Kinh,thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, chi nhánh có 14 đơn vị trực thuộc là các chinhánh loại II, chi nhánh loại III và các phòng giao dịch

So với các NHTM khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, NHNo&PTNT chinhánh tỉnh Lạng Sơn là một NHTM lớn nhất về tổ chức màng lưới, đội ngũ cán

bộ, số lượng khách hàng và doanh số hoạt động Tính đến 31/12/2016,NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh Lạng Sơn có mạng lưới rộng khắp trên toàn tỉnhvới 12 chi nhánh loại II và 02 phòng giao dịch trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh, có

03 phòng giao dịch trực thuộc các chi nhánh loại II, trụ sở đặt tại các trung tâmthành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ trải rộng khắp địa bàn toàn tỉnh nhằm rút ngắnkhoảng cách không gian giữa ngân hàng với khách hàng; Tổng số cán bộ hợpđồng không xác định thời hạn thời điểm 31/12/2016 là 369 người

Mô hình tổ chức của Chi nhánh loại II hoạt động theo mô hình chức năngnghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính:

Trang 37

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy

Theo mô hình này, chức năng cụ thể của các phòng ban như sau:

PHÒNG DVPHÒNG HCNS

CHI NHÁNH LOẠI 3PHÒNG GIAO DỊCH

Trang 38

của Phòng Hành chính tổng hợp (HCNS), Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ(KTKSNB), Phòng Kế hoạch tổng hợp (KHTH).

+ 01 Phó Giám đốc phụ trách công tác kế toán, tài chính

+ 01 Phó Giám đốc phụ trách công tác tín dụng

+ 01 Phó giám đốc phụ trách công tác Kinh doanh ngoại hối, dịch vụ vàmarketting

-Phòng Kế hoạch tổng hợp (KHTH): Thực hiện công tác kế hoạch kinh doanh

chung toàn chi nhánh, trực tiếp tham mưu điều hành lãi suất, công tác huy độngvốn, quyền phán quyết, cân đối vốn

-Phòng Tín dụng (TD): Thực hiện cung ứng tín dụng cho khách hàng theo quy

định, quản lý, đánh giá, đề xuất biện pháp hạn chế rủi ro sẽ phát sinh trong hoạtđộng tín dụng ngân hàng Cung ứng các dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng

-Phòng Hành chính – Nhân sự (HCNS): Thực hiện công tác hành chính, xây dựng

cơ bản Đồng thời đề xuất, xây dựng và tổ chức thực hiện các vấn đề liên quan đếnnhân sự như: tuyển dụng, đào tạo; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán

bộ, nhân viên trong phạm vi được phân cấp

-Phòng Kế toán ngân quỹ: Tổ chức thực hiện việc hạch toán kế toán của chi nhánh

và các đơn vị trực thuộc chính xác, đầy đủ và kịp thời theo chế độ quy định Lập kếhoạch, quản lý và theo dõi việc thực hiện thu chi tài chính, chấp hành chế độ báocáo thống kê, quyết toán tài chính với Hội sở, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối vớiNgân sách Nhà nước

-Phòng Dịch vụ và Marketting: Phổ biến, hướng dẫn thủ tục và thực hiện các dịch

vụ giao dịch như: thanh toán, chuyển tiền, chi trả kiều hối và các dịch vụ thanh toánkhác cho khách hàng Thực hiện nghiệp vụ thẻ ATM, POS, đại lý nhận lệch chứngkhoán, phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới

-Phòng Kinh doanh ngoại hối: Tổ chức thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế,

kinh doanh ngoại tệ theo đúng quy định của pháp luật và của ngân hàng đối vớikhách hàng

Trang 39

-Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Tổ chức thực hiện nghiệp vụ kiểm tra nội bộ

theo đúng quy định của pháp luật và của ngân hàng đối với các nghiệp vụ phát sinhtrong hoạt động kinh doanh

-Phòng Điện toán: Quản lý hệ thống mạng, tin học toàn hệ thống, cung ứng và hỗ

trợ các phần mềm ứng dụng

-Các chi nhánh, phòng giao dịch trực thuộc: Thực hiện các nghiệp vụ huy động

vốn, cung ứng tín dụng, dịch vụ ngân hàng theo quy định của nhà nước và củaAgribank Hải Phòng Đảm bảo an toàn và hoạt động hiệu quả theo kế hoạch Giámđốc Agribank Hải Phòng giao

3.2.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của Agribank tỉnh Lạng Sơn.

Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2014-2017

Biểu đồ 3.1: Cân đối giữa huy động vốn và sử vốn của Agribank chi nhánh tỉnh

Lạng Sơn trong 4 năm (2014-2017)

Trang 40

Hoạt động chủ yếu của Agribank Lạng Sơn

Huy động vốn

Qua số liệu tại bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh LạngSơn đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn Nguồn vốn huy động trong nhữngnăm qua tăng trưởng tương đối nhanh và tăng tương đối ổn định theo từng năm,đảm bảo đủ vốn cho hoạt động tín dụng

Năm 2016, chi nhánh phấn đấu duy trì tỷ lệ tăng huy động vốn ở mức cao là 17%,nâng mức vốn huy động đến thời điểm 31/12/2016 là 5.755 tỷ đồng Bước sang năm

2017 mức huy động đạt 8.105 tỷ đồng, tăng so với năm 2016 là 1.554 tỷ đồng vớitốc độ đạt 123,7% Các nguồn huy động của ngân hàng chủ yếu là: tài khoản tiềngửi của dân cư, tiền gửi của các cơ quan, tổ chức kinh tế và tư nhân… Với nhữngchính sách đó, chi nhánh đã thu hút được nhiều khách hàng, tạo lập được uy tín trênthị trường Số lượng khách hàng đến giao dịch, thanh toán, quan hệ với ngân hànghàng ngày càng tăng Tính đến năm 2017, chi nhánh NHNo&PTNT chi nhánh tỉnhLạng Sơn đã có quan hệ với gần 80 nghìn khách hàng tiền gửi, trong đó có rất nhiềukhách hàng là khách hàng thân thiết và truyền thống của ngân hàng, là nguồn huyđộng ổn định và bền vững cho ngân hàng Tuy nhiên mức tăng trưởng nguồn vốncũng chưa đáp ứng được với mức tăng trưởng dư nợ thể hiện ở chỉ tiêu sử dụng vốn

Ngày đăng: 12/04/2019, 12:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Ngọc Chung (2015), Xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Bắc Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
2. Đặng Ngọc Đức (2011), Tăng cường khả năng phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Khác
3. David Cox (1997), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Hoàng Dương (2009), Giải pháp nâng cáo hiệu quả xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ, Học viện Ngân hàng, Hà Nội Khác
5. Huỳnh Thế Du (2004), Xử lý nợ xấu ở Việt Nam nhìn từ mô hình Trung Quốc và một số nền kinh tế khác, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TP Hồ Chí Minh Khác
6. Khúc Quang Huy (2007), Basel II - Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Khác
7. Lê Thị Huyền Diệu (2010), Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Khác
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, Quyết định số 493/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 Khác
9. Nguyễn Thị Sâm (2015), Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Techcombank, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
10. Nguyễn Văn Tuyên (2017), Những giải pháp hạn chế rủi o tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Đại học Bà Rịa- Vũng Tàu Khác
11. Đặng Thu Trang (2013), Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Vận Hậu, Đại học Thương mại Khác
12. Nguyễn Thị Ngọc (2014), Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động mua hàng đá Granite và đá Marble của công ty TNHH đầu tư xây dựng và Thương mại An Thái, Đại học Thương Mại Khác
13. Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
14. Phan Đức Tiên (2009), Giải pháp thu nợ tồn đọng khó thu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An, Đề án kinh doanh, Nghệ An Khác
16. Phan Thị Thu Hà (2010), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Khác
17. Thủ tướng Chính phủ (2001), Đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến 2010 và định hướng đến 2020, Quyết định 112/2006/QĐ - TTg. 17. Thủ tướng Chính phủ (2001), Đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại, Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 Khác
18. Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 được Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010 và có hiệu lực thi hành ngày 01.01.2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w