1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY

5 882 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Phụ Phẩm Chế Biến Tinh Bột Sắn (Bột Đen) Và Chế Biến Nhân Đỗ Xanh (Cám Phôi) Để Nuôi Lợn Thịt Tại Dương Liễu, Hoài Đức, Hà Tây
Tác giả Bùi Quang Tuấn
Trường học Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 213,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A survey on cassava and mung bean processing byproducts was carried out in Duong Lieu commune, Hoai Duc district, Ha Tay province from January to June 2007. Processing of agricultural products such as cassava starch, malt, dehulled mung beans, etc. was popularly practiced in the commune. The quantities of cassava residue and mung bean bran produced were large (56,954 tons cassava residue, 8,400 tons black cassava starch, and 1,545.06 tons mung bean bran per year). Results of chemical analysis showed that black cassava starch was poor in crude protein (7.56%) and minerals (0.45%). Meanwhile mung bean bran was relatively rich in crude protein, especially mung bean germ bran (24.37%). In addition, in a feeding trial sixteen growing F1 pigs were selected and devided into 2 groups of eight pigs each). The pigs in the control group received the ration as normally practiced in the area (at first stage: black cassava starch ad libitum; at second stage: black cassava starch ad libitum plus 1 kg concentrate). The pigs in experimental group received black cassava starch ad libitum plus 0.5 kg mung bean germ bran at first stage, and 1 kg mung bean germ bran at second stage. Results showed that the pigs in experimental group grew faster than those in the control group (480.37 vs 448.90 g/head/day). As a result, using mung bean germ bran brought more profit to the farmer than the normal practice (29.5 VND/head/day at first stage and 729.6 VND/kg bodyweightgain at second stage). Keywords: Cassava residue, Dehulled mung beans, Mung bean bran, Silage, pigs.

Trang 1

Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN

NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY

Using cassava (Manihot esculenta, crantz) residue with mung bean (Phaseolus aureus Roxb)

processing byproducts for pigs in Duong Lieu, Hoai Duc, Ha Tay

Bùi Quang Tuấn *

SUMMARY

A survey on cassava and mung bean processing byproducts was carried out in Duong Lieu commune, Hoai Duc district, Ha Tay province from January to June 2007 Processing of agricultural products such as cassava starch, malt, dehulled mung beans, etc was popularly practiced in the commune The quantities of cassava residue and mung bean bran produced were large (56,954 tons cassava residue, 8,400 tons black cassava starch, and 1,545.06 tons mung bean bran per year) Results of chemical analysis showed that black cassava starch was poor in crude protein (7.56%) and minerals (0.45%) Meanwhile mung bean bran was relatively rich in crude protein, especially mung bean germ bran (24.37%)

In addition, in a feeding trial sixteen growing F1 pigs were selected and devided into 2 groups of eight pigs each) The pigs in the control group received the ration as normally

practiced in the area (at first stage: black cassava starch ad libitum; at second stage: black cassava starch ad libitum plus 1 kg concentrate) The pigs in experimental group received black cassava starch ad libitum plus 0.5 kg mung bean germ bran at first stage, and 1 kg mung

bean germ bran at second stage Results showed that the pigs in experimental group grew faster than those in the control group (480.37 vs 448.90 g/head/day) As a result, using mung bean germ bran brought more profit to the farmer than the normal practice (29.5 VND/head/day

at first stage and 729.6 VND/kg bodyweightgain at second stage)

Keywords: Cassava residue, Dehulled mung beans, Mung bean bran, Silage, pigs

1 ĐặT VấN Đề

Xã Dương Liễu thuộc huyện Hoài Đức

tỉnh Hà Tây có nghề chế biến nông sản rất phát

triển Sản phẩm chế biến ngoài chính phẩm còn

có nguồn phụ phẩm rất lớn Ví dụ nghề chế

biến tinh bột sắn cho phụ phẩm là bã sắn, bột

đen; nghề chế biến nhân đỗ xanh là cám vỏ và

cám phôi đỗ xanh; nghề làm mạch nha cho bã

mạch nha, các nguồn phụ phẩm này rất sẵn

có và rẻ tiền Các nguồn phụ phẩm nói trên đều

có đặc điểm là giá trị dinh dưỡng không đầy

đủ Bột đen giàu tinh bột nhưng lại nghèo

protein, bên cạnh đó cám phôi đỗ xanh lại giàu

protein thô (Bui Quang Tuan, 2006) Từ trước

tới nay các hộ gia đình ở đây chủ yếu dùng bột

đen để nuôi lợn mà thường không bổ sung

thêm loại thức ăn nào khác (trừ giai đoạn nuôi

vỗ béo) nên hiệu quả chăn nuôi rất thấp Đề tài này được tiến hành nhằm cung cấp các dữ liệu cho việc hiệu chỉnh các khẩu phần ăn đang

được sử dụng tại địa bàn trên cơ sở dùng ưu

điểm của phụ phẩm này để khắc phục nhược

điểm của phụ phẩm kia

2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

Số liệu điều tra được lấy từ các báo cáo về tình hình chế biến nông sản của UBND xã Dương Liễu và kết quả phỏng vấn, khảo sát thực tế các hộ, các cơ sở chế biến tinh bột sắn (12 hộ) và nhân đỗ xanh (12 hộ)

Mẫu bột đen và mẫu cám đỗ xanh được lấy ngẫu nhiên và được phân tích tại phòng phân tích thức ăn của Khoa Chăn nuôi - Thuỷ sản, theo phương pháp phân tích của AOAC

Trang 2

(1997) Các chỉ tiêu phân tích bao gồm: vật

chất khô, protein thô, xơ thô, lipit, dẫn xuất

không nitơ, khoáng tổng số

Thí nghiệm nuôi dưỡng được tiến hành

trên đàn lợn thịt theo phương pháp phân lô so

sánh Tổng số lợn thí nghiệm là 16 con, chia

thành 2 lô, mỗi lô 8 con Lợn thí nghiệm là con

lai giữa lợn Móng Cái và Yorkshire Lợn được

cân từng con khi bắt đầu đưa vào thí nghiệm và

lúc kết thúc các giai đoạn thí nghiệm bằng cân

bàn (loại 500kg) Lợn được cân vào ba buổi

sáng liên tiếp, trước khi cho ăn Sau đó tính

trung bình của ba lần cân

Trong một số loại hạt đậu sống thường có

chứa chất kháng dinh dưỡng có ảnh hưởng

không tốt đến quá trình tiêu hoá, hấp thu và

trao đổi chất trong cơ thể gia súc Các giải

pháp để hạn chế chất kháng dinh dưỡng trong

hạt đậu là: xử lý nhiệt, lên men vi sinh, ngâm cho mọc mầm… Trong thí nghiệm này, giải pháp ủ lên men vi sinh được sử dụng để chế biến cám đỗ xanh Loại men được sử dụng là men vi sinh H.V.S 80 của cơ sở sản xuất thuốc thú y Hưng Bình Cám đỗ xanh được ủ bằng men vi sinh trong 24 - 36 giờ thì mang cho lợn ăn Cám đỗ xanh được ủ bằng cách trộn với men (15kg cám với 100g men vi sinh), nước vừa đủ ẩm cho vào thùng, để hở 3-4 giờ, sau đó ủ kín từ 18-24 giờ Cám hỗn hợp được phối trộn bằng các loại nguyên liệu sẵn có tại

địa phương theo công thức: sắn khô 50%, cám gạo 30%, đỗ tương 10%, bột cá 10% Cám phôi đỗ xanh ủ men vi sinh và cám hỗn hợp

được cho ăn trước, chia làm 2 bữa/ngày, sau

đó cho ăn rau xanh và cuối cùng cho ăn bột sắn đen

Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm và khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm

GIAI ĐOạN I

GIAI ĐOạN II

Công thức đối chứng là công thức nuôi lợn

thịt được áp dụng phổ biến trên địa bàn ở giai

đoạn lợn choai người chăn nuôi trên địa bàn

chỉ cho ăn bột đen kết hợp với rau xanh, còn ở

giai đoạn trước khi xuất bán lợn được cho ăn

thêm cám hỗn hợp (khoảng 1 kg/con/ngày)

Khẩu phần này chắc chắn sẽ thiếu protein cho

nhu cầu tăng trọng cao của lợn ở giai đoạn nuôi

lợn choai Chính vì vậy trong công thức thí

nghiệm ở giai đoạn này lợn được cho ăn bổ

sung thêm 0,5 kg cám đỗ xanh giàu protein ở

giai đoạn trước khi xuất bán, thay vì cho ăn

thêm cám hỗn hợp đắt tiền (công thức đối chứng), lợn ở công thức thí nghiệm được cho

ăn cám đỗ xanh ủ men vi sinh

Số liệu được phân tích phương sai trên bảng tính của Microsoft Excel 2003

3 KếT QUả NGHIÊN CứU

3.1 Khảo sát khối lượng và đánh giá giá trị dinh dưỡng của phụ phẩm chế biến tinh bột sắn và nhân đỗ xanh

Trang 3

Khảo sát khối lượng của phụ phẩm chế biến

tinh bột sắn và nhân đỗ xanh

Kết quả khảo sát cho thấy từ 1 tấn củ sắn

tươi chế biến cho 204,00 ± 2,14 kg tinh bột

sắn, 180,00 ± 3,56 kg bã sắn và 26,54 ± 2,23

kg bột đen Kết quả khảo sát của Lê Viết Ly và

cộng sự (2004) cho biết từ 1 tấn củ sắn tươi chế

biến cho khoảng 200 kg tinh bột sắn, 180 kg bã

sắn và 20 kg bột đen Từ 1 tấn đỗ xanh chế

biến cho 210,00 ± 1,23 kg cám vỏ đỗ xanh và

50,6 ± 1,87 kg cám phôi đỗ xanh

Tỷ lệ các sản phẩm, phụ phẩm có sự thay

đổi tùy loại nguyên liệu, phụ thuộc vào giống

cây trồng, phương thức canh tác, chất đất… và

quy trình chế biến

Bảng 2 Ước tính lượng phụ phẩm chế biến

nông sản của xã Dương Liễu

(tấn)

(Nguồn: UBND xã Dương Liễu, 2006)

Trong xã có 18 hộ làm nghề chế biến

nhân đỗ xanh và 850 hộ làm nghề chế biến

tinh bột sắn Khối lượng phụ phẩm từ hai nghề

chế biến nông sản này của xã tương đối lớn

Việc chế biến nhân đỗ xanh diễn ra quanh

năm nên nguồn phụ phẩm từ chế biến nhân đỗ

xanh có thể cung cấp tương đối ổn định cho

nhu cầu chăn nuôi trong vùng Nghề chế biến

tinh bột sắn thì mang tính thời vụ rõ rệt, sản

phẩm chỉ có trong khoảng 4 tháng trước và

sau tết âm lịch Lượng bột đen làm ra trong vụ

thường được cho ăn tươi, lượng dư ra được

người dân trong vùng tích trữ bằng cách làm

giảm nước và đóng vào các bao tải dứa/hoặc

bể lớn có nắp đậy

Bã sắn làm ra ít được sử dụng trong chăn

nuôi mà được phơi khô rồi bán cho các công ty

sản xuất thức ăn gia súc Bã sắn cũng được bán

ở dạng ướt làm thức ăn cho các ao hồ nuôi cá

Bã sắn ủ chua cũng đã được sử dụng để

nuôi bò sữa (Mai Thị Thơm và Bùi Quang

Tuấn, 2006), vỗ béo lợn thịt (Ninh Thị Len,

2001), vỗ béo bò (Bùi Quang Tuấn, 2006) Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy sử dụng bã sắn ủ chua đã giúp hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi

Thành phần dinh dưỡng của các loại phụ phẩm nghiên cứu

Bảng 3 Thành phần dinh dưỡng của bột đen

và cám đỗ xanh

xanh

Cám vỏ đỗ xanh

Protein thô

(%)

7,56 24,37 12,20

Ghi chú: VCK: Vật chất khô

DXKN: Dẫn xuất không nitơ

KTS: Khoáng tổng số Bột đen nghèo protein thô, nghèo khoáng, nhưng tương đối giàu tinh bột Cám phôi đỗ xanh tương đối giàu protein thô (24,37%) Tỷ

lệ protein thô của cám vỏ đỗ xanh tương

đương so với của cám gạo (12,20%) (Bảng 3) Cả bột đen, cám phôi và cám vỏ đỗ xanh đều

có tỷ lệ xơ thô thấp, tỷ lệ DXKN cao nên đều

là nguồn nguyên liệu tốt trong chăn nuôi lợn

Sử dụng bột đen trong chăn nuôi lợn tại địa phương nếu kết hợp với bổ sung cám phôi đỗ xanh giàu protein sẽ mang lại hiệu quả chăn nuôi cao hơn

3.2 Kết quả sử dụng bột đen và cám phôi đỗ xanh để nuôi lợn thịt

Khối lượng và tăng trọng của lợn sau các giai

đoạn thí nghiệm

Khối lượng và tăng trọng của lợn sau các giai đoạn thí nghiệm được trình bày trong bảng 4

Kết thúc giai đoạn I và II, khối lượng của lợn ở lô thí nghiệm cao hơn rõ rệt so với lợn ở lô đối chứng (P<0,05) Trong giai đoạn I, lợn ở lô đối chứng chỉ được cho ăn bột đen và rau xanh nên có thể thiếu protein dẫn đến sinh trưởng chậm hơn so với lợn ở lô thí nghiệm

được cho ăn thêm 0,5 kg cám phôi đỗ

Trang 4

xanh/con/ngày Như kết quả phân tích, cám

phôi đỗ xanh giàu protein, vì vậy đã có tác

dụng cân bằng giữa năng lượng và protein trong khẩu phần so với lô đối chứng

Bảng 4 Khối lượng và tăng trọng của lợn qua các giai đoạn thí nghiệm

ở giai đoạn I, tăng trọng của lợn ở lô thí

nghiệm đạt 452,11 g/con/ngày, cao hơn hẳn so

với lô đối chứng, chỉ đạt 362,14 g/con/ngày

(P<0,05)

ở giai đoạn II, tăng trọng của lô thí

nghiệm thấp hơn một chút so với lô đối chứng

(15,4 g/con/ngày) Tuy nhiên sự sai khác này

không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Kết quả

này có thể là do có sự sinh trưởng bù của lợn ở

lô đối chứng khi được cho ăn thêm 1kg cám

hỗn hợp/con/ngày

Tăng trọng của lợn ở 2 lô đều tương đối

thấp Nguyên nhân có thể là do giống lợn được

nuôi tại địa phương chịu được điều kiện nuôi

dưỡng kém nhưng có năng suất thấp, hoặc do

khẩu phần ăn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng

trọng cao của lợn

So sánh hiệu quả kinh tế của chăn nuôi

Do bột đen được bảo quản và cho ăn ở

dạng lỏng, tỷ lệ chất khô của bột đen rất biến

động nên khó khăn cho việc xác định chất khô

thu nhận của lợn thí nghiệm Vì vậy, nghiên

cứu chỉ tiến hành so sánh chi phí thức ăn cho

ăn bổ sung với tiền vượt trội do tăng trọng cao

mang lại (ở giai đoạn thí nghiệm I) và chi phí

thức ăn cho ăn bổ sung cho 1 kg tăng trọng của

lợn (ở giai đoạn thí nghiệm II)

• Đối với giai đoạn thí nghiệm I

Giá của 1 kg cám phôi đỗ xanh là 3.000

đồng Với việc cho ăn bổ sung thêm 0,5

kg/con/ngày tương đương chi phí thức ăn cho

lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng là 1.500

đồng/con/ngày Và mức tăng trọng của lô thí

nghiệm ở giai đoạn này cao hơn lô đối chứng là

89,97 g/con/ngày Giá lợn khi kết thúc thí

nghiệm tại Dương Liễu là 17.000 đồng/kg

Tiền vượt trội do tăng trọng cao hơn của lô thí nghiệm là 1.529,5 đồng/con/ngày, cao hơn tiền chi cho mua cám phôi đỗ xanh là 29,5

đồng/con/ngày Bên cạnh đó, việc cho ăn bổ sung thêm 0,5 kg cám phôi đỗ xanh/con/ngày ở lô thí nghiệm sẽ làm giảm lượng bột đen tiêu tốn/kg tăng trọng

• Đối với giai đoạn thí nghiệm II

Với giai đoạn II, sự so sánh sẽ dựa trên sự chênh lệch chi phí thức ăn cho ăn bổ sung/kg tăng trọng của lợn

Bảng 5 Chi phí thức ăn cho ăn bổ sung cho 1 kg

tăng trọng

chứng

Lô thí nghiệm Chi phí thức ăn cho ăn bổ

Tăng trọng trung bình

Chi phí thức ăn bổ sung/kg

ở lô thí nghiệm, chi phí cho cám phôi đỗ xanh là 3.000 đồng/con/ngày Trong khi lô đối chứng dùng cám hỗn hợp là 3.470 đồng/con/ngày Với mức chi phí cho thức ăn như vậy, trong giai đoạn II tăng trọng trung bình của lô thí nghiệm là 502,90 g/con/ngày và của lô đối chứng là 518,30 g/con/ngày Tăng trọng của lô

đối chứng cao hơn lô thí nghiệm là 15,4 g/con/ngày Chi phí thức ăn cho ăn bổ sung/kg tăng trọng của lô thí nghiệm là 5.965,4

đồng/kg, mức chi phí này của lô đối chứng dùng cám hỗn hợp là 6.695,0 đồng/kg Như vậy bằng cách cho ăn bổ sung cám phôi đỗ xanh thay vì cám hỗn hợp đã giảm được chi phí

Trang 5

là 729,6 đồng/kg tăng trọng của lợn thịt trong

giai đoạn II

4 KếT LUậN

Dương Liễu là xã có ngành chế biến nông

sản phát triển rất mạnh, hàng năm cung cấp

lượng phụ phẩm lớn có thể sử dụng làm thức ăn

chăn nuôi (bã sắn 48.581,76 tấn, bột đen

6.809,04 tấn, cám vỏ đỗ xanh 1.144,96 tấn và

cám phôi đỗ xanh 271,38 tấn CK)

Sử dụng cám phôi đỗ xanh cho chăn nuôi

lợn cho hiệu quả tốt Tăng trọng trung bình cả

2 giai đoạn của lợn ở lô thí nghiệm cao hơn rõ

rệt so với lô đối chứng (480,37 so với 448,90

g/con/ngày)

Sử dụng cám phôi đỗ xanh nuôi lợn đã

giúp hạ giá thành thức ăn trong chăn nuôi so

với công thức nuôi thông thường trên địa bàn

(ở giai đoạn I hạ 29,5 đồng/con/ngày, ở giai

đoạn II hạ 729,6 đồng/kg tăng trọng)

Tài liệu tham khảo

Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất của xã

Dương Liễu năm 2006

Ninh Thi Len (2001) Evaluation of chicken manure and cassava residue as feed for fattening F1 pigs under village conditions in north Vietnam M.Sc

thesis

Lê Viết Ly, Lê Văn Liễn, Bùi Văn Chính,

Nguyễn Hữu Tào (2004) Phát triển chăn nuôi bền vững trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp NXB

Nông nghiệp, Tr 100 - 103

Mai Thị Thơm, Bùi Quang Tuấn (2006) Chế biến bã sắn làm thức ăn dự trữ cho bò sữa Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông

nghiệp- ĐHNN1, Tr 25-30

Bui Quang Tuan (2006) Using cassava (Manihot esculenta, Crantz) residue silage with mung bean (Phaseolus aureus Roxb) processing byproducts as supplementary feeds for fattening cattle

NUFU PROJECT Final Workshop On improved utilization of agricultural by-products as animal feed in Vietnam and Laos, Vientiane, 6-7 November 2006, Pp

152 - 158

Ngày đăng: 28/08/2013, 07:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm và khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm - Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm và khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm (Trang 2)
Bảng 2. Ước tính l−ợng phụ phẩm chế biến - Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY
Bảng 2. Ước tính l−ợng phụ phẩm chế biến (Trang 3)
Bảng 3. Thành phần dinh d−ỡng của bột đen - Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY
Bảng 3. Thành phần dinh d−ỡng của bột đen (Trang 3)
Bảng 4. Khối l−ợng và tăng trọng của lợn qua các giai đoạn thí nghiệm - Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY
Bảng 4. Khối l−ợng và tăng trọng của lợn qua các giai đoạn thí nghiệm (Trang 4)
Bảng 5. Chi phí thức ăn cho ăn bổ sung cho 1 kg - Sử DụNG PHụ PHẩM CHế BIếN TINH BộT SắN (BộT ĐEN) Và CHế BIếN NHÂN Đỗ XANH (CáM PHÔI) Để NUÔI LợN THịT TạI DƯƠNG LIễU, HOàI ĐứC, Hà TÂY
Bảng 5. Chi phí thức ăn cho ăn bổ sung cho 1 kg (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w