NGUYỄN VĂN CHIÊM NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM CHUYÊN KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC Hà
Trang 1NGUYỄN VĂN CHIÊM
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM
CHUYÊN KHOA THỂ DỤC THỂ THAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2NGUYỄN VĂN CHIÊM
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM
CHUYÊN KHOA THỂ DỤC THỂ THAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Ngành: Giáo dục học
Mã số: 9140101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN DANH HOÀNG VIỆT
2 GS.TS LƯU QUANG HIỆP
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Chiêm
Trang 4TRANG BÌA
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Cơ sở lý thuyết của việc đảm bảo chất lượng 7
1.1.1 Những quan niệm về chất lượng trong giáo dục đại học 7
1.1.2 Cơ sở lý thuyết của việc đảm bảo chất lượng 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đảm bảo chất lượng dạy học 13 1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 15
1.2 Đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng 20
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến chương trình 20
1.2.2 Một số khái niệm có liên quan đến đánh giá chất lượng chương trình đào tạo 22
1.2.3 Đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng 24
1.3 Nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa TDTT 27
1.3.1 Một số đặc điểm phát triển vùng miền và trường Đại học Tây Bắc ……… 27
1.3.2 Đặc trưng khác biệt của trường Đại học Tây Bắc và chức năng, nhiệm vụ của Khoa TDTT 30
1.3.3 Đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 33
1.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan 37
1.5 Tóm tắt chương 45
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 47
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 47
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 47
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 47
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 47
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm 48
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 49
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 52
2.2.5 Phương pháp toán thống kê 52
2.3 Tổ chức nghiên cứu 56
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 56
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 56
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 57
Trang 5của sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 57
3.1.1 Xác định các tiêu chí ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 57
3.1.2 Thực trạng chương trình đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường đại học Tây Bắc 58
3.1.3 Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên ngành TDTT cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 65
3.1.4 Thực trạng công trình TDTT phục vụ đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 69
3.1.5 Thực trạng thái độ và hành động của sinh viên theo học chương trình GDTC khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 71
3.1.6 Bàn luận 75
3.2 Nghiên cứu lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 82
3.2.1 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 82
3.2.1.1 Mục tiêu của các giải pháp 82
3.2.1.2 Yêu cầu của các giải pháp 82
3.2.1.3 Giải pháp và các nhiệm vụ 83
3.2.2 Kiểm định sự đồng thuận đối với các giải pháp 96
3.2.3 Bàn luận 104
3.3 Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 108
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 108
3.3.2 Nâng cao nhận thức của sinh viên với học tập môn chuyên ngành ………109
3.3.3 Xây dựng chương trình đào tạo ngành GDTC 111
3.3.4 Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy các môn học chuyên ngành qua ý kiến phản hồi của sinh viên 113
3.3.5 Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy các môn học chuyên ngành qua ý kiến phản hồi của giảng viên 117
3.3.6 Kết quả học tập một số môn chuyên ngành của sinh viên 121
3.3.7 Kết quả xếp loại thể lực sinh viên theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục – Đào tạo 123
3.3.8 Bàn luận 124
A Kết luận 129
B Kiến nghị 131
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
AUN-QA ASEAN University Network - Quality Assurance GDTC Giáo dục thể chất
TDTT Thể dục thể thao
Trang 7trong chương trình đào tạo ngành GDTC 68Bảng 3.6 Công trình TDTT phục vụ đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên
TDTT trường Đại học Tây Bắc 70Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn thái độ của sinh viên đối với các môn học
chuyên ngành trong chương trình đào tạo GDTC (n=120) 72Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn hành động học tập của sinh viên khối sư phạm
chuyên TDTT đối với các môn học chuyên ngành (n=120) 74Bảng 3.9 Thống kê tần suất trả lời về lựa chọn giải pháp (n = 27) 97Bảng 3.10 Tần suất trả lời về nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối
sư phạm chuyên khoa TDTT trường Đại học Tây Bắc (n = 27) 98Bảng 3.11 Độ tin cậy của kết quả phỏng vấn lựa chọn giải pháp và nhiệm vụ
nâng cao chất lượng đào tạo (n = 27) 99Bảng 3.12 Phân tích nhân tố về nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên
khối sư phạm chuyên khoa TDTT trường Đại học Tây Bắc (n = 27) 101Bảng 3.13 Kết quả phỏng vấn về nhận thức của sinh viên với học tập môn
chuyên ngành (n = 57) 110
Trang 8viên chuyên khoa TDTT thông qua ý kiến sinh viên (n = 112) 114Bảng 3.15 Tổng hợp tần suất trả lời về đánh giá chương trình đào tạo sinh
viên chuyên khoa TDTT thông qua ý kiến sinh viên (n = 112) 115Bảng 3.16 Độ tin cậy của kết quả phỏng vấn sinh viên về đánh giá chương
trình đào tạo sinh viên chuyên khoa TDTT (n = 112) 116Bảng 3.17 Thống kê tần suất trả lời về đánh giá chương trình đào tạo sinh
viên chuyên khoa TDTT thông qua ý kiến giảng viên và cán bộ quản lý (n = 27) 118Bảng 3.18 Tổng hợp tần suất trả lời về đánh giá chương trình đào tạo sinh
viên chuyên khoa TDTT thông qua ý kiến giảng viên và cán bộ quản lý (n = 27) 119Bảng 3.19 Độ tin cậy của kết quả phỏng vấn giảng viên về đánh giá chương
trình đào tạo sinh viên chuyên khoa TDTT (n = 27) 120Bảng 3.20 So sánh kết quả học tập một số môn chuyên ngành của sinh viên
khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc 121Bảng 3.21 So sánh kết quả xếp loại thể lực cho sinh viên khóa đại học 54 ở
thời điểm trước và sau thực nghiệm (n=57) 123
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả phỏng vấn đánh giá chương trình đào tạo ngành giáo dục
thể chất trường Đại học Tây Bắc 62Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ về trình độ đào tạo của giảng viên chuyên ngành Khoa
GDTC năm 2016 65Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ về chuyên ngành đào tạo của giảng viên chuyên ngành
Khoa GDTC năm 2016 66Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ về độ tuổi của giảng viên chuyên ngành Khoa GDTC năm
2016 67
Trang 9ngành trong chương trình đào tạo GDTC 68Biểu đồ 3.6 Kết quả phỏng vấn thái độ của sinh viên khối sư phạm chuyên
TDTT đối với các môn học chuyên ngành 72Biểu đồ 3.7 Kết quả phỏng vấn hành độc học tập của sinh viên khối sư phạm
chuyên TDTT đối với các môn học chuyên ngành Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 3.8 Kết quả phỏng vấn về nhận thức của sinh viên với học tập môn
chuyên ngành 110Biểu đồ 3.9 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ xếp loại kết quả một số môn học chuyên
ngành của các khóa đại học 54, 53, 52 122Biểu đồ 3.10 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ xếp loại thể lực cho sinh viên khối sư
phạm chuyên TDTT khóa đại học 54 124
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta phát triển với tốc độ ngày càng cao, với quy mô ngày càng lớn, nó thúc đẩy một cách sâu sắc và toàn diện các hoạt động trong mọi lĩnh vực Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp TDTT đã thực sự được quan tâm, phong trào TDTT đang được phát triển rộng khắp trong cả nước, từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị đến nông thôn, từ khắp mọi miền của đất nước Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của TDTT trong chiến lược
và phát triển con người toàn diện là việc rất cần thiết Bên cạnh nhiệm vụ trang bị cho học sinh vốn kiến thức và các môn khoa học và giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, ngành Giáo dục đào tạo còn quan tâm phát triển thể chất cho học sinh các cấp trong cả nước, từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
Gần đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đang chỉ đạo thực hiện công tác trọng tâm đổi mới như: điều chỉnh đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới chương trình, nội dung cũng như phương pháp dạy và học, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển, đáp ứng đòi hỏi cao sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, trong đó có mục tiêu GDTC Như vậy, nâng cao chất lượng GDTC trong trường học là yêu cầu tất yếu khách quan để thực thi chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và ngành TDTT
Nghị quyết Ban chấp hành TW khóa VIII đã khẳng định: “Muốn xây
dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, không chỉ những con người phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, lối sống, mà còn phải cường tráng về thể chất Chăm lo cho con người phát triển về thể chất là trách nhiệm của mọi người, mọi ngành và của toàn xã hội…” [14]
Luật Giáo dục năm 2005 xác định: “Mục tiêu giáo dục là giúp cho học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
Trang 11cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng, bảo vệ tổ quốc” [38]
Giáo dục thể chất trong trường học đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe, thể lực cho học sinh, rèn luyện ý chí tổ chức kỷ luật, bồi dưỡng các kỹ năng, kỹ xảo vận động và những hiểu biết có liên quan đến hoạt động TDTT Thông qua chương trình GDTC, giúp cho học sinh thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động TDTT đối với sức khỏe con người [14], [15], [27], [28]
GDTC còn có tác động tích cực đối với việc rèn luyện và bồi dưỡng những phẩm chất chính trị, tư tưởng (lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội), phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, có động cơ đúng đắn trong học tập
và rèn luyện của học sinh góp phần vào mục tiêu phát triển con người toàn diện [48], [50]
Tuy nhiên, công tác GDTC trong nhà trường hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Theo báo cáo tổng kết thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Ban bí thư
Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới: “Việc luyện tập thể
dục ngoại khóa, nội khóa trong các trường học đã có tổ chức và đầy đủ hơn, phong trào Hội khỏe phù đổng các cấp đã tiến hành thường xuyên, có hệ thống Tuy nhiên, công tác giáo dục thể chất trong các trường học còn nhiều bất cập; nhận thức của các cấp quản lý giáo dục còn hạn chế, chất lượng giảng dạy, học tập còn thấp, hiệu quả chưa cao các hình thức thể thao quần
chúng còn nghèo nàn, điểm tập ít” [13]
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, nhằm giúp cho mọi người có khả năng phát triển về trí tuệ và cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, việc chăm lo cho sức khỏe, thể chất học sinh, sinh viên đặc biệt cho sinh viên chuyên ngành
Trang 12TDTT góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực mới Qua nghiên cứu và khảo sát các trường đại học công lập, dân lập trên toàn quốc, các hoạt động TDTT được Bộ Giáo dục - Đào tạo quan tâm chỉ đạo và đầu tư kết hợp giữa nhà trường và địa phương trong công tác GDTC của các trường đại học đã
có bước chuyển biến rõ rệt và được khích lệ, góp phần tích cực vào thành tích trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, để nâng cao thể chất cho sinh viên
Tuy nhiên, những thành tích đã đạt được còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao Công tác GDTC trong các trường đại học chưa đáp ứng với yêu cầu hiện nay Đội ngũ giáo viên còn yếu về chuyên môn, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa đổi mới phương pháp giải dạy, công tác quản lý chậm đổi mới, thành tích thể thao còn thấp so với các trường đại học khu vực và thế giới, thể chất của sinh viên khi ra trường chưa đáp ứng với nhu cầu của xã hội, đặc biệt
là sinh viên ở vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn cần có sức khỏe để phục vụ tốt trong công tác giảng dạy
Ngành giáo dục - đào tạo đã ban hành nhiều văn bản chỉ thị nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, biên soạn giáo trình, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên thể dục thể thao trong các trường, mở rộng nâng cao chất lượng chuyên môn của các khoa chuyên đào tạo giáo viên thể dục thể thao tại các trường đại học
và cao đẳng sư phạm trên toàn quốc, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học GDTC Quy hoạch và đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ các công trình thể dục thể thao phục vụ cho công tác giảng dạy môn thể dục và các hoạt đông thể dục thể thao cho sinh viên Nghiên cứu cải tiến nội dung tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho sinh viên đại học và các trường chuyên nghiệp Thành lập các câu lạc bộ thể dục thể thao Chỉ đạo hệ thống các trường chuyên nghiệp tiếp tục duy trì và phát triển phong trào TDTT tổ chức Hội thể thao đại học và các trường chuyên nghiệp Từ đó đáp ứng quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường [11]
Trang 13Ngày nay cả nước tập trung sức lực và trí tuệ vào công cuộc phát triển kinh tế, giáo dục, xây dựng đất nước, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Công tác giáo dục - đào tạo đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt các trường vùng cao vùng sâu vùng xa vùng dân tộc thiểu số Vì vậy, yêu cầu đối với sinh viên không chuyên và sinh viên chuyên TDTT trong các trường đại học trên toàn quốc nói chung và trường Đại học Tây Bắc nói riêng phải phát huy vai trò của mình để là những người đi tiên phong trong công tác học tập và rèn luyện ở nhà trường
Trường Đại học Tây Bắc được thành lập năm 2001, trên cơ sở là trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc Năm 2007, trường di chuyển xuống địa điểm mới, do đó cơ sở vật chất cũng như sân bãi tập luyện chưa quy hoạch được, còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc giảng dạy môn học cho khối chuyên còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và việc rèn luyện thể chất cho sinh viên Trường là cơ sở đào tạo con em của các vùng Tây Bắc với nhiều ngành nghề khác nhau Sinh viên khối chuyên thể dục chiếm tới 10% sinh viên toàn trường Khi ra trường các em phải có trình
độ chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, tinh thần lao động tự chủ năng động sáng tạo, có khả năng giảng dạy tốt phục vụ con em vùng cao Tây Bắc, bắt kịp miền xuôi theo chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước [51], [52]
Trường Đại học Tây Bắc là những cơ sở đào tạo con em của các vùng Tây Bắc khoảng 75% là con em dân tộc trong đó 30% là dân tộc H’mông, dân tộc Dao, 45 % là dân tộc Thái, Tày, Mường, còn lại là 25% là dân tộc kinh Đây cũng là một vấn đề gặp rất nhiều khó khăn trong công tác giảng dạy nói chung và môn GDTC nói riêng Sự tiếp cận với các môn thể thao cũng như trình độ tiếp thu của các em học sinh dân tộc thiểu số, đời sống sinh hoạt của các em còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến dinh dưỡng cũng như sức khỏe thể lực của các em trong việc rèn luyện sức khỏe
Trang 14Khoa thể dục thể thao mới được thành lập vào tháng 8/2010, là một khoa còn non trẻ, số lượng giảng viên là 28, trong đó giảng viên là dân tộc có
1 người, tuổi đời trên 50 tuổi có 1 người, trên 40 tuổi có 1 người, trên 30 tuổi
có 3 người, còn lại dưới 30 tuổi, trình độ tiến sĩ chưa có, trình độ Thạc sỹ có
15 giảng viên Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho công tác GDTC, nhưng cũng có nhiều khó khăn, vì có nhiều giảng viên trẻ chưa có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, chưa có trình độ tiến sỹ để đáp ứng với công tác đào tạo trong xu thế hiện nay [51], [52]
Khoa TDTT trường Đại học Tây Bắc đang tiến hành tổ chức quá trình đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao theo hệ thống tín chỉ Kết quả đã mang lại hiệu quả nhất định trong việc đáp ứng nguồn nhân lực giáo viên GDTC ở khu vực Tây Bắc Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên khoa TDTT chưa thực
sự nâng cao được chất lượng đào tạo Thực tế cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập liên quan đến chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất
Để hỗ trợ sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT của trường đạt được chuẩn đầu ra như mong muốn, cần thiết phải có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu cung ứng giáo viên GDTC cho vùng cao Tây bắc và của ngành giáo dục - đào tạo đặt ra hiện nay
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối
sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường Đại học Tây Bắc”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân
tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo và quản lý công tác GDTC, đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khối sư phạm
chuyên khoa thể dục thể thao trường Đại học Tây Bắc
Mục tiêu nghiên cứu: Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định các mục tiêu nghiên cứu sau:
Trang 15Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo của sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc
Mục tiêu 3: Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc
Giả thuyết khoa học:
Chất lượng đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường Đại học Tây Bắc chưa thực sự có hiệu quả Nguyên nhân chính là chưa xác định những yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo để từ đó có những giải pháp phù hợp với đặc thù trường Đại học Tây Bắc Do vậy, nếu xây dựng được các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường thì sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường đại học Tây Bắc
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý thuyết của việc đảm bảo chất lượng
1.1.1 Những quan niệm về chất lượng trong giáo dục đại học
Vấn đề chất lượng giáo dục đại học hết sức phức tạp vì ý nghĩa của hai
từ “chất lượng” có thể được hiểu theo nhiều góc độ và tùy vào lập trường của mỗi cá nhân (Ehsan, 2004) Những quan điểm về chất lượng giáo dục đại học
có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau [16], [30] Cụ thể:
Chất lượng là sự vượt trội: Quan điểm này bao hàm nhiều quan điểm con như chất lượng là sự ưu việt, sự xuất sắc; chất lượng là kết quả của việc vượt qua một loạt những chuẩn mực cao; “chất lượng” là phẩm chất của một sản phẩm hay dịch vụ đã qua quá trình kiểm nghiệm sát sao Nhìn chung,
“chất lượng” được xem như điều tạo nên sự đặc biệt của một truờng nào đó
Quan niệm chất lượng là kết quả của việc vượt qua một loạt những chuẩn mực cao coi trọng chất lượng đầu vào như chất lượng sinh viên vào trường, chất lượng đội ngũ sẽ tham gia giảng dạy những sinh viên này, cũng như cơ sở vật chất cần thiết cho công tác đào tạo Vì thế, ở một mức độ nào
đó, quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng việc học của người học và xem nhẹ vai trò của trường đại học trong việc làm tăng thêm giá trị của đầu vào
Chất lượng là sự hoàn hảo: Quan điểm này xem chất lượng tương đương với việc tạo ra những sản phẩm không “tì vết” (Parri 2006; Horsburgh 1998) Nó khác với quan điểm “chất lượng là sự vượt trội” ở chỗ chất lượng đầu ra được xem là kết quả của tiến trình đào tạo Vì thế, để duy trì chất lượng, người ta cố gắng không để cho bất kỳ sai sót nào xảy ra, hay phải đạt tất cả những chuẩn mực do bên ngoài yêu cầu (Eshan, 2004) [7], [32]
Quan điểm này hơi thiên về quản lý công nghiệp Nó có thể áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp với máy móc và quy trình chứ khó lòng áp dụng ở các trường đại học nơi con người là đối tượng chính trong
Trang 17khâu “sản xuất” Hơn nữa, chúng ta không thể có một bảng tiêu chí mô tả một sinh viên ra trường “không tì vết” là như thế nào Và việc sản sinh ra hàng loạt sinh viên có cùng quan điểm sống, tính cách, năng lực, cách giải quyết vấn đề… không phải là mong muốn của bản thân sinh viên, hay gia đình họ nói riêng và mục tiêu của nền giáo dục nói chung (Parri, 2006)
Chất lượng là phù hợp với mục tiêu: Đây là một quan niệm mang tính
thực tế, xem xét chất lượng trong mối tương quan với mục tiêu của một trường đại học Chất lượng vì thế được xem là một thuộc tính của chức năng hoạt động (Eshan, 2004) Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại có thể xem chức năng của truờng đại học ở các góc độ khác nhau, vì thế vấn đề “chất lượng” lại trở nên mang tính tương đối và gây tranh cãi [7], [32]
Ở đây xuất hiện một vấn đề nan giải: một trường có đáng được xem là
có chất lượng hay không nếu nó đặt ra những mục tiêu ít tham vọng để có thể đạt được dễ dàng hay đưa ra những mục tiêu không tương thích với kỳ vọng của khách hàng
Chất lượng là đáng giá tiền đầu tư: Quan niệm này khá gần với quan niệm “chất lượng là phù hợp với mục tiêu” (van Damme, 2003) Nó xem xét chất lượng trên lập trường hiệu quả kinh tế và sự tự chịu trách nhiệm Nó nhấn mạnh hoạt động mang tính thị trường của một trường đại học bằng giả định cho rằng trong môi trường cạnh tranh có ít tài nguyên, chính thị trường
sẽ chọn lọc và nuôi dưỡng những ngôi trường xuất sắc nhất Sự gia tăng cạnh tranh giữa các trường để thu hút sinh viên và nguồn tài chính được xem là chìa khóa trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính (Harvey & Green, 1993) [8]
Chất lượng là vượt qua ngưỡng: Theo quan điểm này, một trường phải vượt qua một ngưỡng đặt ra với những mức chuẩn cụ thể Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tính hiệu quả của quan điểm này phụ thuộc vào tính khách quan và khả thi của những chuẩn mực Hơn nữa, đôi khi những cái ngưỡng
Trang 18được đặt ra có thể bị lạc hậu theo thời gian trước khi một trường đại học đạt tới chúng do môi trường và hoàn cảnh thay đổi nhanh hơn so với chuẩn đặt ra (Parri 2006) Cũng như ba quan điểm trên, quan điểm này tiếp tục đề cao sự quản lý trong quá trình tiến đến ngưỡng đặt ra [8]
Chất lượng là sự biến đổi: hình thành trên nền tảng cho rằng giáo dục mang lại những thay đổi quan trọng cho người học Harvey và Green (1993) cho rằng quan điểm “chất lượng là sự biến đổi” mang lại lợi ích cho người học thông qua hai kênh nâng cao giá trị và nâng cao năng lực Nâng cao giá trị bản thân thông qua việc học nghĩa là trong quá trình đào tạo, người học có
cơ hội dung nạp những kiến thức, kỹ năng chưa có để hoàn thiện mình hơn Nâng cao năng lực người học thể hiện ở khía cạnh người học được trang bị những khả năng giúp điều chỉnh quá trình biến đổi của chính mình như tự quyết định, tự chủ trong môi trường học, tăng khả năng phân tích chỉ trích vấn
đề và tăng sự mẫn cảm đối với các vấn đề xung quanh (Ehsan 2004; Horsburgh 1998) [7], [8], [25]
Tuy nhiên, một trường đại học sẽ không biết đích xác sinh viên mình biến đổi ra sao từ việc học ở ngôi trường của họ để từ đó điều chỉnh các dịch
vụ trong trường, quá trình đào tạo hay những yếu tố khác trong trường hợp cần điều chỉnh Dĩ nhiên, nhà trường có thể thực hiện khảo sát, song họ có thể
sẽ thiên về việc mô tả chất lượng các dịch vụ, công tác học thuật hơn là mô tả
họ đã thay đổi như thế nào trong thông qua việc học tập tại trường
Tóm lại: Quan điểm về chất lượng “khác nhau do người đánh giá và tiêu chí được sử dụng để đánh giá” (Barnett, 2003) Hơn nữa, quan điểm về chất lượng cũng không ngừng thay đổi Từ việc xem chất lượng là sự vượt trội, sự ưu tú của những năm 80, nó đã chuyển sang việc tìm cách sửa sai để đảm bảo phù hợp với mục tiêu của chất lượng ở những năm 90 - quan điểm thiên về việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở đại học Các quan điểm về chất lượng này không loại trừ lẫn nhau vì thế các trường có thể chọn một
Trang 19quan điểm có ý nghĩa nhất và phù hợp với hoàn cảnh của trường của mình Riêng đối với đa số học giả đứng trên lập trường học thuật ở các trường giảng dạy, quan điểm “chất lượng là sự biến đổi” vì những lý do sau:
Đã tập trung vào giải quyết mấu chốt trong các chức năng của trường đại học: chức năng học thuật Nếu xét về chức năng của trường đại học, một trường sẽ không phải là trường đại học nữa nếu không làm thay đổi cuộc sống của một sinh viên, ít nhất là về mặt kiến thức vì trường đại học cần thay đổi nhân sinh quan và thế giới quan của người học, cung cấp cho họ những kỹ năng cần thiết để tồn tại và phát triển trong một thế giới đầy biến động (Barnett, 1992; Biggs 1989) [8], [25]
Đây là siêu quan điểm về chất lượng bởi nó đã bao hàm các quan niệm
về chất lượng khác như chất lượng là phù hợp với mục tiêu hay chất lượng là
sự hoàn hảo bên trên (Harvey & Knight 1996; Horsburgh 1998) Như thế, nó không triệt tiêu vai trò của quản lý mà xem quản lý là cần thiết để thúc đẩy chức năng học thuật [7], [8], [25]
1.1.2 Cơ sở lý thuyết của việc đảm bảo chất lượng
Khái niệm về đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong quản lý chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng Theo ISO, đảm bảo chất lượng là một phần của Quản lý chất lượng tập trung vào việc cung cấp lòng tin rằng các yêu cầu chất lượng sẽ được thực hiện [17], [18], [33]
PDCA – Công cụ quản lý và cải tiến liên tục
Thế kỷ 20 là thế kỷ của tăng trưởng sản xuất, thế kỷ 21 là thế kỷ của chất lượng và vòng tròn Deming là một trong những công cụ quản lý tiên tiến của quản lý chất lượng
(1) Tổng quát về PDCA
Trang 20Vòng tròn quản lý chất lượng (PDCA cycle) do W.E Deming 1993) – người được xem là cha đẻ của quản lý chất lượng giới thiệu vào năm
(1900-1950 Chu trình PDCA: lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - điều chỉnh Do-Check-Act) với các nội dung có thể tóm tắt như sau:
(Plan-PDCA được đại diện với hình ảnh một đường tròn lăn trên một mặt phẳng nghiêng (theo chiều kim đồng hồ), nó cho thấy: thực chất của quá trình quản lý là sự cải tiến liên tục và không bao giờ ngừng
PDCA lúc đầu được đưa ra như là các bước công việc tuần tự cần tiến hành của việc quản trị nhằm duy trì chất lượng hiện có, ngày nay nó là một trong những công cụ quan trọng không thể thiếu trong các hệ thống quản lý (ISO 9001; ISO 14001…)
(2) Các giai đoạn của vòng tròn PDCA
Chu trình PDCA đề cập đến công việc theo tiến trình vận động, chứ không đề cập đến các vấn đề cụ thể tại thời điểm cụ thể Tùy theo tình huống
cụ thể, người ta tìm cách vận dụng chu trình PDCA một cách thích hợp
Trong một tổ chức, khi xây dựng và áp dụng bất cứ hệ thống nào, thì lãnh đạo là bộ phận chủ chốt và tiên phong Khi thực hiện chu trình PDCA, vai trò của lãnh đạo cũng được đặt ở vị trí trung tâm nói lên tầm quan trọng của nó trong việc thực hiện chu trình PDCA Theo chu trình, quá trình cải tiến
đi từ trên xuống thay vì từ dưới lên Lãnh đạo chính là động lực thúc đẩy chu trình tiến triển đi lên theo hình xoắn ốc, quá trình sau lập lại quá trình trước nhưng ở một mức cao hơn giống như qui luật “phủ định của phủ định”
P (Plan): lập kế hoạch, định hướng và phương pháp đạt mục tiêu
Lập kế hoạch, định hướng: Chính sách, mục tiêu của mỗi doanh nghiệp cần được xác định bởi ban lãnh đạo, dựa trên sự tổng hợp, phân tích dữ liệu, thông tin Không xác định được chính sách, mục tiêu thì tổ chức không thể xác định được những nhiệm vụ của nó Các nhiệm vụ được xác định rõ ràng
sẽ giúp các bộ phận trong tổ chức hoạt động có định hướng
Trang 21Chính sách, mục tiêu sau khi được xác định thì các nhiệm vụ phải được lượng hóa (khối lượng, tiêu chuẩn, thời hạn…) bằng các con số và chỉ tiêu cụ thể; phân công ở từng vị trí với các nội dung công việc phù hợp
Phương pháp đạt mục tiêu: Sau khi đã xác định được mục tiêu và nhiệm vụ cần phải lựa chọn phương pháp, cách thức để đạt mục tiêu đó một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Mọi người cần thiết phải hiểu rõ cách thức để làm chủ nó, đồng thời xây dựng phương pháp giải quyết vấn đề một cách tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm
D (Do): Đưa kế hoạch vào thực hiện
Sau khi đã xác định nhiệm vụ và chuẩn hóa các phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ đó, người ta tổ chức bước thực hiện công việc Nhưng trong thực tế công việc, nhiều khi các quy định, quy chế chưa đáp ứng hay phù hợp hoàn toàn với các vấn đề phát sinh Vậy nên, nếu tuân theo cá quy định, quy chế một cách máy móc thì các điểm không phù hợp vẫn tồn tại hoặc phát sinh Như vậy, cần phải cải tiến, đổi mới, cập nhật các quy định, quy chế và chỉ có
ý thức, trình độ, kinh nghiệm của người thừa hành thì kế hoạch thực hiện mới thành công Nguyên tắc tự nguyện và tính sáng tạo của mỗi thành viên trong
tổ chức là một tác nhân không thể thiếu để luôn luôn cải tiến, nâng cao hiệu quả công việc ở từng bộ phận nói riêng và của tổ chức nói chung
C (Check): Dựa theo kế hoạch để kiểm tra kết quả thực hiện
Trong quản lý chất lượng điều không thể thiếu là công tác kiểm tra kết quả thực hiện Nhằm phát hiện những điểm chưa phù hợp/sai/thiếu để còn có
cơ sở cho công tác quản lý tiếp theo Các yếu tố chủ quan, khách quan có ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp đến kết quả thực hiện được xem xét và phân tích chuyên sâu
A (Act): Thực hiện những tác động quản trị thích hợp
Khi thực hiện những tác động điều chỉnh, điều quan trọng là phải áp dụng những biện pháp để tránh lặp lại những điều chưa phù hợp đã phát hiện,
Trang 22loại bỏ các yếu tố nguyên nhân đã gây nên những điều đó Phòng ngừa và khắc phục là hai hành động cần thiết để áp dụng trong các biện pháp quản lý
Vòng tròn Deming có thể được áp dụng trong mọi lĩnh vực một cách có hiệu quả
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đảm bảo chất lượng dạy học
Quan điểm sư phạm và chiến lược giảng dạy - học tập có ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo học tập có chất lượng và chất lượng học tập của sinh viên Đồng thời đây cũng là các căn cứ để hình thành nên các đặc điểm và điều kiện đảm bảo chất lượng học tập có hiệu quả [30], [32] Cụ thể:
Giảng viên được khuyến khích sử dụng phương pháp giúp sinh viên học tập bằng hành động Học tập bằng hành động là một quá trình học hỏi và suy nghĩ, cân nhắc liên tục, có sự hỗ trợ của bạn cùng học, nhằm mục đích tạo
ra việc học tập có chất lượng ở sinh viên Thông qua phương pháp này, các giảng viên có thể chia sẻ với nhau thông qua việc giải quyết các vấn đề thực
tế và thông qua kinh nghiệm của bản thân Việc xây dựng chương trình học tập bằng hành động là nhằm vào mục đích cải tiến việc học tập cũng như môi trường học tập của sinh viên
Học tập có chất lượng là sự chủ động tìm tòi kiến thức do chính sinh viên thực hiện, chứ không đơn thuần là sự tiếp thu những kiến thức do giảng viên cung cấp Đây là một quan điểm học tập có chiều sâu, qua đó sinh viên
tự tạo ra ý nghĩa và sự hiểu biết về thế giới Theo quan điểm này thì việc giảng dạy chỉ có vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện cho học tập
Mục đích của giáo dục bậc đại học là hướng vào sinh viên Chất lượng học tập vì thế phụ thuộc phần lớn vào phương pháp học tập của sinh viên Cho nên, điều này lại phụ thuộc vào quan niệm của người học, cũng như những chiến lược học tập nào mà họ sẽ sử dụng
Chất lượng học tập phụ thuộc vào việc áp dụng các nguyên tắc phù hợp cho việc học ở tuổi trưởng thành Họ học tập tốt nhất trong môi trường thoải
Trang 23mái, có sự hợp tác, hỗ trợ và thân thiện Đó là môi trường phù hợp giúp cho người học ở tuổi trưởng thành học tập một cách sâu sắc
Để thúc đẩy tinh thần trách nhiệm trong học tập, các giảng viên cần: Tạo ra một môi trường giảng dạy - học tập sao cho mỗi người học đều tham gia vào quá trình học tập một cách có ý thức
Cung cấp những chương trình đào tạo linh hoạt nhằm giúp người học chọn lựa nội dung học phần, thứ tự các học phần trong chương trình, phương pháp kiểm tra đánh giá, phương thức và thời gian học tập sao cho có ý nghĩa nhất đối với từng người
Để kích thích sự say mê và các giá trị đối với việc học tập, tạo cơ hội phát triển trí tuệ cho người học, các giảng viên cần tạo ra những cơ hội học tập và giao lưu, để họ có thể tham gia hết mình cả về trí tuệ lẫn tình cảm
Mục đích của giáo dục đại học là nhằm phát triển khả năng tri thức ngày càng cao trong sinh viên, vì thế cần lưu ý các đặc điểm sau để đảm bảo chất lượng học tập:
Khả năng tự khám phá tri thức Người học cần có kỹ năng nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tư liệu do chính mình thu thập, đồng thời hiểu được các chiến lược học tập khác nhau để có thể lựa chọn chiến lược phù hợp nhất cho từng nhiệm vụ học tập cụ thể
Khả năng ghi nhớ kiến thức Sử dụng phương pháp học tập nhấn mạnh hiểu biết hơn là trí nhớ sẽ giúp người học nhớ kiến thức lâu hơn
Khả năng nhận biết mối liên hệ giữa kiến thức cũ và mới Chất lượng học tập luôn luôn đòi hỏi người học phải tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Khả năng sáng tạo sự hiểu biết mới Một người học đạt chất lượng phải biết nhận ra mối quan hệ giữa khối kiến thức của người khác đã học với kinh nghiệm của chính bản thân mình, cũng như với những gì mình đã được học trước đó để hình thành nên những nhận thức mới
Trang 24Khả năng vận dụng kiến thức vào việc giải quyết vấn đề
Khả năng diễn đạt kiến thức của mình cho người khác Việc học tập đạt chất lượng khi người học có khả năng hình thành cũng như diễn đạt một cách
rõ ràng và chặt chẽ những suy nghĩ và hành động độc lập của mình
Sự say mê học hỏi Việc học tập đạt chất lượng khi người học có quan điểm học tập suốt đời
Những điều kiện cần thiết giúp cho việc học tập đạt chất lượng:
Chất lượng học tập chỉ đạt được khi người học sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập – cả về mặt nhận thức lẫn tình cảm
Chất lượng học tập chỉ đạt được khi người học có lý do để học
Chất lượng học tập chỉ đạt khi người học biết liên hệ với các kiến thức
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Nâng cao chất lượng đào tạo đang là đích đến của giáo dục đại học, nhiều trường đã triển khai thực hiện triệt để, tuy nhiên kết quả vẫn chưa theo được mong muốn Để giải bài toán chất lượng trong giáo dục đại học hiện nay nói chung và cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường đại học Tây Bắc nói riêng là không đơn giản, tác động tới cả hệ thống và quy trình đào tạo tạo từ A đến Z Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng có 3 yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Con người; hạ tầng cơ sở, trang thiết bị phục
vụ cho đào tạo và năng lực hội nhập quốc tế [8], [32], [58]
Đội ngũ giảng viên: Yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định hàng
đầu, chi phối trực tiếp vào quá trình đào tạo trong trường đại học Yếu tố con người không chỉ nói đến đội ngũ thầy cô giáo mà bao gồm cả đội ngũ cán bộ
Trang 25quản lý Để phục vụ cho một giảng viên đứng lớp phải kèm theo một đội ngũ phục vụ từ khâu lên chương trình, thời khóa biểu, chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy… Tức là có cả một đội ngũ phục vụ trong toàn hệ thống Trình độ chuyên môn của người thầy, năng lực nghiệp vụ của cán bộ phục vụ
là then chốt
Thực tế cho thấy, sao chép một chương trình quốc tế rất dễ nhưng thực hiện được thì lại là cả một vấn đề lớn nếu không có những con người có đủ năng lực triển khai Việc thiết kế được chương trình chuẩn, nội dung tiếp cận được với các chương trình giáo dục của những nước tiên tiến với đúng nghĩa của nó đã là một vấn đề không dễ làm nếu không chủ động hội nhập giáo dục quốc tế Nhưng khi có chương trình rồi thì rất cần đội ngũ có khả năng, năng lực tiếp cận với thực tế đó Làm tốt được những điều đó chính là nền tảng làm nên chất lượng
Khi đã có thầy giỏi, giáo trình, phương tiện học tập đầy đủ, trò ham học
là những điều kiện tốt để đảm bảo chất lượng, thì vai trò của người quản lý sẽ
là yếu tố quyết định thành công Người quản lý giỏi sẽ giải quyết tốt mối quan
hệ sư phạm cần thiết và quan trọng này Do vậy, bài toán chất lượng rất cần người quản lý có đủ trình độ, năng lực để thể hiện trách nhiệm quản lý trong giai đoạn hiện nay
Hội nhập quốc tế: Giáo dục nói chung, đăc biệt giáo dục đại học trong
điều kiện hiện nay là không biên giới Cơ hội cho người muốn học đại học quá nhiều Người học có thể học trong nước, đi du học nước ngoài, ngồi tại nhà là tiếp cận được với bất kỳ một trường đại học nào trên thế giới Trong bối cảnh như vậy chương trình đào tạo cần phải định hướng chuẩn quốc tế, tiếp cận và hội nhập với chương trình quốc tế Đây là việc cần thiết bắt buộc
và là con đường ngắn nhất để tạo liên thông, liên kết đào tạo với nước ngoài Hiện nay trường Đại học Tây Bắc có rất ít chương trình đào tạo tiếp cận với các chương trình quốc tế Nhiều chương trình đã được các đối tác đã chấp
Trang 26nhận liên thông song chỉ ở phạm vi trong nước Tuy nhiên, để làm được điều
đó, đội ngũ giảng viên của trường bắt buộc phải chuẩn hóa và cập nhật về kiến thức, kỹ năng chuyên môn, khả năng ngoại ngữ phải tốt Thực tế đã chứng minh rằng, hội hập là hướng đi đúng, đáp ứng được nhu cầu chất lượng của thị trường nhân lực giáo dục đại học, phù hợp với xu thế hội nhập
Chất lượng bài giảng hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố thầy Chương trình hay, chuẩn, nhưng không có đội ngũ thầy chuẩn thì thất bại Kịch bản hay phải co diễn viên giỏi Chính vì vậy, khi xây dựng chương trình đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT cần bám sát thực tế, không ảo tưởng Mỗi giảng viên cần phải biết được trình độ, năng lực mình thế nào, đang đứng
ở đâu, từ đó nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới, lấy chương trình đào tạo chuẩn của quốc tế làm thước đo cho chính mình để học hỏi, xây dựng và nâng cao chất lượng bài giảng Đây là đích phấn đấu của giáo viên trường Đại học Tây Bắc nói chung và Khoa GDTC nói riêng
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Thực tế hiện nay, trên giảng đường đại học
không thể giảng dạy chỉ có phấn trắng và bảng đen mà đạt được mục tiêu về chất lượng được Đặc biệt đối với giảng dạy liên quan đến TDTT đòi hỏi cơ
sở hạ tầng về công trình TDTT và thiết bị tập luyện là rất lớn Chương trình đào tạo tốt phải có cơ sở vật chất đi kèm, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở, giảng đường Các điều kiện phục vụ cho lên lớp hoàn thiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng khối sư phạm chuyên TDTT
Người học phải được tiếp cận với những công nghệ mới liên quan đến cung cấp thông tin để có thể quản trị sự kiện, tổ chức sự kiện, khai thác giá trị nhân văn của các hoạt động TDTT Nghĩa là người học thực sự bước vào
“thực tế” nghề nghiệp ngay trên giảng đường
Con đường để đạt chất lượng
Hội nhập giáo dục quốc tế là yếu tố quyết định cho nâng cao chất lượng đào tạo Liên kết, hợp tác với các đối tác nước ngoài trong đào tạo là cơ sở để
Trang 27nâng cao chất lượng đào tạo và cũng chính là hội nhập giáo dục quốc tế Có thể khẳng định một điều là nếu không bước ra ngoài biên giới, không vào xa
lộ hội nhập quốc tế, không có so sánh với bên ngoài thì không thấy rõ mình Không nhìn ra ngoài thì không có có động lực, đích để phấn đấu Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khối sư phạm chuyên TDTT trường Đại học Tây Bắc cần thiết phải so sánh với các trường đào tạo cán bộ TDTT trong nước và khu vực
Khái niệm “chuẩn quốc tế” rất chung chung nếu không chỉ ra cụ thể, so sánh với cơ sở đào tạo trên trường quốc tế Bước ra sân chơi khu vực và trong nước, cần phải hiểu vị trí và thế mạnh của trường Đại học Tây Bắc đang đứng
ở đâu để đặt ra đích “quốc tế hóa” chuẩn xác Hiện nay đang có sự nhầm lẫn, hiểu không nhất quán các khái niệm, thuật ngữ về “trường quốc tế”, “đẳng cấp quốc tế”, “chuẩn quốc tế” Đặc biệt là chưa có thước đo định lượng về đẳng cấp đó và so sánh với trường nào, quốc gia nào
Qua phân tích và tổng hợp các tài liệu, chúng tôi cho rằng hội nhập giáo dục của một cơ sở giáo dục đại học nói chung và Đại học Tây Bắc nói riêng bắt đầu một cách đơn giản là: trên cơ sở liên thông, liên kết đào tạo để các đối tác trong và ngoài nước công nhận chương trình của mình và cấp văn bằng của họ cho người học
Xu thế của giáo dục thế kỷ 21: Đối với các nước phát triển là xuất khẩu
giáo dục, còn các nước chậm phát triển sẽ phải nhập khẩu Vì vậy, cần có giải pháp nhằm tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế Coi đó như một tiêu chí, thước đo về chất lượng, thương hiệu của trường đại học Tây Bắc nói chung và khoa GDTC nói riêng Việc đánh giá dựa vào: (1) Số lượng chương trình hoặc môn học hợp tác, liên kết đào tạo có hiệu quả với các trường đối tác trong và ngoài nước; (2) Số lượng sinh viên đang theo học tại trường Hiện nay mô hình hợp tác của các trường rất đa dạng, mỗi trường với thế mạnh riêng của mình đã tìm được các đối tác phù hợp Các trường khi tiến
Trang 28hành thiết lập quan hệ đối tác, sẽ phải tự tìm hiểu đối tác của mình có thế mạnh gì, lợi thế gì để hợp tác Không có trường nào lại chọn đối tác hợp tác thấp kém hơn mình
Với các đại học uy tín, không có chuyện họ bán rẻ thương hiệu để hợp tác với những trường kém chất lượng Người học bao giờ cũng là những người lựa chọn thông minh Thương hiệu của một trường đại học chắc chắn không thể chỉ do quảng cáo, mà phải được người học kiểm định, xã hội công nhận Quá trình chọn lọc các đối tác liên kết cũng khẳng định thương hiệu của chính mình Biết cách từ chối đối tác, nhận biết rõ mục tiêu hợp tác, đánh giá đúng được đối tác để hợp tác có hiệu quả là thể hiện trình độ và “tầm” của người quản lý
Từ kết quả phân tích và tổng hợp nêu trên cho phép chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Chúng tôi thống nhất cho rằng quan điểm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu Đây sẽ là quan điểm được chúng tôi ứng dụng trong nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao đại học khu vực Tây Bắc Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, kỳ vọng của chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao đại học khu vực Tây Bắc được đặt ra sẽ tương thích với nhu cầu kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc
Nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao đại học khu vực Tây Bắc cần phải xem xét tổng thể các yếu tố tác động và tuân thủ các cơ sở lý thuyết về đảm bảo chất lượng
Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đào tạo cho sinh viên khối
sư phạm chuyên khoa thể dục thể thao trường đại học Tây Bắc trước đây đã đưa ra không ít, và trong đó có rất nhiều giải pháp có hiệu quả Tuy nhiên, xác định được các giải pháp tiếp theo đúng, đủ và gắn liền đổi mới cách nghĩ đi đôi với cách làm không đơn giản Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả đào
Trang 29tạo hãy bắt đầu bằng những giải pháp cụ thể nhất, thiết thực nhất và phù hợp với điều kiện đào tạo trường đại học Tây Bắc Chúng tôi cho rằng trước hết là giải quyết vào bốn yếu tố:
Nâng cao tính chủ động của sinh viên trong chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang hệ thống tín chỉ
Phát triển năng lực đội ngũ giảng viên, song đây là quá trình tác động lâu dài mang tính chiến lược
Đổi mới, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực Đây là giải pháp có tính chủ đạo và chương trình đào tạo như một bản cam kết của nhà trường đối với xã hội Đồng thời nó cũng phản ánh những mục tiêu, biện pháp mà nhà trường cần thực hiện để đạt được chuẩn đầu ra mà nhà trường đã công bố
Tăng cường đầu tư và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GDTC và thể thao Đây là quá trình hoàn thiện theo năm tài chính và gắn liền với các định hướng chiến lược Trong phạm vi của các đơn vị sử dụng cần chú trọng khâu khai thác hiệu quả thể hiện thông qua sự mềm dẻo của các giáo án, tổ chức tập tập luyện để khai thác tối đa cơ sở vật chất hiện
có của nhà trường
1.2 Đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến chương trình
Từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, trường học trong nền văn minh Tây Âu với sự ảnh hưởng tư tưởng triết học của Plato và Aristotle, từ chương trình (curriculum) được sử dụng để miêu tả các môn học được giảng dạy trong thời kỳ cổ điển của nền văn minh Hy Lạp Theo thời gian, tuỳ thuộc vào quan điểm triết học, quan điểm về giáo dục trong nhà trường của mỗi người
mà cách hiểu và giải thích về chương trình của họ sẽ khác nhau, chẳng hạn họ hiểu và giải thích chương trình (curriculum) là: [61]
Trang 30Những gì được giảng dạy trong nhà trường;
Tập hợp các môn học;
Tất cả những gì diễn ra trong nhà trường, bao gồm việc dạy, những hoạt động trong và ngoài giờ học, các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau
Nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về chương trình (curriculum) của riêng
họ với sự nhấn mạnh các ý nghĩa của từ này ở mức khác nhau Ian A.C.Rule
đã xác định có khoảng 119 định nghĩa khác nhau của thuật ngữ “chương
trình” Việc quan niệm thế nào về chương trình không phải đơn thuần là vấn
đề định nghĩa về chương trình mà nó thể hiện rõ quan điểm của mỗi người về giáo dục [64]
Chương trình được nhìn nhận với góc độ qui mô rộng hơn, nhấn mạnh đến sự phát triển kỹ năng và các giá trị khác mà người học đạt được trong trường học Điều này được thể hiện qua quan điểm của tác giả Ronald C Doll (1996) về chương trình: “Chương trình học của nhà trường là nội dung giáo
dục và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự
tổ chức của nhà trường” [62]
Tác giả Kelly cho rằng chương trình giáo dục cũng cần có 4 yếu tố cấu
thành: 1) Ý định của người xây dựng chương trình; 2) Qui trình thực hiện ý
định đó; 3) Kinh nghiệm, kiến thức mà người dạy cung cấp cho người học trong khi thực hiện ý định của người thiết kế chương trình; và 4) Một sản phẩm phụ của chương trình giáo dục được thể hiện qua khả năng học tập
“ẩn” (hidden) của người học [63]
Tác giả Raph Tyler cho rằng chương trình phải bao gồm 4 yếu tố cơ
bản sau: 1) Mục tiêu đào tạo; 2) Nội dung đào tạo; 3) Phương pháp hay qui
trình đào tạo; và 4) Đánh giá kết quả đào tạo [65]
Trang 31Tác giả Tim Wentling (1993) định nghĩa: “Chương trình là bản thiết kế
tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khoá học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kỳ vọng ở người học sau khi kết thúc khoá học, nó phác hoạ qui trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập, và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [66]
Tác giả White (1995) cho rằng: Chương trình là một kế hoạch đào tạo
phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo mà nhà trường theo đuổi Bản kế hoạch đó cho biết nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra [67]
Có thể nói rằng, quan niệm về chương trình giáo dục được phát triển,
mở rộng theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin Với mục đích góp phần tạo ra nguồn lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động ở các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, chương trình giáo dục nói chung và đào tạo giáo viên GDTC nói riêng cũng
phải phát triển, cập nhật không ngừng để thực hiện được chức năng của mình
1.2.2 Một số khái niệm có liên quan đến đánh giá chất lượng chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo của một ngành học (Program) ở một trình độ cụ thể bao gồm: Mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học cần đạt được sau khi tốt nghiệp: nội dung, phương pháp và hoạt động đào tạo; Điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của đơn vị được giao nhiệm vụ triển khai đào tạo ngành học đó [4], [5], [7], [16], [49]
Chương trình dạy học (Curriculum) của một chương trình đào tạo ở một trình độ cụ thể bao gồm: Mục tiêu chung, Mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu
Trang 32ra đối với ngành học và mỗi học phần; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá và thời lượng đối với ngành học và mỗi học phần [4], [5], [7], [16]
Chất lượng của chương trình đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo ở trình độ cụ thể, đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Luật giáo dục đại học và của Khung trình độ Quốc gia, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương, của ngành và xã hội [8], [16], [40], [41], [57]
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học là mức độ yêu cầu về những nội dung và điều kiện mà chương trình đào tạo phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển ngành TDTT đến năm 2020 [5], [9], [10]
Tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học là mức độ yêu cầu và Điều kiện cần đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chuẩn [4], [7], [8]
Đối sánh là hoạt động đối chiếu và so sánh một cơ sở giáo dục đại học hoặc một chương trình đào tạo với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục hoặc với cơ sở giáo dục đại học/chương trình đào tạo khác được lựa chọn Đồng thời phải phù hợp với đặc thù ngành TDTT [2], [3], [7], [8], [20], [32]
Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học là việc thu thập, xử lý thông tin, đưa ra những nhận định dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá đối với toàn bộ các hoạt động liên quan đến chương trình đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, bao gồm: Mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo; bản mô tả chương trình đào tạo; cấu trúc và nội dung chương trình dạy học; phương pháp tiếp cận trong dạy và học; đánh giá kết quả học tập của người học; đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên; đội ngũ nhân viên; người học và hoạt động hỗ trợ người học; cơ sở vật chất và trang thiết bị; nâng cao chất lượng và kết quả đầu ra
Trang 331.2.3 Đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng
Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - AUN) là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động dựa trên tinh thần tự nguyện được thành lập vào năm 1995 với 13 trường đại học thành viên thuộc
7 quốc gia Việt Nam có hai thành viên chính thức gia nhập vào mạng lưới này từ ngày đầu thành lập là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia
TP Hồ Chí Minh Đến nay, AUN có tất cả 30 thành viên thuộc 10 nước trong khu vực Đông Nam Á (trong đó có 04 trường đại học thành viên mới gồm Trường Đại học Mandalay - Myanmar, Trường Đại học Cần Thơ - Việt Nam, Trường Đại học Prince of Songkla - Thái Lan và Trường Đại học Utara - Malaysia vừa được kết nạp chính thức vào tháng 7/2013 tại kỳ họp Hội đồng Quản trị của AUN (AUN-BOT) lần thứ 29 được tổ chức tại Yangon, Myanmar [22], [34]
Mục tiêu hoạt động của AUN là nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các trường đại học trong khu vực; tăng cường trao đổi học tập, nghiên cứu và các chương trình đào tạo về các lĩnh vực ưu tiên của khu vực; tăng cường sự hợp tác và tình đoàn kết giữa các học giả, các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu giữa các trường thành viên trong khu vực; và là một cơ quan định hướng chính sách giáo dục đại học trong khu vực Đông Nam Á Nhằm thúc đẩy sự chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và củng cố uy tín và niềm tin vào chất lượng đào tạo đại học của các trường thành viên, AUN đã sáng lập bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo (ASEAN University Network-Quality Assurance - AUN-QA) để đánh giá chất lượng giáo dục đại học dựa trên cơ sở tự nguyện
Tính đến tháng 5/2014, AUN đã thực hiện thành công 28 đợt đánh giá cho 66 chương trình đào tạo thuộc các trường trong khối ASEAN Trong đó
có 64 chương trình đào tạo bậc đại học và 02 chương trình đào tạo bậc sau đại
Trang 34học (Công nghệ Hóa dầu - Trường Đại học Chulalongkorn, Thái Lan và Ngôn ngữ Anh - Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Bên cạnh các hoạt động đánh giá chương trình thường niên, từ tháng 4 đến cuối tháng 9/2013, AUN còn phối hợp với 6 tổ chức đối tác của ASEAN
và Châu Âu trong khuôn khổ dự án DIES ASEAN-QA giai đoạn I (gồm Mạng lưới Đảm bảo chất lượng Đông Nam Á - AQAN, Viện Hàn lâm Khoa học Đức - DAAD, Mạng lưới Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Châu Âu
- ENQA, Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học Đức - HRK, Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á về giáo dục đại học - SEAMEO RIHED và Trường Đại học Potsdam) để tổ chức đánh giá cho 23 chương trình đào tạo thuộc 22 trường đại học của 9 quốc gia Đông Nam Á Trường Đại học Cần Thơ có 02 chương trình được đánh giá trong dự án này là Kỹ thuật điện-Điện tử và Kinh tế Nông nghiệp
Để được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng AUN-QA, các chương trình đào tạo phải đạt điểm tối thiểu 4.0/7 và giấy chứng nhận này có giá trị trong 04 năm Nhìn chung, điểm đánh giá của các chương trình đào tạo trong khu vực nằm trong khoảng từ 4.0 đến 5.4 Chương trình đào tạo có điểm cao nhất trong khu vực hiện nay là 5.4/7 và không có chương trình nào đạt 6.0 Theo kết quả đã công bố, Việt Nam hiện có 01 chương trình đạt điểm 5.0/7 là chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành Hóa học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Quá trình đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn AUN-QA thường trải qua ba giai đoạn chính: (1) Tìm hiểu bộ tiêu chuẩn; (2) Viết báo cáo tự đánh giá; (3) Đánh giá ngoài Trong đó, giai đoạn tìm hiểu bộ tiêu chuẩn sẽ giúp hiểu rõ nội hàm mà các tiêu chuẩn hướng tới Tự đánh giá là một giai đoạn hết sức quan trọng, bởi trong quá trình này, nhà quản lý chương trình đào tạo
sẽ có dịp nhìn lại, rà soát, đánh giá được quá trình đào tạo, quá trình cung cấp
Trang 35các dịch vụ của mình có đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn về chất lượng để từ
đó đưa ra các giải pháp đảm bảo cũng như cải tiến chất lượng [22], [34], [72]
Bộ tiêu chuẩn AUN-QA: Kết quả học tập dự kiến; Bảng mô tả chương trình đào tạo; Nội dung và cấu trúc chương trình; Chiến lược dạy và học; Đánh giá sinh viên; Chất lượng đội ngũ giảng viên; Chất lượng đội ngũ hỗ trợ; Chất lượng sinh viên; Tư vấn và hỗ trợ SV; Cơ sở vật chất và trang thiết bị; Quá trình đảm bảo chất lượng dạy và học; Hoạt động phát triển đội ngũ; Phản hồi của các bên liên quan; Đầu ra; Sự hài lòng của các bên liên quan
Giai đoạn đánh giá ngoài hướng đến hai mục tiêu chính, một là các chuyên gia bên ngoài với con mắt khách quan sẽ cùng với trường xác định các điểm mạnh, điểm còn tồn tại cần cải tiến; và hai là xác nhận trách nhiệm của nhà trường trong việc cung cấp các dịch vụ đạt chất lượng
Quy trình kiểm định chung thường trải qua 4 bước: (1) Đăng ký kiểm định chất lượng chương trình đào tạo (2) Thực hiện tự đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn; (3) Đoàn đánh giá đến kiếm định tại cơ sở đào tạo; và (4) Cấp giấy chứng nhận đối với các chương trình đạt yêu cầu
Đối với bộ tiêu chuẩn AUN-QA, hiện có các mức chất lượng như trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Mức chất lượng theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA
1 Không có tài liệu, kế hoạch, minh chứng
Hoàn toàn chưa đủ; phải có sự cải thiện ngay lập tức
2 Đang trong giai đoạn hoạch định Chưa đủ, cần có cải thiện
3
Có các tài liệu, nhưng lại không có
minh chứng rõ ràng về việc các tài
Trang 366 Là tấm gương điển hình tốt Là tấm gương điển hình tốt
7 Xuất sắc, vượt trội Xuất sắc, vượt trội
Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/03/2016 Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học [4]
Nhận xét: Tổng hợp và phân tích kết quả đánh giá của một số chương
trình dựa trên 15 tiêu chuẩn của AUN-QA và Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học cho thấy: Các chương trình được đánh giá đều đạt yêu cầu của bộ tiêu chuẩn Trong đó:
Các tiêu chuẩn đánh giá kết quả đầu ra và sự hài lòng của các bên liên quan luôn luôn được đánh giá ở mức vượt quá mong đợi
Chất lượng đội ngũ giảng viên luôn được đánh giá ở mức cao
Chất lượng sinh viên của trường cũng được đánh giá rất cao, đặc biệt
đã đạt mức điểm cao, nghĩa là tấm gương điển hình tốt
1.3 Nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên khối sư phạm
chuyên khoa TDTT
1.3.1 Một số đặc điểm phát triển vùng miền và trường Đại học Tây Bắc
Tây Bắc là cách gọi theo phương vị, chỉ vùng đất nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc lấy Thủ đô Hà Nội làm chuẩn Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về địa giới của khu Tây Bắc, song Tây Bắc chủ yếu bao gồm các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, một phần của Hoà Bình với diện tích hơn 46.000 km2, có 23 dân tộc anh em sinh sống: Thái, Mông,
Lự, Hoa, Kinh, Mường, Tày, Nùng, Dao, Lào, La Ha, Xinh Mun, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ…
Phía Bắc của khu tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), có đường biên giới dài 513 km; phía Tây tiếp giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Phong Sa
Lỳ của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với đường biên giới dài 552
Trang 37km; phía Đông, Đông Nam và Nam tiếp giáp các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thanh Hoá, Hoà Bình
Tây Bắc được coi là vùng đất “Tam Mãnh” qua Lào vào Vân Nam và Hưng Hoá Hiện nay, Tây Bắc có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự và trong quan hệ giao lưu quốc tế
Sau hòa bình lập lại (1954), để đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Bắc trong thời
kỳ mới, ngày 30/06/1960, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Văn Huyên đã kí Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo Từ đó đến năm 1980 là thời kì Nhà trường phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nhưng bằng ý chí và nghị lực vượt khó, Trường đã không ngừng vươn lên, trưởng thành Đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên Công tác đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực Các đoàn thể quần chúng ngày càng vững mạnh Thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường trong 20 năm xây dựng và phát triển là đã đào tạo, bồi dưỡng được 2.271 giáo viên (thuộc các hệ 7+2, 7+3, 10+3 và Cao đẳng bồi dưỡng), trong
đó có 490 giáo viên người dân tộc thiểu số Đây là kết quả sự nỗ lực phấn đấu đầy tâm huyết của tập thể Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, cùng toàn thể cán bộ, giáo viên và giáo sinh Nhà trường
Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là sự bùng nổ của thông tin đã mang đến cho các dân tộc nhiều vận hội để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Nhưng, trong quá trình hội nhập, các dân tộc cũng phải đối mặt với không ít những hiểm hoạ và thách thức Hoà nhập nhưng không bị hoà tan là mục tiêu của các nước đang phát triển như nước ta
Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tây Bắc đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực Cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại được cải thiện đáng kể; nền kinh tế đang từng bước có sự chuyển dịch từ
Trang 38cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ cấu kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện Các lĩnh vực văn hoá giáo dục, y tế có nhiều chuyển biến tích cực Trong bối cảnh lịch sử đó, để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ cao cho các tỉnh Tây Bắc, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngày 23/03/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 39/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Tây Bắc trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc
Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, Trường Đại học Tây Bắc đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, từng bước phát triển đi lên và đạt được những thành tựu rực rỡ về tất cả các mặt Một trong những thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường đạt được thời gian qua là đã xây dựng được đội ngũ giáo viên cán bộ hùng hậu Nhà trường đã đào tạo được nhiều thế hệ sinh viên thuộc các ngành Sư phạm, Nông lâm, Kinh tế, Khoa học máy tính Hầu hết những Cử nhân tốt nghiệp dưới mái Trường Đại học Tây Bắc ra trường đều
có việc làm, được xã hội thừa nhận, đánh giáo cao; trong số những sinh viên tốt nghiệp, nhiều em đã trở thành giảng viên của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và có không ít sinh viên đã thi đỗ vào các lớp Thạc
sĩ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia
Đến nay, trường Đại học Tây Bắc là trường đại học đa ngành cấp vùng Trung du và miền núi phía Bắc, là một trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học và cao học của cả vùng Trung du và miền núi phía Bắc Ngoài đào tạo, trường đồng thời
là trung tâm nghiên cứu khoa học và chính sách quản lý lớn
Bộ máy tổ chức của Trường Đại học Tây Bắc đã được tổ chức đồng bộ, trong đó đơn vị chuyên môn gồm có: khoa Toán - Lí - Tin (2002), khoa Ngữ văn (2002), khoa Sinh - Hoá (2002), khoa Sử - Địa (2002), khoa Tiểu học - Mầm non (2003), khoa Nông - Lâm - Kinh tế (2006), khoa Ngoại Ngữ
Trang 39(2008), khoa Lí luận Chính trị (2009), khoa Kinh tế (2009), khoa Thể dục Thể thao (2010), Bộ môn Tâm lí Giáo dục
Từ tháng 08 năm 2010 Bộ môn Giáo dục Thể chất được quyết định thành lập thành Khoa Thể dục Thể thao thuộc Trường Đại học Tây Bắc Khoa Thể dục Thể thao thực hiện nhiệm vụ đào tạo các ngành sau: Đào tạo trình độ cao đẳng, ngành sư phạm giáo dục thể chất; Đào tạo trình độ đại học, ngành
sư phạm giáo dục thể chất; Giảng dạy môn giáo dục thể chất cho sinh viên các khối không chuyên Các Bộ môn - Tổ trực thuộc Khoa TDTT: Bộ môn Điền kinh – Thể dục – Bơi lội; Bộ môn: Bóng – Võ – Vật – Thể thao dân tộc; Bộ môn: Lý luận và phương pháp dạy học
1.3.2 Đặc trưng khác biệt của trường Đại học Tây Bắc và chức năng, nhiệm vụ của Khoa TDTT
Trường Đại học Tây Bắc theo đuổi một mô hình đại học hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển đại học thế giới nhằm đáp ứng 3 tiêu chí:
Một là: có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, nghĩa là phải có các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, kĩ thuật, công nghệ, kinh tế, luật, y khoa…;
Hai là: phải đào tạo và nghiên cứu khoa học với chất lượng cao, trình
độ cao để xứng đáng với vai trò phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc;
Ba là: Từng bước phát triển nguồn tài chính để thực hiện tự chủ
Về chức năng, nhiệm vụ của Khoa TDTT:
Khoa Thể dục Thể thao thực hiện nhiệm vụ đào tạo các ngành sau: Đào tạo trình độ cao đẳng, ngành sư phạm giáo dục thể chất
Đào tạo trình độ đại học, ngành sư phạm giáo dục thể chất
Giảng dạy môn giáo dục thể chất cho sinh viên các khối không chuyên Tổng số lớp trình độ cao đẳng, ngành sư phạm Giáo dục Thể chất đã tốt nghiệp gồm:
Trang 40Khóa K45 bậc cao đẳng ngành sư phạm Sinh Thể - Số sinh viên đã tốt nghiệp: 34 sinh viên
Khóa K46 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đã tốt nghiệp: 35 sinh viên
Khóa K47 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đã tốt nghiệp: 51 sinh viên
Khóa K48 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đã tốt nghiệp: 43 sinh viên
Tổng số lớp trình độ cao đẳng, ngành sư phạm Giáo dục Thể chất đang đào tạo gồm:
Khóa K49 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đang được đào tạo: 51 sinh viên
Khóa K50 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đang được đào tạo: 44 sinh viên
Khóa K51 bậc cao đẳng ngành sư phạm Giáo dục Thể chất - Số sinh viên đang được đào tạo: 35 sinh viên
Tổng số lớp trình độ đại học, ngành sư phạm Giáo dục Thể chất đang đào tạo gồm:
Đại học sư phạm ngành GDTC khóa 51 đang được đào tạo: 61 sinh viên
Đại học sư phạm ngành GDTC khóa 52 đang được đào tạo: 59 sinh viên
- Hoạt động giảng dạy:
Căn cứ vào chương trình chi tiết của các ngành đào tạo, căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của Nhà trường, Phòng đào tạo và Khoa Thể dục Thể thao phối hợp triển khai tổ chức hoạt động giảng dạy theo đúng chương trình và kế hoạch của Nhà trường đã đề ra