CƠ sở lý LUẬN cơ bản về PHÁP LUẬT điều CHỈNH hợp ĐỒNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY CƠ sở lý LUẬN cơ bản về PHÁP LUẬT điều CHỈNH hợp ĐỒNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY CƠ sở lý LUẬN cơ bản về PHÁP LUẬT điều CHỈNH hợp ĐỒNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY CƠ sở lý LUẬN cơ bản về PHÁP LUẬT điều CHỈNH hợp ĐỒNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ
BẢN VỀ PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY
Trang 2Cơ sở lý luận
Khái niệm về hợp đồng lao động
Có rất nhiều những cách hiểu khác nhau về hợp đồng laođộng, theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, HĐLĐ được địnhnghĩa là: ‘‘Một thỏa thuận ràng buộc pháp lý một NSDLĐ vàmột công nhân, trong đó xác nhận các điều kiện và chế độviệc làm’’ Có thể thấy, đối với khái niệm được ILO đưa ra đãmang tính khái quát, phản ánh được bản chất của hợp đồngnói chung, xác định được các bên trong quan hệ lao động; tuynhiên việc xác định một bên của quan hệ là công nhân rõ ràng
đã thu hẹp nhóm chủ thể này và khái niệm này cũng chưa nêu
rõ được bản chất của HĐLĐ
Pháp luật Việt Nam qua nhiều thời kì cũng đã có nhữngcách hiểu khác nhau về HĐLĐ Kế thừa những thành tựu củapháp luật hợp đồng lao động HĐLĐ trước đây cộng với nhucầu thực tiễn, khái niệm HĐLĐ hiện nay được ghi nhận tạiĐiều 15 BLLĐ 2012 ‘‘HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ vàNSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động’’.Như vậy,theo pháp luật hiện hành, bản chất của HĐLĐ là sự thỏa thuận
Trang 3giữa chủ thể của HĐLĐ là NLĐ và NSDLĐ về nội dung củahợp đồng lao động HĐLĐ gồm việc làm có trả lương, điềukiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệlao động.
Tóm lại, khái niệm HĐLĐ trong thực tế có nhiều cáchtiếp cận khác nhau, tùy theo truyền thống, khoa học pháp lí,
cơ sở kinh tế, xã hội mà có ít nhiều sự khác biệt giữa phápluật các nước về khái niệm HĐLĐ Nhìn chung, cách hiểuHĐLĐ theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam đã baoquát được chủ thể, bản chất, nội dung của HĐLĐ
- Đặc trưng của hợp đồng lao động
HĐLĐ cũng là một loại loại hợp đồng dân sự nên cũngmang những đặc điểm chung của hợp đồng là sự thỏa thuậntrên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng của các chủ thể Đồngthời, với tư cách là hình thức pháp lý của quá trình trao đổi,mua bán hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động nênHĐLĐ có những đặc trưng riêng so với các hợp đồng thôngthường Nhìn chung HĐLĐ có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lí giữa NLĐ và NSDLĐ
Trang 4Đây được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất của HĐLĐ màcác hệ thống pháp luật khác nhau đều thừa nhận Có thể thấytrong tất cả các loại quan hệ khế ước, duy chỉ có HĐLĐ tồntại đặc trưng này Bản chất của quan hệ lao động là một bên
có quyền đề ra những “mệnh lệnh” và người còn lại có nghĩa
vụ phải thực hiện công việc đó theo thỏa thuận trước đó tronghợp đồng Pháp luật thừa nhận về vấn đề này và trao quyềnquản lý cho NSDLĐ là phù hợp với sự tồn tại, vận động củaquan hệ lao động Sự ràng buộc giữa NLĐ và NSDLĐ là hệquả tất yếu trong quan hệ lao động này
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng lao động HĐLĐ là việc làm có trả công.
Khi NSDLĐ mua hàng hóa sức lao động thì cái mà họđược sở hữu đó là một quá trình lao động biểu thị thông quathời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ýthức… của NLĐ và để thực hiện được những yêu cầu nóitrên, NLĐ phải cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực củachính mình thông qua những khoảng thời gian đã định trước.Ngược lại, NLĐ sẽ được hưởng một khoản “công” mà hai bên
đã thỏa thuận trước đó theo hợp đồng một mức nhất định theo
Trang 5tiêu chuẩn mà luật định về mức “công” mà NLĐ được hưởngtheo như là một dịch vụ thông thường hay một quan hệ kinh
tế mua đứt, bán đoạn
Thứ ba, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện.
HĐLĐ thường thực hiện trong môi trường xã hội hóa, cótính chuyên môn hóa và hợp tác hóa cao Do đó, NLĐ phảitrực tiếp thực hiện các nghĩa vụ cam kết, không được dịchchuyển cho người thứ ba Theo đó, NLĐ phải đích danh mìnhthực hiện công việc mà NSDLĐ đã giao, tuy nhiên nhằm đápứng nhu cầu khách quan trong quan hệ HĐLĐ thì NLĐ cóquyền dịch chuyển nghĩa vụ lao động của mình cho ngườikhác nếu được sự đồng ý của NSDLĐ
Thứ tư, trong HĐLĐ sự thỏa thuận của các bên thường
bị khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định
Đối với HĐLĐ, ngoài những đặc điểm nói trên thì sựthỏa thuận của các bên còn bị chi phối bởi nguyên tắc thỏathuận: Quyền lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu.Theo đó, sự thỏa thuận của các bên thường bị khuôn khổ,khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định của BLLĐ,thỏa ước lao động tập thể, … như tiền lương tối thiểu, thời giờ
Trang 6làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiêu chuẩn an toàn, bảo hiểm xãhội…
Thứ năm, HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định.
HĐLĐ phải được thực hiện liên tục trong khoảng thờigian nhất định hay vô hạn định Thời hạn của hợp đồng có thểđược xác định rõ từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào
đó, song cũng có thể không xác định được trước thời hạn kếtthúc Ở đây, các bên - đặc biệt là NLĐkhông có quyền lựachọn hay làm việc theo ý chí chủ quan của mình mà công việcphải được thi hành tuần tự theo thời gian đã được NSDLĐ xácđịnh Đây là một trong những căn cứ để phân biệt HĐLĐ vớicác hợp đồng dịch vụ, gia công do Luật dân sự điều chỉnh
Với những nét đặc trưng căn bản trên, có thể thấy HĐLĐ
có những đặc thù riêng so với các loại hợp đồng thôngthường, từ đó khiến cho pháp luật về hợp đồng lao động cũngmang những nét đặc trưng riêng so với pháp luật về hợp đồngdịch vụ, pháp luật về hợp đồng mua bán,
- Vai trò của hợp đồng lao động trong hoạt động lao động
Trang 7Thứ nhất, HĐLĐ là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ lao
động trong nền kinh tế thị trường Các quan hệ xã hội đềuxuất phát từ nhu cầu thực tế của nó trong đời sống sinh hoạthằng ngày, lao động là nhu cầu cơ bản và thiết yếu của cuộcsống, quan hệ lao động trong xã hội mà trọng tâm là quan hệgiữa người NSDLĐ và NLĐ cũng xuất phát từ nhu cầu tìmkiếm thu nhập của NLĐ và nhu cầu mua sức lao động củaNSDLĐ Do đó, đòi hỏi phải có một hình thức pháp lý đểràng buộc các bên trong quan hệ lao động Bởi vậy, HĐLĐ sẽlàm phát sinh quan hệ lao động, buộc các bên phải tuân thủđúng những gì đã kí kết
Thứ hai, HĐLĐ là hình thức pháp lý chủ yếu để NLĐ
thực hiện quyền tự do làm việc, tự nguyện lựa chọn việc làm,nơi làm việc.HĐLĐ được kí kết trên cơ sở tự do, tự nguyệncủa các bên chủ thể, các yếu tố về việc làm, điều kiện làmviệc, nơi làm việc phải được ghi nhận trong HĐLĐ, từ đóNLĐ có quyền quyết định lựa chọn công việc phù hợp vớiđiều kiện bản thân Bên cạnh đó, trong một số trường hợp,NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ và lựa chọn mộtviệc làm mới
Trang 8Thứ ba, HĐLĐ là hình thức pháp lý chủ yếu giúp
NSDLĐ thực hiện quyền tự chủ trong thuê mướn và sử dụnglao động phù hợp với điều kiện kinh doanh của mình Mỗidoanh nghiệp có năng lực tài chính khác nhau; môi trường,lĩnh vực kinh doanh khác nhau… do đó mà họ có những tiêuchí riêng để tuyển chọn nhân lực phù hợp với doanh nghiệpmình từ năng lực làm việc, trình độ tay nghề, kinh nghiệmlàm việc cho đến hình thức bên ngoài Đây sẽ là những yêucầu được ghi nhận trong HĐLĐ giữa doanh nghiệp - NSDLĐvới NLĐ, giúp doanh nghiệp tìm kiếm được nguồn nhân lựcphù hợp, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển hoạtđộng kinh doanh của mình
Thứ tư, HĐLĐ là cơ sở pháp lý quan trọng trong giải
quyết tranh chấp lao động Quyền và nghĩa vụ của các bêncũng như những nội dung cơ bản khác như điều kiện làm việc,mức lương, nơi làm việc… đã được các bên thỏa thuận trongHĐLĐ, buộc các bên phải thực hiện theo những điều đã camkết Nếu có tranh chấp phát sinh về quyền và lợi ích hợp phápgiữa các bên chủ thể thì HĐLĐ được coi là cơ sở đầu tiên đềxem xét giải quyêt tranh chấp môt cách nhanh chóng và hiệuquả
Trang 9Thứ năm, HĐLĐ là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, là một trongnhững cơ sở pháp lý quan trọng để nhà nước thực hiện kiểmtra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động của các doanhnghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài
-Phân loại hợp đồng lao động
a, Hợp đồng lao động không xác định thời hạn Trong
hợp đồng, hai bên ( người lao động và người sử dụng laođộng) không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lựccủa hợp đồng
b,Hợp đồng lao động xác định thời hạn Trong hợp đồng
hai bên xác định rõ thời hạn, thời điểm chấm dứt hợp đồng.Theo qui định, thời hạn thỏa thuận phải từ đủ 12 tháng đến 36tháng
Khi hợp đồng lao động như hai trường hợp trên hết hạn,
và người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30ngày, kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai bên phải ký kết hợpđồng lao động mới Nếu không ký kết hợp đồng lao độngmới, thì hợp đồng đã giao kết hiển nhiên được xem như trởthành hợp đồng lao động không xác định thời hạn
Trang 10Trường hợp hai bên tiếp tục ký kết hợp đồng lao độngmới với thời hạn được xác định (theo qui định như trên, từ 12-
36 tháng) thì cũng chỉ được ký thêm một lần nữa Sau đó, nếungười lao động vẫn tiếp tục làm việc thì hai bên bắt buộc phải
ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn Điều này
có thể hiểu một cách nôm na là : hợp đồng lao động có thờihạn không thể tái ký quá 2 lần
c, Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định Loại hợp đồng này có thời hạn dưới 12 tháng.
Lưu ý là không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụhoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng
để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người laođộng đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặcnghỉ việc có tính chất tạm thời khác
Khái quát chung về pháp luật về hợp đồng lao động
Khái niệm pháp luật về hợp đồng lao động
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắtbuộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảothực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố
Trang 11điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với giai cấpmình.
Hợp đồng lao động theo như đã nêu ở trên, là sự thỏathuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điềukiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệlao động”
Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu pháp luật về hợp đồng
lao động là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được nhà nước thừa nhận, điều chỉnh sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ, cụ thể là điều chỉnh về thời gian làm việc, điều kiện làm việc cũng như quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động Sự điều chỉnh đó thể hiện ở các
điều luật, các thông tư, nghị định mà nhà nước ban hành vàNLĐ cũng như NSDLĐ có nghĩa vụ tuân thủ và thi hành
-Sự hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng lao động trong những năm gần đây
Bộ luật lao động đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày23/06/1994 , sau đó đã trải qua 4 lần sửa đổi bổ sung vào cácnăm 2002, 2006,2007 và 2012, trong đó chương HĐLĐ đượcsửa đổi nhiều nhất ( 8/17 điều) Pháp luật về hợp đồng lao
Trang 12động đã góp phần quan trọng cho việc phát triển quan hệ laođộng ở Việt Nam theo hướng thị trường, từng bước góp phầnthúc đẩy sự hình thành và phát triển lành mạnh của thị trườnglao động Nội dung quy định của pháp luật về hợp đồng laođộng hiện hành đã điều chỉnh được cơ bản sự vận động củathị trường lao động, bảo đảm tính linh hoạt, tự do, tự nguyện,của các bên trong quan hệ lao động Liên quan đến các quyđịnh về hợp đồng lao động, Bộ luật Lao động 2012 đã bổsung nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động trên tinh thần tự
do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và hợp tácnhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể(nếu có) và đạo đức xã hội, các quy định khác nhằm minhbạch hóa các giao kết hợp đồng lao động) Ngoài ra, đối vớihai loại hợp đồng lao động là Hợp đồng lao động xác địnhthời hạn và Hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việcnhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì trong trường hợp đãhết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc, hai bên phải
ký kết hợp đồng lao động mới Nếu không ký kết hợp đồnglao động mới thì loại hợp đồng lao động xác định thời hạn màhai bên đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xácđịnh thời hạn; còn loại hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc
Trang 13theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng trở thành loạihợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng
Ngoài Bộ luật Lao động, còn rất nhiều những Nghị định,Thông tư được ban hành kèm theo nhằm hướng dẫn thi hành,
có thể kể đến như Nghị định số 27/2014/ NĐ - CP ngày07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Bộ luật Lao động về người lao động giúp việc giađình, Nghị định số 44/ 2013/ NĐ - CP ngày 10/05/2013 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luậtlao động về hợp đồng lao động, Nghị định 95/2013/ NĐ - CPquy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảohiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng lao động, Thông tư số 30/ 2013/ TT
- BLĐTBXH ngày 25/10/2013 của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
số 44/2013/NĐ - CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động vềhợp đồng lao động Qua đó có thể thấy pháp luật về hợp đồnglao động ngày càng được đề cao chú trọng và được hoàn thiệnphát triển nhằm mục đích duy trì một quan hệ lao động côngbằng, có ích cho sự phát triển của xã hội
Trang 14Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động và các nguồn khác có liên quan
Các vấn đề liên quan đến HĐLĐ chịu sự điều chỉnh củanhiều văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể là:
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự 2015 là cơ sở pháp lý điều
chỉnh các quan hệ dân sự trong đời sống, một trong các quan
hệ dân sự đó là quan hệ lao động HĐLĐ là cơ sở phát sinhquan hệ lao động, do đó chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân
sự Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc giao kết, thực hiện,chấm dứt hợp đồng nói chung làm cơ sở để xây dựng các quyđịnh pháp luật HĐLD
Thứ hai, BLLĐ 2012 quy định các vấn đề pháp lý liên
quan đến quan hệ pháp luật lao động Do đó, quan hệ HĐLĐ
sẽ được điều chỉnh bởi các quy định cụ thể trong BLLĐ 2012,
đó là các quy định về chủ thể, nội dung, hình thức của HĐLĐ,vấn đề giao kết, thực hiện, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt HĐLĐ
Ngoài ra các vấn đề của HĐLĐ còn được quy định tạicác văn dưới luật là các nghị định, thông tư hướng dẫn thihành các điều của BLLĐ 2012 như:
Trang 15Nghị định 05/2015/NĐ-CP, quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động.
Nghị định 44/2013/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành
một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động
Nghị định số 49/2013/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương
Nghị định 45/2013/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi
tiết một số điều của Bộ Luật lao động về thời gian làm việc,thời gian nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
Đặc biệt, sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao độngQuốc tế (ILO), năm 1994 Việt Nam đã gia nhập nhiều Côngước của Tổ chức này như:
Công ước số 5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gialao động công nghiệp (1919)
Công ước số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trongcông nghiệp (1919)
Công ước số 14 về quy định nghỉ hàng tuần cho laođộng công nghiệp (1921)
Trang 16Công ước số 45 về sử dụng lao động nữ trong hầm mỏ(1935)
Công ước số 81 về thanh tra lao động trong công nghiệp
Công ước số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động
và môi trường làm việc (1981)
Công ước số 182 về nghiên cứu và hành động ngay lậptức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (2000)
Trang 17Việc tham gia các Công ước quốc tế này thể hiện camkết và quyết tâm cao độ của Nhà nước Việt Nam trong việcthể hiện sự quan tâm đến các khía cạnh cũng như chủ thểtrong quan hệ lao động đồng thời thể hiện sự tôn trọng và hợptác đối với các quy định của pháp luật quốc tế, tạo một môitrường lao động ngày càng lành mạnh và phù hợp với quychuẩn quốc tế.
-Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động
Nguyên tắc tự do, tự nguyện.
Dưới góc độ pháp luật lao động, đây là nguyên tắc thểhiện một cách sinh động và là sự cụ thể hóa trong nhữngnguyên tắc cơ bản của BLLĐ Đó là nguyên tắc đảm bảoquyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc cho công dân
Nguyên tắc tự do, tự nguyện biểu hiện về mặt chủ quancủa người tham gia lập ước, có nghĩa rằng khi tham gia quan
hệ HĐLĐ các chủ thể hoàn toàn tự do về mặt lí trí, theo đómọi hành vi cưỡng bức, dụ dỗ, lừa gạt… đều xa lạ với bảnchất của HĐLĐ và nếu có, hợp đồng luôn bị coi là vô hiệu.Như vậy, khi tham gia quan hệ HĐLĐ, kết quả của quan hệ
Trang 18trước hết là sự chuyền tải tuyệt đối, trọn vẹn, đầy đủ yếu tố ýthức, tinh thần, sự mong muốn đích thực của các bên trongquan hệ Tuy nhiên, do năng lực chủ thể không đồng đều nêntrong một số trường hợp ý thức chủ quan của chủ thể bị chiphối bởi những người thứ ba Do đó, sự biểu hiện của nguyêntắc tự do, tự nguyện trong quan hệ HĐLĐ vừa có tính tuyệtđối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối của nguyên tắc này
bị chi phối bởi ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ,tính tương đối của nguyên tắc này bị chi phối bởi sự khôngđồng đều về năng lực chủ thể của các bên khi tham gia quan
vi phạm pháp luật HĐLĐ
Trên thực tế giữa các chủ thể khi tham gia quan hệHĐLĐ là không bình đẳng với nhau Sự không bình đẳng này
Trang 19xuất phát từ sự khác biệt về địa vị kinh tế NSDLĐ được coi
là kẻ mạnh, là người bỏ tiền của, tài sản tham gia kinh doanh,thuê mướn lao động NLĐ thường ở vị trí yếu thế bởi họ chỉ
có một thứ tài sản duy nhất để tham gia quan hệ đó là sức laođộng, họ chịu sự phụ thuộc rất lớn vào NSDLĐ về việc làm,tiền lương, điều kiện lao động… Trong tương quan như vậy
có sự bình đẳng giữa các bên là hết sức khó khăn Do đó,nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ HĐLĐ được nhấn mạnhchủ yếu về khía cạnh pháp lý của quan hệ, sẽ là phiến diệnnếu cho rằng cứ có pháp luật tất yếu sẽ có sự bình đẳng
Nguyên tắc không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
Khi giao kết HĐLĐ, nguyên tắc tự do, tự nguyện là sựtôn trọng cái riêng tư, cá nhân của các bên trong quan hệ tứcquyền có tham gia quan hệ hay không, tham gia trong bao lâu,với ai, và nội dung quan hệ gồm những quyền và nghĩa vụ gì
do các chủ thể hoàn toàn quyết định Để nhận được sự tôntrọng, để được pháp luật chấp thuận và bảo vệ thì cái riêng tư
đó phải được đặt trong cái chung của xã hội, đó chính là việctuân thủ nguyên tắc không trái pháp luật Khi tham gia quan
Trang 20hệ lao động, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau
mà trong quá trình thực hiện quan hệ luôn tiềm tàng các nguy
cơ dẫn đến sự vi phạm các cam kết Vì vậy các quy địnhchung của pháp luật lao động, đặc biệt là thỏa ước lao độngtập thể trở thành nguồn sức mạnh, hỗ trợ đắc lực cho cam kếtcủa các bên nhằm hiện thực hóa nó trên thực tế
Các nội dung pháp lý cơ bản và thực trạng của pháp luật về hợp đồng lao động tại nước ta hiện nay
Các nội dung pháp lý cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động
a, Các quy đinh về chủ thể, hình thức, nội dung của hợp
đồng lao động
Chủ thể trong quan hệ hợp đồng lao động.
HĐLĐ được giao kết giữa một bên là NLĐ và một bên
là người thuê mướn lao động Vì vậy, điều kiện cơ bản về chủthể để giao kết hợp đồng lao động là các bên phải có năng lựcpháp lý và năng lực hành vi lao động Các điều kiện đó đượcquy định tại Điều 6 BLLĐ 2012 Theo đó, NLĐ là người ítnhất đủ 15 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao