1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI

43 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 41,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI MỘT số vấn đề lý LUẬN về QUYỀN CON NGƯỜI và VAI TRÒ của tòa án TRONG VIỆC bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN

TRONG VIỆC BẢO VỆ

QUYỀN CON NGƯỜI

Trang 2

Nhận thức chung về quyền con người

Khái niệm về quyền con người

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, từ trước đến nay đã

có rất nhiều định nghĩa về quyền con người được công bố,mỗi định nghĩa lại tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định,chỉ ra những thuộc tính nhất định của quyền con người Theo

tài liệu Hỏi Đáp về Nhân quyền của Liên hợp quốc (United

Nations: Human rights: Questions and Answers) thì có đến

gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố

Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đưa ra khái niệm:

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân

và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự

bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những

sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental

freedoms) của con người [25, tr.23]

Một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn là

“Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành

viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính,

Trang 3

chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh

ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [23, tr.37].

Tại hai văn kiện nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lậpcủa Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp năm

1978, khái niệm về quyền con người được thể hiện một cách rất

cụ thể: “Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận

như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do,

và quyền mưu cầu hạnh phúc” [24, tr.96].

Ở Việt Nam, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa

có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con người nhưmột định nghĩa, một điều luật chuyên biệt Nội hàm của kháiniệm quyền con người chỉ được thể hiện trong các quan điểm,chính sách, pháp luật và cũng chỉ được quy định một cáchchung chung mà không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, riêngbiệt Theo cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt thì quyền con người

được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho

được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [1, tr.1010].

Hiến pháp năm năm 2013 quy định:

Trang 4

Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền conngười, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,

xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiếnpháp và pháp luật

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chếtheo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý doquốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức

xã hội, sức khỏe của cộng đồng [41, Điều 14]

Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, Giáotrình Lý luận và pháp luật về Quyền con người của Khoa Luật

Đại Học Quốc gia Hà Nội, thì quyền con người là “những nhu

cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [23, tr.38]

Tại buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI)của Đảng ủy TANDTC ngày 26/02/2014 khi nói về nhữngđiểm mới về quyền con người, quyền công dân được quy địnhtrong Hiến pháp năm 2013, PGS.TS Trần Văn Độ - Chánh ánTòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án TANDTC cho

rằng: “quyền con người là quyền của cá nhân mà khi sinh ra

Trang 5

vốn dĩ là đã có, còn quyền công dân là quyền được quy định

cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc tịch của mỗi công dân” [65].

Chúng tôi cũng đồng quan điểm với PGS.TS Trần Văn

Độ về quan niệm về quyền con người nêu trên Bởi vì, đây làkhái niệm khái quát dễ hiểu và cơ bản nhất về quyền con

người Nó phù hợp với học thuyết về quyền tự nhiên (natural

rights) cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn

có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, không phân biệtđẳng cấp, màu da, giới tính, dân tộc hay tôn giáo

- Các thuộc tính cơ bản của quyền con người

Tính phổ biến:

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người được ápdụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da,dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Conngười, dù ở những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc nhữngtruyền thống văn hóa khác nhau vẫn hưởng những quyền và

sự tự do cơ bản của con người

Tính đặc thù:

Trang 6

Thuộc tính này được hiểu là mọi người đều được hưởngquyền con người nhưng mức độ thụ hưởng có sự khác biệt,phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnhchính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống.

Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con ngườimang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độphát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó

Tính không thể bị tước bỏ:

Quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạnchế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơquan và quan chức nhà nước, chỉ trong một số trường hợpnhất định được pháp luật quy định trước và phải là những chủthể đặc biệt mới có thể hạn chế hay tước bỏ quyền con người

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền:

Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽvới nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thựchiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì

sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác

- Phân loại quyền con người

Trang 7

Cách phân loại cơ bản và chủ yếu nhất đó là phân loạiquyền con người theo lĩnh vực Theo đó, quyền con ngườiđược phân thành hai nhóm chính:

Nhóm các quyền dân sự - chính trị bao gồm: quyền bầu

cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; cácquyền tự do cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân;quyền bình đẳng;…

Nhóm quyền kinh tế - xã hội - văn hóa bao gồm: quyềnlàm việc, quyền sở hữu, quyền kinh doanh, quyền được bảo

vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng tạo; quyền hoạtđộng văn hóa - nghệ thuật…

Ngoài ra, quyền con người có thể được phân chia theochủ thể của quyền Có thể chia quyền con người ra thànhquyền cá nhân; quyền của nhóm như quyền của phụ nữ, trẻ

em, người cao tuổi… và quyền tập thể như quyền dân tộc tựquyết và quyền của các dân tộc thiểu số

- Khái quát chung về các cơ chế bảo vệ quyền con người

- Khái niệm về cơ chế bảo vệ quyền con người

Trang 8

Khái niệm cơ chế được nêu trong cuốn Đại từ điển TiếngViệt là cách thức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thựchiện [1, tr.464] Do các quyền con người rất phong phú vànhững vi phạm xâm phạm đến quyền con người cũng rất đadạng, được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể trên nhiều lĩnhvực khác nhau nên việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con ngườiđòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều dạng chủ thể (cá nhân,cộng đồng, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nhà nước, tổ chứcquốc tế…) thông qua nhiều biện pháp; từ phổ biến, giáo dục,nâng cao nhận thức cho đến theo dõi, giám sát, và xử lýnhững hành vi xâm phạm đến quyền con người Tập hợp cáccách thức nêu trên để bảo vệ quyền con người được gọi chung

là cơ chế bảo vệ quyền con người

Như vậy, theo chúng tôi, cơ chế bảo vệ quyền con người

là tổng hợp các biện pháp do các chủ thể khác nhau thực hiện nhằm mục đích bảo vệ các quyền con người, đảm bảo các quyền con người được thực hiện trên thực tế và thúc đẩy sự tôn trọng của các chủ thể đối với quyền con người trong phạm vi không gian nhất định, thời gian và mức độ khác nhau.

- Các cơ chế bảo vệ quyền con người

Trang 9

Cơ chế quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người

Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyềncon người được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủtục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong tổ chức Liênhợp quốc Dựa trên địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổchức bộ máy mà các cơ quan về quyền con người của Liênhợp quốc được chia thành hai dạng: dạng các cơ quan đượcthành lập dựa trên cơ sở Hiến chương (charter - basedmechanism) và dạng các cơ quan được thành lập dựa trên cơ

sở một số Công ước quan trọng về quyền con người (treatybodies)

Cơ chế dựa trên Hiến chương (Charter - basedmechanism) là việc 6 cơ quan chính (gồm: Đại hội đồng -General essembly; Hội đồng bảo an - Security council, Hộiđồng kinh tế và xã hội - Economic and social council Ecosoc;Hội đồng quản thác - Trusteeship council; Tòa án Công lýquốc tế - Intemetional court of justice; Ban thư ký Liên hợpquốc) thực hiện các chức năng, nhiệm vụ liên quan đến quyềncon người của các cơ quan này, thông qua đó để nghiên cứu,xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát

và điều hành các chương trình, hoạt động về quyền con người

Trang 10

Cơ chế dựa trên Công ước (Treaty -based mechanism):

Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiệnmột số công ước quốc tế về quyền con người (treaty-basedbodies), được thành lập theo quy định của chính các côngước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, vănhoá được thành lập theo một Nghị quyết của Hội đồng Kinh

tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc - ECOSOC), nhằm giám sát,thúc đẩy việc thực hiện các công ước về quyền con người,thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quanđến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của cácnước thành viên [23, tr.327 - 366]

Cơ chế khu vực trong việc bảo vệ quyền con người

Là việc các tổ chức được thành lập tại các khu vực nhấtđịnh để thực hiện các biện pháp bảo vệ và thúc đẩy quyền conngười thông qua việc ban hành các văn bản, thành lập các cơquan bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong phạm vi nhấtđịnh Cơ chế này dễ đạt được đồng thuận hơn khi thiết lập,sửa đổi, bổ sung và thực hiện, do các quốc gia trong khu vựcthường có nhiều điểm chung về kinh tế, văn hóa, truyền thốnglịch sử Bên cạnh đó, các cơ chế khu vực, do phạm vi hẹp hơn

về địa lý nên tỏ ra dễ tiếp cận hơn với công chúng so với cơ

Trang 11

chế toàn cầu của Liên hợp quốc Theo nghiên cứu thì hiện tạimới chỉ có 3 châu lục thiết lập được cơ chế khu vực bảo vệ vàthúc đẩy quyền con người đó là Châu Âu, Châu Mỹ và ChâuPhi.

Ở Châu Âu:

Đây là khu vực đầu tiên trên thế giới phát triển cơ chếbảo vệ quyền con người khu vực Mọi quốc gia thành viêncủa Hội đồng châu Âu đều phải tham gia Công ước Quyềncon người châu Âu Đây là một trong những điều kiện để trởthành thành viên Hội đồng châu Âu Hệ thống văn kiện khuvực về quyền con người ở châu Âu có nòng cốt là Công ướcchâu Âu về Bảo vệ Quyền con người và Tự do cơ bản (TheEuropean Convention for the Protection of Human Rights andFundamental Freedoms) được Hội đồng châu Âu thông quangày 4/11/1950, có hiệu lực từ tháng 9/1953

Ở Châu Mỹ:

Bộ máy các cơ quan trong cơ chế bảo vệ và thúc đẩyquyền con người ở Châu Mỹ bao gồm hai cơ quan chính làTòa án quyền con người Châu Mỹ (còn được gọi là Tòa ánnhân quyền liên Mỹ) và Ủy ban quyền con người Châu Mỹ

Trang 12

(còn được gọi là Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ).

Tòa án Nhân quyền liên Mỹ (Inter-American Court ofHuman Rights): Năm 1979 tổ chức các quốc gia châu Mỹ lập

ra Tòa án Nhân quyền này để buộc các nước thành viên tuânthủ và giải thích các quy định của Công ước châu Mỹ vềNhân quyền Hai chức năng chính của Tòa án này là làmtrọng tài xét xử và tư vấn

Ủy ban quyền con người Châu Mỹ: là một cơ quan

thường trực, có chức năng thúc đẩy việc tuân thủ và bảo vệquyền con người ở Châu Mỹ thông qua các công việc chínhnhư: thu nhận, phân tích và điều tra các đơn thư của các cánhân cho rằng họ bị vi phạm các quyền con người cụ thể được

"Công ước châu Mỹ về Nhân quyền" bảo vệ; giải quyết cácđơn khiếu tố đó bằng cách hợp tác hòa nhã với các bên (tranhchấp); giám sát tình trạng nhân quyền tổng quát trong các nướcthành viên của "Tổ chức các quốc gia châu Mỹ"…

Ở Châu Phi:

Hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châuPhi là Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyềncác dân tộc (African Charter on Human and Peoples’ Rights),

Trang 13

được thông qua bởi Tổ chức Liên minh châu Phi(Organization of African Uninty – OAU) vào ngày 27/6/1981,

có hiệu lực vào ngày 21/10/1981 Đây là văn kiện nền tảngtrong hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châuPhi Bộ máy cơ quan quyền con người của châu Phi bao gồm

Ủy ban quyền con người và quyền các dân tộc châu Phi vàTòa án Quyền con người châu Phi

Ở Châu Á:

Đây là Châu lục có diện tích lớn với lượng dân số chiếmmột nửa nhân loại, đa dạng về văn hóa, dân tộc, lịch sử, chínhtrị, kinh tế nhưng hiện nay vẫn chưa thiết lập được cơ chếchung về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Tuy nhiên, ởmột số khu vực của châu Á hiện đã tồn tại những văn kiện vàthiết chế chung, cho thấy những triển vọng nhất định về thúcđẩy và bảo vệ quyền con người, điển hình như: Khu vực thếgiới Ả-rập đã có: Tuyên bố Cairo về quyền con người trongcác quốc gia Hồi giáo năm 1990, Tuyên bố về bảo vệ người tịnạn và người bị chuyển dịch trong thế giới Ả-rập năm 1992,Hiến chương Ả-rập về quyền con người năm 1994; Khu vựcĐông Nam Á với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) được thành lập 1967 được xem là tiểu khu vực có

Trang 14

mối liên kết chặt chẽ hàng đầu tại châu Á…

Cơ chế quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người

Cơ chế này thực hiện thông qua các cơ quan quốc gia vềbảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nhằm thực hiện những nghĩa

vụ của nhà nước được nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế vềquyền con người [23, tr.380 - 385]

- Khái niệm, đặc điểm của việc bảo vệ quyền con người bằng Tòa án

- Khái niệm

Như đã trình bày ở phần trên thì quyền con người làquyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩ là đã có, còn quyềncông dân là quyền được quy định cụ thể trong Hiến pháp vàpháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc tịch của mỗicông dân Bảo vệ quyền con người là những hoạt động chốnglại mọi sự hủy hoại, xâm phạm nhân phẩm, lợi ích, nhu cầu vànăng lực để giữ gìn cho quyền con người được nguyên vẹn

Xét xử là việc tòa án nhân danh quyền lực nhà nước,nhân danh công lý phán quyết tính hợp pháp của hành vi pháp

lý đã xảy ra trên cơ sở những chứng cứ, lập luận do các bên

Trang 15

cung cấp và trên cơ sở pháp luật buộc cá nhân, tổ chức hay nhànước phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý hoặc được thụ hưởngnhững quyền nhất định nhằm bảo vệ công lý và quyền, lợi íchchính đáng của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước và xãhội đồng thời bảo vệ trật tự pháp luật

Như vậy, bảo vệ quyền con người bằng tòa án có thểđược khái niệm như sau: là hoạt động trừng phạt những hành

vi vi phạm quyền con người, khôi phục lại những quyền conngười đã bị hạn chế, tước đoạt được thực hiện theo trình tự,thủ tục pháp luật tố tụng tư pháp nhằm bảo đảm cho cácquyền của cá nhân được tôn trọng và thực hiện trong đời sống

từ đó đưa ra các chế tài pháp lý đối với những người thực hiện

Trang 16

hành vi vi phạm pháp luật Tính quyền lực Nhà nước đượcthể hiện qua việc Tòa án được áp dụng các chế tài pháp lýnhư: hạn chế, thậm chí tước quyền và lợi ích thiết yếu nhấtcủa người vi phạm pháp luật, như: quyền sở hữu, quyền tự do,quyền sống Bên cạnh đó, tính quyền lực Nhà nước còn đượcthể hiện qua các cơ chế bảo đảm thi hành bản án, quyết địnhcủa tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nghĩa vụ chấp hành phánquyết của tòa án không chỉ là nghĩa vụ pháp lý thông thường

mà là một loại nghĩa vụ được quy định chặt chẽ theo một trình

Trang 17

Trong phần lớn các trường hợp thì Tòa án chỉ thực sựbảo vệ được quyền con người khi có yêu cầu của cá nhânhoặc tổ chức

Khi quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâmphạm bởi hành vi vi phạm pháp luật, thì các chủ thể muốnđược Tòa án đứng ra bảo vệ quyền lợi của mình thì họ phải cóyêu cầu gửi cho Tòa án Trên cơ sở yêu cầu đó, Tòa án sẽ xemxét để đưa ra phán quyết buộc bên có hành vi xâm phạm khôiphục lại tình trạng ban đầu hoặc Tòa án sẽ đưa ra những phánquyết để trừng phạt thích đáng những người có hành vi viphạm

Tuy nhiên, một số trường hợp cá biệt không cần phải cóyêu cầu của người khác nhưng do tính chất nghiêm trọng củahành vi vi phạm pháp luật mà Tòa án vẫn đứng ra bảo vệquyền lợi của người bị xâm phạm

- Các cách thức bảo vệ quyền con người bằng Tòa án

- Tòa án bảo vệ quyền con người thông qua việc kiểm soát quyền lực Nhà nước

Trang 18

Các cơ quan Nhà nước là chủ thể đóng vai trò quantrọng trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng cũng là chủthể chứa đựng những nguy cơ xâm hại đến quyền con người.

Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong nhữngbiện pháp đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền con

người Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [41, Điều 2] Với quy định này, về cơ

bản vẫn kế thừa tư tưởng “Quyền lực nhà nước là thống nhất”

được quy định trong các bản Hiến pháp trước đó, nhưng đã cómột điểm sửa đổi rất đáng ghi nhận đó là việc đề xuất và đưađược chế định “kiểm soát” quyền lực giữa các cơ quan nhànước Thông qua đó, TAND có thể kiểm soát được các hoạtđộng của các cơ quan hành pháp, lập pháp, nhằm hạn chếnhững xâm phạm của các cơ quan này đến quyền con người

Ngoài ra, bằng hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân

sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, đặc biệt là khi xét

xử các vụ án hành chính, Tòa án có quyền đề nghị, hay yêucầu các cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp để khắc phục,loại trừ những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm,

Trang 19

vi phạm pháp luật, hoặc hoàn thiện pháp luật, chính sách, cảitiến phương thức quản lý Thông qua hoạt động xét xử các vụ

án hành chính, Tòa án thực hiện hoạt động giám sát của mìnhđối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước vàcác cơ quan khác của nhà nước trong việc ban hành các quyếtđịnh hành chính, thực hiện hành vi hành chính

- Tòa án bảo vệ quyền con người thông qua việc bảo

vệ quyền tự do và an toàn của cá nhân

Quyền tự do và an toàn cá nhân là một trong nhữngquyền cơ bản của con người Để bảo đảm các cá nhân đượchưởng tự do thì các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọingười trong xã hội phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do và

an toàn cá nhân Mọi hành vi tước quyền tự do của cá nhânđều bị nghiêm cấm trừ trường hợp có lý do luật định Cùngvới việc nghiêm cấm những hành vi đe dọa, xâm hại đếnquyền hưởng tự do và an toàn cá nhân, các quốc gia phải xâydựng cơ chế pháp lý hữu hiệu để ngăn ngừa những người cóthẩm quyền lợi dụng "lý do luật định" để "bắt" hoặc "giamgiữ" người trái pháp luật, xâm hại quyền tự do và an toàn của

cá nhân

Trang 20

Trong các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền tự do của cánhân thì cơ chế pháp lý do quyền hành pháp thực hiện đóngvai trò quan trọng Quyền hành pháp được sinh ra để trực tiếpphục vụ những nhu cầu thiết yếu của xã hội mà tự bản thâncác cá nhân không thể thực hiện được trong đó có nhu cầubảo vệ quyền tự do và an toàn cá nhân Tuy nhiên, do mụcđích của hoạt động hành pháp là bảo vệ lợi ích của xã hội, lợiích của cá nhân, tổ chức nên hoạt động hành pháp luôn gắnchặt với những lợi ích vật chất và tinh thần của xã hội cũngnhư của người dân khiến cho hoạt động hành pháp dễ bịnhững người trực tiếp thực hiện lợi dụng nhằm phục vụ lợiích cá nhân, lợi ích nhóm Điều này khiến cho quyền hànhpháp dễ bị lạm dụng để xâm hại quyền con người của cá nhân,công dân Chính vì thế, nhằm phát huy tối đa năng lực bảo vệquyền con người của hành pháp đồng thời bảo đảm hạn chếtối đa nguy cơ xâm hại quyền con người của hành pháp, cơchế tư pháp độc lập được trao quyền tối cao trong việc bảo vệquyền tự do an toàn cá nhân đặc biệt là trong trường hợp nguy

cơ bị quyền hành pháp xâm hại

Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm

1966 quy định: “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ

Trang 21

mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước tòa

án, nhằm mục đích để tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả tự

do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp” [26] Quy định

này cho thấy những người bị tước tự do do bị “bắt” và “giamgiữ” có quyền được yêu cầu tòa án kiểm tra và xác định tínhhợp pháp của việc bắt và giam giữ nhằm bảo đảm việc họ bị

“bắt” và “giam giữ” đúng quy định của pháp luật cũng nhưhạn chế tình trạng họ bị hạn chế quyền tự do một cách bất hợppháp Tòa án là thiết chế được trao quyền kiểm tra, thẩm định

và ra phán quyết về tính hợp pháp của hành vi bắt và giam giữkhi người bị bắt và giam giữ yêu cầu nhằm hạn chế, ngănchặn những hành vi lợi dụng quyền "bắt", "giam giữ" xâm hạinghiêm trọng quyền tự do và an toàn cá nhân và quyết địnhbãi bỏ ngay tức khắc việc giam giữ và trả tự do cho người bịbắt và giam giữ trong trường hợp phát hiện những dấu hiệubất hợp pháp của việc bắt và giam giữ

Tòa án không chỉ trừng trị hành vi phạm tội xâm hại đếnquyền tự do và an toàn cá nhân bằng việc áp dụng hình phạt

mà còn có quyền xác định tính hợp pháp hay không hợp phápcủa hành vi hạn chế quyền tự do và an toàn cá nhân của cơ

Ngày đăng: 11/04/2019, 21:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w