SUMMARY Pig production plays an important position in the agricultural household’s economy in the Red River Delta and serves both domestic and foreign market. The study evaluated pork’s comparative advantage in Red River Delta during the period 2003-2005, sampling in four representative provinces (Ha Tay, Hung Yen, Nam Dinh and Hai Duong). The results showed that with moderate variation of some factors (5%-15% decrease in export price of cut meat, or decrease in import price of pig’s feedstuffs, or 5%-15% improved productivity, other things remained constant), pork production in the Red River Delta had comparative advantage. Key words: Pig, economic efficiency, and comparative advantage
Trang 1Lợi thế so sánh của sản phẩm thịt lợn tại vùng đồng bằng sông hồng
Comparative Advantage of pork production in the Red River Delta
Vũ Đình Tôn * , Nguyễn Thị Thu Huyền ** và cộng sự
SUMMARY
Pig production plays an important position in the agricultural household’s economy in the Red River Delta and serves both domestic and foreign market The study evaluated pork’s comparative advantage in Red River Delta during the period 2003-2005, sampling in four representative provinces (Ha Tay, Hung Yen, Nam Dinh and Hai Duong) The results showed that with moderate variation of some factors (5%-15% decrease in export price of cut meat, or decrease in import price of pig’s feedstuffs, or 5%-15% improved productivity, other things remained constant), pork production in the Red River Delta had comparative advantage
Key words: Pig, economic efficiency, and comparative advantage
1 ĐặT VấN Đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn
nuôi lợn nước ta liên tục phát triển từ 20,19
triệu con năm 2000 tăng lên 27,34 triệu con
năm 2005, trong đó đàn lợn vùng đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH) đạt 7,42 triệu con chiếm
27,1% tổng đàn lợn cả nước (Niên giám thống
kê, 2006)
Hiện nay, mặc dù có nhiều điều kiện thuận
lợi phát triển chăn nuôi lợn theo hướng sản
xuất hàng hoá, nhưng chăn nuôi lợn trong vùng
vẫn tập trung chủ yếu ở các nông hộ qui mô
nhỏ, chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế
Ngoài ra, thị trường thịt lợn trên thế giới gần
đây đang có nhiều biến động đã có những ảnh
hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển chăn
nuôi lợn của vùng
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra
nhiều cơ hội cho sản phẩm thịt lợn của vùng
Cùng với việc tận dụng những ưu thế có sẵn,
cần phân tích tìm ra những ưu nhược điểm của
ngành chăn nuôi lợn nhằm nâng cao năng lực
sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
thịt lợn trong vùng Vì vậy với mục đích trên
nhóm tác giả đã tiến hành thực hiện nghiên
cứu này
2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Nghiên cứu này được tiến hành tại 4 tỉnh: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Nam
Định trong thời gian từ 2003-2005 Đây là các tỉnh có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn của vùng đồng bằng sông Hồng
Các số liệu mô tả tình hình sản xuất chung của vùng nghiên cứu được thu thập từ các tạp chí, sách báo và số liệu thống kê của phòng ban các tỉnh nói trên
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua hình thức đặt sổ theo dõi 1080 hộ chăn nuôi, 30-33 trang trại có quy mô từ nhỏ đến lớn trên
4 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Nam Định Ngoài ra, chúng tôi đã phỏng vấn trực tiếp 48 hộ thu gom, 72 hộ giết mổ và 4 xí nghiệp chế biến lợn choai và lợn sữa xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hải Dương và Hải Phòng Nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán, so sánh và phân tích lợi thế so sánh (thông qua các chỉ số DRC, DRC/SER, lợi nhuận thực tế và lợi nhuận xã hội…) Lợi thế
so sánh của chăn nuôi lợn xuất khẩu vùng đồng bằng sông Hồng được xác định thông qua chỉ tiêu chi phí các nguồn lực trong nước (DRC) Lợi thế so sánh của sản xuất thịt lợn xuất khẩu
được xem xét thông qua tỷ số DRC/SER Để
đảm bảo tính xác thực của các kết quả tính toán, nghiên cứu đưa ra một số bảng tính như sau: Tỷ giá hối đoái chính thức là OER=15,75/1US$; Tỷ giá hối đoái bóng (tỷ
Trang 2giá hối đoái mờ) là SER=1,2*OER.
3 KếT QUả NGHIÊN CứU
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của đồng bằng
sông Hồng
Sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSH đã
có sự phát triển nhanh trong quá trình thực hiện
chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đặc biệt là sự thay
đổi đáng kể của ngành chăn nuôi, trong đó có
sự đóng góp rất lớn của ngành chăn nuôi lợn
Bởi vì chăn nuôi lợn luôn chiếm một phần rất
quan trọng ở vùng ĐBSH Hơn nữa, đàn lợn
của vùng luôn chiếm 26 - 27% trong tổng đàn
lợn của cả nước Những điều này cho thấy,
chăn nuôi lợn rất quan trọng trong xu hướng
phát triển nông nghiệp của vùng
Ngoài đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
người dân trong vùng, sản phẩm thịt lợn vùng
ĐBSH còn được chế biến phục vụ xuất khẩu
Giai đoạn 1991-1997, xuất khẩu thịt lợn của
ĐBSH phát triển khá mạnh Tốc độ tăng bình
quân hàng năm đạt 17% (Tổng công ty Chăn
nuôi Việt Nam, 2001) Trong khi đó, xuất khẩu
thịt lợn của cả nước có chiều hướng suy giảm
Rõ ràng, trong giai đoạn này, hoạt động xuất
khẩu thịt lợn của ĐBSH đang chiếm giữ vị thế
chủ đạo của cả nước Năm 1995, tỷ trọng xuất
khẩu thịt lợn của ĐH so với cả nước đạt gần
76%, sau đó giảm, song vẫn chiếm hơn 50%
tổng lượng thịt lợn xuất khẩu của cả nước Sản
lượng xuất khẩu của vùng đạt cao nhất ước
khoảng 17.000 tấn vào năm 2001, sau đó giảm
mạnh vào năm 2002 và 2003 (Cục Nông
nghiệp, 2004).Gần đây, hoạt động xuất khẩu
thịt lợn của ĐBSH đang vấp phải nhiều khó
khăn Bên cạnh vấn đề tiêu chuẩn sản phẩm,
một nguyên nhân khá quan trọng là sản phẩm
thịt lợn xuất khẩu của vùng ĐBSH chủ yếu là
thịt đông lạnh (chiếm trên 80%), còn lại là thịt
lợn choai và lợn sữa Các sản phẩm xuất khẩu
thịt lợn chủ yếu ở dạng sơ chế nên sức hấp dẫn
kém, kim ngạch xuất khẩu thấp Đây cùng
chính là những khó khăn chung của chăn nuôi
lợn xuất khẩu trong cả nước
3.2 Hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra
* Các hộ nuôi lợn thịt
Kết quả tính toán đã cho biết tổng thu và mức đầu tư của các hộ ở các tỉnh không có sự sai lệch lớn Chi phí trung gian tính bình quân cho 100 kg lợn hơi xuất chuồng của các hộ
điều tra là 1.288,6 ngàn đồng Trong đó, chi phí thức ăn chiếm gần 70% Tổng thu bình quân tính cho 100 kg lợn hơi xuất chuồng đạt 1.512,07 ngàn đồng Sau khi trừ đi tất cả các chi phí đầu tư, thu nhập thuần của các hộ nuôi lợn thịt đạt 192,4 ngàn đồng trên 100 kg lợn hơi xuất chuồng Trong 4 tỉnh điều tra, thu nhập từ chăn nuôi lợn thịt ở tỉnh Hưng Yên là lớn nhất nhưng với chi phí trung gian cao nhất nên giá trị gia tăng tạo ra lại thấp nhất chỉ đạt 189,1 ngàn đồng/100 kg lợn hơi xuất chuồng, giá trị gia tăng cao nhất là các hộ chăn nuôi ở
Hà Tây đạt 236,6 ngàn đồng/100 kg lợn hơi xuất chuồng
* Các hộ nuôi lợn nái
Không giống như các hộ nuôi lợn thịt, sản phẩm cuối cùng của hộ nuôi lợn nái là lợn con xuất chuồng Mức đầu tư và giá trị sản phẩm cho các hộ này cũng có sự khác biệt lớn hơn so với hộ nuôi lợn thịt Giá trị gia tăng của các hộ nuôi lợn nái bình quân của 4 tỉnh nghiên cứu chiếm tỷ lệ 38,2% tổng thu (giá trị gia tăng bình quân 4 tỉnh đạt 662,1 ngàn đồng/100 kg lợn con hơi xuất chuồng) Giá trị VA đạt cao nhất tại Nam Định, do đa số các hộ sử dụng nhiều nguồn thức ăn tận dụng làm cho chi phí thức ăn giảm (732,4 ngàn đồng/100 kg lợn con hơi xuất chuồng), giá trị VA thấp nhất ở các hộ nuôi lợn nái tại Hải Phòng (567,5 ngàn
đồng/100 kg lợn con hơi xuất chuồng)
Nếu so sánh giữa hộ nuôi lợn thịt với hộ nuôi lợn nái, thu nhập thuần của hộ nuôi lợn nái cao gấp gần 3 lần so với nuôi lợn thịt nếu tính trên 100 kg lợn hơi
* Các trang trại nuôi lợn thịt
Nhìn chung, hiệu quả kinh tế của các trang trại cao hơn so với các nông hộ Nguyên nhân
là các trang trại chủ yếu nuôi lợn ngoại thuần
có năng suất và chất lượng cao Tuy nhiên, mức đầu tư về thức ăn, chuồng trại, con giống
ở các trang trại đều cao hơn so với các nông
hộ Bình quân thu nhập thuần ở 4 tỉnh là 309.600 đồng/100kg lợn hơi, chiếm tỷ lệ 90,5% giá trị gia tăng, cao hơn so với nông hộ 117,2 ngàn đồng/100kg lợn hơi
* Các trang trại nuôi lợn nái
Trang 3Hầu hết các trang trại nuôi lợn nái đều
nuôi lợn thịt Do vậy, phần lớn lợn con sản xuất
ra đều được giữ lại nuôi thịt Kết quả điều tra
cho thấy, các đầu tư về giống, chuồng trại, thức
ăn và kỹ thuật ở các trang trại cao hơn nhiều so
với chăn nuôi qui mô nhỏ nông hộ Giá trị gia
tăng bình quân của 100kg lợn con tại các trang
trại thuộc 4 tỉnh điều tra đạt 586.000 đồng, cao
nhất tại các trang trại ở Hải Phòng (661.400
đồng/100kg lợn con) Nếu so sánh với nông hộ
nuôi nái, thu nhập thuần của trang trại thấp hơn
(93,7 ngàn đồng/100 kg lợn con)
3.3 Phân tích lợi thế so sánh và cơ hội của sản phẩm thịt lợn vùng đồng bằng sông Hồng
* Lợi nhuận thực tế và xã hội của ngành hàng sản xuất thịt lợn xuất khẩu
Quá trình sản xuất lợn xuất khẩu có thể phân làm 2 công đoạn chính, gồm:
Chăn nuôi lợn tại nông hộ và trang trại Thu gom, chế biến thịt lợn choai, lợn sữa
và bán sản phẩm ra nước ngoài
Để có được một phân tích tổng quát, đã
kết hợp 2 công đoạn trên và các số liệu tính toán được thể hiện trên bảng 1
Bảng 1 Lợi nhuận thực tế và xã hội của ngành hàng sản xuất lợn xuất khẩu
(Tính cho 1 tấn lợn hơi)
Lợi nhuận thực tế
Lợi nhuận xã hội
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra hộ và cơ sở chế biến lợn xuất khẩu, 2004.
Kết quả phân tích kết hợp cả hai công
đoạn trên cho thấy: Lợi nhuận thực tế của
chuỗi ngành hàng lợn choai xuất khẩu đạt
được là 2.126,12 ngàn đồng/tấn còn lợi nhuận
thực tế của lợn sữa xuất khẩu đạt được là
4.787,01 ngàn đồng /tấn (Bảng 1) Như vậy,
lợi nhuận thực tế của ngành hàng lợn sữa cao
hơn lợi nhuận thực tế của ngành hàng lợn
choai Kết quả cũng chỉ ra rằng, lợi nhuận xã
hội của chuỗi ngành hàng lợn sữa cao hơn so
với lợi nhuận xã hội của ngành hàng lợn choai
xuất khẩu
* Lợi thế so sánh của chăn nuôi lợn xuất
khẩu vùng đồng bằng sông Hồng
Bảng 2 Chi phí nguồn lực cho sản xuất lợn choai
và lợn sữa xuất khẩu
Loại sản phẩm
1.Giá trị sản phẩm
Nguồn: Số liệu điều tra hộ và cơ sở chế biến lợn xuất
khẩu, 2004
Trang 4Hệ số chi phí nguồn lực của sản xuất và
chế biến lợn choai và lợn sữa xuất khẩu đều
nhỏ hơn 1 (DRC/SER) (Bảng 2) Điều này
chứng tỏ 2 loại sản phẩm trên đều có lợi thế so
sánh trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu Nói
một cách khác, chăn nuôi lợn choai và lợn sữa
đều mang lại hiệu quả trong việc tạo ra ngoại
tệ thông qua xuất khẩu Kết quả cho thấy lợi
thế so sánh của sản xuất lợn sữa
(DRC/SER=0,57) cao hơn so với sản xuất lợn
choai (DRC/SER = 0,61)
3.4 Các kịch bản khi hội nhập kinh tế thế
giới
Hiện nay, ngành hàng thịt lợn là một trong
những ngành hàng nông nghiệp đang gặp rất
nhiều khó khăn, đặc biệt là thịt lợn chế biến
xuất khẩu đang có nguy cơ mất dần thị trường
do gặp phải sự cạnh tranh rất mạnh về giá xuất
khẩu của các nước khác như Trung Quốc,
Braxin,… Nguyên nhân là chi phí thức ăn cho
chăn nuôi cao Thêm vào đó, hầu hết các thiết
bị dành cho chế biến thịt lợn của các nhà máy
đều lạc hậu, sản phẩm chủ yếu chỉ là thịt đông
lạnh và tập trung xuất khẩu cho 2 thị trường
chính là Nga và Hồng Kông
Trên cơ sở phân tích lợi thế so sánh của
ngành hàng lợn xuất khẩu, trong bối cảnh
chung của quá trình hội nhập chúng tôi đưa ra
một số kịch bản giả định như sau:
Kịch bản 1: Giá sản phẩm thịt lợn choai
và lợn sữa xuất khẩu giảm (các yếu tố khác
không đổi) thì lợi thế so sánh của ngành chăn
nuôi lợn tại vùng nghiên cứu sẽ thay đổi như
thế nào?
Kịch bản 2: Thuế nhập khẩu nguyên liệu
dành cho chế biến thức ăn được miễn hoàn
toàn (thuế nhập khẩu = 0) và giá thành sản xuất
giảm kéo theo chi phí trung bình của chăn nuôi
giảm (các yếu tố khác không đổi) thì điều gì sẽ
xảy ra đối với ngành chăn nuôi lợn xuất khẩu
của vùng nghiên cứu?
Kịch bản 3: Giả sử người chăn nuôi ứng
dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất làm
cho năng suất chăn nuôi tăng lên (các yếu tố
khác không đổi) thì điều gì sẽ xảy ra đối với
ngành hàng lợn xuất khẩu của vùng nghiên
cứu? trong khi các chi phí marketing và các chi
phí khác giữ nguyên như kịch bản ban đầu
Kịch bản 1
Giả sử giá thịt lợn choai nguyên con và lợn sữa xuất khẩu giảm (các yếu tố khác không
đổi) lợi thế so sánh của ngành chăn nuôi lợn tại vùng nghiên cứu thay đổi như thế nào?
Giá xuất khẩu FOB giảm 5% so với giá ban đầu
Giá xuất khẩu FOB giảm 10% so với giá ban đầu
Giá xuất khẩu FOB giảm 15% so với giá ban đầu
Bảng 3 Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn
xuất khẩu theo kịch bản 1
1 Giá trị sản phẩm (USD/tấn hơi) 1.240,00 1.508,99
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Theo kết quả tính toán ở bảng trên cho thấy, khi giá sản phẩm xuất khẩu giảm 5%, 10%, 15% so với giá ban đầu, thịt lợn xuất khẩu vẫn có lợi thế so sánh, mặc dù lợi thế này
bị giảm đi rất nhiều Như vậy, trong quá trình hội nhập, nếu giảm giá sản phẩm xuất khẩu cao nhất là 15% so với hiện nay thì chúng ta vẫn có lợi thế so sánh với các nước cùng xuất khẩu các mặt hàng trên
Kịch bản 2
Giả sử thuế nhập khẩu các nguyên liệu dành cho chế biến thức ăn được miễn giảm hoàn toàn (thuế nhập khẩu =0) và giá thành sản xuất giảm kéo theo chi phí trung bình của chăn nuôi giảm (các yếu tố khác không đổi), điều gì
Trang 5sẽ xảy ra đối với ngành chăn nuôi lợn thịt xuất
khẩu của vùng nghiên cứu?
Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá
nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn giảm 5%
so với giá thực tế ban đầu
Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn giảm 10% so với giá thực tế ban đầu
Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn giảm 15% so với giá thực tế ban đầu
Bảng 4 Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn xuất khẩu theo kịch bản 2
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Theo kết quả bảng trên, nếu giảm giá
nguyên liệu thức ăn, chi phí cấu thành 1 tấn lợn
hơi xuất chuồng giảm đáng kể Để giải quyết
vấn đề này, nhà nước cần khuyến khích các
nhà sản xuất nguyên liệu trong nước tăng
cường đầu tư mở rộng diện tích sản xuất, tăng
năng suất và chất lượng các nguyên liệu chính
Ngoài ra, cần ưu tiên khuyến khích các doanh
nghiệp trong nước đầu tư công nghệ sản suất
các nguyên liệu yêu cầu kỹ thuật cao, hạn chế
sự đầu tư hoàn chỉnh của các doanh nghiệp
nước ngoài Tóm lại, ngành hàng lợn xuất khẩu
muốn phát triển, không có con đường nào khác
là phải tìm mọi cách hạ giá thành sản phẩm
chăn nuôi để có được ưu thế của mình trên
trường quốc tế
Kịch bản 3
Giả sử người chăn nuôi ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất làm cho năng
suất chăn nuôi tăng lên (các yếu tố khác không
đổi), điều gì sẽ xảy ra đối với ngành hàng lợn
xuất khẩu ở vùng nghiên cứu?
- Giá thành sản xuất giảm 5% so với giá
thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất
- Giá thành sản xuất giảm 10% so với giá thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất
- Giá thành sản xuất giảm 15% so với giá thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất
Bảng 5 Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn
xuất khẩu theo kịch bản 3
Giảm giá thành sản xuất 10% 10.150,32 13.596,33 Giảm giá thành sản xuất 15% 9.586,42 12.840,98
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Trang 6áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật
mới vào sản xuất là hướng đi rất khả quan
nhằm tăng năng suất sản xuất và chất lượng
sản phẩm, hạ giá thành sản xuất và điều đó sẽ
dẫn đến tăng sức cạnh tranh trên thị trường
xuất khẩu
Từ kết quả tính toán cho thấy, khi giá
thành sản xuất lợn xuất khẩu giảm sẽ làm tăng
lợi thế so sánh lên khá nhiều thông qua các chỉ
tiêu DRC và DRC/SER Như vậy, qua chỉ tiêu
DRC cho thấy, chúng ta sẽ mất ít đồng nội tệ
hơn để thu được một đồng ngoại tệ thông qua
hoạt động xuất khẩu cho cả 2 loại sản phẩm
lợn choai và lợn sữa
4 KếT LUậN
ĐBSH có truyền thống chăn nuôi lợn lâu
đời với đặc trưng của kiểu canh tác nông
nghiệp lúa - lợn, việc tận dụng các phụ phẩm
nông nghiệp cho chăn nuôi lợn đã làm giảm
đáng kể chi phí cho nông hộ
Hình thức chăn nuôi lợn theo hướng trang
trại bước đầu đạt được kết quả khá tốt, đặc biệt
là trang trại chăn nuôi lợn nái Sản phẩm thịt
lợn xuất khẩu có lợi thế so sánh về nhân công,
nguồn giống chủ động…
Bên cạnh những ưu thế, chăn nuôi lợn
vùng ĐBSH còn gặp một số trở ngại lớn như
giá thức ăn công nghiệp cao, thiếu vốn đầu tư,
kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế, quy mô nhỏ lẻ, thiếu thông tin về thị trường, chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều bất cập…
Để thấy được khả năng cạnh tranh của sản phẩm thịt lợn vùng ĐBSH đề tài đã đưa ra ba kịch bản: Giá FOB của sản phẩm xuất khẩu giảm 5%-10%-15%; Nguyên liệu chế biến thức
ăn chăn nuôi giảm 5%-10%-15%; Giá thành sản xuất giảm 5%-10%-15% so với ban đầu nhờ tăng năng suất Kết quả cho thấy, với mỗi kịch bản độc lập, sản phẩm thịt lợn vẫn có lợi thế so sánh
Từ những ưu thế và hạn chế trên, để chăn nuôi lợn vùng ĐBSH phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và sử dụng tốt lợi thế so sánh của mặt hàng thịt lợn xuất khẩu, cần giải quyết triệt để những hạn chế nêu trên
Tài liệu tham khảo Niên giám thống kê (2006) NXB Thống kê -
2005
Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam (2001) Báo
cáo “Tình hình thị trường thịt lợn Hồng Kông, Trung Quốc và một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn sang Hồng Kông, Trung Quốc từ 2001-2010”
Báo cáo của Cục Nông nghiệp-Bộ NN&PTNT, 2003-2004