Thông qua việc nghiên cứu khảo sát thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong hai tác phẩm tiểu thuyết “Quái nhân” và “ Nỗi buồn chiến tranh” , mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:Thấy được vai trò của thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong sáng tác của nhà văn Hữu Đạt và Bảo Ninh , từ đó hướng đến khả năng vận dụng kho tàng ngôn ngữ dân tộc của một nhà văn.Qua những cứ liệu cụ thể hướng đến một cách tiếp nhận văn bản nghệ thuật từ góc nhìn ngôn ngữ học, khẳng định khả năng ứng dụng của Việt ngữ học vào việc tiếp nhận, tìm hiểu các văn bản nghệ thuật.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Môn: Phong cách học tiếng Việt
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt
Sinh viên: Nguyễn Bá Thắng
Lớp: K60 Ngôn ngữ học Chất lượng cao
Mã số sinh viên: 15034444
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I : PHẦN MỞ ĐẦU 2
I) Tên đề tài : 2
II) Lý do chọn đề tài : 2
III) Mục đích nghiên cứu: 3
IV) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
V) Phương pháp nghiên cứu: 3
CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
A) CƠ SỞ LÝ THUYẾT: 5
I) Thành ngữ tiếng Việt: 5
II) Tục ngữ tiếng Việt: 7
III) Quán ngữ tiếng Việt: 8
IV) Cụm từ cố định: 10
B) SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ GIỮA HAI TIỂU THUYẾT: 12
I) Tiểu thuyết “Quái nhân” của Nguyễn Hữu Đạt: 12
II) Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh: 20
III) Nhận xét cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ của hai tác giả qua hai tiểu thuyết: 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3CHƯƠNG I : PHẦN MỞ ĐẦU
I) Tên đề tài : So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong hai
tác phẩm tiểu thuyết “Quái nhân” và “ Nỗi buồn chiến tranh”
II) Lý do chọn đề tài :
Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để tiếp cận văn bản nghệ thuật là một hướng
đi mới của Việt ngữ học ứng dụng Trong những năm gần đây, việc tiếp cận và nghiên cứu văn học trên cơ sở vận dụng phương pháp và thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại, cụ thể là theo hướng tiếp cận văn bản học, hệ thống cấu trúc, nghệ thuật ngôn từ đang thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu
Thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ là đơn vị mang đậm bản sắc ngôn ngữ - văn hóa Việt, được xem là lời ăn tiếng nói của nhân dân Không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ còn là đối tượng
nghiên cứu của rất nhiều ngành khác bởi đặc trưng dân dã, chân thực của nó Các nhà văn lớn của dân tộc luôn có ý thức tiếp thu và gìn giữ giá trị ngôn ngữ
và văn hoá của cha ông ta để lại, đặc biệt là trong kho tàng văn học dân gian
Những đóng góp của nhà văn a Văn háng là những viên gạch qu góp vào truyền thống và kho tàng văn chương của đất nước, lột tả và tô đậm những giá trị vững bền của dân tộc Dù viết về miền núi buổi hoang sơ hào hứng thời kỳ đầu đi theo cách mạng, hay về những sự thật khốc liệt sau đổi mới ở đời sống đô thị, thì trong tác phẩm của ông vẫn tràn đầy vẻ đẹp của văn chương
“Quái nhân” của Hữu Đạt và “Nỗi buồn chiến tranh” là hai tiểu thuyết đặc trưng cho nền văn học hiện đại nhưng vẫn giữ được nét riêng, giá trị ngôn ngữ và văn hóa tiếng Việt đó
III) Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Thông qua việc nghiên cứu khảo sát thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong hai tác phẩm tiểu thuyết “Quái nhân” và “ Nỗi buồn chiến tranh” , mục tiêu nghiên cứucủa đề tài là:
- Thấy được vai trò của thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong sáng tác của nhà văn Hữu Đạt và Bảo Ninh , từ đó hướng đến khả năng vận dụng kho tàng ngôn ngữ dân tộc của một nhà văn
- Qua những cứ liệu cụ thể hướng đến một cách tiếp nhận văn bản nghệ thuật
từ góc nhìn ngôn ngữ học, khẳng định khả năng ứng dụng của Việt ngữ học vào việc tiếp nhận, tìm hiểu các văn bản nghệ thuật
IV) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong các câu ở hai tác phẩm tiểu thuyết …
Phạm vi nghiên cứu: tư liệu nghiên cứu là hai tác phẩm tiểu thuyết …
V) Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu chính
a) Phương pháp khảo sát:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ của hai tác giả Sau đó, chúng tôi tiến hành thống kê phân loại dựa trên những khảo sát cụ thể
b) Phương pháp so sánh, đối chiếu :
So sánh và đối chiếu theo khuôn mẫu của cấu trúc thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ
c) Phương pháp phân tích:
Đây là phương pháp cơ bản nhất làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá bất
kì lĩnh vực nào của văn học trong khi nghiên cứu
Trang 5CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
“Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và nghĩa Nghĩa của chúng
có tính hình tượng và gợi cảm”
b) Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thành ngữ:
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm viết: “Thành
ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để
diễn đạt một tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” Trong Thành ngữ tiếng
Việt, Nguyễn Lực – Lương Văn Đang cho rằng do được hình thành và phát triển
trong lịch s lâu dài của dân tộc nên: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, hay
những ngữ cố định, có nội dung ngữ nghĩa sâu 7 rộng” [5, tr 7] Trong Thành ngữ
học tiếng Việt, Hoàng Văn Hành chỉ ra rằng: “Theo cách hiểu thông thường thì
thành ngữ là một loại tổ hợp cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh,
Trang 6bóng bẩy về nghĩa, được s dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong khẩu ngữ” [13; tr 27]
Trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Phan đưa ra
nhận định về thành ngữ: “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận quen thuộc của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn
được một ý trọn vẹn” [34; tr.38, 39] Trong Hệ thống kiến thức tiếng Việt trong
nhà trường, Nguyễn Văn hang cho rằng: “Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố
định, biểu thị một nghĩa hoàn chỉnh…Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên nó nhưng thông thường qua một số phép
chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh,…[19; tr 53] Thành ngữ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ trong câu hay trong làm phụ ngữ cho cụm danh từ, cụm động từ,…Thành ngữ ngắn gọn, hàm súc, có tính hình tượng, tính biểu cảm cao”[19; tr 54]
c) Các nhà từ điển:
Trong Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân cho rằng: “Thành
ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm” [21; tr 5] Về mặt cấu tạo, Nguyễn Lân cho rằng những thành ngữ có hai từ “là những từ ghép” Cũng nói về thành ngữ, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình S , Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Thành ngữ là một cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa…nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hiện tượng sinh động hàm xúc Thành ngữ hoạt động như một từ trong câu”
Từ những ý kiến trên, chúng tôi thấy thành ngữ tiếng Việt có những đặc điểm sau:
- Cụm từ cố định, ngắn gọn, tương đương với từ;
- Nghĩa của cả cụm từ khác với nghĩa của từng thành tố cộng lại;
- Có tính hình tượng;
Trang 7- Sử dụng rộng rãi trong giao tiếp và được các nhà thơ nhà văn vận dụng trong sáng tạo nghệ thuật của mình;
- Chức năng: biểu thị khái niệm
II) Tục ngữ tiếng Việt:
Tục ngữ là một thể loại của văn học dân gian Trong tiếng Việt, tục ngữ rất gần gũi với sinh hoạt của nhân dân và là một mảnh đất đầy màu mỡ cho các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu văn hóa
Khái niệm:Chúng tôi rút ra những đặc điểm của tục ngữ như sau:
- Thể loại: Thuộc văn học dân gian
- Hình thức: Câu có hình thức cố định, ngắn gọn, cô đọng.
- Nội dung: Thể hiện những phán đoán phản ánh cuộc sống tự nhiên và xã
hội qua lăng kính kinh nghiệm
- Tính thông dụng: Được nhân dân s dụng trong cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày, được các nhà văn nhà thơ tiếp biến sinh động
- Chức năng: thông báo.
III) Quán ngữ tiếng Việt:
1) Định nghĩa về “quán ngữ” :
Quán ngữ là một vấn đề ngôn ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ để tâm tìm hiểu và nghiên cứu nhiều năm qua Vì thế có nhiều cách hiểu khác nhau về quán ngữ Chúng tôi quyết định chọn quan niệm về quán ngữ trong “Từ điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê làm cơ sở nghiên cứu bởi tính chất phổ biến của nó
Định nghĩa quán ngữ trong 'Từ điển tiếng Việt”, Quán ngữ là '' Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành ''Lên lớp'' “lên mặt'' '' lên tiếng” đều là những quán ngữ trong tiếng Việt
2) Phân biệt quán ngữ với thành ngữ:
Trang 8Quán ngữ và thành ngữ đều là những cụm từ đã được cố định hoá giữa hai loại đơn vị này vẫn có điểm khác biệt Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì việc phân chia rạch ròi ranh giới của hai loại cụm từ này rất phức tạp Chúng tôi tạm đặt ra một số tiêu chí phân biệt quán ngữ với thành ngữ để làm cơ sở nghiên cứu
a) Về tính thành ngữ:
Tính thành ngữ được tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau: " Cho một tổ hợp có nghĩa S so các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt s [1], s [2], s [3]… tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s [1]", s [2]", s [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ”(2b, tr.72) Lẽ đương nhiên các thành ngữ sẽ mang tính thành ngữ cao hay thấp, còn quán ngữ thì không có tính chất này Nghĩa của cả tổ hợp giống tổng hợp số nghĩa của các yếu tố cấu thành
Ví dụ: Cụm từ "đi guốc trong bụng: là một thành ngữ vì nghiã của các đơn vị trong cụm từ không thể giải thích cho ý nghĩa cả cụm là "hiểu rất rõ suy nghĩ của người khác" Cụm từ "Đáng chú ý là" là một quán ngữ vì nghĩa của cả cụm chính
là tổng số nghĩa của các từ đáng, chú ý, là
b) Về kết cấu:
Thành ngữ thường có bộ phận trung tâm và những thành phần phụ bổ sung ý nghĩa của thành phần trung tâm những sắc thái phụ ý nghĩa của thành phần trung tâm cũng là ý nghĩa nòng cốt của cả cụm từ Ví dụ: Thành phần trung tâm của thành ngữ "Thần hồn nát thần tính" là "khủng hoảng", các thành phần phụ là "do chính những ảo tưởng, những ý nghĩa ma quái nẩy sinh từ trong đầu óc mình gây
ra nhân khi tâm hồn mình không ổn định" Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu câu Chúng chỉ là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối ổn định
Ví dụ: Các quán ngữ "tức là" "ngược lại" "nói tóm lại"… đều không có từ trungtâm
Trang 9c) Về chức năng:
Thành ngữ có chức năng định danh, chúng vừa có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái… chưa có tên gọi như tình thế "chờ quá lâu, quá sức chịu đựng, làm sốt ruột, bực dọc" được diễn đạt bằng ngữ "chờ hết nước hết cái", vừa có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một sự vật, một hoạt động, mộttính chất, một trạng thái nếu chúng đã có tên gọi, đó là trường hợp dai như đỉa, dai như chão, dai như chó nhai giẻ rách…thể hiện tính chất dai của các sự vật, hoạt động khác nhau… Chạy long tóc gáy, chạy rống bãi công, chạy như cờ lông
công… miêu tả các tình thế, các dạng chạy khác nhau… Nhìn chung các thành ngữđều có chức năng miêu tả, sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái được gọi tên, vừa thể hiện thái độ, tình cảm của người dùng đối với các sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất Quán ngữ là các ngữ cố định không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái
mà chủ yếu là để đưa đẩy, để liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là để đảm nhiệm chức năng rào đón Quán ngữ không làm thànhphần chính trong nòng cốt câu mà đảm nhiệm các chức năng ngoài nòng cốt như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tính thái Ví dụ như các quán ngữ" Một mặt là…, mặt khác là…, nói cách khác…, chắc chắn là…, dễ thường… xin bỏ ngoài tai…
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản giúp phân biệt quán ngữ với thành ngữ
Để phân biệt rạch ròi hai loại ngữ cố định này không thể chỉ bằng vài nét sơ lược; nhưng khuôn khổ luận văn có hạn không cho phép chúng tôi đi sâu tìm hiểu
d) Chức năng của quán ngữ:
Quán ngữ không giữ vai trò làm thành phần nòng cốt câu mà chỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, nhấn mạnh, đưa đẩy, rào đón
IV) Cụm từ cố định:
Trang 10Cụm từ cố định (CTCĐ) là những đơn vị tương đương với từ CTCĐ bao gồm thành ngữ và quán ngữ Trong khi thành ngữ là những CTCĐ có chức năng định danh thì quán ngữ lại là những CTCĐ mang chức năng dẫn ý, chuyển ý Trong báocáo này chúng tôi tạm không phân loại thành ngữ - quán ngữ mới một cách rạch ròi mà gộp chung, gọi là cụm từ cố định mới (CTCĐM).
CTCĐM được hình thành từ những quan sát, cảm nhận riêng của người Việt và rộng hơn là sự rằng buộc của lịch sử, thời đại, thậm chí cả thời điểm mà chúng ra đời Do vậy, khi sự vật được đề cập đến trong CTCĐM cùng tâm lí tiếp nhận sự thay đổi, tất nhiên sẽ có hệ quả là sự thay đổi trong nội dung và cấu trúc của chúng.CTCĐM chủ yếu được hiện thực trong khẩu ngữ - bởi sắc thái tâm lí, sự đánh giá đôi khi mang tính chủ quan của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng, nhằm nhấn mạnh sự vật, hiện tượng Do đó, chúng rõ ràng không phải là cái bất biến (mà hình thức, nội dung của chúng có thể biến đổi theo thời gian, yếu tố lịch sử) Điều đó đãkhiến cho số lượng CTCĐ sẽ ngày càng nhiều, đồng thời sẽ có một số CTCĐ lui vào hậu trường, thay thế vào đó là những CTCĐM hợp với tâm lí, có tính thời sự hơn, phản ánh đúng với sự vật hiện tượng của thời kì hiện đại hơn Đây chính là cơhội cho những biến dạng cố tình để CTCĐM ra đời nhằm phục vụ giao tiếp (thêm
từ quan hệ vào trước sau, dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, thậm chí trái nghĩa; đảo
vế, đảo từ, nói lái, thay cặp biểu trưng này bằng cặp biểu trưng khác, ………… )
Sự phát triển của thời đại đã làm cho một số CTCĐ không còn đúng hoặc tự trở thành gián cách với tâm lí và nhận thức của con người hiện đại (đặc biệt là giới trẻ) Sự khác biệt cũ/mới, xưa/hiện đại nằm ở chỗ từ ngữ biểu hiện cho thời đại lịchsử
CTCĐM có tính thời sự cao, do nó ra đời trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, phản ánh cách nghĩ, cách đánh giá của con người về sự kiện, một hiện tượng xã hộinào đó đang diễn ra, buồn như mất sổ gạo, (tối/đen) như tiền đồ chị Dậu, khách hàng là thượng đế, lấy cơm chấm cơm… Thời kì nào thì cũng cần đúc rút kinh nghiệm, bài học về đối nhân xử thế, quan niệm về cuộc sống mà những điều này từ
Trang 11xa xưa đã có: chán cơm thèm phở, con ông cháu cha,chưa thấy quan tài chưa đổ lệ,đói quá hóa liều, trên bảo dưới không nghe,……….
B) SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ GIỮA HAI TIỂU THUYẾT:
I) Tiểu thuyết “Quái nhân” của Nguyễn Hữu Đạt:
Vài nét về tác giả Nguyễn Hữu Đạt và tác phẩm “Quái nhân”:
PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt là chuyên gia giảng dạy bộ môn Phong cách học và Ngôn ngữ văn học, đồng thời là tác giả nhiều tác phẩm văn học thuộc các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, sân khấu, thơ Trong đó, có nhiều tác phẩm được bạn đọc
yêu thích như: Hai đầu của bức thư tình, Các con đại tá (2 tập), Phía sau giảng
đường, Những kẻ giấu mặt (tiểu thuyết); Chuyện thường ngày ở huyện, Nước mắt
cô đào, Vì tôi yêu (sân khấu).
a) Vài nét tóm tắt về tiểu sử:
Tốt nghiệp K16 Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sau đó ở lại trường làm cán bộ giảng dạy từ 1976 đến nay
Nghiên cứu sinh tại Liên Xô sau là Liên bang Nga
Bảo vệ luận án tiến sĩ Ngữ văn tại Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm Khoa học Nga)
Được phong học hàm Phó giáo sư vào năm 2005
Là chuyên gia dạy tiếng tại PhnômPênh Cămpuchia năm 1984–1985, Đại học Paris (Cộng hoà Pháp) năm 1997–1998
Hiện là phó Chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học, Khoa Ngôn ngữ học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)
b) Sách:
1 Hữu Đạt (1987) Sách dạy tiếng Việt cho học sinh Campuchia (viết chung) Nxb Giáo
dục – Nxb PhnômPênh, 288 trang.
2 Hữu Đạt (1993) Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam Viện HLKH Nga, Viện ngôn ngữ học,
Mockva 243 tr (bản bằng tiếng Việt và tiếng Nga)
3 Hữu Đạt (1994) Tiếng Việt thực hành CĐSP H., 224 trang.
4 Hữu Đạt (1995) Tiếng Việt thực hành (tái bản) Nxb Giáo dục, H., 225 trang.
5 Hữu Đạt (1996) Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam Nxb Giáo dục, H., 272 trang.
6 Hữu Đạt (1997) Tiếng Việt thực hành (tái bản) Nxb Giáo dục, H., 227 trang.
7 Hữu Đạt (1998) Cơ sở tiếng Việt (viết chung) Nxb Giáo dục, H.
8 Hữu Đạt (1999) Phong cách học tiếng Việt hiện đại Nxb KHXH, H., 376 trang.