* Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013,
Trang 1công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 30
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN KHU 1 VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TƯ
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân
khu 1 về công tác dân vận (2003 - 2008) 342.2 Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận
2.3 Đảng bộ Quân khu 1 chỉ đạo thực hiện công tác dân vận
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN KHU 1 VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN
3.1 Những yếu tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
Quân khu 1 về công tác dân vận (2008 - 2013) 793.2 Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về đẩy mạnh công tác
3.3 Đảng bộ Quân khu 1 chỉ đạo đẩy mạnh công tác dân vận
4.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnhđạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lốichủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đồng thời công tác dânvận cũng nhằm góp phần chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân; phát huy quyềnlàm chủ, sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng Trong bài báo Dân vận đăng trên báo Sự thật, ngày 15-10- 1949, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lực lượng
của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém.Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [130, tr 234]
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định côngtác dân vận là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sựnghiệp cách mạng của dân tộc, là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo củaĐảng, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhândân Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương,giải pháp về công tác dân vận, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực Đồngthời, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, mở rộng dân chủ,phát huy quyền làm chủ của nhân dân cũng như vai trò của Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể quần chúng và lực lượng vũ trang trong côngtác dân vận đã mang lại hiệu quả thiết thực
Công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phậncông tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một nội dung cơ bảntrong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của quân đội Thực hiện
có hiệu quả công tác dân vận vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm của “Bộđội Cụ Hồ” đối với nhân dân, đồng thời, là điều kiện để cán bộ, chiến sĩquân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Địa bàn Quân khu 1 bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, TháiNguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về
Trang 3kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh của đất nước, có nhiều dân tộc, tôn giáocùng sinh sống Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế, nhưng cũng tiềm ẩnnhiều nhân tố mất ổn định, nhất là sự chống phá thường xuyên, quyết liệt của cácthế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủnghĩa ở nước ta Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của địa bàn chiến lược
và việc xây dựng “thế trận lòng dân” ở Quân khu 1, từ 2003 - 2013 các đơn vịthuộc lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã có nhiều cố gắng trong việc vận độngnhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, gópphần quan trọng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiệnthắng lợi công cuộc đổi mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị,nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên địa bàn Tuy nhiên,công tác dân vận trên địa bàn Quân khu 1 vẫn bộc lộ không ít những hạn chế cảtrong nhận thức và hành động, một số đơn vị chưa quan tâm đúng mức công tácdân vận, còn có biểu hiện xem nhẹ công tác dân vận so với một số mặt công táckhác Trong tổ chức các hình thức dân vận, “một số đơn vị chưa thật sự chútrọng đến công tác tuyên truyền vận động nhân dân cùng làm, cùng thực hiệnnhiệm vụ; nội dung, phương pháp tuyên truyền còn hạn chế” [85, tr 8]
Hiện nay trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế,công tác dân vận đang đặt ra những yêu cầu mới nhằm tạo sự đồng thuậntrong toàn xã hội, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa quân đội với nhândân Cùng với đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạngnước ta thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” “bạo loạn lật đổ” vớinhiều thủ đoạn nham hiểm tinh vi xảo quyệt, nhằm chia rẽ gây mất đoànkết nội bộ, lôi kéo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhất là ở các địabàn trọng điểm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới.Thực tiễn đó, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng hiệu quả của công tácdân vận, phối hợp chặt chẽ các tổ chức, các lực lượng tuyên truyền vận độngnhân dân thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
Trang 4nước Đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về công tác dân vận nóichung, trên các địa bàn vùng miền nói riêng Tuy nhiên đến nay vẫn chưa cócông trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về qúa trình Đảng bộ Quân khu
1 lãnh đạo công tác dân vận trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm
2013 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Vì vậy, nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạocông tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên cơ sở đó đúc kết nhữngkinh nghiệm chủ yếu, góp phần vào việc tổng kết công tác dân vận của Đảng,của Quân ủy Trung ương trong thời kỳ đổi mới (qua thực tế địa bàn Quân khu1) Đồng thời góp thêm cơ sở cho việc bổ sung, hoàn thiện chủ trương, biệnpháp lãnh đạo công tác dân vận trên địa bàn Quân khu 1 trong thời gian tới làvấn đề cấp thiết có ý nghĩa cả về lý luân và thực tiễn
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013” làm luận án tiến sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm
2003 đến năm 2013, đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong việcnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận ở Quân khu 1 trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo công tác dânvận của Đảng bộ Quân khu 1 từ năm 2003 đến năm 2013
Luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quânkhu 1 từ năm 2003 đến năm 2013, qua hai giai đoạn 2003 - 2008 và 2008 - 2013
Nhận xét đánh giá những ưu điểm, hạn chế làm rõ nguyên nhân đúcrút những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạocông tác dân vận (2003 - 2013)
Trang 53 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tácdân vận trên địa bàn Quân khu
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động,
chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận từ năm
2003 đến năm 2013, tập trung làm rõ các vấn đề: Chỉ đạo giáo dục nâng caonhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về công tác dân vận; Chỉ đạo tuyêntruyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtNhà nước; Tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở địa phương vữngmạnh; Phối hợp giúp đỡ địa phương phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội
Về không gian: trên địa bàn Quân khu 1, bao gồm 6 tỉnh (Thái Nguyên,
Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang)
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm từ năm
2003 đến năm 2013 Năm 2003 là năm Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay làQuân ủy Trung ương) ra Nghị quyết 152 “Về tiếp tục đổi mới và tăng cườngcông tác dân vận của lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới”, Đảng ủy Quânkhu 1 ra Nghị quyết 403 về “tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác dân vậncủa lực lượng vũ trang Quân khu trong thời kỳ mới” Năm 2013 là năm Quân
ủy Trung ương và Đảng ủy Quân khu 1 tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết
152 Để vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống bảo đảm tính toàn diện, đồng thờiphục vụ cho mục tiêu đúc kết kinh nghiệm, luận án mở rộng phạm vi nghiêncứu cả trước và sau mốc thời gian trên
4 Cở sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trò của quần chúng nhân dân và
Trang 6công tác vận động quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng củaĐảng.
* Cơ sở thực tiễn
Luận án thực hiện trên cơ sở thực tiễn quá trình Đảng bộ Quân khu 1lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013 (thể hiện qua các báocáo tổng kết của Đảng bộ, Phòng Dân vận Quân khu; các đề tài, công trìnhnghiên cứu có liên quan; các số liệu điều tra, khảo sát thực tế của nghiên cứusinh tại địa bàn Quân khu 1(5.2018) và các số liệu được công bố trên cácsách, tạp chí, trong và ngoài quân đội)
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc; kếthợp 2 phương pháp đó là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng một số phương phápkhác: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học, để làm sáng
tỏ các nội dung luận án Cụ thể là:
Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu, miêu tả bối cảnh, chủ trương,
sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận theo tiến trình lịch sử
Phương pháp lô gích được sử dụng để sâu chuỗi các sự kiện chủ yếu
và khái quát lịch sử Nêu bật những nội dung trọng tâm trong từng văn kiện
và liên kết các nội dung đó để thấy được quá trình nhận thức phát triển chủtrương của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận; sử dụng trong kháiquát quá trình chỉ đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân khu, sử dụng đểkhái quát những ưu điểm, hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trìnhĐảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận
Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lô gích để tái hiện mộtcách chân thực và khoa học quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo côngtác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013; đồng thời khái quát luận giảinhững ưu điểm, hạn chế và đút rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng
bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận
Trang 7Các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánhđược sử dụng phù hợp với từng nội dung của luận án.
5 Những đóng góp mới của luận án
Về tư liệu: Luận án cung cấp khối lượng tư liệu khá phong phú, cậpnhật, đáng tin cậy về chủ trương của Đảng, của Quân ủy Trung ương và đặcbiệt là chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tácdân vận từ năm 2003 đến năm 2013 Nguồn tài liệu tham khảo, phụ lục củaluận án có thể đóng góp cho việc nghiên cứu một số vấn đề về công tác vậnđộng quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Quânđội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Về nội dung khoa học:
Luận án trình bày có hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộQuân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộ Quânkhu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên cả 2 bình diện ưuđiểm và hạn chế làm rõ nguyên nhân Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu có giá trịtham khảo, vận dụng trong lãnh đạo công tác dân vận trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của luận án
Trang 8Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục công trìnhkhoa học của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu chung về công tác dân vận
Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnhđạo của Đảng, nhằm tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa các chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sựđồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng Vì vậy,luận bàn về công tác dân vận có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau như:
Nguyễn Văn Linh (1986), Về công tác vận động quần chúng hiện nay
[122] Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác vận động quần chúngtrong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, tác giả đã khẳng định: “Công tác vậnđộng quần chúng trong mỗi giai đoạn cách mạng đều có ý nghĩa quyết định”[122, tr.30], tác giả nhấn mạnh việc thực hiện chính sách xã hội, giáo dụcquần chúng hiểu về vai trò làm chủ thực sự của mình, đập tan mọi âm mưucủa các thế lực thù địch nhằm chia rẽ Đảng và quần chúng, hòng làm suy yếukhối đại đoàn kết toàn dân tộc Góp phần củng cố mối liên hệ giữa Đảng vàquần chúng nhân dân, làm tăng thêm sức mạnh của cách mạng Nhiệm vụ củacác cấp ủy Đảng trong công tác vận động quần chúng rất nặng nề, “lấy dânlàm gốc” phải trở thành nền nếp của xã hội, tất cả phải do nhân dân, vì nhândân mới có thể thực hiện thắng lợi được nhiệm vụ đó Cán bộ các ngành, cáccấp phải coi trọng công tác vận động quần chúng, xem công tác vận độngquần chúng là công việc gốc trong mọi hoạt động cách mạng Chỉ có như thếmới góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng, lấy lại lòng tin cho quần chúngnhân dân, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân đến mọi thành công
Trang 10Ban Dân vận Trung ương (1996), Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 5 năm thựchiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương, khóa VI,
Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân [13], đã tập trung phân tích làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan
trọng của công tác vận động quần chúng của Đảng, khẳng định tính đúng đắncủa những quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng Nhận thức của cáccấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các cấp, cán bộ và đảng viên được nângcao Bước đầu nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, góp phần tăngcường và phát huy vị trí, vai trò của công tác dân vận trong thời kỳ mới Củng
cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tư tưởng đại đoànkết dân tộc được thực hiện ở tầm cao mới, thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo,chính quyền điều hành, quân đội - công an làm tham mưu, mặt trận và cácđoàn thể nhân dân tham gia phối hợp”, trong công tác xây dựng, củng cố nềnquốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân
Vũ Oanh (1996), Đổi mới công tác dân vận của Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể [134], luận giải khá sâu sắc về vị trí, vai trò, tầm
quan trọng của công tác vận động quần chúng của Đảng trong sự nghiệpcách mạng đồng thời nêu rõ sự cần thiết phải đổi mới công tác dân vận củaĐảng hiện nay Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng luôn xác định côngtác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, phải được tiến hành thườngxuyên trong mọi hoàn cảnh, trên mọi địa bàn, đối với mọi tầng lớp nhândân Phải bằng nhiều hình thức và biện pháp để đưa đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đến với đông đảo quần chúng nhân dân, phù hợpvới từng đối tượng quần chúng nhân dân Song trước tiên phải xuất phát từthực tiễn tình hình đất nước, tình hình quần chúng nhân dân hiện nay để xâydựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng, phù hợp với lợi ích và nguyệnvọng của nhân dân
Trang 11Hội Nông dân Việt Nam (1999), Công tác dân vận trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, [138] khẳng định vị trí, vai trò của Hội Nông
dân Việt Nam trong hệ thống chính trị: Nông dân Việt Nam có vị trí chí chiếnlược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổquốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững,giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Tăng cườnglãnh đạo, củng cố xây dựng Hội Nông dân các cấp vững mạnh về chính trị, tưtưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng nòng cốt của phong trào nông dân xâydựng nông thôn mới, là thành viên tích cực trong khối đại đoàn kết toàn dân, lànhân tố quan trọng của khối liên minh giai cấp công - nông và đội ngũ trí thức -nền tảng chính trị vững chắc của chế độ
Bộ Quốc phòng (1998) Lịch sử 50 năm Quân đội nhân dân Lào
1945-1995, [26] cuốn sách đã tổng hợp lại những bài học kinh nghiệm của Đảng
nhân dân cách mạng Lào trong lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động để tổchức xây dựng lực lượng quân đội nhân dân Lào vững mạnh về chính trị, tưtưởng và tổ chức Quân đội nhân dân Lào là lực lượng vũ trang cách mạngcủa Đảng, Nhà nước, của nhân dân các bộ tộc Lào, là đội quân của dân, dodân và vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu đặt dưới sự lãnhđạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng nhân dân Cách mạng Lào Nộidung cuốn sách khẳng định: Quân đội Nhân dân Lào có truyền thống đoànkết, gắn bó mật thiết với nhân dân, chiến đấu vì nhân dân được nhân dân đùmbọc, che chở, giúp đỡ và nuôi dưỡng Những thành tích to lớn và truyền thống
vẻ vang của quân đội là thành tích chung của Đảng, Nhà nước và của nhândân các bộ tộc Lào, được bắt nguồn từ tinh thần đại đoàn kết, mối quan hệchặt chẽ giữa quân đội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là nhân tốquyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nói chung, của Quân độinhân dân Lào nói riêng
Trang 12Nguyễn Tiến Thịnh (Chủ biên), (2003), Công tác dân vận của Đảng thời
kỳ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [154], phân tích làm rõ vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng của Đảng Công tácdân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng, một trong những côngtác cơ bản, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam;
là truyền thống, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, có mối quan hệ gắn bó máuthịt giữa Đảng với nhân dân Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tạo phong trào rộng lớn xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước đòi hỏi phải thực hiện tốt công tác dân vận trong thời kỳ mới.Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tạo phong trào rộng lớn xây dựng và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tòng Thị Phóng (2003), “Nhiệm vụ trung tâm của công tác dân vậnhiện nay” [135], tác giả khẳng định công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọngcủa cả hệ thống chính trị, do vậy phải nâng cao nhận thức về công tác dân vậnmột cách đồng bộ và sâu sắc Trong giai đoạn hiện nay để việc triển khai thựchiện chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có kết quảtốt, phải có sự quan tâm lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy, đồng thời có sự đổimới nhận thức, tư duy về công tác dân vận hiện nay trong toàn bộ hệ thốngchính trị Phải quan tâm xây dựng được mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo củaĐảng với phong trào quần chúng, vai trò sáng tạo của quần chúng nhân dân và
cả vai trò cá nhân trong công tác dân vận của Đảng
Dương Xuân Ngọc (2005), “Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo tiến hànhcông tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [133], khẳng định: Công tácdân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cáchmạng Việt Nam, cả trong thời kỳ chưa có chính quyền cũng như thời kỳ Đảngcầm quyền; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đốivới chính quyền và toàn xã hội, thắt chặt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với
Trang 13dân Tác giả đã đưa ra bốn quan điểm chỉ đạo công tác dân vận dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh: công tác dân vận phải xuất phát từ lợi ích của quần
chúng nhân dân, thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân; thực hành dân chủ
là phương thức cơ bản của công tác dân vận; Dân vận phải hướng tới mục tiêuđoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Dân vận và công tác dân vận là sựnghiệp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sựquản lý của Nhà nước thông qua Mặt trận dân tộc thống nhất Trên cơ sở phântích, đánh giá thực trạng công tác dân vận, tác giả chỉ rõ: Muốn bảo vệ vữngchắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, Đảng và Nhà nước cần có nhữngchính sách phát triển kinh tế xã hội thích hợp, nhằm không ngừng nâng caođời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc nhất là vùng sâu, vùng
xa biên giới và làm tốt công tác dân vận
Ban Dân vận Trung ương (2006), 75 năm công tác dân vận của Đảng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn [15], luận giải làm rõ tầm quan trọng của
công tác dân vận và quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sảnViệt Nam luôn có nhận thức đúng đắn quan điểm của Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò quần chúng nhân dân trong tiến trình cách mạng
xã hội và tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng của chính đảngcách mạng giai cấp công nhân Đảng luôn xác định công tác dân vận là nhiệm
vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điềukiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mốiquan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Công tác phối hợp giữacác cơ quan nhà nước với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể được các cấp chínhquyền thực hiện đã đi vào nền nếp Chính quyền các cấp và nhiều cơ quan nhànước đã phân công một đồng chí lãnh đạo phụ trách công tác quần chúng.Công tác tham mưu của Ban Dân vận các cấp về công tác dân vận của chínhquyền được chú trọng Ban Dân vận ở địa phương chủ động phối hợp với các
Trang 14cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp để tổ chức triển khai, thực hiện vàkiểm tra công tác dân vận của chính quyền Các Ban Dân vận địa phương đãthành lập bộ phận chuyên trách theo dõi công tác dân vận của chính quyền vàtham mưu cho cấp ủy chỉ đạo chính quyền các cấp về công tác quần chúng.
Đỗ Quang Tuấn (2006) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ đổi mới (152)
khẳng định: Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể nhân dân nhằm mục tiêu củng cố và tăng cường khối đạiđoàn kết toàn dân tộc và mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân Trên cơ sở phântích những ưu điểm và hạn chế về phương thức lãnh đạo của Đảng đối vớiMặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, tác giả nêu lên một số bài họckinh nghiệm: Đảng phải tiếp tục nâng cao nhận thức và quan điểm quầnchúng, đấu tranh khắc phục bệnh quan liêu, xa rời quần chúng của cán bộ,đảng viên, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất Củng cố, tăng cườngBan Dân vận các cấp về tổ chức, bộ máy và cán bộ; về phương tiện, điều kiệnlàm việc để cho Ban làm tốt chức năng tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, phốihợp hoạt động, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về công tác dân vận
Hà Thị Khiết (2010) “Một số bài học kinh nghiệm trong công tác dânvận của Đảng sau gần 25 năm đổi mới” [115], khẳng định những chủ trương,chính sách về công tác dân vận, về đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng giai cấpcông nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, về tôn giáo,dân tộc, người Việt Nam ở nước ngoài, lần lượt được xác định và ngày càngđược hoàn thiện Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và chỉ ra nhữngtồn tại, khó khăn trong công tác dân vận của Đảng gần 25 năm đổi mới, tácgiả chỉ rõ: Thường xuyên củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, để công tác dân vận ngày càng được triển khai sâu rộng trongcác cấp, các ngành, các lĩnh vực và trong quần chúng nhân dân; đồng thời,
Trang 15huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân thựchiện thành công các nhiệm vụ chính trị, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội màĐảng và Nhà nước đề ra.
Hà Thị Khiết (2013), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với côngtác vận động quần chúng trong tình hình mới” [116] bài viết của tác giả đãkhẳng định “Công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ chiến lược, phảiđược tiến hành thường xuyên trong mọi hoàn cảnh, trên mọi địa bàn, đối vớimọi tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài”.Cần tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vậntrong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịtgiữa Đảng với nhân dân Vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phát huy sức mạnh to lớn của nhândân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thựchiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong điều kiện đấtnước có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn diện: Kinh tế - xã hội phát triển,quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường; đời sống nhân dân từngbước được cải thiện, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đượccủng cố và tăng cường Tác giả nhấn mạnh: “Trong bất cứ hoàn cảnh và điềukiện nào cũng phải tin ở lực lượng và sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịtvới nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân Linh hoạt, sáng tạo trongviệc tổ chức, tập hợp nhân dân bằng các hình thức hoạt động thích hợp trongtừng giai đoạn cách mạng” [116, tr.4]
Nguyễn Bá Quang (2013), Học tập và làm theo phong cách “Dân vận khéo”Hồ Chí Minh (142), đã phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân vận khéo; nêu lên những tiêu chí về mô hình vàđiển hình dân vận khéo ở một số cơ sở; đề xuất một số nội dung và phương
Trang 16pháp nhằm hiện thực hóa tư tưởng “Dân vận khéo” của Người trong giai đoạnhiện nay, đó là: thực hành dân chủ, nêu gương; cải cách thủ tục hành chính;thực hiện kỹ năng “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đổi mới công táccán bộ dân vận Đáng chú ý là nhận định của tác giả: “Dân vận là công táckhoa học, nhưng cũng là nghệ thuật, nhằm giải quyết mối quan hệ giữa Đảng
và dân Muốn làm tốt công tác dân vận, cán bộ phải có tâm trong sáng, cótrách nhiệm, có tri thức khoa học, tóm lại phải có tâm và có tài, như vậy mới
là “Dân vận khéo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [142, tr.80]
Sụ Băn Hủn Nạ Chăm Pa (2014), “Công tác vận động tuyên truyền củaQuân đội nhân dân Lào trong tham gia xây dựng cơ sở địa phương vữngmạnh, bảo đảm cho sự ổn định toàn diện của Tổ quốc” [167] Tác giả, khẳngđịnh: vai trò tầm quan trọng chiến lược lâu dài của công tác vận động, tuyêntruyền; vai trò và bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Lào nóichung, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội nói riêng Là lực lượng chủchốt trong tiến hành cuộc vận động tuyên truyền tham gia xây dựng cơ sở địaphương vững mạnh, đồng thời chỉ rõ đó là chức năng, nhiệm vụ và tráchnhiệm của Quân đội nhân dân Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc giai đoạn hiện nay
Ban Dân vận Trung ương (2015), Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) [17] Công trình đã phản ánh quá trình lịch
sử phong phú, sinh động về công tác dân vận của Đảng qua các thời kỳ cáchmạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Nêu bật những chủtrương, chính sách, nhiệm vụ và quá trình lãnh đạo thực hiện, khẳng địnhnhững thành tựu đạt được, đồng thời, chỉ rõ những sai lầm, hạn chế trongcông tác dân vận Từ đó đúc kết những bài học lịch sử cho công tác dân vậncủa Đảng trong hiện tại và tương lai Cùng với các công trình trên có rất nhiềunghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học, tiêu biểu là những bài viết:
Trang 17“Một số bài học kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng của Đảngtrong những năm đổi mới”
Từ thực tế lãnh đạo công tác vận động quần chúng của Đảng sau gần
30 năm đổi mới, cho thấy Đảng luôn nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai tròquan trọng của công tác vận động quần chúng Quá trình lãnh đạo côngcuộc đổi mới, lấy độc lập dân tộc và dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh làm mục tiêu của công tác vận động quần chúng, đoàn kết,thống nhất trong Đảng Là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, công tác vận động quần chúng, được thực hiệntrên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xãhội, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể Công tác vận động quần chúngphải được dựa trên cơ sở, thấm nhuần phương châm “Vì quần chúng nhândân, do quần chúng nhân dân”, trong công tác vận động quần chúng phảibiết phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc, nhất là truyền thốngyêu nước [17, tr.170 - 183]
1.1.2 Các nghiên cứu về công tác dân vận ở các vùng miền, địa phương
Trương Minh Dục (2008), Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên [102], đã đề cập đến vấn đề dân tộc, đặc điểm kinh tế -
xã hội của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Phân tích làm rõ truyềnthống đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên qua các thời kỳ lịch sử, quá trìnhxây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên Trongcách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thời
kỳ đổi mới; đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, yếukém Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng về đoàn kết các dân tộc TâyNguyên, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp khá toàn diện, đồng bộ Nhằm xâydựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện
Trang 18nay Trong đó, đáng chú ý là nhóm giải pháp tăng cường công tác dân vận: Cầnnhận thức đúng đắn vai trò của công tác dân vận trong quá trình xây dựng khốiđoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên Công tác vận động quần chúng phải thật sựhướng về cơ sở, nội dung, phương pháp vận động phải cụ thể, thiết thực, phùhợp với trình độ nhận thức và tâm lý của đồng bào Công tác phát động quầnchúng là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ trọngtâm, thường xuyên của hệ thống chính trị các cấp Phát huy vai trò già làng trongquá trình củng cố và tăng cường khối đoàn kết các dân tộc thiểu số, xây dựng độingũ cán bộ làm công tác vận quần chúng có tâm huyết, biết nghe dân nói, nóidân nghe, làm dân tin [102, tr.424 - 432].
Lê Văn Đính (2009), Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay [105], cuốn sách đã tập trung phân
tích tình hình thanh niên và thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp thanhniên các dân tộc ở Tây Nguyên trong thời gian qua, nêu lên những ưu điểm,hạn chế, nguyên nhân Đề ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảcông tác đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên trong bốicảnh hiện nay Trong đó, nổi lên là giải pháp tăng cường công tác giáo dụcchính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, giữ gìn bản sắc văn hóa cho thanhniên các dân tộc ở Tây Nguyên
Lưu Văn Sùng (2010), “Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống” [145] Trong những năm đầu
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hoá - xã hội Đời sống của nhândân tiếp tục được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốcphòng - an ninh được tăng cường Đạt được những thành tựu trên là do sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia tíchcực của các tổ chức chính trị quần chúng Cùng với những thành quả đạt
Trang 19được, trong những năm đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóacũng đã xuất hiện những yếu tố tiêu cực, bất ổn định, an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội diễn biến phức tạp Những vấn đề bức xúc của nhân dân ở cơ
sở diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước Công tác tiếp dân và giải quyếtđơn thư tố cáo từ tỉnh đến cơ sở bị coi nhẹ, không quan tâm chỉ đạo giải quyếtkịp thời, thỏa đáng những khiếu kiện chính đáng của nhân dân
Nguyễn Thị Lệ (2013), “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận ở Thành phố Hồ Chí Minh” [117], bài viết đã làm rõ
trong những năm qua, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, tình hìnhkhu vực và thế giới diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng và tác động trực tiếp tớiđịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,toàn hệ thống chính trị và nhân dân Thành phố đã quán triệt và chấp hànhnghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước Vững vàng, đoàn kết, năng động, sáng tạo vượt qua khó khăn tháchthức, đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực Góp phần thựchiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ ChíMinh lần thứ IX đã đề ra
Nguyễn Thế Tư (2014), Xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay [156], đã làm
rõ cơ sở lý luận, vai trò của lực lượng nòng cốt; phân tích tình hình xây dựng
và hoạt động của lực lượng nòng cốt ở Tây Nguyên Đưa ra các nhóm giảipháp nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng đồngcác dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay Điểm nổi bật của công trình này làgóp phần làm sáng rõ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượngnòng cốt làm công tác dân vận Xem đây là một trong những nội dung quantrọng của công tác dân vận, góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảngvới nhân dân, nhất là tạo lập niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với
Trang 20Đảng, chính quyền Đây là lực lượng gần dân, hiểu được đặc điểm, tâm tư,nguyện vọng của đồng bào, trực tiếp vận động đồng bào tích cực tham gia cácphong trào của địa phương Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và cácđoàn thể trên địa bàn phải có chương trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể để chăm
lo xây dựng lực lượng này thực sự là chỗ dựa tin cậy cho tổ chức đảng, chínhquyền trong công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số [156, tr.35]
Lê Xuân Đại (2014), “Hiệu quả từ công tác dân vận của chính quyền ởNghệ An” [103], bài viết khẳng định công tác dân vận của hệ thống chính trị thìcông tác dân vận của chính quyền có vị trí rất quan trọng Vì chính quyền là nơi
cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng đến với dân, nhất là việc banhành các cơ chế chính sách để đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đờisống vật chất, tinh thần cho nhân dân Các cơ quan nhà nước cũng là nơi thườngxuyên trực tiếp tiếp xúc, giải quyết các vấn đề liên quan đến dân và doanh nghiệp,giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân Nếu chính quyền làm không tốtcông tác dân vận thì rất khó khăn cho công tác dân vận nói chung
Nguyễn Văn Hào (2014), “Lãnh đạo công tác dân vận vùng đồng bào dântộc thiểu số ở Tây Nguyên” [111], bài viết làm rõ trong quá trình lãnh đạo, cáccấp ủy Đảng ở Tây Nguyên luôn xác định công tác vận động đồng bào dân tộcthiểu số Là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, do đó đã ban hành nhiều chủ trương,nghị quyết về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, về phát triển kinh tế - xã hội,giữ vững an ninh chính trị, nâng cao đời sống nhân dân trong cộng đồng dân tộcthiểu số Nhiều cấp ủy viên, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoànthể chính trị - xã hội đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm cá nhân trong chỉ đạo,điều hành thực hiện nhiệm vụ dân vận ở cơ sở
Thực tế cho thấy, đời sống mọi mặt của đồng bào dân tộc thiểu số TâyNguyên được nâng cao hay giảm sút, tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội
có được giữ vững hay không thuộc về trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, cáccấp ủy viên phụ trách công tác dân vận và cán bộ, đảng viên ở cơ sở Vì vậy,
Trang 21muốn tăng cường, đổi mới công tác dân vận, ổn định chính trị, thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội, nâng cao đời sống trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở TâyNguyên Các cấp ủy Đảng cần phải cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cánhân phụ trách thành quy chế, quy định để cấp ủy, cá nhân cấp ủy viên quán triệt
và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Đối với tập thể cấp ủy, cần căn cứ yêu cầu, tìnhhình cụ thể, xây dựng chủ trương, chương trình hành động hàng năm Địnhhướng nội dung hoạt động, tạo thuận lợi để mặt trận và các đoàn thể nhân dântham gia xây dựng chủ trương, nghị quyết về công tác dân vận trong đồng bàodân tộc thiểu số Lãnh đạo về tổ chức, nhân sự, bố trí, giới thiệu cán bộ, đảng viên
có năng lực phụ trách công tác dân vận, “khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩmchất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận” [111,tr.6]
Vũ Thái Dũng (2018) Công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc
từ tháng 10-1949 đến tháng 1-1954 ”, [168] khẳng định đảm bảo thành công
của mọi cuộc cách mạng là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợpđược đông đảo nhân dân trong lực lượng của cách mạng Dưới sự chỉ đạo củaTrung ương Đảng và Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiếnđược xây dựng, củng cố về mọi mặt, sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dàicủa quân và dân Việt Nam Tại Liên khu Việt Bắc, chính quyền nhân dân cáccấp được chăm lo củng cố và kiện toàn, khối đoàn kết toàn dân đượctăng cường, quần chúng nhân dân các dân tộc trên địa bàn Liên khu được quy
tụ trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt với các đoàn thể (nông hội, hộiphụ nữ, hội thanh niên) Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở Việt Bắc
đã vận động nhân dân các dân tộc trên địa bàn đóng góp to lớn sức người, sứccủa cho kháng chiến, cung cấp nhân lực chủ yếu cho chiến trường Nhờ chủđộng trong công tác chuẩn bị nên khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, việc
di chuyển các cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến được thực hiện đúng kếhoạch Việc chủ động trong công tác xây dựng và củng cố căn cứ địa ViệtBắc, quân và dân Việt Nam đã đánh bại âm mưu của thực dân Pháp trong việc
Trang 22đánh vào cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến, làm thất bại hoàn toàn chủtrương đánh nhanh, thắng nhanh của địch Nhìn lại những chủ trương, đườnglối trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác dân vậncủa Đảng suốt những năm tháng đầy khó khăn, thử thách với cách mạng ViệtNam là một việc làm rất cần thiết, nhất là sau khi vừa giành được chínhquyền cách mạng, cả dân tộc phải đương đầu với kẻ thù lớn mạnh
1.1.3 Các nghiên cứu về công tác dân vận trong quân đội
Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1993), Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới [55], làm rõ vị trí ,
vai trò của công tác dân vận và sự cần thiết phải đổi mới công tác dân vậntrong giai đoạn cách mạng hiện nay Nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng,đồng thời, xác định rõ vị trí, vai trò và nội dung công tác dân vận của Quânđội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới Trên cơ sở đó, đề xuất nhữngkiến nghị, giải pháp tiếp tục đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dânViệt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu xây dựngquân đội Công tác dân vận được coi là tiêu chí để xây dựng bản chất và rènluyện ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam Côngtác dân vận thực sự là một trong những điều kiện quan trọng để quân đội tarèn luyện, xây dựng bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp “Trung vớiĐảng, hiếu với dân” xây dựng nên mối quan hệ máu thịt quân - dân, tạo thànhnguồn sức mạnh vô địch và ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù, gópphần làm rạng danh Tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong thời đại mới
Đặng Vũ Liêm (2000), “Công tác vận động quần chúng của Bộ đội Biênphòng góp phần xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới Tổ quốc”[119], khẳng định, nội dung công tác vận động quần chúng không chỉ đơnthuần tuyên truyền vận động, mà phải tiến hành toàn diện Tham gia xây dựng,củng cố cơ sở chính trị, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 23chương trình xóa đói giảm nghèo, tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng vàbảo vệ biên giới Trên cơ sở phân tích những chủ trương, biện pháp đổi mớicông tác vận động quần chúng, tác giả đã đánh giá kết quả thực hiện công tácvận động quần chúng và rút ra 6 kinh nghiệm chủ yếu, trong đó kinh nghiệmthứ ba được tác giả chỉ rõ: Bộ đội Biên phòng đã kết hợp chặt chẽ công tác biênphòng với tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới; giữatuyên truyền, giác ngộ đồng bào với “chăm lo nhu cầu bức thiết trong đời sốngcủa quần chúng, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, trên cơ sở đó tạo động lựcphong trào quần chúng bảo vệ biên giới” [119, tr.14].
Tổng cục Chính trị (2000), Đẩy mạnh công tác dân vận tham gia xây dựng nền chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, [160] khẳng định công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt
Nam là một phần công tác dân vận của Đảng Cộng sảng Việt Nam Trong quátrình thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi phải được đẩy mạnh công tác tuyêntruyền vận động nhân dân cả chiều rộng và bề sâu Trong đó nhấn mạnh côngtác dân vận của quân đội có vai trò quan trọng, góp phần quyết định đến sựtồn tại và phát triển của đất nước, đồng thời đề ra các biện pháp nhằm đẩymạnh công tác dân vận của quân đội trong tình hình mới
Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (2001), Đổi mới công tác dân vận tham gia xây dựng nền tảng chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam
[56], làm rõ vị trí, vai trò của công tác dân vận trong việc tham gia xâydựng nền tảng chính trị tinh thần trong quân đội và sự cần thiết phải đổimới công tác dân vận trong giai đoạn cách mạng mới Vì Quân đội nhândân Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của nhân dân, thực sự làlực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhànước nhân dân qua các thời kỳ cách mạng Công tác dân vận của quân đội
đã trực tiếp góp phần củng cố nền tảng chính trị - xã hội vững chắc, tăng
Trang 24cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tạo nên nguồn sứcmạnh to lớn để lực lượng vũ trang nhân dân chiến đấu và chiến thắng.
Đặng Vũ Liêm (2002),Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng của Bộ đội Biên phòng trong đấu tranh phòng chống truyền đạo trái phép ở địa bàn biên giới Tây Bắc hiện nay [120], khẳng định cơ sở khoa
học của công tác vận động quần chúng trong phòng chống truyền đạo tráiphép ở địa bàn biên giới Tây Bắc Trong đó khẳng định vai trò quan trọngcủa công tác vận động quần chúng trong phòng chống truyền đạo trái phép,bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ quốc Tác giả nhấn mạnh: “Chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh chính trị vùng biên giới chỉ có thểđược giữ gìn và bảo vệ vững chắc trong mọi tình huống khi và chỉ khi tạolập được một thế trận biên phòng toàn dân vững chắc” [120, tr.54]
Nguyễn Kim Khoa (2006), “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kếthợp với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới Quân khu 2”[114], làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân kết hợp với xây dựng thế trận an ninh nhân dân và công tác vận độngquần chúng, tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.Tác giả đã đề cập đến những đặc điểm chi phối công tác xây dựng thế trậnquốc phòng toàn dân kết hợp với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở khuvực biên giới trong tình hình mới
Bùi Văn Huấn (2010) “Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của Quân
đội nhân dân trong thời kỳ mới” [108] Trong bài viết, tác giả đã làm rõ vị trí,
vai trò của công tác dân vận, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu vàtrưởng thành, trải qua các giai đoạn cách mạng khác nhau, lúc thuận lợicũng như khó khăn, trong chiến tranh hay trong hòa bình, Quân đội nhândân Việt Nam luôn dựa vào nhân dân, giúp đỡ nhân dân, bảo vệ nhân dân
và được nhân dân tin cậy, đùm bọc Dù ở đồng bằng hay miền núi, biêngiới hay hải đảo, công tác dân vận của quân đội đã góp phần quan trọng
Trang 25đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nướcđến với đồng bào, đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống Trên cơ sởquán triệt sâu sắc Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tácdân vận trong tình hình mới, tác giả đã đánh giá những thành tựu, hạn chế,
đề xuất những nội dung cần tập trung thực hiện trong thời gian tới nộidung, biện pháp hàng đầu là: “Cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận độngnhân dân quán triệt và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng các địa phươngngày càng giàu mạnh” [108, tr.23]
Nguyễn Văn Thúy (2012), Bộ đội Biên phòng tỉnh vận động quần chúng tham gia bảo vệ biên giới Tây Bắc trong tình hình mới [146], chỉ ra
những vấn đề lý luận và thực tiễn về Bộ đội Biên phòng vận động quần chúngtham gia bảo vệ biên giới Tây Bắc Đánh giá thực trạng, đưa ra những dự báo
và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận của Bộ độiBiên phòng cấp tỉnh vận động quần chúng tham gia bảo vệ biên giới Tây Bắctrong tình hình mới Trong đó, tác giả chỉ rõ: “Cùng tham gia bảo vệ biên giớiquốc gia với Bộ đội Biên phòng còn có một lực lượng quan trọng, đó là quầnchúng nhân dân sống trực tiếp trên biên giới” [146, tr.76] Quần chúng nhândân có sức mạnh to lớn, các tỉnh biên giới Tây Bắc muốn hoàn thành nhiệm
vụ phải biết dựa vào dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức, hướng dẫn quầnchúng nhân dân tham gia bảo vệ biên giới
Phạm Huy Tập (2013), “Bộ đội Biên phòng đẩy mạnh công tác vận độngquần chúng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tình hình mới” [149], chỉ rõ: Để từngbước phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân ở khu vực biên giới hiện nay cần tiếp tục nâng cao chất lượng
và hiện quả công tác vận động quần chúng trong tình hình mới Trên cơ sở phântích những đặc điểm cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở khu vực biên
Trang 26giới, tác giả đã khẳng định: “Công tác vận động quần chúng không ngừng đượcphát huy, góp phần quan trọng để tổ chức tuyên truyền vận động Huy động sứcmạnh của toàn dân tham gia quản lý bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và xâydựng biên giới ngày càng vững mạnh” Đánh giá những kết quả đạt được vànhững tồn tại, bất cập của công tác vận động quần chúng, tác giả đã phân tíchnhững yếu tố mới tác động và đề xuất sáu nhóm giải pháp quan trọng đẩy mạnhcông tác vận động quần chúng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới[149, tr.91].
Đinh Vũ Thủy (2013), Bộ đội Biên phòng vận động người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới ở khu vực biên giới Tây Bắc [147], phân tích làm rõ cơ sở lý luận để Bộ đội Biên
phòng các tỉnh Tây Bắc vận động người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu
số tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Đánh giá thực trạng Bộ độiBiên phòng vận động người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, dự báotình hình có liên quan đến công tác vận động người có uy tín trong đồng bào dântộc thiểu số Xây dựng khái niệm, đặt ra yêu cầu, nội dung, phương pháp Bộ độiBiên phòng vận động người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số Đề xuấtmột số giải pháp nâng cao hiệu quả Bộ đội Biên phòng vận động người có uy tíntrong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới ởkhu vực biên giới phía bắc Theo tác giả, vận động người có uy tín trong đồngbào các dân tộc thiểu số là một nội dung, hình thức, biện pháp quan trọng Trongcông tác vận động quần chúng “Vận động người có uy tín trong đồng bào dântộc thiểu số là một nội dung của công tác vận động quần chúng, đặt dưới sự lãnhđạo của cấp ủy đảng và điều hành của người chỉ huy các cấp” [147,tr.102]
Nguyễn Sĩ Thăng (2014), “Lực lượng vũ trang Quân khu 1 thực hiệntốt công tác dân vận” [151], tác giả khẳng định lực lượng vũ trang Quân khu 1
đã quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết 152-NQ/ĐUQSTW của Đảng
Trang 27ủy Quân sự Trung ương về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận củalực lượng vũ trang trong thời kỳ mới” Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã lãnhđạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Quân khu thực hiện tốt công tác dân vận, gópphần củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng “thế trậnlòng dân” vững chắc, giữ vững sự ổn định chính trị trên địa bàn Để Nghị quyết
152 của Quân ủy Trung ương đi vào cuộc sống, Thường vụ Đảng ủy Quân khu đã
ra Nghị quyết chuyên đề về công tác dân vận Xác định phương hướng, mục tiêu,nhiệm vụ, chủ trương, giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới và tăng cường côngtác này của lực lượng vũ trang Quân khu trong tình hình mới
Hoàng Danh Luyến (2014), “Công tác dân vận gắn với nhiệm vụ quốcphòng - an ninh” [125], làm rõ những năm gần đây, tình hình hoạt động tôngiáo có những diễn biến phức tạp Đạo Tin lành tăng nhanh về số lượng tín đồ
và điểm nhóm, một số đạo lạ, tà đạo xuất hiện Tình trạng tái diễn việc tổchức truyền đạo trái pháp luật, tập trung vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc củaĐảng, Nhà nước Nhằm phân hoá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽdân với Đảng, dân với quân, dân với dân gây ảnh hưởng trực tiếp đến côngtác vận động quần chúng của các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang Tới sựphát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh địa phương, tiềm ẩnnhững nhân tố gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại cơ
sở Do vậy phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng đối với đồng bàodân tộc, tôn giáo nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới
Hoàng Danh Luyến (2014),“Thực hiện tốt công tác dân vận vùng đồngbào dân tộc ở địa bàn Quân khu 1” [126], khẳng định những năm qua, được
sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, nhân dân các dân tộc trên địabàn và lực lượng vũ trang Quân khu 1 Đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọikhó khăn giành được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, từng bước nâng cao
Trang 28đời sống của nhân dân và bộ đội Qua đó tăng thêm niềm tin của cán bộ,chiến sĩ và đồng bào các dân tộc vào Đảng và công cuộc đổi mới đất nước
do Đảng lãnh đạo Tuy nhiên, so với mặt bằng chung trên địa bàn Quân khu
và cả nước thì đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còngặp nhiều khó khăn Cơ sở hạ tầng vẫn trong tình trạng kém phát triển, sản xuấtgặp nhiều khó khăn, mức sống còn thấp Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồngbào dân tộc thiểu số, mặc dù đã được các địa phương quan tâm củng cố, xâydựng nhưng còn nhiều bất cập cả về trình độ chính trị và năng lực hoạt động củađội ngũ cán bộ Tình trạng truyền đạo trái pháp luật trong một bộ phận các dântộc Mông, Dao diễn biến phức tạp Những vấn đề bức xúc trên là cớ để các thếlực thù địch lợi dụng nhằm lừa phỉnh đồng bào, xuyên tạc đường lối, chủ trương,chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta Phân hóa, chia rẽ khối đại đoàn kếtdân tộc, chia rẽ dân với Đảng, dân với quân, dân với dân để thực hiện mục tiêuchiến lược “diễn biến hoà bình”
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã đề cập: khái niệm, mục đích, nội
hàm, phương pháp và phương thức tiến hành công tác dân vận; sự lãnh đạocủa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác dânvận qua các thời kỳ lịch sử; khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạnchế; đồng thời, bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạocông tác dân vận của Đảng Các tác giả cũng đề cập đến việc đổi mới nộidung và phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng nói chung và đốivới từng tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quầnchúng nói riêng Những công trình khoa học trên đã cung cấp những vấn đề
Trang 29lý luận chung và phương pháp nghiên cứu đề tài; gợi mở những luận điểmkhoa học và tài liệu quý cho tác giả trong quá trình tiến hành viết luận án.
Thứ hai, các công trình khoa học đều khẳng định công tác dân vận có
vai trò rất quan trọng trong vận động quần chúng nhân dân thực hiện đườnglối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Chiến lược đạiđoàn kết toàn dân tộc của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, góp phần giữvững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh Vìthế, phải đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, nâng cao nhận thức và hiểubiết về công tác dân vận cho mọi đối tượng, mọi lực lượng và toàn dân Điềuquan trọng nhất là phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đốivới công tác dân vận và thực hiện công tác dân vận trong tình hình hiện nay
Thứ ba, các công trình khoa học đã tập trung làm rõ các quan điểm,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân vận, công tácdân vận trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ của quân đội và từng đơn vị Vềvai trò của các tổ chức, các lực lượng, về quá trình tổ chức thực hiện Cáccông trình khoa học đều khẳng định thực hiện công tác dân vận ở nước ta hiệnnay là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng trong và ngoàiquân đội trong đó có các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn Quân khu 1
Thứ tư, các công trình khoa học đều khẳng định các đơn vị quân đội có vai
trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, thực hiện công tác dân vận của Đảng,Nhà nước Trong đó, điểm nhấn của các tác giả, yêu cầu quan trọng nhất đặt ra làtừng đơn vị, trong đó người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và cán bộ chuyên tráchphải chịu trách nhiệm chủ yếu về quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng Trênmọi lĩnh vực xây dựng, hoạt động và giải quyết các mối quan hệ có liên quan đếnthực hiện công tác dân vận ở từng địa phương nơi đơn vị đóng quân
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
đã luận giải khá toàn diện những vấn đề cơ bản về dân vận, tiến hành công tácdân vận nói chung, trong quân đội nói riêng Song, đến nay chưa có một công
Trang 30trình nào đi sâu nghiên cứu một cách độc lập có hệ thống về Đảng bộ Quânkhu 1 lãnh đạo công tác dân vận dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam Vì vậy, đề tài “Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013” là đề tài độc lập, không trùng lắp với các công trình khoa học, luận án đã công bố, bảo vệ
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài chothấy, để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, Luận án tập trungnghiên cứu, giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân
khu 1 về công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên các khía cạnh: vịtrí, vai trò của công tác dân vận; điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Quânkhu 1; thực trạng công tác dân vận của Quân khu 1 trước năm 2003; chủ trươngcủa Đảng, của Quân ủy Trung ương về công tác dân vận trong thời kỳ mới
Hai là, đi sâu làm rõ chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác
dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, phục dựng quá trình Đảng bộ Quân khu
1 chỉ đạo thực hiện công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013 trên các vấn
đề chủ yếu: Chỉ đạo giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ,chiến sĩ về công tác dân vận; Chỉ đạo tuyên truyền, vận động nhân dân thựchiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước; Tham gia xâydựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh; Phối hợp giúp đỡ địaphương phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội
Ba là, nhận xét đánh giá ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân của ưu
điểm, hạn chế, đút kết những kinh nghiệm chủ yếu từ qua trình Đảng bộ Quânkhu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013
Trang 31Kết luận chương 1
Công tác dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng,
có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dântộc Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận, vai tròcủa các đơn vị lực lương vũ trang trong công tác vận động nhân dân thực hiệnchủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Chính vì vậy công tácdân vận đã trở thành chủ đề được các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khác nhau Các tác giả đã
đề cập đến việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo công tác dân vậncủa Đảng nói chung và đối với từng tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể quần chúng nói riêng Những công trình khoa học trên
đã cung cấp những vấn đề lý luận chung và phương pháp nghiên cứu đề tài,gợi mở những luận điểm khoa học và tài liệu quý cho tác giả trong quá trìnhtiến hành viết luận án
Các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án là tươngđối toàn diện Khẳng định vị trí, vai trò, chỉ ra những nội dung chủ yếu, góp phần làm
rõ những vấn đề chung và một số vấn đề cụ thể về công tác dân vận và việc thực hiệncông tác ở các địa phương trong cả nước và đơn vị quân đội, trong đó có các đơn vịtrên địa bàn Quân khu 1 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đãcung cấp cho tác giả cách nhìn toàn diện, đa chiều về Quân khu 1 và là nguồn tài liệuquan trọng trong quá trình nghiên cứu sinh viết luận án
Trang 32Những công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau đến những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác dân vận của Đảng trong tìnhhình mới, bước đầu đề cập đến Quân đội thực hiện công tác dân vận và một số đơn vịthực hiện công tác dân vận ở một số địa bàn cụ thể Qua đó, đã cung cấp nhiều luận
cứ có giá trị để nghiên cứu công tác dân vận, góp phần vào đổi mới nhận thức, nângcao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác này trên địa bàn Quân khu 1 hiện nay
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ QUÂN KHU 1
VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2008
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu 1
Trang 33Khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, sau khủng hoảngtài chính kinh tế, có khả năng phát triển năng động nhưng vẫn đang phải đốimặt với những thử thách, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định Giữa cácnước còn có sự khác nhau về kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa - xã hội cách nhìnnhận chưa đồng nhất trong quan hệ với các nước Chưa tạo lập được một hệthống giá trị chung, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chống khủng bố, nhữngvấn đề toàn cầu, vấn đề chủ quyền biên giới, biển đảo Chính điều đó đòi hỏicông tác dân vận của Quân khu 1 cần được đổi mới về nội dung, hình thức, biệnpháp, trước sự biến động phức tạp và diễn biến rất mau lẹ của tình hình chính trị,quân sự, an ninh trên thế giới và khu vực.
* Tình hình trong nước
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng và 15 nămtiến hành sự nghiệp đổi mới, tình hình đất nước có nhiều chuyển biến tích cực:Chính trị tiếp tục ổn định, kinh tế tăng trưởng khá văn hoá - xã hội có nhữngtiến bộ Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; quốc phòng, an ninh đượctăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế được nâng lên
Bên cạnh những thuận lợi, thời cơ vận hội, chúng ta đang phải đương đầuvới những thách thức mới Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất lànguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phánước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểuhiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, côngchức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp;khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội cómặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhândân vào Đảng và Nhà nước Bảo vệ biên giới, chủ quyền biển, đảo đứng trước
Trang 34nhiều khó khăn, thách thức lớn, tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còntiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.
Những vấn đề nêu trên có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự pháttriển kinh tế - xã hội, đến đời sống, tâm tư, tình cảm của nhân dân cả nước nóichung, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu 1 nói riêng; đòi hỏi công tácdân vận của các đơn vị trên địa bàn Quân khu 1 phải nâng cao chất lượng, hiệuquả để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của tình hình mới
2.1.2 Vị trí, đặc điểm của địa bàn Quân khu 1
Quân khu 1 nằm ở Đông Bắc của Tổ quốc, bao gồm toàn bộ phần thượng
du và một phần trung du Bắc Bộ, liền sát và án ngữ phía Bắc Thủ đô Hà Nội.Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, phía Tây sát liền vớivùng rừng núi Tây Bắc rộng lớn và hiểm trở, phía Đông có đường bộ, đườngthủy thông ra biển Quân khu 1 bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, LạngSơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, có 59 huyện, (thị xã, thành phố)trong đó, có 17 huyện miền núi, 26 huyện vùng cao dân số khoảng 5 triệungười, phân bố không đều, có 25 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Namcùng chung sống Có ba vùng (rừng núi, trung du, đồng bằng), trong đó rừng núichiếm 90% diện tích, có 564,865 km đường biên giới trên bộ giáp với TrungQuốc (thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn với 14 huyện biên giới và 65 xãgiáp biên); có 01 cửa khẩu quốc tế, 06 cửa khẩu quốc gia, cùng hàng trăm đườngtiểu ngạch thông thương với nước bạn Có vị trí quan trọng cả về kinh tế - xãhội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Địa bàn Quân khu chủ yếu là rừng núi,nhiều địa phương, cơ sở thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa hình hiểm trở, bịchia cắt bởi, sông, suối, giao thông đi lại khó khăn (nhiều nơi, từ huyện lỵ đếntrung tâm xã phải đi hết cả ngày đường và đi lại giữa các thôn, bản trong một xãcũng rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa), nên ảnh hưởng nhiều đến công tácvận động quần chúng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số [29, tr.19]
Trang 35Là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước trong chiến tranh giảiphóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ biên giới trước đây và trong suốt quátrình xây dựngvà bảo vệ Tổ quốc ngày nay Từ khi Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời, đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã sớm giác ngộ cách mạng ,kiên cường bất khuất, liên tiếp vùng lên chống lại áp bức, bóc lột của thựcdân Pháp và phong kiến tay sai Dưới sự lãnh đạo của Đảng, địa bàn Việt Bắc
đã sớm trở thành “cái nôi của cách mạng”, được Trung ương Đảng chọn làm
“An toàn khu - ATK” “Thủ đô kháng chiến” và là “Chiến trường chính củachiến trường chính Bắc Bộ” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Làhậu phương lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là “cảng nổi” giữ vai trò giaolưu quốc tế của cả nước nơi tiếp nhận vận chuyển hàng hóa viện trợ của cácnước xã hội chủ nghĩa Viện trợ chi viện cho chiến trường miền Nam trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổquốc Việt Bắc - Quân khu 1 là địa bàn chiến lược quan trọng trong xây dựngthế trận phòng thủ quốc gia, là cửa ngõ thông thương, giao lưu giữa nước tavới Trung Quốc Là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, có nhiều tiềmnăng phát triển kinh tế, Quân khu đã có hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu vàtrưởng thành, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo côngtác dân vận, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vữngmạnh [29, tr.20 - 24]
Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội: sau 15 năm đổi mới, tình hình kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh của các địa phương tuy đã có cải thiện, nhưngnhìn chung đời sống của nhân dân còn khó khăn Trình độ dân trí thấp vàkhông đồng đều, nhất là ở các huyện vùng cao, miền núi và vùng đồng bàodân tộc Dao, H’Mông, tình trạng mù chữ, tái mù chữ vẫn còn sẩy ra Trên địabàn Quân khu hiện nay có 3 tôn giáo chính (Thiên Chúa giáo, Phật giáo, ĐạoTin Lành) Trong đó: Thiên Chúa giáo có 81.820 giáo dân, chiếm 1,47% dân
Trang 36số Phật giáo có 1.334.229 phật tử, chiếm 23,94% dân số Đạo Tin Lành có
52.361 tín đồ, chiếm 0,94% dân số Phần đông tín đồ các tôn giáo là nhân dân
lao động, cư trú tập trung ở các địa bàn trung tâm về chính trị, kinh tế, quốcphòng an ninh Một bộ phận là đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ởcác địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng còn gặp nhiều khó khăn như: Bảo Lâm, BảoLạc, Nguyên Bình (Cao Bằng); Pắc Nậm, Ba Bể, Chợ Mới (Bắc Kạn); Võ Nhai,Đồng Hỷ (Thái Nguyên) [85, tr.2]
Các địa phương trên địa bàn Quân khu đã và đang hình thành phát triển cáckhu công nghiệp của Trung ương và địa phương, song phân bố không đều, chủ yếu
ở trung du và đồng bằng, đô thị Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm so với cảnước (tỷ lệ xã nghèo còn cao), đến năm 2008 trên địa bàn Quân khu còn 232 xãnghèo, trọng điểm (tỉnh Cao Bằng: 106 xã, tỉnh Bắc Kạn: 84 xã, tỉnh Lạng Sơn: 17
xã, tỉnh Bắc Giang : 14 xã, tỉnh Thái Nguyên: 11 xã, những vùng trọng điểm như:Bảo Lạc (Cao Bằng), Sơn Động (Bắc Giang), Na Rì (Bắc Kạn), tỷ lệ đói nghèo 35 -55% “Số người không có công ăn việc làm chiếm tỷ lệ cao, nhiều tiềm năng ở địaphương chưa được phát huy, cơ sở hạ tầng các tỉnh, huyện miền núi phát triểnchậm, khó khắc phục được trong thời gian ngắn” [90, tr.18]
Lợi dụng những vấn đề đó, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt độngtuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo nhân dân để chống phá Đảng, Nhànước và chính quyền địa phương Mặt khác, trên địa bàn Quân Khu còn tiềm ẩnnhững nhân tố bất ổn định, như: trên tuyến biên giới còn nhiều điểm tranh chấpgiữa Việt Nam và Trung Quốc Tình hình dân tộc, tôn giáo ở một số địa phươngkhá phức tạp, với các hoạt động: di cư tự do, giáo dân đòi đất để mở rộng, cơi nớinhà thờ, nhà nguyện, hoạt động truyền đạo trái pháp luật; các tập tục lạc hậu, mêtín dị đoan Tệ nạn xã hội ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng (riêng sốnghiện hút có khoảng 3 vạn người) Các loại tội phạm ở tuyến biên giới vẫn chưađược ngăn chặn; tình hình thiên tai, dịch bệnh vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp
Trang 37đến công tác dân vận quốc phòng, an ninh và xây dựng thế trận quốc phòng toàndân, an ninh nhân dân [85, tr.3].
Tóm lại, các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người của địa
bàn Quân khu 1 có những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, xâydựng đời sống văn hóa mới, nhưng cũng có nhiều nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đếnviệc thực hiện công tác dân vận, trong đó, những thách thức đặt ra đối với công tácdân vận ở Quân khu 1 là:
Thứ nhất, địa bàn Quân khu 1, điểm xuất phát thấp, nhiều địa phương
còn xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước Nên việc nângcao đời sống nhân dân gắn với việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước còn hạn chế
Thứ hai, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang trên địa bàn
Quân khu 1 có diện tích khá rộng, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn., Dân cư lạisống phân tán, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biêngiới Đây cũng là nơi các thế lực thù địch thường xuyên chống phá quyết liệt, âmmưu chia cắt, lôi kéo, chi phối đồng bào các dân tộc Do vậy các tổ, đội công tác lựclượng tiến hành công tác vận động nhân dân chấp hành đường chủ trương chínhsách của Đảng, pháp luật Nhà nước gặp nhiều khó khăn
Thứ ba, Địa bàn hai tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh là vùng trung du,
đồng bằng, đô thị tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, có tiềm năng pháttriển kinh tế xong tình trạng tranh chấp đất đai, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn
xã hội diễn ra phức tạp nên việc tuyên truyền, vận động xây dựng khối đạiđoàn kết dân tộc gặp không ít khó khăn
Thứ tư, địa bàn Quân khu 1 hội đủ ba yếu tố: dân tộc, tôn giáo và biên giới.
Đây là những vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìmcách lợi dụng để chống phá
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cho Quân khu 1 cần phải đổi mới công tácdân vận, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Đặc biệt là phải có
Trang 38chủ trương, biện pháp đúng đắn phù hợp, để thúc đẩy các phong trào quầnchúng, tạo được sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội, quốc phòng, anninh trên địa bàn chiến lược này.
2.1.4 Thực trạng lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quân khu 1 trước năm 2003
Trước năm 2003, công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu 1
đã tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm góp phần tuyên truyền, vận độngnhân dân địa phương trên địa bàn đóng quân thực hiện tốt các chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tham gia giúp đỡ địa phươnggiải quyết các vụ việc phức tạp, góp phần ổn định tình hình địa bàn, xây dựng
cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, xoá đói giảm nghèo,phòng chống tệ nạn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ cứu nạn Cáchình thức hoạt động dân vận được triển khai đồng bộ, có chiều sâu và đạtđược hiệu quả thiết thực như: hoạt động kết nghĩa, tổ đội công tác, đại đội đilàm dân vận, phối hợp hoạt động với các đoàn thể và tổ chức chính trị - xãhội, chỉ đạo dân quân làm dân vận
Cán bộ, chỉ huy các cấp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong chỉ đạo,điều hành, chấn chỉnh các biểu hiện xem nhẹ, ngại khó, ngại khổ khi tiến hànhvận động quần chúng nhân dân Thực hiện đường lối chủ trương chính sách củaĐảng, pháp luật Nhà nước, đồng thời, luôn gắn kết quả công tác dân vận với cácmặt hoạt động khác của đơn vị Cấp ủy, chỉ huy các cấp trực tiếp chỉ đạo, hướngdẫn các đơn vị về nội dung, biện pháp giáo dục, quản lý bộ đội chấp hành kỷ luậtquan hệ quân - dân, tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân Phối hợp với các cấp
uỷ Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương tiến hành tuyên truyền,vận động nhân dân Tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội.Củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng địa bàn an toàn, phòng chống địch lợidụng tôn giáo tạo ra các “điểm nóng” và gây bạo loạn lật đổ
Trang 39Đội ngũ làm công tác dân vận luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khôngquản ngày đêm vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, kiên trì bám dân,bám làng, bám địa bàn, xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân vững chắc”.Trên địa bàn Quân khu, hằng năm, các đơn vị đều mở lớp tập huấn bồi dưỡngkiến thức công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo cho các đối tượng, gửicán bộ tham gia các lớp tập huấn do Bộ Quốc phòng và Ban Dân vận, Ban Tôngiáo các tỉnh, thành tổ chức Thực tiễn hoạt động công tác dân vận của Quânkhu trước năm 2003 đã xây dựng được niềm tin trong nhân dân, là cầu nối dânvới Đảng là chỗ dựa tin cậy trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh gópphần củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, làm thất bại âm mưuchống phá từ bên trong của các thế lực thù địch [85, tr.4].
Bên cạnh những ưu điểm, công tác dân vận của Quân khu 1 trướcnăm 2003 còn tồn tại một số hạn chế đó là:
Thứ nhất, một số cấp ủy, chỉ huy đơn vị chưa thật sự coi trọng đúng
mức công tác vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trươngchính của Đảng, pháp luật Nhà nước trên địa bàn Quân khu “Thực tiễn tiếnhành công tác dân vận của các đơn vị cho thấy, nhận thức của một số cấp ủy, tổchức đảng về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng còn hạn chế” Chưa thấyđược tính chất phức tạp của công tác vận động đồng bào dân tộc, tôn giáo, nhất
là đồng bào các dân tộc, tôn giáo vùng sâu, vùng xa, biên giới Một số cấp uỷ,chỉ huy còn xem nhẹ công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ quần chúng nhândân, trong sản xuất phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước Coi công việc đó là trách nhiệm của cơ quanchính trị, của cán bộ chính trị, cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận nênchưa phát huy hết trách nhiệm trong tổ chức thực hiện công tác dân vận, cũngnhư kiểm tra, đôn đốc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm [90, tr.19]
Trang 40Báo cáo tổng kết 10 năm tiến hành công tác dân vận của Đảng uỷ Quânkhu (1990 - 2000) chỉ rõ: Tổ chức quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết
có liên quan đến công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo và bồi dưỡngkiến thức, kinh nghiệm và năng lực công tác dân vận cho các đối tượng Củamột số cấp ủy, chỉ huy đơn vị chưa thường xuyên, do đó một số cán bộ, chiến
sĩ còn lúng túng, bị động trước các vấn đề phức tạp nảy sinh Từ thực tiễn tiếnhành công tác dân vận ở một số địa phương, “Một số cán bộ, chiến sĩ nhậnthức, trách nhiệm về công tác dân vận còn hạn chế, chưa coi đó là một nhiệm
vụ chính trị của Quân khu và đơn vị” [85, tr.11]
Thứ hai, nội dung, hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là
đồng bào dân tộc, tôn giáo vùng sâu, vùng xa, biên giới trong việc thực hiệnthực đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước củamột số đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu còn đơn điệu, chưa có chiều sâu,hiệu quả thấp Công tác tuyên truyền, vận động của một số cơ quan, đơn vị cólúc chưa thực sự bám sát định hướng chính trị, diễn biến thực tiễn của địaphương, cũng như đối tượng tác động Mục đích tuyên truyền chưa đi sâu vàotrọng tâm là tăng cường đoàn kết quân - dân, tham gia xây dựng nền tảng chínhtrị ở địa phương, chưa hướng vào mục tiêu ổn định tình hình mọi mặt, trước hết
là ổn định về chính trị, quốc phòng - an ninh trên địa bàn đóng quân
Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân chưa được tiếnhành thường xuyên, liên tục, các đơn vị chủ yếu tập trung vào các đợt phátđộng quần chúng nhân dân tham gia các phong trào như: “Toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.Phương pháp tuyên truyền còn khô cứng, chưa phù hợp với đặc điểm tâm lí,trình độ học vấn của đồng bào dân tộc, tôn giáo, nhất là đồng bào dân tộc ítngười ở vùng biên giới Việt - Trung Sự phối hợp với cấp uỷ, chính quyền vàcác cơ quan, ban ngành, đoàn thể địa phương chưa chặt chẽ, trong tuyêntruyền vận động già làng, trưởng bản, người có uy tín ở địa phương chưa