Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, hướng tới xu thế hội nhập khu vực và quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của rất nhiều công ty mới trong lĩnh vực tài chính. Cùng với sự phát triển này là yêu cầu ngày càng cao của công chúng về tính trung thực của các thông tin tài chính và từ đó thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập trong xã hội. Sự thay đổi của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây thể hiện rất rõ ở sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế, mở cửa hội nhập, thu hút vốn đầu tư và gần đây nhất là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại quốc tế WTO từ ngày 11 tháng 1 năm 2007. Những nhân tố đó đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kiểm toán ở nước ta. Trong kiểm toán báo cáo tài chính, chu trình mua hàng thanh toán là một chu trình rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất và có ảnh hưởng rất quan trọng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Hơn nữa đây là chu trình có mật độ phát sinh các nghiệp vụ nhiều với số lượng và giá trị lớn, liên quan tới nhiều đơn vị trong và ngoài doanh nghiệp, rủi ro phát sinh các sai phạm trong chu trình này cao và từ đó phản ánh sai lệch các thông tin tài chính của doanh nghiệp.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh,hướng tới xu thế hội nhập khu vực và quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời vàphát triển của rất nhiều công ty mới trong lĩnh vực tài chính Cùng với sự pháttriển này là yêu cầu ngày càng cao của công chúng về tính trung thực của cácthông tin tài chính và từ đó thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lậptrong xã hội Sự thay đổi của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây thểhiện rất rõ ở sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế, mở cửa hội nhập, thu hútvốn đầu tư và gần đây nhất là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại quốc tế WTO từ ngày 11 tháng 1 năm 2007 Những nhân
tố đó đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kiểm toán ở nước ta
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, chu trình mua hàng - thanh toán là mộtchu trình rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất và có ảnhhưởng rất quan trọng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Hơnnữa đây là chu trình có mật độ phát sinh các nghiệp vụ nhiều với số lượng và giátrị lớn, liên quan tới nhiều đơn vị trong và ngoài doanh nghiệp, rủi ro phát sinhcác sai phạm trong chu trình này cao và từ đó phản ánh sai lệch các thông tin tàichính của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của chu trình mua hàng - thanh toán, cùngvới tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả công việc kiểm toán, trong quátrình thực tập tại Công ty Kiểm toán và Tư vấn ACPA, em đã quyết định lựa
chọn đề tài: “Vận dụng thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán chu trình mua
hàng - thanh toán do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA thực hiện”.
Trang 2Chuyên đề đã nghiên cứu cơ sở lý luận của việc vận dụng thử nghiệm cơbản trong kiểm toán chu trình mua hàng - thanh toán trong kiểm toán báo cáo tàichính, đồng thời tiến hành tìm hiểu thực tế quy trình vận dụng thử nghiệm cơbản trong kiểm toán chu trình mua hàng - thanh toán: việc vận dụng thủ tục phântích và thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết tại Công ty Kiểm toán và Tư vấnACPA Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện vậndụng thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán chu trình mua hàng - thanh toán tạiCông ty.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung Đề tài của em bao gồm bachương:
Chương 1 Lý luận chung về vận dụng thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán chu
trình mua hàng - thanh toán
Chương 2 Thực trạng vận dụng thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán chu trình
mua hàng - thanh toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện vận dụng thử nghiệm cơ bản trong kiểm
toán chu trình mua hàng - thanh toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấnACPA
Trang 3CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬN DỤNG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TRONG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG - THANH TOÁN
1.1 CHU TRÌNH MUA HÀNG - THANH TOÁN VỚI THỬ NGHIỆM CƠBẢN
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của chu trình với thử nghiệm cơ bản
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, để duy trì các hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình thì quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải nối tiếp liên tục
và lặp đi lặp lại, tạo thành những chu trình kinh doanh Thực tế các chu trìnhkinh doanh có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành các chu trình nghiệp vụ cơbản Chu trình kinh doanh tại một doanh nghiệp thường bắt đầu từ khi doanhnghiệp tạo vốn, có thể bằng vốn tự có hoặc bằng vốn vay mượn để phục vụ chosản xuất, kết thúc giai đoạn tiêu thụ sản phẩm ra thị trường Như vậy, quá trìnhkinh doanh bao gồm các chu trình diễn ra liên tục và có mối quan hệ chặt chẽ vàmật thiết với nhau, mỗi chu trình đều là một mắt xích quan trọng đóng gópkhông nhỏ vào sự thành công trong hoạt động của doanh nghiệp Trong số cácmắt xích đó, chu trình mua hàng - thanh toán là phần quan trọng trong việc cungcấp các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm (đối với doanhnghiệp sản xuất), và cho quá trình tích trữ hàng trước khi đưa hàng hoá vào lưuthông (đối với doanh nghiệp thương mại) Việc thực hiện tốt quá trình này sẽ bảođảm cho doanh nghiệp hạ thấp các chi phí đầu vào với chất lượng ổn định
Chu trình mua hàng - thanh toán là quá trình chuyển quyền sở hữu hànghoá giữa các thực thể kinh doanh thông qua quá trình trao đổi Tiền - Hàng TheoChế độ Kế toán Việt Nam hiện hành, quá trình này được bắt đầu bằng việc lậpmột đơn mặt hàng gửi cho nhà cung cấp và kết thúc bằng việc thanh toán hànghoá dịch vụ nhận được Đây là một phần quan trọng trong dây chuyền hoạt động
Trang 4kinh doanh của các công ty Nó cung cấp yếu tố đầu vào quan trọng đóng gópmột phần không nhỏ vào kết quả thu được Việc thực hiện hiệu quả quá trình này
sẽ giúp công ty vừa tiết kiệm được chi phí đầu vào đồng thời sử dụng được cáchàng hoá có chất lượng cao
Dưới góc độ kiểm toán, chu trình mua hàng - thanh toán liên quan đến một
số chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán bên tài sản, nguồn vốn có ảnh hưởng tớiquyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũng như cho thấy khả năng hoạt động củadoanh nghiệp trong tương lai
Kiểm toán chu trình mua hàng - thanh toán có liên quan đến nhiều đốitượng bên ngoài cũng như kết luận về chu trình này có thể ảnh hưởng tới quyền
và nghĩa vụ của công ty Do đó để có được những kết luận chính xác nhất, khôngthể không xem xét những đặc điểm cơ bản của chu trình và các ảnh hưởng của
nó tới phương pháp kiểm toán
1.1.2 Chức năng của chu trình
1.1.2.1 Xử lý đơn đặt hàng
Điểm khởi đầu của chu trình mua hàng - thanh toán là đơn đặt mua hàng.Khi công ty có nhu cầu về bất cứ loại hàng hoá, nguyên vật liệu hoặc loại hìnhdịch vụ nào, công ty lập các đơn đặt mua hàng hoặc các yêu cầu về cung cấpdịch vụ Giai đoạn này đòi hỏi một sự phê chuẩn đúng đắn đối với các nghiệp vụmua hàng, đảm bảo hàng hoá và dịch vụ được mua đúng chủng loại và chấtlượng theo mục đích của công ty Sau khi việc mua đã được phê chuẩn thì phải
có đơn để đặt mua hàng hoá hoặc dịch vụ Một đơn đặt hàng được gửi cho ngườibán ghi rõ mặt hàng cụ thể ở một mức giá nhất định, được giao vào một ngàyquy định với các đặc tính sản phẩm cụ thể Đơn đặt hàng được xem như một đềnghị chính thức của bên mua hàng đối với bên bán hàng Trong một số trường
Trang 5hợp khác, nếu người mua và người bán mới giao dịch lần đầu hoặc thực hiện cácgiao dịch phức tạp, giá trị hợp đồng lớn thì đòi hỏi cả hai bên phải ký hợp đồngcung ứng hàng hoá hay dịch vụ nhằm đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của cácbên tham gia hợp đồng.
1.1.2.2 Nhận hàng hoá hay dịch vụ
Nhận hàng hóa hay dịch vụ từ người bán là điểm then chốt trong chu trìnhmua hàng - thanh toán Đây là một thời điểm quan trọng trong chu kỳ vì nó đánhdấu việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá gắn liền với các rủi ro đi kèm cũngnhư đó là thời điểm mà tại đó bên mua thừa nhận khoản nợ liên quan đối với bênbán trên sổ sách của họ Khi hàng hoá nhận được, quá trình kiểm soát thích hợp
là kiểm tra mẫu mã, số lượng, thời gian đến và các điều kiện khác có liên quan.Sau đó, một bản sao về báo cáo nhận hàng sẽ được gửi tới thủ kho và một bản tớiphòng kế toán để hạch toán nghiệp vụ Rủi ro gắn liền với hàng hoá, vật liệunhập vào là tình trạng mất mát, thất thoát có thể diễn ra Để ngăn ngừa các rủi ronày, điều quan trọng là hàng hoá phải được kiểm soát chặt chẽ từ lúc nhận vào,bảo quản và cho đến khi hàng hoá được đưa vào sử dụng hoặc chuyển đi Nhânviên phòng tiếp nhận phải độc lập với thủ kho và nhân viên phòng kế toán Cuốicùng, sổ sách kế toán (kế toán vật tư và kế toán chi phí) sẽ phản ánh việc chuyểngiao trách nhiệm đối với hàng hoá khi hàng hoá được chuyển từ phòng tiếp nhậnqua kho và từ kho vào quá trình sản xuất hay đưa đi tiêu thụ
1.1.2.3 Ghi nhận khoản nợ người bán
Việc xác nhận và ghi sổ ban đầu đối với các hàng hóa, dịch vụ nhận được
có ảnh hưởng quan trọng tới các BCTC Sự ghi nhận đúng đắn khoản nợ về hànghoá hay dịch vụ nhận được đòi hỏi việc ghi sổ chính xác và nhanh chóng Kếtoán chỉ được phép ghi nhận dựa trên các lần mua có cơ sở hợp lý về thời gian,
Trang 6số tiền, nhà cung cấp Để bảo đảm việc ghi nhận đúng đắn các khoản thanh toán,
kế toán các khoản phải trả thường có trách nhiệm kiểm tra tính đúng đắn của cáclần mua vào, ghi chúng vào sổ nhật ký và sổ hạch toán chi tiết các khoản phảitrả Khi kế toán các khoản phải trả nhận được hoá đơn của người bán thì phải sosánh mẫu mã, giá cả, số lượng, phương thức và chi phí vận chuyển ghi trên hoáđơn với thông tin trên đơn đặt hàng và khi nào áp dụng được, với báo cáo nhậnhàng Trong quá trình kiểm tra, đối chiếu kế toán thường kiểm tra lại các phépnhân và phép cộng tổng để đảm bảo độ chính xác của số liệu và thực hiện việcchuyển số liệu vào sổ hạch toán chi tiết các khoản phải trả
1.1.2.4 Xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho người bán
Để giúp cho việc ghi sổ các khoản thanh toán dễ kiểm tra, đối chiếu dễdàng, các hoá đơn liên quan đến việc mua hàng sẽ được lưu giữ bởi kế toán chođến khi thanh toán Việc thanh toán thường được thực hiện bằng uỷ nhiệm chi,séc hoặc phiếu chi làm thành nhiều bản mà một bản được gửi cho người đượcthanh toán, một bản sao lưu lại trong hồ sơ theo người thanh toán Các quá trìnhkiểm soát quan trọng đối với chức năng này là việc ký duyệt các chứng từ thanhtoán phải do đúng cá nhân có trách nhiệm Trước khi ký các chứng từ thanh toánphải xem xét kỹ lưỡng các chứng từ chứng minh chi cho nghiệp vụ mua hàng đãphát sinh
Bốn chức năng trên là toàn bộ công việc mà doanh nghiệp cần tiến hànhđối với chu trình mua hàng - thanh toán Mỗi chức năng trong chu trình sẽ phảituân theo những quy tắc nhất định và có những biện pháp kiểm soát riêng Việcnắm vững các chức năng của chu trình mua hàng - thanh toán đã nêu ở trên là cơ
sở để kiểm toán viên tiến hành cuộc kiểm toán có hiệu quả
Trang 71.1.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình
1.1.3.1 Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt độngkinh doanh của mình, hầu hết các công ty hiện nay đều cần xây dựng và khôngngừng củng cố hệ thống KSNB với bốn yếu tố chính: môi trường, kiểm soát, hệthống thông tin kế toán, các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội
bộ đã nêu: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát
do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị” Theo quan niệm này, hệ
thống kiểm soát nội bộ của một doanh nghiệp bao gồm ba nhân tố là môi trườngkiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát Theo đó, môi trường kiểmsoát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động của thành viênHội đồng quản trị, Ban giám đốc đối với hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị.Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thủ tục kiểmsoát Tuy nhiên, môi trường kiểm soát mạnh không đồng nghĩa với hệ thốngkiểm soát nội bộ mạnh vì môi trường kiểm soát tự nó chưa đủ đảm bảo tính hiệuquả của toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kế toán là các quy định về
kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiệnghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủtục cho Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạtđược mục tiêu quản lý cụ thể
Trang 8Quan niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ của Liên đoàn Kế toán Quốc tếđược thể hiện qua khái niệm mới về hệ thống kiểm soát nội bộ trong Chuẩn mựcKiểm toán Quốc tế số 315 - Tìm hiểu đơn vị được kiểm toán và môi trường củađơn vị, và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu - có hiệu lực cho các cuộc
kiểm toán cho các kỳ bắt đầu từ hoặc sau ngày 15 tháng 12 năm 2004: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và các nhân viên của đơn vị thiết lập và chi phối, nó được thiết lập nhằm thực hiện ba mục tiêu của đơn vị bao gồm tính tin cậy của báo cáo tài chính, tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, và tính tuân thủ các luật lệ và quy định” Trong định nghĩa
này, bản chất của hệ thống kiểm soát nội bộ được biểu hiện trên bốn khía cạnhchủ yếu sau:
Kiểm soát nội bộ là quá trình hòa nhập vào trong cơ cấu tổ chức hoạt động
của một đơn vị tạo thành một thể thống nhất, không phải là một quá trình được
bổ sung thêm Kiểm soát nội bộ mang tính môi trường, thể hiện cách thức màcác nhà quản lý điều hành đơn vị
Con người là nhân tố thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ: Tất cả các cá
nhân trong đơn vị đều đóng vai trò nhất định đối với hệ thống kiểm soát nội bộ,thể hiện ở hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị đang diễn ra cũng như cách
mà họ thực hiện các công việc của mình Mỗi cá nhân trong đơn vị đều có hoàncảnh và trình độ khác nhau, đạo đức nghề nghiệp khác nhau, tính cách, nhu cầu
và sự phấn đấu khác nhau Những sự khác nhau đó trong mỗi cá nhân đều ảnhhưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ và cũng đều bị ảnh hưởng bởi hệ thốngkiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý là các mục tiêu của
đơn vị sẽ được thực hiện, không phải sự đảm bảo tuyệt đối do những hạn chế
Trang 9tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ, cho dù kiểm soát nội bộ được thiết kế
và vận hành hiệu quả đến đâu
Kiểm soát nội bộ có hiệu quả trợ giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động, BCTC và tuân thủ: Kiểm soát nội bộ giữ cho đơn vị
luôn hướng tới các mục tiêu đã định và đạt được các mục đích đề ra, giảm thiểunhững biến động ngoài mong đợi trong quá trình đó Kiểm soát nội bộ nâng caotính hiệu quả của các hoạt động, giảm rủi ro mất tài sản, và trợ giúp đảm bảo độtin cậy của các báo cáo tài chính, tuân thủ luật pháp và các quy định liên quan
Như vậy, qua phân tích có thể thấy tính ưu việt của quan niệm mới về hệthống kiểm soát nội bộ theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế so với quan niệm theoChuẩn mực Kiểm toán Việt Nam hiện hành, thể hiện ở những điểm sau:
- Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ bao quát hơn, bao gồm các mụctiêu liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, phù hợp với thực
tế hoạt động của các đơn vị
- Quy định về kiểm soát nội bộ mang tính chất tài chính đã được mở rộng,
hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ bao gồm các kiểm soát “cứng” như nguyêntắc bất kiêm nhiệm, mà còn đề cập đến các kiểm soát “mềm” như trình độchuyên môn cũng như tính chuyên nghiệp của nhân tố con người
- Khái niệm mới về kiểm soát nội bộ này cung cấp một bức tranh toàndiện và cân đối về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, giúp cho các nhà quản
lý cũng như các KTV có thể dễ dàng tìm hiểu, xác định được các điểm mạnh,điểm yếu của hệ thống kiểm soát nội bộ hiện hành để đưa ra các đánh giá, các đềxuất sửa đổi phù hợp nhằm xây dựng và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ cóhiệu quả
Trang 101.1.3.2 Tổ chức kế toán chu trình mua hàng - thanh toán
Trong chu trình mua hàng - thanh toán, các loại chứng từ sổ sách sauthường được sử dụng:
- Yêu cầu mua: tài liệu được lập bởi bộ phận sử dụng (như bộ phận sảnxuất) để đề nghị mua hàng hoá và dịch vụ Trong một số trường hợp, các bộphận trong doanh nghiệp có thể trực tiếp lập đơn đặt hàng, trình phê duyệt và gửicho nhà cung cấp
- Đơn đặt hàng: lặp lại các chi tiết có trong đề nghị mua, được gửi cho nhàcung cấp hàng hoá hay dịch vụ
- Phiếu giao hàng (biên bản giao nhận hàng hoá hoặc nghiệm thu dịch vụ):tài liệu được chuẩn bị bởi nhà cung cấp Phiếu giao nhận phải được ký nhận bởikhách hàng để chứng minh sự chuyển giao hàng hoá (hay dịch vụ) thực tế
- Báo cáo nhận hàng: được bộ phận nhận hàng lập như một bằng chứngcủa việc nhận hàng và sự kiểm tra hàng hoá (dấu hiệu của một thủ tục kiểmsoát)
- Hoá đơn người bán: chứng từ nhận được từ người cung cấp hàng, đềnghị thanh toán cho các hàng hoá dịch vụ đã được chuyển giao
- Nhật ký mua hàng: đây là những ghi chép đầu tiên về hàng hoá mua vàotrong hệ thống kế toán Nhật ký phải liệt kê danh sách các hoá đơn, cùng vớiviệc chỉ ra tên nhà cung cấp, ngày ghi trên hoá đơn và khoản tiền của các hoáđơn đó
- Sổ hạch toán chi tiết công nợ phải trả: Sổ này dùng để ghi nhận, theo dõichi tiết cho từng nhà cung cấp với số tiền phải trả cho mỗi nhà cung cấp cũngnhư số lần mua hàng trong kỳ Tổng số dư tài khoản thanh toán với các nhà cungcấp trên sổ chi tiết phải bằng khoản tiền ghi trên khoản mục phải trả người bán
Trang 11- Bảng đối chiếu của nhà cung cấp: báo cáo nhận được của nhà cung cấphàng (thường là hàng tháng) chỉ ra các hoá đơn chưa thanh toán vào một ngàyđối chiếu nhất định.
Thông tin thu được từ các chứng từ vào sổ sách kế toán thông qua hệthống tài khoản Đối với chu trình mua hàng - thanh toán, các tài khoản chịu ảnhhưởng của chu trình gồm có các tài khoản trong các khoản mục vốn bằng tiền,hàng tồn kho, nợ phải trả Nhìn chung đa số các tài khoản chịu ảnh hưởng trongchu trình mua hàng thanh toán có liên quan đến chu trình nghiệp vụ khác
Căn cứ vào các chứng từ, sổ sách liên quan, kế toán tiến hành hạch toáncác nghiệp vụ thu mua, ghi nhận khoản nợ và các nghiệp vụ thanh toán Việchạch toán kế toán đối với chu trình mua hàng - thanh toán được thực hiện theoquy trình như sau (Sơ đồ 1.1):
Sơ đồ 1.1 Quy trình hạch toán tổng hợp chu trình mua hàng - thanh toán
Mua hàng trả tiền ngay
TK133TK338,331
Thanh toán
chi phí mua Mua hàng thanh toán sau
hàng phải trả
Trang 12Quá trình tổ chức hạch toán kế toán đối với chu trình mua hàng - thanhtoán thực hiện trong các doanh nghiệp thông thường trải qua các bước sau (Sơ đồ1.2):
Sơ đồ 1.2 Quy trình tổ chức trong chu trình mua hàng - thanh toán
Đối với quá trình mua hàng
Đối với quá trình thanh toán
Kí duyệt chứng từ
Nhập hàng, ghi sổ thực nhập vào chứng từ
Đơn đề nghị mua hàng
Đơn đặt hàng
Lập phiếu nhập kho
kho
Trưởng phòng cung ứng
Cán bộ thu mua hàng hóa, vật tư
Phòng cung ứng
Lưu trữ, bảo quản
Kế toán trưởng
Thủ quỹ
Kế toán tiền mặt
Kí duyệt
Xuất quỹ, kí, ghi sổ quỹ
Ghi sổ
Lưu trữ, bảo quản
Trang 131.1.3.3 Kiểm soát nội bộ đối với quá trình mua hàng - thanh toán
Đối với quá trình mua hàng, kiểm soát nội bộ chủ yếu tập trung vào bachức năng đầu tiên của chu trình: Xử lý đơn đặt mua hàng, nhận hàng hoá dịch
vụ, ghi nhận các khoản nợ người bán Các thủ tục KSNB đuợc thực hiện đối vớiquá trình mua hàng như sau:
Bảng 1.1 Quá trình kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ mua hàng
Mục tiêu kiểm toán Quá trình kiểm soát nội bộ chủ yếu
- Các nghiệp vụ mua hàng ghi sổ là
hàng hoá dịch vụ nhận được
Sự thật của các yêu cầu mua hàng,đơn đặt mua hàng, báo cáo nhậnhàng và hoá đơn của người bán
- Sự phê chuẩn các nghiệp vụ muahàng ở đúng cấp có thẩm quyền
- Huỷ bỏ các chứng từ để phòngngừa việc sử dụng lại
- Kiểm soát nội bộ hoá đơn củangười bán, báo cáo nhận hàng, đơnđặt mua hàng và các yêu cầu muahàng
- Các nghiệp vụ mua hàng được phê
Trang 14sổ và được vào sổ trước và theo dõi.
- Các báo cáo nhận hàng đều đượcđánh số trước và theo dõi
- Các nghiệp vụ mua hàng đều được
ghi sổ và đều được đánh giá đúng
(tính giá)
- Kiểm tra nội bộ các quá trình tínhtoán và các số tiền
- Các nghiệp vụ mua hàng được phân
loại đúng đắn (sự phân loại )
- Doanh nghiệp có sơ đồ tài khoảnđầy đủ
- Kiểm tra nội bộ quá trình phân loại
- Các nghiệp vụ mua hàng được phân
loại đúng lúc (tính thời gian )
- Doanh nghiệp có các thủ tục quyđịnh việc ghi sổ nghiệp vụ càng sớmcàng tốt sau khi nhận được hàng hoádịch vụ
- Quá trình kiểm tra nội bộ
- Các nghiệp vụ mua hàng được ghi
sổ đúng đắn trên sổ hạch toán chi tiết
các khoản phải trả và sổ kho; chúng
Trang 15Bảng 1.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quá trình thanh toán
Mục tiêu kiểm toán Quá trình kiểm soát nội bộ
- Các khoản thanh toán ghi sổ là của
hàng hoá và dịch vụ thực tế nhận
được (tính có căn cứ hợp lý)
- Sự tách biệt thích hợp trách nhiệmgiữa nhân viên ghi sổ các khoản phảitrả với người ký phiếu chi và cácchứng từ thanh toán
- Kiểm tra các chứng từ chứng minhtrước khi lập phiếu chi và các chứng
từ thanh toán do một nhân viên cóthẩm quyền thực hiện
- Sự KSNB đối với quá trình
- Nghiệp vụ thanh toán được ghi sổ
và được phê chuẩn đúng đắn (sự phê
chuẩn)
- Sự phê chuẩn các khoản chi trênchứng từ vào thời điểm lập phiếu chi
và các chứng từ thanh toán
- Các nghiệp vụ thanh toán hiện có
đều được ghi sổ (tính đầy đủ)
- Các chứng từ thanh toán như séc,
uỷ nhiệm chi được đánh số trước vàtheo dõi
- Bảng đối chiếu với ngân hàng đượclập hàng tháng bởi một nhân viênđộc lập với việc ghi sổ các khoản chitiền mặt hoặc thanh toán
- Các nghiệp vụ thanh toán được - Thực hiện kiểm tra nội bộ các quá
Trang 16đánh giá đúng đắn (mục tiêu tính giá) trình tính toán và các số tiền
- Hàng tháng, một nhân viên độc lập
sẽ lập các bảng đối chiếu với ngânhàng
- Các nghiệp vụ thanh toán được
phân loại đúng (sự phân loại)
- Doanh nghiệp có sơ đồ tài khoảnđầy đủ và có duy trì kiểm soát đốivới quá trình phân loại
- Các nghiệp vụ thanh toán được ghi
sổ đúng lúc (sự kịp thời)
- Doanh nghiệp có đầy đủ các thủ tụcquy định về việc ghi sổ ngay sau khithực hiện quá trình thanh toán
- Kiểm tra nội bộ đối với quá trìnhghi sổ đảm bảo chính xác về thờigian
- Các nghiệp vụ thanh toán được
1.2 ĐẶC ĐIỂM VẬN DỤNG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN ĐỐI VỚI CHU TRÌNHKIỂM TOÁN MUA HÀNG - THANH TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁOCÁO TÀI CHÍNH
1.2.1 Các rủi ro và hệ thống mục tiêu kiểm toán đối với chu trình mua hàng
Trang 17được phân thành hai phần là quá trình mua hàng và quá trình thanh toán với cácrủi ro tiềm ẩn và đặc điểm riêng.
Với một công ty lớn, quá trình mua hàng thường diễn ra rất đa dạng.Trong một thời kỳ nhất định để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình, cáccông ty phải thực hiện rất nhiều các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ khacnhau vì vậy các rủi ro dễ dàng có thể xảy ra Hàng hoá, dịch vụ có thể bị ghitrùng lắp vào chi phí hoặc ghi giá không đúng do gian lận hay sai sót Sự phốihợp không hiệu quả hay thiếu độc lập giữa các bộ phận có liên quan trong khi hệthống kiểm soát của công ty yếu kém cũng có thể dẫn đến mất mát, thất thoát đốivới hàng hoá, vật liệu nh ập mua Mặt khác, đối với các công ty sản xuất, chi phínguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm một tỷ trọng lớn trong giá vốn hàng bán
và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh Do đó một số công tytìm cách khai khống hoặc khai thiếu giá trị hàng nhập mua nhằm phục vụ chomột số mục đích công khai tài chính riêng, nhằm che đậy những thông tin tàichính yếu kém
Quá trình thanh toán trực tiếp hay ghi nhận và theo dõi các khoản phải trảđối với nhà cung cấp có thể xuất hiện các rủi ro như: việc ghi nhận các khoản nợkhông đầy đủ, ghi nhận không chính xác, thanh toán hai lần cho một hoá đơnhoặc không ghi nhận các khoản đã thanh toán cũng như ghi nhận không đúng kỳphát sinh Đối với các công ty có nhiều giao dịch liên quan đến một số lượng lớncác nhà cung cấp trong khi hệ thống kiểm soát không hữu hiệu sẽ khiến các saiphạm đối với nghiệp vụ thanh toán dễ xảy ra Đôi khi để phục vụ mục đích côngkhai tài chính của doanh nghiệp, các khoản phải trả thương mại hay các khoảnthanh toán đối với các bên có liên quan (như công ty mẹ, công ty thành viên) cóthể bị ghi nhận và công bố sai lệch, không phù hợp
Trang 18Các rủi ro cơ bản liên quan đến khoản phải trả: Các khoản nợ phải trả nóichung và các khoản nợ phải trả người bán nói riêng đều là những khoản mụcquan trọng trên BCTC thể hiện nghĩa vụ của công ty và là nguồn tài trợ chínhcho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc xảy ra sai phạm với cáckhoản mục này sẽ làm sai lệch các tỷ suất quan trọng cũng như các chi tiêu trênBCTC Do yếu tố quan trọng của mình, đôi khi vì các mục tiêu của doanh nghiệphay vì các sơ suất các khoản trả này bị phản ánh một cách sai lệch thường là bịghi giảm xuống và làm tăng một cách giả tạo khả năng thanh toán của doanhnghiệp Ngoài ra, nợ phải trả cũng có khả năng bị khai khống là dấu hiệu củahành vi gian lận, rút tiền công quỹ hoặc ghi nhận không đúng kỳ kế toán (khoản
nợ kỳ này lại ghi nhận sang kỳ khác) cũng là những rủi ro có thể xuất hiện khikiểm toán các quá trình thanh toán và số dư khoản phải trả
Với các rủi ro tiềm ẩn trên, việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toánkhoa học trên cơ sở các mối quan hệ vốn có của đối tượng và của khách thể kiểmtoán sẽ giúp KTV thực hiện đúng hướng và có hiệu quả đối với toàn cuộc kiểmtoán nói chung và đối với từng chu trình nói riêng
Mục đích của kiểm toán BCTC là xác minh và bày tỏ ý kiến về độ tin cậycủa các thông tin và tính tuân thủ các nguyên tắc trong việc lập và trình bàyBCTC Do vậy mục tiêu chung của chu trình mua hàng - thanh toán là đánh giáxem các số dư tài khoản có liên quan có được trình bày trung thực và phù hợpvới các nguyên tắc kế toán hiện hành hoặc được thừa nhận rộng rãi không Từmục tiêu chung của chu trình, các mục tiêu kiểm toán cụ thể đối với chu trìnhbao gồm các mục tiêu được trình bày như sau:
Thứ nhất là tính có thực của hàng hoá hay dịch vụ mua vào cũng như cáckhoản nợ người bán Mục tiêu này hướng tới việc đảm bảo các nghiệp vụ mua
Trang 19hàng hoá dịch vụ và các khoản phải trả nhà cung cấp được kế toán ghi nhận trên
sổ sách thực sự tồn tại và phát sinh trên thực tế
Thứ hai là tính đầy đủ của việc ghi nhận các nghiệp vụ của chu trình,hướng tới việc đảm bảo mọi hoạt động mua nhận hàng hoá và khoản phải trả nhàcung cấp đã phát sinh trên thực tế đều được ghi sổ đầy đủ, không bỏ sót
Thứ ba là tính đúng đắn của việc tính giá: với hàng hoá, dịch vụ mua vàoviệc tính toán giá cả, phân bổ chi phí phải phù hợp với các khoản phí thực sựphát sinh đồng thời việc tính toán các khoản phải trả nhà cung cấp phù hợp vớicác hợp đồng giao dịch, hoá đơn, biên bản giao nhận hàng hoá và dịch vụ
Thứ tư là mục tiêu phân loại và trình bày: đối với các khoản phải trả ngườibán và đặc biệt là đối với hàng hoá dịch vụ mua vào, KTV cần quan tâm tới việcphân loại đúng đắn các nghiệp vụ phát sinh công nợ và tài sản cùng việc thể hiệnchúng qua hệ thống tài khoản tổng hợp và chi tiết
Bên cạnh các mục tiêu trên, chu trình mua hàng - thanh toán còn gắn liềnvới mục tiêu quyền và nghĩa vụ, bảo đảm tài sản thuộc quyền sở hữu cũng nhưcác công nợ mà công ty có trách nhiệm phải thanh toán trên báo cáo tài chính
Thứ sáu là mục tiêu chính xác về mặt số học được thể hiện trong việc tínhtoán, cộng dồn, chuyển sổ, đối với các nghiệp vụ mua hàng - thanh toán
Các mục tiêu kiểm toán trên là cái đích hướng tới và là cơ sở cho KTVtrong quá trình thu thập bằng chứng hỗ trợ cho việc đưa ra ý kiến của mình vềtoàn bộ chu trình Căn cứ vào các mục tiêu đó, KTV phải thiết kế các thủ nghiệmtuân thủ để nhận diện được các cơ cấu, các quá trình kiểm soát chủ yếu theo từngmục tiêu và phục vụ cho việc xây dựng thủ tục kiểm tra chi tiết tương ứng
1.2.2 Chuẩn bị kiểm toán
1.2.2.1 Khái quát chung về chuẩn bị kiểm toán
Trang 20Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thực hiệntrong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điềukiện cần thiết khác cho kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300
về "Kế hoạch kiểm toán”: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiểm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng hạn” Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm ba bước: lập kế hoạch kiểm toán
chiến lược, lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và lập kế hoạch kiểm toán chi tiết(chương trình kiểm toán) Trình tự của giai đoạn chuẩn bị kiểm toán được kháiquát qua Sơ đồ 1.3
1.2.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán chiến lược
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA số 300, “Kế hoạch kiểm toán chiến lược là những nội dung trọng tâm chung của mọi cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên sự hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán”.
Kế hoạch kiểm toán chiến lược được lập cho một cuộc kiểm toán đối vớikhách hàng có quy mô lớn, có tính phức tạp, có địa bàn hoạt động rộng hoặckiểm toán BCTC trong nhiều năm như một cuộc kiểm toán tài chính tổng hợpcủa một tổng công ty, cuộc kiểm toán có dấu hiệu tranh chấp, kiện tụng
Trang 21Sơ đồ 1.3 Khái quát chung về chuẩn bị kiểm toán
1.2.2.3 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
a Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toánthu nhận một khách hàng Trên cơ sở xác định được đối tượng khách hàng có thểphục vụ trong tương lai, công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết
để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:
Thứ nhất là đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV phải đánh giá
xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho các khách
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thực hiện các thủ tục phân tích
Đánh giá trọng yếu và rủi ro
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và thiết kế chương trình kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán chiến lược
Trang 22hàng cũ có làm tăng rủi ro kiểm toán cũng như có làm hại đến uy tín của công tyhay không? Để đưa ra các quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng,Công ty kiểm toán cần tiến hành các công việc như: Xem xét hệ thống kiểm soátchất lượng; Tính liêm chính của Ban Giám đốc của công ty khách hàng; Liên lạcvới KTV tiền nhiệm.
Thứ hai là nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng: Đây là
việc xác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng của họ Để biết đượcđiều đó, KTV có thể thực hiện phỏng vấn Ban Giám đốc khách hàng (đối vớikhách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm của một cuộc kiểm toán đã thựchiện trước đó Đồng thời trong quá trình thực hiện kiểm toán sau này, KTV sẽthu thập thêm thông tin để hiểu biết thêm về lý do kiểm toán của công ty kháchhàng Việc xác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng của họ là hai yếu
tố chính ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng cần thu thập và mức độ chính xáccủa các ý kiến mà KTV đưa ra trong báo cáo kiểm toán
Thứ ba là lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kế toán: Lựa chọn đội ngũ
KTV thích hợp cho cuộc kiểm toán không chỉ hướng tới hiệu quả của cuộc kiểmtoán mà còn tuân thủ những Chuẩn mực kiểm toán chung được thừa nhận(GAAS) Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ “Quá trình kiểm toán phảiđược thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo nhưmột KTV”
Thứ tư là hợp đồng kiểm toán: Bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị
cho kế hoạch kiểm toán mà Công ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợp đồngkiểm toán Đây là sự thoả thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và kháchhàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác
Trang 23b Thu thập thông tin cơ sở
Để thu thập đầy đủ các thông tin cơ sở, KTV cần thực hiện các công việc sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 310 về “Hiểu biết về tình hình kinh doanh”: “Để thực hiện được kiểm toán báo cáo tài chính,kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ
và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên, chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chinh, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến Báo cáo kiểm toán” Để đạt được điều đó
KTV cần thực hiện xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước; tham quan nhàxưởng; nhận diện các bên có liên quan; dự kiến nhu cầu chuyên gia từ bên ngoài
Thứ hai: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng Các
thông tin về nghĩa vụ pháp lý giúp cho KTV nắm bắt được các quy trình mangtính pháp lý có ảnh hưởng tới các mặt hoạt động kinh doanh Các thông tin nàybao gồm các loại sau: Giấy phép thành lập công ty; Các BCTC, báo cáo kiểmtoán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong vài năm trước; Biênbản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc; Các hợp đồng vàcam kết quan trọng
Trang 24Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV tiến hành thực hiện các thủtục phân tích đối với các thông tin tổng quan và pháp lý đã thu được hỗ trợ choviệc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽđược sử dụng Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thayđổi tuỳ thuộc vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh của kháchhàng.
d Đánh giá trọng yếu và rủi ro
Đánh giá trọng yếu: Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và
bản chất của các sai phạm của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ, hoặc là từngnhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thìkhông thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm Trọng yếu là mộtkhái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, được nhắc tới với hai yếu tốảnh hưởng chính: yếu tố định tính và yếu tố định lượng
Trước tiên, KTV cần ước lượng ban đầu về tính trọng yếu Mức ước lượngban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng ở mức độ đó cácBCTC có thể bị sai lệch nhưng chưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sửdụng thông tin tài chính Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp choKTV lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp
Sau đó, KTV tiến hành phân bổ ước lượng ban đầu về trọng yếu cho cáckhoản mục dựa trên bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểmsoát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh nghiệm của KTV và chiphí kiểm toán Mục đích của việc phân bổ này là để giúp KTV xác định được sốlượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập cho từng khoản mục
Đánh giá rủi ro: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty kiểm toán
Trang 25và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng những sai phạm trọng yếu”.
Rủi ro kiểm toán gồm ba loại rủi ro thành phần: rủi ro tiềm tàng, rủi rokiểm soát và rủi ro phát hiện
“Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.
Rủi ro phát hiện: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát hiện được.”
Trong giai đoạn lập kế hoạch KTV cần phải xác định rủi ro kiểm toánmong muốn cho toàn bộ cuộc kiểm toán từ đó xác định mức rủi ro phát hiện cầnđạt được để đảm bảo rủi ro của cuộc kiểm tra ở mức chấp nhận được qua côngthức:
AR = IR x CR x DR
IR x CR
AR: Rủi ro kiểm toán IR: Rủi ro tiềm tàng
DR: Rủi ro phát hiện CR: Rủi ro kiểm soát
Trang 26Ngoài ra, trong giai đoạn này KTV còn cần quan tâm đến mối quan hệgiữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số
300 về Tính trọng yếu trong kiểm toán, mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có
mối quan hệ ngược chiều nhau Việc quan tâm đến mối quan hệ này giúp KTVxác định được bản chất, thời gian, phạm vi của thủ tục kiểm toán cần thực hiện
e Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Đây là một công việc rất quan trọng mà KTV cần thực hiện trong mộtcuộc kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “Đánh giá rủi
ro và KSNB”: “KTV phải biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận có hiệu quả”.
1.2.2.4 Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và thiết kế chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểmtoán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTVcũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan và các thủ tục kiểm toáncần sử dụng và thu thập Quy trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toánđược thiết kế như sau:
a Thiết kế các trắc nghiệm công việc
Việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của trắc nghiệm công việc thường tuântheo phương pháp luận với bốn bước: Cụ thể hóa các mục tiêu KSNB, nhận diệncác quá trình kiểm soát đặc thù, thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và thiết kế cáctrắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu KSNB Để xác định quy mô mẫu chọnngười ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính để ước tính tỷ lệ phần
tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc một thuộc tính chưa được quantâm Khoản mục được chọn là các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho
Trang 27tổng thể Về thời gian thực hiện: Các trắc nghiệm công việc thường được tiếnhành vào thời điểm giữa năm hoặc vào thời điểm kết thúc năm.
b Thiết kế các trắc nghiệm phân tích
Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung củacác số dư tài khoản đang được kiểm toán Trên cơ sở kết quả của việc thực hiệncác trắc nghiệm phân tích đó, KTV sẽ quyết định mở rộng hay thu hẹp các trắcnghiệm trực tiếp số dư
c Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư
Các trắc nghiệm trực tiếp số dư được thiết kế theo các bước sau đây:
Một là: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục đang kiểm toán Thông qua việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ mức ước
lượng này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, KTV sẽ xác định mức sai
số chấp nhận được cho từng khoản mục
Hai là: Đánh giá rủi ro kiểm soát với chu trình kiểm toán được thực hiện.
Quá trình kiểm soát hiệu quả sẽ làm giảm rủi ro kiểm toán chu trình, do đó sốlượng bằng chứng cần thu thập trong trắc nghiệm trực tiếp số dư và nghiệp vụ sẽgiảm xuống và ngược lại
Ba là: Thiết kế và dự đoán kết quả trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm phân tích Các hình thức trắc nghiệm kiểm toán này được thiết kế với dự kiến là
sẽ đạt được một số kết quả nhất định mà theo KTV có ảnh hưởng tới việc thiết
kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư tiếp theo
Bốn là: Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư để đạt được các mục tiêu kiểm toán đặc thù của khoản mục đang được xem xét.
Trang 28Các trắc nghiệm trực tiếp số dư được thiết kế dựa trên kết quả ước tính củacác trắc nghiệm kiểm toán trước đó và chúng được thiết kế làm các phần: thủ tụckiểm toán, quy mô mẫu chọn và thời gian thực hiện.
1.2.3 Thực hiện kiểm toán
1.2.3.1 Thực hiện thủ tục kiểm soát
Các thủ tục kiểm soát đối với chu trình mua hàng - thanh toán được chiathành hai phần cơ bản: Trắc nghiệm đối với nghiệp vụ mua hàng và trắc nghiệmđối với nghiệp vụ thanh toán Các trắc nghiệm đối với chu trình mua hàng quantâm đến ba trong bốn chức năng của chu trình: xử lý đơn đặt mua hàng hóa dịch
vụ, nhận hàng hóa hay dịch vụ, ghi nhận các khoản nợ người bán Các trắcnghiệm đối với nghiệp vụ thanh toán quan tâm đến chức năng thứ tư: xử lý vàghi sổ các khoản thanh toán cho người bán
Một là so sánh biến động của các chi phí mua hàng giữa các tháng trongmối tương quan với tình hình sản xuất, hoạt động của doanh nghiệp diễn ra trongtháng đó để kiểm tra tính hợp lý của các chi phí mua hàng trong kỳ Chẳng hạnnhư những khoản dịch vụ mua ngoài cho chi phí quản lý doanh nghiệp, đặc điểm
Trang 29của khoản chi này là có tính ổn định tương đối, do vậy, so sánh giữa kỳ này với
kỳ trước về khoản chi này có thể giúp KTV nhận định những khả năng bỏ sóthoặc ghi trùng và do vậy làm sai lệch số liệu trên tài khoản phải trả Từ nhữngmối quan hệ này KTV sẽ tìm ra các tháng có chi phí mua hàng bất thường vớikhả năng tiềm ẩn sai sót cao
Hai là so sánh các khoản phải trả theo từng nhà cung cấp giữa kỳ này vớicác kỳ trước để xem khả năng có những khoản chưa được ghi sổ hoặc có nhữngnhầm lẫn
Ba là xem xét danh mục các khoản phải trả, danh mục các nhà cung cấp,chú ý đến các khoản, các nhà cung cấp không thường xuyên để xem khả năng cóthể có những sai sót trong phân loại nghiệp vụ
Bốn là phân tích tỷ lệ tương quan giữa chi phí mua hàng từng tháng với nợphải trả người bán trong từng tháng hoặc với các khoản thanh toán đã thực hiệntrong tháng Nếu chỉ tiêu này ổn định và không có biến động lớn so với kỳ trướcthì ít có khả năng sai sót và ngược lại
Năm là: Trong quá trình kiểm toán chu trình mua hàng - thanh toán, KTVcòn sử dụng các thủ tục phân tích để đánh giá tính hợp lý của các khoản nợ quáhạn trên tổng nợ phải trả nhà cung cấp Nếu chỉ tiêu này có xu hướng tăng mạnhđiều đó chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp có vấn đề đồng nghĩavới việc KTV phải áp dụng thêm nhiều thủ tục kiểm tra chi tiết để giảm thiểu rủiro
Ngoài ra, để đảm bảo tính hợp lý chung của các khoản nợ phải trả, KTV
có thể tính và phân tích một số chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ phải trả thương mại trêntổng giá trị hàng mua trong kỳ, tỷ lệ nợ phải trả thương mại trên tổng nợ ngắnhạn
Trang 301.2.3.3 Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Mục đích của việc áp dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết là thu thập sốlượng bằng chứng thuyết phục theo các mục tiêu kiểm toán đã đặt ra nhằm phục
vụ cho việc đưa ra các kết luận về độ tin cậy của một chu trình nói riêng và củatoàn cuộc kiểm toán nói chung
a Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nghiệp vụ mua hàng
Thứ nhất: Tính có thực của hàng hóa và dịch vụ mua vào Khả năng sai
phạm tiềm tàng đối với hàng hóa dịch vụ là các khoản bị ghi khống làm tăng giátrị của tài sản, vật tư Do đó khi kiểm toán các nghiệp vụ mua hàng tính có thựccủa nghiệp vụ được KTV rất quan tâm Để kiểm tra chi tiết nghiệp vụ mua hàng,KTV xem xét lại sổ nhật ký mua hàng, sổ cái và sổ hạch toán chi tiết các khoảnphải trả đối với các số tiền lớn và không bình thường KTV cũng kiểm tra tínhhợp lý và tính xác thực của các chứng từ chứng minh như: hóa đơn của ngườibán, báo cáo nhận hàng, chứng từ vận chuyển, đơn đặt hàng và yêu cầu muahàng, riêng đối với hàng hóa nhập khẩu còn cần xem xét các tờ khai hải quan,thông báo nộp thuế của Nhà nước KTV tiến hành đối chiếu số liệu hàng muatrên sổ sách với hàng tồn kho tại thời điểm kết thúc niên độ, điều tra các sai lệchnếu có
Thứ hai: Tính đầy đủ của việc ghi nhận hàng hóa dịch vụ mua trong kỳ.
Thông thường trong quá trình đối chiếu giữa sổ sách và chứng từ để kiểm tratính có thực của hàng hóa sẽ giúp KTV đồng thời đạt được mục tiêu đầy đủ củanghiệp vụ Ngoài ra KTV cũng có thể thực hiện đối chiếu hồ sơ các báo cáo nhậnhàng với sổ nhật ký mua hàng nhằm tìm ra bất cứ sự bỏ sót nghiệp vụ mua hàngnào
Trang 31Thứ ba: Các nghiệp vụ mua hàng được phê chuẩn Mục tiêu được phê
chuẩn trong nghiệp vụ mua hàng thường liên quan đến các quyết định mua, sựphê chuẩn về số lượng, chất lượng và giá trị mua ở các cấp có thẩm quyền Đểkiểm tra chi tiết đối với mục tiêu này, KTV tiến hành kiểm tra các chứng từ bổtrợ cho việc thực hiện nghiệp vụ mua như: yêu cầu mua, đơn đặt hàng hoặc hợpđồng mua bán về các dấu hiệu của sự phê chuẩn (dấu, chữ ký, )
Thứ tư: Các nghiệp vụ mua hàng được đánh giá đúng Thủ tục kiểm tra
chi tiết đối với nghiệp vụ này là đối chiếu các nghiệp vụ ghi sổ trên sổ nhật kýmua hàng với hóa đơn của người bán, báo cáo nhận hàng và các chứng từ chứngminh khác và thực hiện tính toán lại các thông tin tài chính trên hóa đơn ngườibán
Thứ năm: Các nghiệp vụ mua hàng được phân loại đúng KTV so sánh sự
phân loại nghiệp vụ mua hàng với sơ đồ tài khoản tham chiếu theo hóa đơnngười bán
Thứ sáu: Các nghiệp vụ mua hàng được ghi sổ đúng lúc, đúng kỳ KTV
kiểm tra tính đúng kỳ kế toán nhằm phản ánh đúng nghiệp vụ vào thời điểm phátsinh Các công việc kiểm tra tính đúng kỳ này thường được thực hiện đối với cácnghiệp vụ phát sinh vào thời điểm cuối niên độ kế toán Thông thường KTV sẽ
so sánh ngày của báo cáo nhận hàng với ngày trên hóa đơn đồng thời đối chiếulên các sổ sách kế toán nhằm xem xét tính đúng kỳ của việc hạch toán kế toán
Thứ bảy: Các nghiệp vụ mua hàng được chuyển sổ và tổng hợp đúng đắn.
Để kiểm tra tính đúng đắn và tin cậy của các con số, KTV tiến hành khảo sát tínhchính xác về mặt số học bằng cách cộng tổng số trong nhật ký và theo dõi quátrình chuyển sổ, vào sổ hạch toán chi tiết các khoản phải trả và sổ kho Hiện nayhầu hết các công ty đều sử dụng hệ thống máy tính trong việc xử lý các thông tin
Trang 32kế toán do đó việc kết chuyển sổ sai lệch tương đối ít xảy ra, các rủi ro nàythường xảy ra với việc thực hiện kế toán thủ công.
b Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nghiệp vụ thanh toán
Các nghiệp vụ thanh toán là nửa còn lại trong chu trình mua hàng - thanhtoán Các mục tiêu kiểm toán và các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với nghiệp vụthanh toán được trình bày như sau:
Một là: Các khoản phải trả được ghi nhận đều dựa trên căn cứ hợp lý.
KTV tiến hành xem xét sổ nhật ký chi tiền, sổ cái tổng hợp và các sổ hạch toánchi tiết các khoản phải trả đối với số tiền lớn và bất thường Để kiểm tra tính cóthực của các nghiệp vụ thanh toán, KTV đối chiếu các phiếu chi và các chứng từthanh toán đã thực hiện (phiếu chi nếu thanh toán bằng tiền mặt, ủy nhiệm chi vàbáo cáo của ngân hàng nếu thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng) với bút toántrong nhật ký mua vào liên quan và kiểm tra tên và số tiền của người được thanhtoán
Hai là: Các nghiệp vụ thanh toán được ghi sổ và được phê chuẩn đúng đắn Dấu hiệu của việc phê chuẩn ở đúng các cấp có thẩm quyền là một thủ tục
kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo rằng mọi hoạt động thanh toán đều được xemxét, rà soát bởi các cấp lãnh đạo Để kiểm tra mục tiêu này, KTV tiến hành kiểmtra các chứng từ đi kèm bổ trợ cho nghiệp vụ thanh toán (như: phiếu chi, lệnh chitiền) về chữ ký, dấu và phê chuẩn của người có thẩm quyền Khi các chứng từnày không có dấu hiệu của sự phê chuẩn thì khả năng sai phạm có thể xảy ra
Ba là: Các nghiệp vụ thanh toán phát sinh đều được ghi sổ (tính đầy đủ).
KTV rà soát các khoản chi tiền ghi trên sổ, đối chiếu với các khoản chi ghi trênbảng kê của ngân hàng và sổ sách của kế toán tiền mặt nhằm đảm bảo các khoảnthanh toán được ghi chép đầy đủ
Trang 33Bốn là: Các nghiệp vụ thanh toán được đánh giá đúng đắn (sự đánh giá).
Nhằm đảm bảo rằng các khoản thanh toán đã được thực hiện được đánh giá đúngđắn KTV có thể so sánh các phiếu chi đã lĩnh tiền, các chứng từ thanh toán đãthực hiện với sổ nhật ký mua hàng và các bút toán chi tiền liên quan
Năm là: Các nghiệp vụ thanh toán được phân loại đúng đắn (sự phân loại) KTV so sánh sự phân loại phù hợp với sơ đồ tài khoản bằng cách tham
chiếu với sổ theo dõi chi tiết vốn bằng tiền, các hóa đơn của người bán và sổnhật ký mua hàng
Sáu là: Các nghiệp vụ thanh toán được ghi sổ đúng lúc Nhằm kiểm tra
tính đúng kỳ của các nghiệp vụ thanh toán, một trong các thủ tục kiểm toán đượcKTV sử dụng là so sánh ngày trên các phiếu chi đã thực hiện với sổ nhật ký chitiền Đồng thời KTV tiến hành so sánh ngày trên các chứng từ thanh toán đã thựchiện với ngày ghi giảm các khoản tiền gửi tại ngân hàng
Bảy là: Các nghiệp vụ thanh toán được chuyển sổ và tổng hợp đúng đắn.
KTV kiểm tra theo dõi các quá trình chuyển sổ vào sổ hạch toán chi tiết vốnbằng tiền và các khoản phải trả
c Các thủ tục kiểm tra chi tiết số dư nợ phải trả người bán
Trong chu trình mua hàng - thanh toán, các khoản phải trả thương mại làmột phần quan trọng trong chức năng mua hàng và có vai trò quan trọng có thểảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như các chỉ tiêu tài chính của công ty.Các rủi ro thường gặp đối với khoản phải trả này là khả năng phản ánh khôngđúng kỳ kế toán cũng như nguy cơ bị làm sai lệch nhằm mục đích thể hiện saicác thông tin tài chính Do đó trong quá trình kiểm toán, bên cạnh các thủ tụckiểm tra chi tiết áp dụng với quá trình mua hàng, thanh toán, KTV còn quan tâmđến kiểm tra chi tiết đối với số dư nợ phải trả người bán Các thủ tục kiểm tra chi
Trang 34tiết số dư nợ phải trả người bán cũng được thực hiện căn cứ vào các mục tiêukiểm toán đã được xây dựng.
Thứ nhất là mục tiêu về tính hợp lý chung: Để đảm bảo rằng số dư khoản
nợ phải trả người bán cùng các số dư chi tiết trong sổ chi tiết các khoản nợ phảitrả được ghi nhận một cách hợp lý, KTV tiến hành so sánh với tổng chi phí muahàng năm nay với năm trước đồng thời xem xét các khoản phải trả nhằm pháthiện những khoản nợ bất hợp lý như không có bên bán, và các khoản phải trả cóchịu lãi suất Đồng thời KTV cũng tiến hành đối chiếu các khoản phải trả trong
sổ hạch toán chi tiết với các năm trước (theo từng khách hàng) để phát hiện cácbiến động
Thứ hai: Các khoản phải trả là có căn cứ hợp lý (tính có thực) Để kiểm
tra tính có thực của các khoản phải trả đã ghi nhận, KTV tiến hành đối chiếudanh sách các khoản phải trả với bảng kê các nhà cung cấp và rà soát tới các hóađơn giao dịch thực hiện trong kỳ Một thủ tục quan trọng không thể thiếu khikiểm tra tính có thực của khoản phải trả là thực hiện việc gửi thư xác nhận tớicác nhà cung cấp với các khoản nợ lớn, bất thường Tùy theo đánh giá về rủi ro
có thể xảy ra, KTV lựa chọn việc gửi thư xác nhận dạng khẳng định hay phủđịnh
Thứ ba là các khoản phải trả phát sinh đều được ghi nhận (tính đầy đủ).
KTV sẽ tiến hành rà soát, kiểm tra chi tiết các khoản nợ phải trả chưa được ghi
sổ Thủ tục này thường liên quan đến tính đúng kỳ kế toán vì trên thực tế cácnghiệp vụ mua hàng phát sinh vào cuối năm nay thường được thanh toán vào đầunăm sau do đó một rủi ro hay xảy ra là kế toán phản ánh khoản nợ đó vào năm
kế tiếp Để kiểm tra công ty đã phản ánh đầy đủ các khoản nợ vào năm tài chínhhiện hành, KTV chọn ra một số nghiệp vụ thanh toán vào đầu năm kế tiếp đối
Trang 35chiếu với hóa đơn giá trị gia tăng để đảm bảo rằng các khoản nợ được phản ánhđầy đủ Đối chiếu các phiếu nhập, báo cáo nhận hàng của những ngày cuối nămvới hóa đơn của người bán có liên quan.
Thứ tư là các khoản phải trả được đánh giá đúng: Việc kiểm tra chi tiết
nhằm đảm bảo các khoản phải trả được đánh giá đúng sẽ được KTV tiến hànhđối chiếu danh sách các khoản phải trả với các hóa đơn và bảng kê cùng với cáckết quả thu được từ thư xác nhận Đối với các công ty hạch toán bằng đồng ngoại
tệ thì để đảm bảo tính định giá đúng, KTV thực hiện quy đổi các số dư nợ cuối
kỳ theo tỷ giá liên ngân hàng tại thời điểm cuối năm và so sánh với số dư công
nợ cuối kỳ
Thứ năm là các khoản phải trả được phân loại đúng: Một rủi ro thường
gặp khi kiểm toán các khoản phải trả là việc hạch toán nhầm nhà cung cấp, điềunày không làm ảnh hưởng tới tổng công nợ tuy nhiên phản ánh sai lệch quyền vànghĩa vụ của công ty đối với từng nhà cung cấp Để hạn chế rủi ro trên, KTV sẽtiến hành kiểm tra sổ hạch toán chi tiết các khoản phải trả
Thứ sáu là các khoản nợ phải trả được trình bày đúng đắn: KTV thực
hiện kiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo nợ phải trả người bán, phải trả nội
bộ, nợ ngắn hạn và dài hạn đượi tách riêng
Thứ bảy là các khoản nợ phải trả được ghi sổ đúng kỳ: KTV khi kiểm tra
mục tiêu này thường quan tâm đến tính đúng kỳ của khoản nợ, kiểm tra cáckhoản nợ quá hạn đồng thời đối chiếu với số liệu kiểm toán chu trình hàng tồnkho, hồ sơ hàng mua đi đường do sự phân kỳ của khoản nợ phải trả có mối quan
hệ chặt chẽ với việc khóa sổ của các hóa đơn mua hàng để xác định số dư hàngtồn kho
Trang 361.2.4 Kết thúc kiểm toán
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV phải hoàn tất công việc thựchiện kiểm toán nhằm phục vụ cho việc đưa ra đánh giá cuối cùng về kết quảkiểm toán và chuẩn bị cho lập báo cáo kiểm toán Các công việc chuẩn bị tronggiai đoạn hoàn thành kiểm toán bao gồm: Xem xét các khoản công nợ ngoài dựkiến; Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ kế toán; Xem xét tính hoạtđộng liên tục của khách hàng và thu thập các giải trình của Ban Giám đốc
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 700 "Báo cáo kiểm toán về báocáo tài chính" các ý kiến kiểm toán có thể đưa ra gồm:
"Ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ được trình bày trong trường hợp KTV vàCông ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trêncác khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phùhợp với chuẩn mực và Chế độ Kế toán Việt Nam
Ý kiến chấp nhận từng phần sẽ được trình bày trong trường hợp KTV vàCông ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực hợp lý trêncác khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hưởngbởi yếu tố tùy thuộc hoặc ngoại trừ mà KTV đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán
Ý kiến từ chối được đưa ra trong trường hợp hậu quả của việc giới hạnphạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lượnglớn các khoản mục tới mức mà KTV không thể thu thập đầy đủ và thích hợp cácbằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về báo cáo tài chính
Ý kiến không chấp nhận được đưa ra trong trường hợp các vấn đề khôngthống nhất với Ban Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớncác khoản mục đến mức độ mà KTV cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần làchưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính.”
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TRONG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG - THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACPA
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN ACPAVỚI VẬN DỤNG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường cũng như trong xu thế phát triển chung
cả về số lượng, chất lượng dịch vụ và sự ra đời của các công ty kiểm toán độclập, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA được thành lập theo Giấy phépkinh doanh số số 0102012231 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấpngày 14 tháng 04 năm 2004 với tên giao dịch tiếng Anh viết tắt là ACPAAuditing & Consulting Co., Ltd Định hướng chiến lược của Công ty là “Xâydựng ACPA thành hãng kiểm toán và tư vấn hàng đầu với cam kết luôn cung cấpdịch vụ chuyên môn với chất lượng tốt nhất cho khách hàng và cung cấp cơ hộiphát triển nghề nghiệp tốt nhất cho đội ngũ nhân lực của Công ty” Công tyTNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA có tư cách pháp nhân, có tài khoản giao dịchtại Ngân hàng Vietcombank, có quyền ký các hợp đồng kiểm toán và phát hànhbáo cáo kiểm toán, đặt trụ sở chính tại Tầng 18, Toà Tháp quốc tế Hoà Bình, 106Hoàng Quốc Việt, Hà Nội Phương pháp kiểm toán nói chung và việc vận dụngthử nghiệm cơ bản đối với chu trình kiểm toán mua hàng - thanh toán nói riêngtại Công ty chính là kết quả của sự kế thừa và tiếp thu phương pháp kiểm toán tạiCông ty Arthur Andersen, một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giới từnăm 2002 trở về trước Vốn điều lệ của Công ty hiện nay là 2 tỉ đồng và đang dựtính nâng vốn điều lệ lên 3 tỉ đồng trong thời gian tới Với thế mạnh chuyên môn
cả về công nghệ và nhân lực, hiện nay Công ty đang cung cấp các dịch vụ trong
Trang 38các lĩnh vực kiểm toán, tư vấn về thuế, tư vấn về hoạt động trong doanh nghiệpcho các khách hàng Để phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn và thực hiệnđịnh hướng chiến lược phát triển dài hạn, tháng 6 vừa qua Công ty đã mở vănphòng mới tại 63A Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty Kiểm toán và Tư vấn ACPA đã chính thức ghi danh mình là mộtthành viên của tập đoàn kiểm toán quốc tế Nexia International - Tập đoàn Kiểmtoán đứng thứ 10 trên thế giới - vào ngày 18/12/2006 Việc gia nhập làm thànhviên của Nexia International đòi hỏi phải trải qua quá trình kiểm tra việc tuân thủnhững điều kiện về hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ, mô hình hoạt động, hệthống kiểm soát rủi ro… rất khắt khe Với đội ngũ nhân viên ưu tú, có nhiều kinhnghiệm làm việc với các hãng kiểm toán nước ngoài cùng với việc áp dụngphương pháp kiểm toán tiên tiến nên quá trình gia nhập của Công ty kể từ ngày
đệ đơn 30/10/2006 tới ngày trở thành thành viên chính thức của NexiaInternational chỉ trong vòng hai tháng Công ty được nhận rất nhiều quyền lợikhi trở thành thành viên của Tập đoàn Kiểm toán Nexia Trong đó có thể kể đếnquyền lợi về việc được cung cấp các thông tin hữu ích về phương pháp làm việccũng như các thông tin mới về chuyên ngành kiểm toán, kế toán, thuế, tài chínhngân hàng… Các nhân viên của Công ty có cơ hội được đào tạo nâng cao vềchuyên môn nghiệp vụ với mỗi cấp độ vị trí khác nhau Hơn nữa đó là cơ hộitrao đổi nhân viên với các văn phòng, chi nhánh, cũng như về khách hàng đượcgiới thiệu trong Tập đoàn Nexia tới Công ty ACPA Đặc biệt một quyền lợi rấtquan trọng của Công ty là cơ hội marketing quảng bá về tên tuổi vị trí của Công
ty, một trong những hãng kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam ACPA luôn nỗ lựccung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế
Trang 392.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty
2.1.2.1 Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Công ty
Nhằm tăng thêm sự lựa chọn của khách hàng và để phục vụ khách hàngmột cách hiệu quả nhất, Công ty không ngừng mở rộng cũng như đa dạng hóacác loại hình dịch vụ của mình Các dịch vụ chủ yếu tại Công ty như sau:
a Cung cấp dịch vụ kiểm toán: Kiểm toán báo cáo tài chính; Soát xét báo
cáo tài chính; Kiểm toán hoạt động; Kiểm toán nội bộ; Đánh giá toàn diện; Kiểmtoán quản lý rủi ro; Kiểm toán tuân thủ; Kiểm toán điều tra; Kiểm toán thông tin
kế hoạch tài chính
b Cung cấp dịch vụ tư vấn thuế: Lập kế hoạch thuế; Tư vấn các quy định
về thuế và quy định liên quan; Rà soát việc tuân thủ các quy định về thuế; Trợgiúp quyết toán thuế; Tư vấn các vấn đề cụ thể về thuế; Các dịch vụ tư vấn thuếkhác; Dịch vụ tính lương và tuân thủ
c Cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý: Tư vấn phát hành chứng khoán lần
đầu ra công chúng; Tư vấn cổ phần hóa; Định giá doanh nghiệp; Tư vấn tài trợvốn cho doanh nghiệp; Tái cơ cấu và khôi phục doanh nghiệp; Tư vấn mua bánsáp nhập doanh nghiệp; Tư vấn và xúc tiến đầu tư; Tư vấn quản lý các giao dịchkinh doanh; Tư vấn thiết kế cơ cấu tổ chức; Tư vấn thiết kế hệ thống kiểm soátnội bộ; Tư vấn mua áp dụng phần mềm kế toán; Hỗ trợ tuyển dụng; Dịch vụ kếtoán; Dịch vụ đào tạo
Các dịch vụ của Công ty được thực hiện bởi các nhân viên có kinh nghiệmchuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp cao Với mong muốn đem đến sự hàilòng tối đa cho khách hàng nên bên cạnh việc đa dạng hoá các loại hình dịch vụ,Công ty còn không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ
Trang 402.1.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Với mục tiêu đặt chất lượng kiểm toán và dịch vụ tư vấn lên hàng đầu, cácnhân viên trong Công ty đều nỗ lực hết mình đem đến chất lượng dịch vụ tốtnhất cho khách hàng Nhờ đó, từ khi thành lập đến nay số lượng khách hàng tintưởng và sử dụng dịch vụ của Công ty không ngừng mở rộng Với phương châmhoạt động “Your Trust, Our success”- “Sự tín nhiệm của khách hàng là thànhcông của chúng tôi”- Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA đã ngày càngkhẳng định được vị thế cũng chỗ đứng của mình trong lĩnh vực kiểm toán ViệtNam Bắt đầu đi vào hoạt động chính thức từ tháng 4 năm 2004, tuy thời gianhoạt động của Công ty chưa lâu nhưng với sự cố gắng và nỗ lực không ngừngcủa Ban Giám đốc cũng như của toàn thể nhân viên trong Công ty nên Công ty
đã đạt được kết quả hoạt động rất đáng khích lệ Trong năm tài chính kết thúcngày 30/6/2006 vừa qua Công ty đạt mức doanh thu 6,8 tỉ VNĐ trong đó doanhthu từ dịch vụ kiểm toán chiểm khoảng 60%, doanh thu từ dịch vụ tư vấn thuếước đạt 40% tổng doanh số Lợi nhuận ước tính của Công ty trong năm đạtkhoảng 20% tổng doanh thu
2.1.2.3 Đặc điểm chung về trình tự kiểm toán tại Công ty
Để cân đối cả hai mục tiêu của kiểm toán là tính hiệu quả và tính kinh tế,vấn đề quan trọng nhất đối với mỗi công ty kiểm toán là xây dựng cho mình mộtphương pháp kiểm toán phù hợp, đáp ứng được được mục tiêu của hoạt độngkiểm toán là cung cấp ý kiến kiểm toán tin cậy cho những người sử dụng thôngtin trên các báo cáo tài chính, đem lại những ý kiến tư vấn đề xuất hiệu quả chokhách hàng, đồng thời giảm thiểu thời gian kiểm toán một cách hiệu quả nhất.Phương pháp kiểm toán do ACPA xây dựng được dựa trên cơ sở gọi là kiểmtoán dựa trên rủi ro, một phương pháp kiểm toán hoàn toàn khác so với phương