1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan các kỹ năng truyền thông trong truyền thông và giáo dục sức khỏe

141 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số BYT phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe đến 3526/2004/QĐ-năm 2010 với mục tiêu chung là “Nâng cao nhận

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐẶNG THU HẰNG

TỔNG QUAN CÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG TRONG TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁO DỤC

SỨC KHỎE

LUẬN VĂN THẠC SỸ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

MÃ SỐ 60.73.20

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Song Hà

HÀ NỘI 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

TS Nguyễn Thị Song Hà, Phó Trưởng phụ trách Bộ môn Quản lý và Kinh Tế dược Trường Đại học Dược Hà Nội, người đã theo sát tôi trong suốt

quá trình thực hiện đề tài, tận tình giúp đỡ khi tôi gặp các vướng mắc về định hướng nghiên cứu, cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý báu và đã chỉ dạy cho tôi những kiến thức về chuyên môn cũng như cuộc sống

Các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh Tế dược, những người đã

trang bị cho tôi những kiến thức chuyên môn cơ bản nhất để tôi có thể áp dụng trong luận văn này

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Bộ môn và các thầy cô giáo đã

giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại trường

Ban Giám hiệu, các Phòng ban, Khoa Dược và các đồng nghiệp trường Đại học Y Thái Bình đã tạo điều kiện cho tôi được yên tâm học tập

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nỗ lực của bản thân, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và nhầm lẫn Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Đặng Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.4 Lựa chọn tài liệu 8 1.5 Quản lý tài liệu 8

2.1 Đại cương về truyền thông và giáo dục sức khỏe 9

2.1.1 Một số khái niệm 9 2.1.2 Hành vi sức khỏe và quá trình thay đổi hành vi sức khỏe 13

2.1.3 Vai trò, vị trí của công tác Truyền thông và giáo dục sức khỏe

trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

20

2.1.4 Hệ thống tổ chức và trách nhiệm thực hiện Truyền thông và giáo

dục sức khỏe

25

2.1.5 Tình hình giảng dạy môn truyền thông giáo dục sức khỏe tại các

trường đại học, cao đẳng, trung cấp Y, Dược trong cả nước trong

những năm gần đây

30

2.2 Các kỹ năng cơ bản trong truyền thông trực tiếp 34

2.2.1 Giới thiệu về kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe 34

2.2.3 Kỹ năng đặt câu hỏi 38

Trang 5

2.2.4 Kỹ năng lắng nghe 40

2.2.7 Kỹ năng giao tiếp không lời 45

2.2.8 Kỹ năng sử dụng tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe 46

2.3 Một số hình thức truyền thông trực tiếp tại cộng đồng 47

2.3.2 Tư vấn giáo dục sức khỏe 53

2.3.4 Tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc tại các điểm bán lẻ thuốc 64

2.4 Vai trò của Dược sĩ đối với hoạt động Truyền thông Giáo dục

sức khỏe trong lĩnh vực Dược

68

2.5 Tâm lý bệnh nhân và kỹ năng giao tiếp của Dược sĩ 73

2.5.1 Bệnh nhân là người cao tuổi 74

2.5.2 Bệnh nhân với khả năng giao tiếp hạn chế 76

2.5.3 Bệnh nhân tàn tật 79 2.5.4 Bệnh nhân giai đoạn cuối 81

2.5.6 Bệnh nhân có vấn đề tâm thần 86

2.5.7 Bệnh nhân tuổi vị thành niên 87

2.5.8 Giao tiếp với những người chăm sóc người bệnh 89

2.6 Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động truyền thông Dược 91

2.6.1 Các kỹ năng tiếp cận với nhận thức của bệnh nhân 91

Trang 6

2.6.2 Kỹ năng lắng nghe và đồng cảm với người bệnh 93 2.6.3 Kỹ năng tham vấn và đánh giá 98

2.6.4 Kỹ năng tư vấn và đưa ra lời khuyên cho bệnh nhân 107

2.6.5 Kỹ năng giúp đỡ bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

2 CS&BVSKND Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

4 CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu

6 ĐVHT Đơn vị học trình

7 HIV/AIDS Virus gây suy giảm miễn dịch ở người/ Hội

chứng gây suy giảm miễn dịch mắc phải

8 KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

9 TT BVSKBMTE&KHHGĐ Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em

và kế hoạch hóa gia đình

10 TT&GDSK Truyền thông và giáo dục sức khỏe

12 TT YTDP Trung tâm Y tế Dự phòng

14 VSMT Vệ sinh môi trường

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và cũng là tài sản vô giá của đất nước Việc chăm sóc sức khỏe cho người dân luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước, là trách nhiệm của chính quyền các cấp, các tổ chức, đoàn thể trong đó ngành Y tế giữ vai trò quan trọng

Tại Hội nghị Quốc tế về Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alma-Ata, Kazakhstan mùa hè năm 1978, Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp dịch vụ Truyền thông & Giáo dục sức khỏe (TT&GDSK) ở vị trí đầu tiên trong tám dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu để thực hiện chiến lược toàn cầu “Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000” Từ đó, TT&GDSK đã được triển khai rộng rãi ở tất cả mọi quốc gia Sau hội nghị Alma-Ata, ngành Y tế Việt Nam cũng đưa TT& GDSK vào vị trí số một trong mười nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu Hoạt động TT&GDSK không thay thế được các hoạt động chăm sóc sức khỏe khác, nhưng nó góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác Hoạt động TT&GDSK là một trong các hoạt động xã hội, thu hút được sự tham gia của cộng đồng, tạo ra những phong trào hoạt động rộng rãi, giải quyết được các vấn đề về sức khỏe của cộng đồng, góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe Đẩy mạnh hoạt động TT&GDSK là một trong những nhiệm

vụ quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe, góp phần giúp mọi người có được sức khỏe tốt nhất [14]

Ngày 06/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số BYT phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe đến

3526/2004/QĐ-năm 2010 với mục tiêu chung là “Nâng cao nhận thức và thực hành của tổ chức

Đảng và Chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị- xã hội, cộng đồng và mỗi người dân về công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân, góp

Trang 10

phần thực hiện thắng lợi Chiến lược Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2010” Trong đó mục tiêu cụ thể số 4 đã nêu rõ là nâng cao

năng lực của hệ thống Truyền thông Giáo dục sức khỏe từ Trung ương đến cơ

sở Để thực hiện mục tiêu này, Quyết định đã nêu rõ: Vụ Khoa học - Đào tạo,

Bộ Y tế phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo các trường đại học, cao đẳng và trung học Y, Dược đưa nội dung cụ thể về TT&GDSK vào chương

trình đào tạo [10]

Ngày 07/06/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số 1827/QĐ-BYT phê duyệt chương trình hành động TT&GDSK giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu chung của Chương trình nhằm giúp người dân tiếp cận đầy đủ và sử dụng hiệu quả các dịch vụ Truyền thông Giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức

và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng Trong quyết định này, việc đưa nội dung cụ thể về TT&GDSK vào chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung học Y, Dược lại được

nhấn mạnh lại [22]

Giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe đang là một chức năng, nhiệm vụ bắt buộc của các cán bộ Y tế và các cơ sở Y tế Y và Dược là hai lĩnh vực của ngành Y tế cùng chung một sứ mệnh cao cả là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng Tuy nhiên, môn học TT&GDSK mới chỉ được đưa vào giảng dạy tại các trường Y tế công cộng và khối các trường Đại học Y trên toàn quốc Hiện tại, trong lĩnh vực Dược (các trường đại học Dược, cao đẳng Dược, trung cấp Dược ) chưa đưa được môn học TT&GDSK vào trong chương trình giảng dạy Nhiều kinh nghiệm và bài học về nghề nghiệp đã chỉ ra rằng, nếu nhà trường hoặc sinh viên chỉ tập trung giáo dục và học tập những kỹ thuật chuyên môn thuần túy mà coi nhẹ kỹ năng TT&GDSK thì sau khi tốt nghiệp, sinh viên không

Trang 11

những không thể làm tốt nhiệm vụ của người cán bộ Y tế mà trong nhiều trường hợp, sự yếu kém về kỹ năng TT&GDSK là nguyên nhân dẫn đến hạn chế về năng lực chuyên môn kỹ thuật và nguyên nhân của những sai sót trong thực hành nghề nghiệp [19]

Với mong muốn tìm hiểu về kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung và kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe trong lĩnh vực Dược nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài:

“TỔNG QUAN CÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG TRONG TRUYỀN

THÔNG VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE”

Trang 12

CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện đề tài dựa trên phương pháp Tổng quan tài liệu Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Hình 1.1 Sơ đồ tóm tắt các giai đoạn của quá trình nghiên cứu [32]

XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU

THU THẬP TÀI LIỆU

LỰA CHỌN TÀI LIỆU

QUẢN LÝ TÀI LIỆU

Xác định các mục tiêu nghiên

cứu của đề tài

Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu dựa trên các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

Dựa trên các chỉ tiêu nghiên cứu tiến hành thu thập tài liệu

Tổng hợp tài liệu theo từng chỉ

tiêu nghiên cứu

Nhập các tài liệu vào phần mềm Endnote để lưu trữ, quản

lý và trích dẫn tự động

Trang 13

1.1 XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài này được thực hiện với hai mục tiêu:

− Tổng quan các kỹ năng giao tiếp phục vụ Truyền thông và giáo dục sức khỏe

− Tổng quan các kỹ năng giao tiếp phục vụ Truyền thông và giáo dục sức khỏe trong lĩnh vực Dược

1.2 XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, các chỉ tiêu nghiên cứu được xác định theo sơ đồ hình 1.2 ở trang bên

Trang 14

Tổng quan các kỹ năng giao tiếp phục vụ Truyền

thông và giáo dục sức khỏe

Tổng quan các kỹ năng giao tiếp phục vụ Truyền thông

và giáo dục sức khỏe trong lĩnh vực Dược

Các kỹ năng

cơ bản trong truyền thông trực tiếp

Kỹ năng (KN) giao tiếp trong hoạt động truyền thông Dược

Tâm lý bệnh nhân (BN) và

kỹ năng giao tiếp của Dược

Vai trò của Dược sĩ đối với hoạt động TTGDSK trong lĩnh vực Dược

- KN lắng nghe

và đồng cảm với người bệnh

- KN tham vấn

và đánh giá

- KN tư vấn và đưa ra lời khuyên cho bệnh nhân

- KN giúp đỡ BN tuân thủ chế độ

- BN là người cao tuổi

- BN với khả năng giao tiếp hạn chế

- BN tàn tật

- BN giai đoạn cuối

- BNHIV/AIDS

- BN có vấn đề tâm thần

- BN tuổi vị thành niên

- Giao tiếp với

- Thảo luận nhóm

- Tư vấn giáo dục sức khỏe

- Nói chuyện giáo dục sức khỏe

- Tư vấn, Hướng dẫn sử dụng thuốc tại các điểm bán lẻ

- Giới thiệu về kỹ năng TTGDSK

- KN sử dụng tài liệu TT-GDSK

- Một số KN khác

TỔNG QUAN CÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG TRONG TRUYỀN THÔNG & GIÁO DỤC SỨC KHỎE

Trang 15

1.3 THU THẬP TÀI LIỆU

Tài liệu được chúng tôi thu thập dựa trên các nguồn sau:

¾ Các tài liệu giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo về Y Dược trong nước Gồm có:

− Giáo dục và Nâng cao sức khỏe (sách đào tạo bác sĩ đa khoa), (sách được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Trường Đại học Y Hà Nội trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt)

− Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe (sách dùng đào tạo Cử nhân Y tế Công cộng), (sách được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Trường Đại học

Y Hà Nội trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt)

− Kỹ năng giao tiếp và Giáo dục sức khỏe (sách dùng cho các trường Trung học Y tế), (sách được biên soạn dựa trên chương trình đào tạo của Ngành Điều dưỡng

đa khoa hệ trung học )

− Giáo dục và Nâng cao sức khỏe (Trường Đại học Y Thái Nguyên)

− Truyền thông Giáo dục sức khỏe (Trường Đại học Y Thái Bình)

¾ Các tài liệu tại website của các trường đại học Y Dược trong cả nước

¾ Các tài liệu tại website của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương (t5g.org.vn) và 63 Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe của 63 tỉnh/thành phố trong cả nước (t4ghcm.org.vn; t4gthaibinh.org.vn; t4gquangtri.vn; )

¾ Các báo cáo tổng kết, kế hoạch triển khai và các số báo Giáo dục sức khỏe (lưu hành nội bộ) của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương

¾ Các tài liệu tiếng Anh với nội dung liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu (cụ thể

về các tài liệu xin được trình bày ở phần tài liệu tham khảo)

¾ Sau đó chúng tôi tiếp tục tìm kiếm mở rộng dựa trên danh mục tài liệu tham khảo của các tài liệu kể trên

Trang 16

1.4 LỰA CHỌN TÀI LIỆU

Chúng tôi lựa chọn tài liệu dựa trên các tiêu chuẩn sau:

− Đại cương về Truyền thông và Giáo dục sức khỏe

− Các kỹ năng cơ bản trong truyền thông trực tiếp

− Một số hình thức Ttruyền thông trực tiếp tại cộng đồng

− Vai trò của Dược sĩ đối với hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trong lĩnh vực Dược

− Tâm lý bệnh nhân và kỹ năng giao tiếp của dược sĩ

− Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động truyền thông dược

1.5 QUẢN LÝ TÀI LIỆU

Các tài liệu đạt yêu cầu được nhập vào phần mềm EndNote X5 để lưu trữ, quản

lý và trích dẫn tự động

Trang 17

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE

2.1.1 Một số khái niệm

Năm 1978, tại Hội nghị quốc tế về Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alma Ata, có tám nội dung về chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó Truyền thông & giáo dục sức khỏe là nội dung số một Tất cả các nội dung khác của chăm sóc sức khỏe ban đầu đều có nội dung quan trọng cần Truyền thông & giáo dục sức khỏe [14]

Thuật ngữ Truyền thông & giáo dục sức khỏe gồm hai phần là “truyền thông sức khỏe” (health communnication) và “giáo dục sức khỏe” (health education) Do

đó, để tìm hiểu khái niệm Truyền thông & giáo dục sức khỏe (health communication and education), việc xem xét mối liên quan giữa hai khái niệm này

và một số khái niệm khác để tránh nhầm lẫn là cần thiết [43]

2.1.1.1 Thông tin, Truyền thông và Truyền thông sức khỏe

™ Thông tin là những tin tức, thông điệp hoặc số liệu được cá nhân, tổ chức phổ

biến qua sách, báo, ti vi, đài phát thanh gửi tới người nhận mà không cần quan tâm đến phản ứng của họ Đặc trưng của thông tin là tính một chiều: thông tin được chuyển tải một chiều [1]

Hình 2.1 Sơ đồ thông tin một chiều

Thông tin cho các đối tượng là một phần quan trọng của TT&GDSK Việc cung cấp các thông tin cơ bản, cần thiết về bệnh tật, sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng

là bước quan trọng để tạo nên những nhận thức đúng đắn của cá nhân và cộng đồng

về nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Các phương tiện thông tin đại chúng như

Người nhận Nguồn tin

Thông tin/ Thông điệp

Trang 18

đài, ti vi, các ấn phẩm có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin nói chung

và thông tin về sức khỏe, bệnh tật nói riêng [17]

™ Truyền thông là quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin từ người truyền

đến người nhận nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của đối tượng Đặc trưng quan trọng của truyền thông là tính hai chiều Truyền thông luôn có mục tiêu và đối tượng cụ thể [18]

Hình 2.2 Sơ đồ thông tin hai chiều

™ Truyền thông sức khỏe (health communication) là một hoạt động quan trọng

nhằm cung cấp cho cộng đồng các thông tin liên quan đến vấn đề sức khỏe Các hoạt động này được duy trì, lặp đi lặp lại thông qua các phương tiện truyền thông

để phổ biến các thông tin y tế hữu ích, nhằm làm tăng nhận thức về các vấn đề sức khỏe cho mỗi cá nhân và cộng đồng, cũng như tầm quan trọng của sức khỏe đối với

sự phát triển chung của xã hội [43]

Như vậy, Truyền thông sức khỏe chính là quá trình truyền thông hai chiều, nằm trong phạm vi của truyền thông Khi truyền thông sức khỏe, các thông tin phải được kiểm duyệt chặt chẽ để đảm bảo những thông tin đó là đúng khoa học và có lợi cho sức khỏe

2.1.1.2 Giáo dục, Giáo dục sức khỏe và Truyền thông & giáo dục sức khỏe

™ Giáo dục là tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con

người để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đề ra [14]

™ Giáo dục sức khỏe

Phản hồi Thông tin/ Thông điệp

Trang 19

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sức khỏe, khi nó được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau và các chuyên nghành khác nhau Năm 1948, Tổ chức Y tế Thế giới đã

đưa ra định nghĩa về sức khỏe như sau: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái toàn

diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương

tật” [43]

Sức khỏe của một cộng đồng chỉ có thể được nâng cao khi người dân trong cộng đồng hiểu biết về cách phòng ngừa bệnh tật, chủ động tham gia vào việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh, đóng góp ý kiến để giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe của chính họ, cũng như các hoạt động chăm sóc sức khỏe Những hoạt động nhằm cung cấp cho người dân kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa bệnh tật, bảo

vệ sức khỏe cho chính họ và cộng đồng xung quanh chính là những hoạt động truyền thông sức khỏe để giáo dục sức khỏe [12]

Giáo dục sức khỏe (health education) là một quá trình giáo dục được tiến

hành giữa người dạy và người học thông qua các hình thức truyền thông nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe Từ đó, nâng cao sức khỏe cho

cá nhân và cộng đồng [37], [42], [43]

Theo tài liệu Kỹ năng giảng dạy về Truyền thông & giáo dục sức khỏe của Bộ Y

tế (1994) :“Giáo dục sức khỏe là một quá trình nhằm giúp người dân tăng cường hiểu biết để thay đổi thái độ, tự nguyện thay đổi những hành vi có hại cho sức khỏe, chấp nhận và duy trì thực hiện những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức

khỏe” [6], [7], [12]

™ Truyền thông và giáo dục sức khỏe (health communication and education)

Truyền thông và giáo dục sức khoẻ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào tâm tư, tình cảm và ý chí của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ, hành vi sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng, góp phần bảo vệ, tăng cường sức khoẻ của cá nhân, gia đình và cộng đồng [17]

Trang 20

Truyền thông & giáo dục sức khoẻ là một quá trình truyền thông: cung cấp thông tin, giúp đỡ, tạo điều kiện để mọi người hiểu được về sức khỏe của họ và chọn được cách giải quyết thích hợp nhất vấn đề sức khỏe của họ Tuy nhiên, Truyền thông & giáo dục sức khoẻ khác với quá trình truyền thông ở chỗ: hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tác động vào 3 lĩnh vực của đối tượng được TT&GDSK: kiến thức của đối tượng về sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn

đề sức khỏe, thực hành hay cách ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức khỏe, nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe Như vậy, TT&GDSK không chỉ tác động đến nhận thức của đối tượng mà còn tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến hành

vi của đối tượng bao gồm cả các yếu tố cản trở đến sự thay đổi hành vi của đối tượng để giúp đối tượng lựa chọn, thực hành và duy trì các hành vi lành mạnh Ngoài ra, TT&GDSK không chỉ hiểu các đặc điểm chung của đối tượng, mà còn phải quan tâm: đối tượng đang ở giai đoạn nào của quá trình thay đổi hành vi, yếu

tố nào cản trở sự thay đổi hành vi của đối tượng, các dịch vụ hỗ trợ đối tượng thay đổi hành vi [1][17]

Truyền thông & giáo dục sức khỏe giống như giáo dục, thực chất là quá trình dạy và học, trong đó tác động giữa người thực hiện giáo dục sức khỏe và người được giáo dục sức khỏe theo hai chiều Người thực hiện TT&GDSK không phải chỉ

là người “dạy” mà còn phải biết “học” từ đối tượng của mình Thu nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng được TT&GDSK là hoạt động cần thiết để người thực hiện TT&GDSK điều chỉnh, bổ sung hoạt động của mình nhằm nâng cao kỹ năng, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ TT&GDSK

Người TT&GDSK Người được

TT&GDSK

Hình 2.3 Sơ đồ trao đổi thông tin hai chiều giữa người

Trang 21

2.1.2 Hành vi sức khỏe và quá trình thay đổi hành vi sức khỏe

2.1.2.1 Hành vi sức khỏe

Triết lý của Truyền thông & giáo dục sức khỏe đã được đề cập đến trong các tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới Sự tập trung của TT&GDSK là vào con người và vào các hành động nhằm loại bỏ hành vi có hại, thực hành hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe Truyền thông & Giáo dục sức khỏe cũng là phương tiện nhằm phát triển ý thức con người, phát huy tính tự lực cánh sinh và giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và nhóm Truyền thông & Giáo dục sức khỏe cơ bản không phải chỉ là cung cấp thông tin hay nói với mọi người những gì họ cần làm cho sức khỏe của họ mà là quá trình cung cấp kiến thức, hướng dẫn thực hành, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường để tăng cường nhận thức, chuyển đổi thái độ về sức khỏe và thực hành hành vi sức khỏe lành mạnh Điều quan trọng là không nên coi Truyền thông & Giáo dục sức khỏe chỉ là việc cung cấp thông tin đơn thuần về sức khỏe mà là một quá trình tác động dẫn đến thay đổi hành vi

Thực chất của Truyền thông & Giáo dục sức khỏe là tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thay đổi hành vi diễn ra và duy trì hành vi lành mạnh Quá trình thay đổi hành vi của con người thường diễn ra phức tạp, và chịu tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, thường diễn ra qua nhiều giai đoạn Trên thực tế, nhiều vấn

đề sức khỏe, bệnh tật không thể chỉ giải quyết bằng thuốc hay các can thiệp kỹ thuật y học Nâng cao sức khỏe và phòng bệnh luôn bao gồm một số yếu tố thay đổi lối sống và hành vi con người

Như vậy, Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt

hoặc xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của cộng đồng [14], [37], [42]

Trang 22

2.1.2.2 Phân loại hành vi sức khỏe

Theo ảnh hưởng của hành vi, có thể phân ra ba loại hành vi sức khỏe như sau:

™ Những hành vi có lợi cho sức khỏe: Đó là các hành vi lành mạnh được người dân thực hành để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, hay các hành động mà một người thực hiện để làm cho họ hoặc những người khác khỏe mạnh và phòng các bệnh tật Ví dụ: tập thể dục thể thao đều đặn, đi khám chữa bệnh sớm khi có dấu hiệu của bệnh, dùng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ Nhiệm vụ của các cán bộ y tế là giới thiệu, khuyến khích, động viên, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thay đổi lối sống không lành mạnh, thực hành các hành vi lành mạnh nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe

™ Những hành vi có hại cho sức khỏe: Là các hành vi có nguy cơ hoặc có tác động xấu đến sức khỏe do một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng thực hành Một số hành vi có hại cho sức khỏe do cá nhân và cộng đồng thực hành đã lâu và có thể trở thành những thói quen, phong tục tập quán gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhiều người Trên thực tế còn tồn tại nhiều hành vi

có hại cho sức khỏe ở các cộng đồng khác nhau Có thể kể đến nhiều hành vi có hại cho sức khỏe như: bệnh nặng không đi chữa mà cầu cúng bói toán, lạm dụng thuốc trong điều trị bệnh thông thường, tiêm vitamin C làm đẹp da mà không theo chỉ định của bác sĩ Để giúp người dân thay đổi các hành vi có hại cho sức khỏe, đòi hỏi cán bộ y tế phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân vì sao người dân lại thực hành các hành vi này, từ đó có biện pháp thích hợp, kiên trì thực hiện TT&GDSK và giới thiệu các hành vi lành mạnh để dân thực hành

™ Những hành vi trung gian: là những hành vi không có hại cũng không có lợi cho sức khỏe hoặc chưa xác định rõ Ví dụ: một số bà mẹ đeo vòng bạc cho trẻ em

để tránh gió, tránh bệnh Với loại hành vi trung gian này thì không cần phải tác động để loại bỏ, đôi khi cần chú ý khai thác những khía cạnh có lợi của các

Trang 23

hành vi này đối với sức khỏe Ví dụ như hướng dẫn các bà mẹ theo dõi độ chặt, lỏng của vòng cổ tay, cổ chân của trẻ để đánh giá tình trạng tăng trưởng của trẻ Mục đích chung của TT&GDSK là giúp cho cá nhân và cộng đồng hiểu rõ và loại bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe Khuyến khích thực hành các hành vi lành mạnh có thể ngăn ngừa được nhiều bệnh tật [5], [14], [17]

2.1.2.3 Quá trình thay đổi hành vi sức khỏe

Hành vi của con người có thể thay đổi được, nhanh hay chậm là do nhiều lý do Bản thân hành vi của con người phức tạp nên muốn làm thay đổi nó cũng khó khăn

họ, tức là nhận ra được các yếu tố có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ Người thực hiện TT&GDSK cần cung cấp đủ thông tin, kiến thức để cá nhân hay cộng đồng hiểu được vấn đề sức khỏe bệnh tật của họ là gì, có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của họ Bước này có thể thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin, nếu cần có thể gặp gỡ trực tiếp đối tượng để cung cấp kiến thức, giải thích bằng các ví dụ minh họa giúp đối tượng hiểu được chính vấn đề của họ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bước sau của quá trình thay đổi hành vi Sẽ rất khó để thay đổi hành vi nếu như cá nhân, cộng đồng chưa đủ kiến thức để nhận ra vấn đề hay nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của họ [31]

™ Bước 2: Quan tâm đến hành vi mới

Khi cá nhân và cộng đồng đã có kiến thức và nhận ra vấn đề sức khỏe, bệnh tật

Trang 24

của họ thì cần làm cho họ có thái độ tích cực hay quan tâm đến vấn đề đó Có nghĩa

là phải làm cho họ nhận thức đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của họ và cần phải giải quyết Để làm cho đối tượng quan tâm đến các hành vi mới

ở giai đoạn này cần các hoạt động giáo dục sức khỏe trực tiếp, kiên trì giải thích, cung cấp các thông tin bổ sung, các ví dụ minh họa, làm cho đối tượng hướng đến thực hành các hành vi mới

™ Bước 3: Áp dụng thử nghiệm hành vi mới

Nhờ có đủ kiến thức và thái độ quan tâm đến hành vi mới, cùng với môi trường

hỗ trợ thuận lợi, đối tượng được TT&GDSK áp dụng thử các hành vi mới Giai đoạn này đối tượng thực hiện hành động nên thường là giai đoạn khó khăn, rất cần được sự hỗ trợ của cán bộ y tế, cán bộ TT&GDSK và những người xung quanh về tinh thần, cũng như về vật chất, cùng với các hướng dẫn kỹ năng thực hành nhất định Trong một số hành vi mới, có thể khi thử nghiệm cần đến một số nguồn lực nhất định, nguồn lực này do đối tượng có khả năng, cũng có thể được hỗ trợ thêm

từ bên ngoài

™ Bước 4: Đánh giá kết quả hành vi mới

Sau khi áp dụng các hành vi mới, thường đối tượng sẽ đánh giá kết quả thu được, trong đó có những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện hành vi mới và lợi ích

từ thực hiện hành vi mới Tuy nhiên có đối tượng có thể không thấy rõ được kết quả của thực hiện hành vi mới mang lại Lúc này nhiệm vụ của cán bộ y tế, cán bộ TT&GDSK là thảo luận, phân tích để giúp cho đối tượng thấy rõ các kết quả đã đạt được và tác động có lợi của hành vi mới đến sức khỏe

™ Bước 5: Khẳng định

Khi phân tích kết quả đạt được của việc thử nghiệm hành vi mới, đối tượng sẽ đi đến quyết định duy trì hành vi mới hay từ chối Thông thường nếu đối tượng đánh giá được kết quả thực hiện hành vi mới là tốt, không có khó khăn gì đặc biệt và

Trang 25

được ủng hộ thì họ tiếp tục duy trì hành vi mới Để đối tượng khẳng định duy trì hành vi mới, giai đoạn này vẫn cần tiếp tục các biện pháp hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng duy trì hành vi mới Nếu đối tượng chưa thấy được kết quả của hành vi mới và gặp khó khăn khi thực hiện, thiếu sự hỗ trợ từ bên ngoài thì họ có thể chưa chấp nhận hành vi mới Với những trường hợp này các cán bộ TT&GDSK lại phải tiếp tục có kế hoạch giáo dục sức khỏe và biện pháp hỗ trợ thích hợp để đối tượng thực hành lại và khẳng định duy trì hành vi mới [17], [37]

Những người làm TT&GDSK cần hiểu trình tự các bước thay đổi hành vi sức khỏe vì ở mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình thay đổi hành vi cần những phương pháp và hỗ trợ khác nhau cho thích hợp với đối tượng Ví dụ, nếu đối tượng thiếu hiểu biết, chưa nhận ra vấn đề của họ thì cần cung cấp thêm thông tin, nếu đối tượng có thái độ chưa đúng thì cần giải thích, đưa thêm các ví dụ minh họa,

hỗ trợ tâm lý Giai đoạn thử nghiệm cần hướng dẫn kỹ thuật hay rèn luyện kỹ năng nhất định Khi các đối tượng được TT&GDSK từ chối việc thực hiện các hành vi mới có lợi cho sức khỏe, thì người giáo dục sức khỏe cần phải tìm hiểu rõ nguyên nhân tại sao, đó là do kiến thức chưa đủ, thái độ chưa đúng, chưa quan tâm, thiếu

kỹ năng thực hành, thiếu nguồn lực và môi trường hỗ trợ, từ đó có các điều chỉnh thích hợp trong phương pháp tiếp cận và giáo dục cho đối tượng giúp họ thực hiện hành vi mới

2.1.2.4 Những điều kiện cần thiết cho thay đổi hành vi sức khỏe

Muốn thực hiện các chương trình TT&GDSK thành công, trước tiên các cán bộ thực hiện TT&GDSK phải tìm ra các hành vi là nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe và phân tích các nguyên nhân của hành vi sức khỏe (do thiếu hiểu biết, niềm tin, phong tục, tập quán, áp lực xã hội hay thiếu thời gian, nguồn lực hoặc các lý do

cụ thể khác), từ đó xây dựng kế hoạch cho chương trình TT&GDSK hợp lý Trong quá trình thực hiện TT&GDSK cho thay đổi hành vi diễn ra cần đảm bảo các điều

Trang 26

kiện như sau:

− Đối tượng phải nhận ra là họ có vấn đề về sức khỏe: qua việc cung cấp đủ kiến thức, đối tượng được giáo dục sức khỏe nhận ra được vấn đề sức khỏe của họ

mà trước đây họ chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ

− Họ quan tâm và mong muốn giải quyết vấn đề: đối tượng được giải thích đầy đủ

về tác hại và ảnh hưởng của vấn đề tới sức khỏe, từ đó họ quan tâm tìm hiểu cách giải quyết vấn đề của họ

− Họ hiểu rõ các hành vi lành mạnh để giải quyết vấn đề sức khỏe của họ: để thay thế hành vi có hại cho sức khỏe, đối tượng cần hiểu được các hành vi nào có thể thay thế bằng hành vi có lợi cho sức khỏe Cán bộ TT&GDSK phải giới thiệu đầy đủ các hành vi lành mạnh, phù hợp với thực tế để thay thế hành vi cũ có hại Cán bộ y tế hay cán bộ TT&GDSK cần tổ chức làm mẫu hướng dẫn cách thực hiện hành vi mới, tạo điều kiện cho đối tượng được thực hành, để đối tượng có được các kỹ năng cần thiết và tự tin thực hiện hành vi mới

− Hành vi lành mạnh có khả năng thực hiện và được chấp nhận: những hành vi sức khỏe được giới thiệu cho đối tượng phải là những thực hành mà đối tượng

có đủ điều kiện thực hiện được trong khả năng cố gắng của đối tượng, cộng với

sự hỗ trợ từ bên ngoài Những điều kiện cần cân nhắc để đối tượng thực hiện hành vi mới là thời gian, nguồn lực và kỹ năng của đối tượng Hành vi mới không được mâu thuẫn với các chuẩn mực, phong tục tập quán, văn hóa lành mạnh của cộng đồng, không gây xáo trộn lớn ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của cá nhân và cộng đồng, làm cho cộng đồng không chấp nhận

− Đối tượng phải được thử nghiệm hành vi lành mạnh: thử nghiệm để có được các

kỹ năng là điều kiện cần thiết khi thực hành hành vi mới Khi đối tượng thực hành lần đầu tiên cần phải được cán bộ hướng dẫn, làm mẫu và theo dõi các bước thực hành của đối tượng để giúp đỡ đối tượng làm đúng theo yêu cầu

Trang 27

− Đối tượng phải đánh giá được lợi ích, hiệu quả của thực hiện hành vi mới: khi các đối tượng đã từ bỏ các hành vi cũ có hại cho sức khỏe và thực hành hành vi mới, chắc chắn sẽ đưa đến lợi ích và cải thiện tình trạng sức khỏe cả thể chất và tinh thần Cán bộ y tế, cán bộ TT&GDSK cần theo dõi, giúp đỡ để chỉ cho đối tượng thấy được lợi ích và ảnh hưởng tích cực của hành vi mới đến sức khỏe Phải làm cho đối tượng tin tưởng vào kết quả đã đạt được để làm cơ sở vững chắc cho việc duy trì hành vi

− Đối tượng phải chấp nhận duy trì hành vi mới lành mạnh: khi đối tượng đã thực hành hành vi mới và nhận ra các kết quả đạt được, vẫn cần tiếp tục hỗ trợ, động viên, tạo các điều kiện để đối tượng duy trì hành vi Cần tiếp tục củng cố niềm tin của đối tượng vào kết quả tốt hơn sẽ đạt được nếu duy trì hành vi mới, từ đó dẫn đến sự chấp nhận thực hiện hành vi lâu dài

− Hỗ trợ môi trường và đảm bảo nguồn lực cần thiết để đối tượng thay đổi hành vi: là yêu cầu cơ bản trong tất cả các bước của quá trình thay đổi hành vi Khi thực hành hành vi mới, từ bỏ hành vi cũ thì môi trường hỗ trợ như sự ủng hộ của những người xung quanh, sự quan tâm giúp đỡ về tinh thần của các cán bộ y tế,

tổ chức dịch vụ y tế thuận lợi, tạo điều kiện cho đối tượng có thời gian, hướng dẫn kỹ năng bổ sung cho đối tượng thực hành là các điều kiện rất cần thiết cho đối tượng được TT&GDSK [17], [31]

Đảm bảo những yêu cầu cần thiết cho thay đổi hành vi sức khỏe diễn ra, cán bộ TT&GDSK không những cần có nỗ lực cá nhân mà còn phải phối hợp với các cá nhân, gia đình và những tổ chức liên quan để tạo ra các điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ đối tượng thực hành thay đổi hành vi

Trang 28

2.1.3 Vai trò, vị trí của công tác Truyền thông và Giáo dục sức khỏe trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

Trên thế giới, TT&GDSK đã được xem là có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Năm 1978, tại Alma-Ata, thủ đô nước cộng hòa Kazakhstan, Tổ chức Y

tế Thế giới phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu Hội nghị đã đề ra chiến lược “Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000” Và để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược, Hội nghị đã đề ra 8 nội dung Chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó TT&GDSK được xếp ở vị trí số một:

1- Giáo dục sức khỏe

2- Dinh dưỡng hợp lý và vệ sinh thực phẩm

3- Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

4- Bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình

5- Tiêm chủng mở rộng phòng chống 6 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em

6- Phòng và chống các bệnh gây dịch và bệnh xã hội

7- Chữa bệnh tại nhà và xử trí các vết thương thông thường

8- Đảm bảo thuốc thiết yếu [42]

Là thành viên chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đã cam kết thực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma-Ata Năm 1980, Chính phủ chỉ đạo Ngành

Y tế triển khai thực hiện chiến lược Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) ở Việt Nam, chúng ta bổ sung thêm hai nội dung:

9- Quản lý sức khỏe

10- Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở

Vì vậy, Việt Nam có 10 nội dung CSSKBĐ, trong đó TT&GDSK vẫn được xếp

ở vị trí số 1 Ngay sau khi ra đời, Chiến lược này đã được tích cực triển khai trên toàn quốc [34]

Trang 29

Hình 2.4 Mối liên quan TT&GDSK với các nội dung CSSKBĐ ở Việt Nam

Bước sang thế kỷ XXI, Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế vẫn đánh giá cao vai trò của TT&GDSK Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác y

tế, trong đó có công tác Truyền thông Giáo dục sức khỏe [33]

Ngày 19/03/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 35 phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 Để thực hiện mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể, Chiến lược đã đề ra 11 giải pháp chính,

trong đó giải pháp thứ 11 là Xã hội hóa công tác y tế Quyết định nêu rõ: “Tiếp tục

thành lập Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe các tỉnh, thành phố, phát triển mạng lưới truyền thông viên tới xã, sử dụng mọi biện pháp và hình thức

Trang 30

truyền thông phù hợp góp phần nâng cao nhận thức của người dân để họ chủ động

tự chăm lo sức khoẻ của bản thân và tích cực tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ

cho cộng đồng” [24]

Ngày 22/01/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 06 về việc Củng

cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Trong đó nêu rõ: “Phải đẩy mạnh công tác

TT&GDSK, giúp người dân có nhận thức đúng để họ tự thay đổi các hành vi không

có lợi cho sức khỏe bằng các hành vi có lợi cho sức khỏe, tích cực tham gia phong

trào Toàn dân vì sức khỏe” [2]

Để thực hiện Chỉ thị 06 và Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân,

ngày 07/02/2002, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số 370 ban hành Chuẩn quốc

gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010, trong đó có 10 Chuẩn thì Chuẩn 1 là Xã hội hóa chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và công tác truyền thông giáo dục sức khỏe Như vậy Bộ Y tế vẫn xác định TT&GDSK là nội dung số một trong mười nội

dung xây dựng y tế xã đạt chuẩn quốc gia, nhưng trên nền xã hội hóa y tế [9]

Tiếp đó, ngày 6/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 3526/2004/ QĐ-BYT phê duyệt Chương trình hành động TT& GDSK đến năm 2010 Đây là sự kiện quan trọng và là văn bản quy phạm đầu tiên của Bộ Y tế đề ra định hướng phát triển sự nghiệp TT&GDSK cả nước Đó cũng là mốc son trong lịch sử gần 30 năm

ra đời và phát triển của hệ TT&GDSK tại Việt Nam [10], [34]

Ngày 23/02/2005 Nghị quyết số 46 – NQ/TW của Bộ Chính trị đã đưa ra 7 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ, phải nâng cao hiệu quả thông tin-giáo dục-truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; trang bị kiến thức, kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể,

Trang 31

hạn chế lối sống và thói quen có hại đối với sức khỏe, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng [3], [34]

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện, đánh giá vai trò của công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ Năm 2000, các nhà khoa học của Bộ Y tế

và Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) đã triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Bộ: Đánh giá 20 năm thực hiện Chiến lược Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt

Nam Báo cáo kết quả nghiên cứu nêu rõ: Hai mươi năm qua, nước ta đã triển khai

thực hiện đầy đủ và có hiệu quả cả 10 nội dung CSSKBĐ, góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe của nhân dân ta ngang với một số nước trong khu vực và trên thế giới có mức thu nhập cao hơn nước ta nhiều lần Hay nói cách khác, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cao hơn khoảng 10 tuổi so với một số nước có mức thu nhập tương đương nước ta Về nội dung giáo dục sức khỏe, các tác giả đưa ra hai nhận xét quan trọng Một là, TT&GDSK ngày càng đóng vai trò quan trọng trong

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Hai là, TT&GDSK là công việc của cả cộng đồng, trong đó ngành Y tế đóng vai trò nòng cốt và các trung tâm TTGDSK đóng vai trò hạt nhân [34]

Năm 2010, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện Chương trình hành động TTGDSK đến năm 2010 Kết quả báo cáo khẳng định Chương trình hành động TTGDSK đến năm 2010 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng [20]

Trên cơ sở những thành công, bài học kinh nghiệm, Chương trình hành động đến năm 2010 là bản lề quan trọng để nối tiếp công tác TT&GDSK sang một giai đoạn mới với những luận cứ phù hợp xu hướng phát triển xã hội nói chung và nền y

tế nói riêng Việc xây dựng chương trình hành động TT&GDSK trong giai đoạn tiếp theo là một tất yếu nhằm tiếp tục tăng cường và thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác TT&GDSK, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, thực hiện

Trang 32

thành công nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [33]

Ngày 07/06/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 1827/QĐ-BYT phê duyệt chương trình hành động TT&GDSK giai đoạn 2011-2015 Mục tiêu chung của Chương trình hành động TT&GDSK giai đoạn 2011-2015 nhằm giúp người dân được tiếp cận đầy đủ và sử dụng hiệu quả các dịch vụ TT&GDSK để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng [22]

Đầu tư cho TT&GDSK chính là đầu tư có chiều sâu cho công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe, thể hiện quan điểm dự phòng trong chăm sóc sức khỏe, mang lại hiệu quả lâu dài bền vững Hoạt động TT&GDSK không thay thế được các hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác nhưng nó góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác TT&GDSK qua việc cung cấp các kiến thức, hướng dẫn và hỗ trợ thực hành giúp cho mọi người có thể:

− Hiểu biết và xác định vấn đề sức khỏe, nhu cầu cần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của chính họ và của cộng đồng

− Hiểu được những việc mà họ cần phải làm để giải quyết các vấn đề sức khỏe, bệnh tật của họ bằng chính nỗ lực của bản thân và sự hỗ trợ bên ngoài

− Quyết định thực hiện hành động thích hợp nhất để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng, trong đó có việc biết và sử dụng đúng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có sẵn [14], [17], [20]

TT&GDSK là nhiệm vụ trước mắt và cũng là nhiệm vụ lâu dài của ngành Y tế, của mọi cán bộ Y tế công tác tại các tuyến, các cơ sở Y tế Với sự phát triển của y học và y tế, với sự hiểu biết của người dân càng cao, nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật đã, đang và sẽ có thể được khống chế và loại trừ, nhưng có thể xuất hiện những vấn đề sức khỏe, bệnh tật mới, vì thế hoạt động TT&GDSK cần được duy trì và

Trang 33

phát triển, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài trong chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng

2.1.4 Hệ thống tổ chức và trách nhiệm thực hiện Truyền thông và Giáo dục

sức khỏe

Hoạt động TT&GDSK là một bộ phận của hệ thống chăm sóc sức khỏe, của các chương trình y tế, của các cơ sở y tế và mọi cán bộ y tế chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của các cán bộ và tổ chức chuyên trách về TT&GDSK TT&GDSK có thể và cần thực hiện tại tất cả các cơ sở y tế như các bệnh viện, các trung tâm y tế

dự phòng, các trạm y tế cơ sở xã, phường TT&GDSK có thể thực hiện tại những nơi công cộng, các trường học, cơ sở sản xuất, cộng đồng và gia đình Mọi cán bộ y

tế dù công tác tại cơ sở nào, tuyến nào đều có trách nhiệm thực hiện TT&GDSK Mỗi cán bộ y tế cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ TT&GDSK của mình và lồng ghép hoạt động này vào công việc hàng ngày, thực hiện TT&GDSK một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế

Hoạt động TT&GDSK là một trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe phải được

xã hội hóa Các tổ chức chính quyền và các tổ chức đoàn thể xã hội có liên quan cần tham gia vào hoạt động TT&GDSK Hoạt động TT&GDSK cần được lồng ghép với các hoạt động giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế và các hoạt động khác của cộng đồng Trong các hoạt động TT&GDSK cần có sự phối hợp và hợp tác của ngành y tế với các ngành có liên quan như giáo dục, văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình [4], [14]

Trang 34

& KHHGĐ, …trực thuộc Sở Y tế

tỉnh/ TP

Phòng/tổ TTGDSK tại các TT Y tế,

các bệnh viện đa khoa quận/ huyện

Các huyện miền núi có đội YTDP, đội BVSKBMTE & KHHG, đội Y

TT TTGDSK TW, là cơ quan cao

nhất ở tuyến TW chịu trách nhiệm trước Bộ Y tế về chuyên môn, nghiệp vụ TTGDSK trong cả nước

Trang 35

2.1.4.1 Tuyến Trung Ương

Trung tâm TTGDSK Bộ Y tế là cơ quan chuyên môn cao nhất, có trách nhiệm chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ TT&GDSK trong ngành y tế Chức năng, nhiệm vụ chính của trung tâm là:

− Căn cứ định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe và bảo vệ nhân dân, kế hoạch TT&GDSK Bộ y tế, xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện hoạt động TT&GDSK trong phạm vi cả nước

− Chỉ đạo và tổ chức thực hiện đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ TT&GDSK cho cán bộ tất cả các tuyến

− Tổ chức xuất bản, cung cấp các phương tiện, tài liệu TT&GDSK cho các địa phương

− Tiếp nhận, sử dụng và phân phối nguồn ngân sách dành cho TT&GDSK của Nhà nước, các nguồn viện trợ một cách hợp lý và hiệu quả

− Tổ chức công tác nghiên cứu khoa học về TT&GDSK để nâng cao chất lượng các hoạt động TT&GDSK

− Phối hợp, hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài ngành Y tế ở Trung ương, để triển khai thực hiện hoạt động TT&GDSK trong phạm vi cả nước

− Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về TT&GDSK theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và các quy định hiện hành của Nhà nước

− Chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động toàn diện của các Trung tâm TTGDSK của các Sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngoài trung tâm TTGDSK, ở tuyến Trung ương còn có các viện và các bệnh viện Trung ương, có bộ phận chỉ đạo tuyến, chỉ đạo chương trình y tế theo ngành dọc, thực hiện biện pháp dự phòng, điều trị bệnh và giải quyết các vấn đề sức khỏe liên quan đến chuyên ngành Bộ phận chỉ đạo tuyến cũng chỉ đạo các hoạt động

Trang 36

TT&GDSK theo chuyên ngành của mình và thường là chỉ đạo các chiến dịch và cung cấp các phương tiện tài liệu cho thực hiện TT&GDSK về những vấn đề sức khỏe bệnh tật theo chuyên ngành TT&GDSK cũng là một phần quan trọng trong hoạt động của các Chương trình mục tiêu y tế quốc gia và các chương trình dự án chăm sóc sức khỏe cộng đồng [4], [14]

2.1.4.2 Tuyến Tỉnh/Thành phố

Trung tâm TTGDSK trực thuộc các Sở Y tế Tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung ương, là cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo mọi hoạt động TT&GDSK trong phạm vi Tỉnh/Thành phố mình Nhiệm vụ chính của trung tâm là:

− Căn cứ chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, kế hoạch TT&GDSK của Bộ Y tế và của Tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung ương để xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện hoạt động TT&GDSK trên địa bàn và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt

− Xây dựng, quản lý và chỉ đạo các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ TT&GDSK trong phạm vi Tỉnh/Thành phố

− Tổ chức, phối hợp đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ TT&GDSK cho cán bộ chuyên trách, cộng tác viên và các đối tượng làm công tác TT&GDSK trên địa bàn

− Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, sản xuất các tài liệu về TT&GDSK của đơn vị theo đúng quy định của pháp luật

− Tiếp nhận, sử dụng và phân phối nguồn ngân sách dành cho TT&GDSK của Nhà nước và các nguồn viện trợ một cách hợp lý và hiệu quả

− Tổ chức nghiên cứu khoa học về TT&GDSK để nâng cao chất lượng các hoạt động TT&GDSK trên địa bàn

− Thực hiện các hợp tác quốc tế về TT&GDSK theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và các quy định hiện hành của Nhà nước

Trang 37

− Phối hợp, hợp tác với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể khác trong Tỉnh/Thành phố triển khai thực hiện hoạt động TT&GDSK

− Tổ chức việc tuyên truyền giáo dục pháp luật về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và triển khai các công tác tuyên truyền khác trong lĩnh vực y tế khi được Sở Y tế giao cho

Tuyến tỉnh, ngoài trung tâm TTGDSK còn có các đơn vị y tế trực thuộc Sở Y tế như các bệnh viện, Trung tâm Y tế Dự phòng, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, các trung tâm chuyên ngành khác chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu y tế theo ngành dọc, trong đó có hoạt động TT&GDSK [4], [17]

2.1.4.2 Tuyến Huyện/Quận

Các cơ quan y tế trên địa bàn huyện bao gồm Phòng Y tế, Trung tâm Y tế Dự phòng và Bệnh viện huyện cần phối hợp chỉ đạo lồng ghép hoạt động TT&GDSK với các hoạt động, dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác Theo quyết định số 26/2005/QĐ-BYT ngày 09-09-2005 về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Y tế Dự phòng huyện trong đó có Phòng TTGDSK Hầu hết các chương trình, dự án y tế triển khai trên địa bàn đều

có hoạt động TT&GDSK cần được tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt [13], [14]

2.1.4.3 Tuyến y tế xã, phường và thôn bản

™ Trạm Y tế xã

Trạm trưởng Trạm y tế xã/phường chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp mọi hoạt động TT&GDSK trên địa bàn mình Tất cả các cán bộ của Trạm Y tế đều có trách nhiệm thường xuyên thực hiện TT&GDSK lồng ghép tại Trạm Y tế, tại cộng đồng

và gia đình Trạm Y tế xã, phường là tuyến y tế đầu tiên trong hệ thống y tế nhà nước, trực tiếp tiếp xúc, phục vụ sức khoẻ người dân hàng ngày, vì thế các hoạt động TT&GDSK cho dân là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân Các cán bộ Trạm Y tế có vai

Trang 38

trò quan trọng trong thực hiện xã hội hoá công tác y tế nói chung và TT&GDSK nói riêng TT&GDSK ở tuyến xã, phường sẽ không thể đạt kết quả tốt nếu không thu hút được sự tham gia của các cá nhân, các đoàn thể và tổ chức xã hội Nâng cao vai trò chủ động của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề sức khoẻ đòi hỏi cán bộ Trạm Y tế phải đẩy mạnh các hoạt động TT&GDSK Để giải quyết các vấn

đề sức khoẻ hiện nay như lao, phong, HIV/AIDS, … thì TT&GDSK cho cộng đồng vẫn là giải pháp hàng đầu mà người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này là cán bộ y tế

xã, phường Cán bộ y tế xã, phường còn có nhiệm vụ trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động TT&GDSK cho cán bộ y tế thôn bản [4], [14]

™ Y tế thôn bản

Cán bộ y tế thôn bản có nhiệm vụ chủ yếu và trọng tâm là thực hiện các hoạt động TT&GDSK cho nhân dân về vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, phòng chống các bệnh tật, tai nạn, ngộ độc phổ biến thường gặp, phát hiện sớm các bệnh thường gặp, thực hiện sơ cứu ban đầu Để hoàn thành tốt chức năng của mình các cán bộ y tế thôn bản cần được đào tạo các kiến thức và kỹ năng cơ bản về TT&GDSK và lập kế hoạch cho hoạt động TT&GDSK tại cộng đồng [4], [17]

2.1.5 Tình hình giảng dạy môn Truyền thông và Giáo dục sức khỏe tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Y, Dược trong cả nước trong những năm gần đây

Ngày 6/10/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 3526/2004/ QĐ-BYT phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe đến năm 2010

Để thực hiện mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể, Chương trình đã đề ra 5 nhóm giải pháp Trong đó nhóm giải pháp thứ 4 thực hiện mục tiêu 2.4 là nâng cao năng

lực của hệ thống TT&GDSK từ Trung ương đến cơ sở, Quyết định nêu rõ: Bộ Y tế

phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu đưa nội dung cụ thể về Truyền thông Giáo dục sức khỏe vào chương trình đào tạo trong các trường đại học, cao

Trang 39

đẳng và trung học y, dược [10]

Trong báo cáo đánh giá kết quả Chương trình hành động TT&GDSK đến năm

2010, Trung tâm TTGDSK Trung Ương vẫn đề xuất Đưa chương trình truyền thông Giáo dục sức khỏe vào hoạt động trong trường học, đại học, cao đẳng, trung cấp, trung học phổ thông và trung học phổ thông cơ sở [20]

Ngày 07/06/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số 1827/QĐ-BYT phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-

2015 Để thực hiện mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể, Quyết định nêu rõ: Vụ

Khoa học- Đào tạo, Bộ Y tế phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo các trường đại học, cao đẳng và trung học y, dược đưa nội dung cụ thể về truyền thông Giáo dục sức khỏe vào chương trình đào tạo [22]

Rõ ràng vai trò của môn học TT&GDSK càng ngày càng được chú trọng và mang tính thời sự

Thực tế, môn học TT&GDSK đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường đại học, cao đẳng, trung cấp Y, Dược trong cả nước với các tên môn học khác nhau Tại trường Đại học Y tế Công cộng, môn học TT&GDSK được đưa vào giảng dạy ngay từ những ngày đầu thành lập trường, do chuyên ngành Truyền thông Giáo

dục sức khỏe và Dân số học đảm nhiệm Hiện nay, Bộ môn Giáo dục sức

khỏe thuộc Khoa các Khoa học xã hội - Hành vi và Giáo dục sức khỏe, có nhiệm

vụ giảng dạy môn học Nâng cao sức khỏe cho các lớp Cử nhân và Cao học Y tế

công cộng [46]

Tại trường Đại học Y Hà nội : môn học Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe

được giảng dạy tại Bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện đào tạo Y học Dự Phòng và Y

tế Công cộng [45]

Tại trường Đại học Y Thái Bình, môn học Truyền thông Giáo dục sức khoẻ đã

được chính thức đưa vào giảng dạy cho sinh viên từ những năm 1970 Hiện nay

Trang 40

môn TT&GDSK đã được bộ môn Tổ chức và Quản lý y tế giảng dạy cho cả đối tượng đại học và sau đại học [49]

Bảng 2.1 Khung chương trình đào tạo của Trường Đại học Y Thái Bình [49]

Số ĐVHT

Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe Năm 1997, khi bộ môn Y học cộng đồng

được thành lập, Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe đã là một môn học chính trong chương trình đào tạo đại học và sau đại học của bộ môn [31], [50]

Tại khoa Y tế Công cộng, trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có

bộ môn Giáo dục sức khỏe và tâm lý y học [51]

Tại trường đại học Y Dược Cần Thơ, môn học Giáo dục sức khỏe và môn học

Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe do khoa Y tế Công Cộng đảm nhiệm,

giảng dạy cho đối tượng cử nhân y tế công cộng, bác sĩ đa khoa và chủ yếu cho các

Ngày đăng: 10/04/2019, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Quốc Ân (2007), Tài liệu đào tạo thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS (tài liệu cho người quản lý), Dự án phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam - Ngân hàng thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS (tài liệu cho người quản lý)
Tác giả: Chu Quốc Ân
Năm: 2007
16. Bộ Y Tế (2007), Dịch tễ Dược học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ Dược học
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
17. Bộ Y Tế (2007), Giáo dục và nâng cao sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và nâng cao sức khỏe
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
18. Bộ Y tế (2007), Khóa học về các kỹ năng Truyền thông- Giáo dục sức khỏe (Tài liệu dùng cho giảng viên tuyến tỉnh, huyện), Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung Ương, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa học về các kỹ năng Truyền thông- Giáo dục sức khỏe (Tài liệu dùng cho giảng viên tuyến tỉnh, huyện)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
19. Bộ Y tế (2009), Kỹ năng giao tiếp và giáo dục sức khỏe (tài liệu hướng dẫn giáo viên các trường Trung cấp Y tế),Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp và giáo dục sức khỏe (tài liệu hướng dẫn giáo viên các trường Trung cấp Y tế)
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
20. Bộ Y Tế (2010), Báo cáo đánh giá kết quả chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe đến năm 2010, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung Ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả chương trình hành động Truyền thông Giáo dục sức khỏe đến năm 2010
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2010
21. Bộ Y tế (2010), Cẩm nang thực hành tốt nhà thuốc 2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thực hành tốt nhà thuốc 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
22. Bộ Y tế (2011), Phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015, Quyết định số 1827/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
23. Philip Burnard (2001), Các kỹ năng giao tiếp có hiệu quả của cán bộ y tế, Dự án WHO/HRH-001, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỹ năng giao tiếp có hiệu quả của cán bộ y tế
Tác giả: Philip Burnard
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
24. Chính phủ (2001), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010, Quyết định 35/2001/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
25. Nguyễn Hữu Đức (2005), "Vai trò tích cực của Dược sĩ trong chăm sóc bệnh nhân AIDS", Báo Sức khỏe & Đời sống, (762) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò tích cực của Dược sĩ trong chăm sóc bệnh nhân AIDS
Tác giả: Nguyễn Hữu Đức
Năm: 2005
26. Trí Dũng (2012), "Đầu tư cho truyền thông Một vốn, mười bốn lời", Báo Giáo dục sức khỏe (Bản tin của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương),(3), trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư cho truyền thông Một vốn, mười bốn lời
Tác giả: Trí Dũng
Năm: 2012
27. Hội Dược học Hà Nội, Liên chi hội nhà thuốc Hà Nội (2008), Cẩm nang nhà thuốc 2008 - Hướng dẫn hành nghề trong các nhà thuốc thực hành tốt nhà thuốc GPP, Liên chi hội nhà thuốc Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nhà thuốc 2008 - Hướng dẫn hành nghề trong các nhà thuốc thực hành tốt nhà thuốc GPP
Tác giả: Hội Dược học Hà Nội, Liên chi hội nhà thuốc Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
28. Media UBM, MIMS Pharmacy - Cẩm nang nhà thuốc thực hành, Ben Yeo, 3 Lim Tech Kim road, #10-01 Genting Centre Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: MIMS Pharmacy - Cẩm nang nhà thuốc thực hành
29. Nguyễn Văn Nhận (2006), Tâm lý học Y học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang 37 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Y học
Tác giả: Nguyễn Văn Nhận
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
30. Trường Đại học Dược Hà Nội (2010), Kỹ năng giao tiếp và thực hành tốt tại nhà thuốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp và thực hành tốt tại nhà thuốc
Tác giả: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2010
31. Trường đại học Y khoa Thái Nguyên (2007), Giáo dục và nâng cao sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và nâng cao sức khỏe
Tác giả: Trường đại học Y khoa Thái Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
33. Đặng Quốc Việt (2011), "Chương trình hành động Truyền thông bước sang giai đoạn mới", Giáo dục sức khỏe, (153), trang 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động Truyền thông bước sang giai đoạn mới
Tác giả: Đặng Quốc Việt
Năm: 2011
34. Đặng Quốc Việt (2011), "Nâng cao vai trò và hiệu quả của Truyền thông Giáo dục sức khỏe trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân", Giáo dục sức khỏe, (147), trang 7.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao vai trò và hiệu quả của Truyền thông Giáo dục sức khỏe trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Tác giả: Đặng Quốc Việt
Năm: 2011
35. Beardsley Robert S, Kimberlin Carole L, Tindall William N (2008), Communication Skills in Pharmacy Practice (A Practical Guide for Students and Practitioners), Lippincott Williams & Wilkins, 351 West Camden Street Baltimore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communication Skills in Pharmacy Practice (A Practical Guide for Students and Practitioners)
Tác giả: Beardsley Robert S, Kimberlin Carole L, Tindall William N
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w