Giá một số mặt hàng thuốc nhập khẩu trong một số năm gần đây có sự điều chỉnh, trong đó bao gồm cả các thuốc kháng sinh.. Để đánh giá thực trạng nhập khẩu thuốc kháng sinh, cần có những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ PHƯƠNG HOA
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU CÁC THUỐC KHÁNG KHUẨN TRONG
GIAI ĐOẠN 2006-2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ PHƯƠNG HOA
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU CÁC THUỐC KHÁNG KHUẨN TRONG
GIAI ĐOẠN 2006-2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ 607320
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Quốc Cường ThS Chu Quốc Thịnh
HÀ NỘI, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành là kết quả của sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình của: Cục quản lí Dược- Bộ Y tế, Ban giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội,
Bộ môn Tổ chức quản lí & kinh tế dược và Phòng sau đại học
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS Trương Quốc Cường – Cục trưởng Cục quản lí dược- Bộ Y tế, đã gợi ý cho tôi hướng phát triển và hoàn thiện đề tài
ThS Chu Quốc Thịnh – Cục quản lý Dược đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo, gợi ý cho tôi hướng phát triển và hoàn thiện đề tài
PGS TS Nguyễn Thanh Bình đã giúp tôi có phương pháp luận, gợi ý
tôi hướng phát triển và hoàn thiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới những người bạn đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn sâu sắc tới gia đình thân yêu của tôi- nguồn động viên khích lệ lớn nhất mà tôi có được để hoàn thành tốt đề tài
này
Học viên
Lê Thị Phương Hoa
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….1
Chương 1 TỔNG QUAN……… 3
1.1 Thực trạng sản xuất và nhập khẩu thuốc kháng sinh tại Việt Nam………3
1.1.1 Vài nét về thị trường dược phẩm Việt Nam 3
1.1.2 Mô hình bệnh tật và tính kháng thuốc của vi khuẩn tại Việt Nam 11
1.1.2.1 Mô hình bệnh tật 11
1.1.2.2 Tính kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam……… …13
1.1.3 Cơ cấu thuốc kháng sinh sản xuất trong nước……… 13
1.1.4 Cơ cấu thuốc kháng sinh nhập khẩu 18
1.2.Sự biến động giá thuốc kháng sinh một số năm gần đây 20
1.2.1 Sự biến động giá nhóm hàng dược phẩm, y tế 20
1.2.2 Sự biến động về giá của thuốc nhập khẩu một số năm gần đây 22
1.2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành giá thuốc nhập khẩu 22
1.2.2.2 Sự biến động giá thuốc kháng sinh nhập khẩu 24
1.2.3 Chênh lệch giá trúng thầu và giá CIF thuốc kháng sinh tại bệnh viện……… ………25
1.3 Đề tài đã nghiên cứu liên quan……….27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 31
2.1.Đối tượng nghiên cứu ……….……… 31
2.2.Phương pháp nghiên cứu……… ……….32
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu ……….……… 32
2.2.2.Phương pháp thu thập số liệu……….32
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 33
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc kháng sinh giai đoạn 2006-2010 40
3.1.1 Phân tích xu hướng nhập khẩu theo nguồn gốc xuất xứ 40
3.1.2 So sánh xu hướng nhập khẩu thuốc của nhóm quốc gia có nền công nghiệp dược phát triển và nền kinh tế đang phát triển………44
3.1.2.1 Xu hướng nhập khẩu từ các nước có CND phát triển (Anh, Pháp)…44 3.1.2.2.Xu hướng nhập khẩu thuốc kháng sinh từ các QG đang phát triển (Hàn Quốc, Ấn Độ)……….……….51
3.1.3.Phân tích xu hướng nhập khẩu các thuốc bảo hộ độc quyền………….56
3.1.3.1 Phân tích xu hướng NK các thuốc hết hạn bảo hộ độc quyền trong giai đoạn 2000 – 2005……….………56
3.1.3.2 Phân tích xu hướng NK các thuốc hết hạn bảo hộ độc quyền trong giai đoạn 2006 – 2010……… ……… 60
3.1.3.3 Phân tích xu hướng NK các thuốc còn hạn bảo hộ độc quyền….….64 3.1.4 Phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc mang tên gốc và thuốc mang tên thương mại……… ……66
3.2.Phân tích xu hướng biến động giá thuốc nhập khẩu……….…….69
3.2.1.Phân tích xu hướng biến động giá qua các năm…… ……… 69
3.2.2 Phân tích xu hướng biến động giá thuốc mang tên gốc và tên thương mại 71
3.2.3 Phân tích xu hướng biến động giá theo xuất xứ 74
3.3.4 So sánh sự thay đổi giá CIF và giá trúng thầu thuốc…….……….75
Chương 4 BÀN LUẬN……… ……… 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 88
Trang 61.Kết luận………88 2.Kiến nghị……… 89 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATC Anatomical Therapeutic Chemical Classification
CIF (Cost, Insurance, Freight) – Giá giao hàng đến cảng người mua CND Công nghiệp dược
CPI Chỉ số giá hàng tiêu dùng
FOB (Free on board) – Giá giao hàng tại cảng người bán
GARP Chương trình hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị thuốc SX trong nước và nhập khẩu giai đoạn 2001-2010 3
Bảng 1.2 Trị giá các thuốc bảo hộ độc quyền tại Việt Nam 4
Bảng 1.3 Các kháng sinh hết hạn bảo hộ bằng sáng chế giai đoạn 2000-2010 5 Bảng 1.4 Số lượng SĐK một số hoạt chất trong nước được cấp mỗi năm giai đoạn 2006 – 2010 6
Bảng 1.5 Số lượng SĐK một số hoạt chất nước ngoài được cấp mỗi năm giai đoạn 2006 – 2010 8
Bảng 1.6 Giá trị và tỷ trọng nhóm thuốc generic tại Việt Nam 10
Bảng 1.7 Các bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất giai đoạn 2003-2008 12
Bảng 1.8 Cơ cấu dây chuyền sản xuất thuốc KS trong nước đạt GMP 14
Bảng 1.9 Các kháng sinh có SĐK nhiều nhất tại Việt Nam 16
Bảng 1.10 Các hoạt chất có SĐK nhiều nhất từ 2005-2010 17
Bảng 1.11 20 nước có SĐK nhiều nhất vào Việt Nam năm 2010 18
Bảng 1.12 20 hoạt chất nước ngoài đăng kí nhiều nhất giai đoạn 2005-2010 19 Bảng 1.13 Các chỉ số giá qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009 và 2010 20
Bảng 1.14 Tỷ giá bình quân liên ngân hàng qua các năm 2007 – 2010 21
Bảng 1.15 Mức chênh lệch giữa giá trúng thầu và giá CIF của 42 mặt hàng thuốc được khảo sát 25
Bảng 1.16 Các thuốc tại bệnh viện Bạch Mai có mức chênh lệch gia trúng thầu và giá CIF lớn hơn 200% 26
Bảng 1.17 10 hoạt chất có KNNK đứng đầu nhóm kháng khuẩn 29
Bảng 2.18 Danh sách các thuốc khảo sát giá trúng thầu 31
Bảng 2.19 Danh sách các hoạt chất khảo sát biến động giá 36
Bảng 3.20 Tỷ trọng và giá trị KNNK thuốc kháng sinh giai đoạn 2006 -2010 40
Trang 9Bảng 3.21 Bốn nước có KNNK kháng sinh lớn nhất trong giai đoạn 2006
-2010 43
Bảng 3.22 Các mặt hàng của các hoạt chất có KNNK đứng đầu nhóm QG phát triển trong giai đoạn 2006 – 2010 44
Bảng 3.23 5 hoạt chất có KNNK nhiều nhất từ các quốc gia có nền CND phát triển 45
Bảng 3.24 Giá trị và tỷ trọng KNNK của một số hoạt chất có nhiều mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất từ quốc gia có công nghiệp dược phát triển 46
Bảng 3.25 Trị giá KNNK của Amoksiklav từ Slovenia và Pháp 47
Bảng 3.26 Giá CIF và giá trúng thầu của Augmentin và Amoksiklav 48
Bảng 3.27 Tỷ lệ SL hoạt chất và mặt hàng KS nhập khẩu từ QG có CND phát triển so với tổng SL hoạt chất, mặt hàng KSNK 50
Bảng 3.28 10 hoạt chất có KNNK nhiều nhất xuất xứ từ quốc gia đang phát triển 52
Bảng3.29 Tỷ lệ SL hoạt chất và mặt hàng KS nhập khẩu từ QG có nền kinh tế đang phát triển so với tổng SL hoạt chất, mặt hàng KSNK 53
Bảng 3.30 KNNK các hoạt chất được nhập khẩu nhiều nhất từ các QG có CND phát triển có xuất xứ từ Hàn Quốc và Ấn Độ 55
Bảng 3.31 SL thuốc NK và KNNK của amoxicillin và acid clavulanic 56
Bảng 3.32 Giá nhập khẩu và giá trúng thầu của Augmentin và Curam qua từng năm trong giai đoạn 2006 -2010 58
Bảng 3.33 SL thuốc NK và KNNK của imipenem & cilastatin 60
Bảng 3.34 Giá CIF và KNNK của Tienam và một số thuốc generic 61
Bảng 3.35 SL thuốc NK và KNNK của daptomcin 63
Bảng 3.36 Giá trị, tỷ trọng KNNK, giá CIF và giá trúng thầu của Invanz 64
Bảng 3.37 KNNK, giá CIF và giá trúng thầu của Timentin qua từng năm 65
Bảng 3.38 KNNK thuốc mang tên gốc và tên thương mại 2006-2010 67
Trang 10Bảng 3.39 Tỷ trọng KNNK thuốc mang tên gốc và thuốc mang tên thương mại giai đoạn 2006 -2010 67 Bảng 3.40 Số lượng thuốc mang tên gốc của QG đang phát triển và QG có CND phát triển 68 Bảng 3.41 Chỉ số giá nhóm kháng sinh qua 5 năm 2006-2010 70 Bảng 3.42 Sự biến động giá nhập khẩu thuốc mang tên gốc và tên thương mại qua 5 năm 71 Bảng 3.43 Giá nhập khẩu một số thuốc chứa cefuroxime 750mg dạng tiêm giai đoạn 2006 – 2010 73 Bảng 3.44 Sự biến động giá nhập khẩu ở QG đang phát triển và QG có CND phát triển 74 Bảng 3.45 Giá CIF và giá trúng thầu của Lydocef, Cefolatam và Sulperazone 76 Bảng 3.46 Giá CIF, giá trúng thầu và KNNK của Beecetrax và Rocephin 77
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Giá trị thuốc SX trong nước và nhập khẩu giai đoạn 2001-2010 4
Hình 1.2 Cơ cấu dây chuyền sản xuất thuốc trong nước đạt GMP 14
Hình 1.3 Sự biến động chỉ số giá qua các năm giai đoạn 2006 -2010 21
Hình 1.4 Cơ cấu giá thuốc nhập khẩu 22
Hình 1.5 Sự biến động giá một số nhóm thuốc nhập khẩu 24
Hình 2.6 Mô hình Chương trình quản lý nhập khẩu thuốc 33
Hình 2.7 Sơ đồ phân tích và xử lí số liệu 39
Hình 3.8 Tỷ trọng và giá trị KNNK thuốc kháng sinh giai đoạn 2006-2010 40 Hình 3.9 Tỷ trọng KNNK từ bốn quốc gia đứng đầu 41
Hình 3.10 KNNK 7 thuốc đứng đầu xuất xứ từ QG có CND phát triển 49
Hình 3.11 Tỷ trọng KNNK 10 hoạt chất đứng đầu các QG đang phát triển theo năm 51
Hình 3.12 Giá trúng thầu và Giá nhập khẩu của Augmentin và Curam trong giai đoạn 2006 – 2010 57
Hình 3.13 Giá trúng thầu và giá CIF của Tienam, Choongwae prepenem & Teonam 62
Hình 3.14 Giá trúng thầu và giá nhập khẩu của Invanz trong giai đoạn 2007 – 2010 65
Hình 3.15 Giá trúng thầu và giá nhập khẩu của Tienam qua từng năm 66
Hình 3.16 Tỷ trọng KNNK thuốc mang tên gốc và tên thương mại 2006-2010 66
Hình 3.17 Tỷ trọng KNNK thuốc mang tên gốc và tên thương mại giai đoạn 2006 – 2010 68
Hình 3.18 Sự biến động giá CIF thuốc kháng sinh giai đoạn 2006 – 2010 71
Trang 12Hình 3.19 Sự biến động giá nhập khẩu thuốc mang tên gốc và tên thương mại giai đoạn 2006 -2010 72 Hình 3.20 Giá nhập khẩu một số mặt hàng chứa cefuroxim 750mg dạng tiêm giai đoạn 2006 – 2010 72 Hình 3.21 Sự biến động giá nhập khẩu ở các QG có CND phát triển và QG đang phát triển 74
Trang 13Giá một số mặt hàng thuốc nhập khẩu trong một số năm gần đây có sự điều chỉnh, trong đó bao gồm cả các thuốc kháng sinh Giá nhập khẩu (giá CIF) chiếm tỷ lệ 90% trong cơ cấu giá của thuốc nhập khẩu Từ năm 2009, Liên Bộ Y tế hạn chế tối đa việc điều chỉnh tăng giá thuốc nhập khẩu , chỉ trường hợp kinh doanh thua lỗ mới cho điều chỉnh để thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc bình ổn thị trường và kìm chế lạm phát Vậy sự biến động giá CIF ảnh hưởng như thế nào trong sự biến động giá trúng thầu thuốc kháng sinh, liệu có nhiều doanh nghiệp thua lỗ không? Và sự biến động giá nhập khẩu thuốc kháng sinh có phù hợp với sự biến động chung của thị trường hay không?
Để đánh giá thực trạng nhập khẩu thuốc kháng sinh, cần có những nghiên cứu xem xét việc nhập khẩu thuốc có phù hợp với mô hình bệnh tật của Việt Nam và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, sự biến động về giá thuốc kháng sinh có hợp lý hay không để làm cơ sở cho cơ quan quản lý có những giải pháp quản lý phù hợp cũng như định hướng cho doanh
Trang 142
nghiệp điều chỉnh chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp để góp phần thực hiện mục đích nhập khẩu thuốc (nhập bổ sung các mặt hàng thuốc trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu điều trị và thay thế những mặt hàng sản xuất trong nước không có lợi bằng nhập khẩu) đồng thời có định hướng để doanh nghiệp sản xuất trong nước có những điều chỉnh phù hợp thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp dược trong
nước Đề tài “Phân tích thực trạng nhập khẩu các thuốc kháng khuẩn trong giai đoạn 2006 – 2010” được thực hiện với hai mục tiêu sau:
1 Phân tích xu hướng nhập khẩu thuốc kháng sinh giai đoạn
2006-2010 theo một số nhóm phân loại
2 Phân tích sự biến động giá nhập khẩu và giá trúng thầu một số thuốc kháng sinh trong giai đoạn 2006-2010
Trang 153
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Thực trạng sản xuất và nhập khẩu thuốc kháng sinh tại Việt Nam 1.1.1 Vài nét về thị trường dược phẩm Việt Nam
Theo phân loại của UNIDO và của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngành công nghiệp dược Việt Nam được đánh giá ở mức đang phát triển Cho đến nay, Việt Nam đã có nền công nghiệp dược nội địa, sản xuất thuốc generic và đã đáp ứng gần 50% nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân, nhưng vẫn phải nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu làm thuốc [10]
Giá trị thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu đều tăng qua các năm Nhưng trong giai đoạn 2007 – 2010, tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước đang có xu hướng giảm (bảng 1.1 và hình 1.1)
Bảng 1.1 Giá trị thuốc SX trong nước và nhập khẩu giai đoạn 2001-2010
Trang 164
Hình 1.1 Giá trị thuốc SX trong nước và nhập khẩu giai đoạn 2001-2010
Các thuốc nhập khẩu vào nước ta được các nhà nhập khẩu hướng tới là các thuốc điều trị các bệnh không truyền nhiễm như thuốc tác dụng lên hệ thần kinh và thuốc tim mạch Tuy nhiên, các thuốc cơ bản, chiếm tỷ trọng cao tại Việt Nam là các thuốc kháng sinh và thuốc tiêu hóa [30]
Thị trường các thuốc còn hạn bảo hộ tại Việt Nam chiếm tỷ lệ tương đối ổn định so với tổng trị giá tiền thuốc (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Trị giá các thuốc bảo hộ độc quyền tại Việt Nam
2005 2006 2007 2008 2009f 2010f 2011f 2012f Trị giá (triệu
Trang 175
Trong giai đoạn 2000-2010, có nhiều kháng sinh hết hạn bảo hộ bằng sáng chế Đây là cơ hội cho ngành công nghiệp dược thế giới cũng như công nghiệp dược trong nước tiếp cận để sản xuất thuốc generic Danh sách các
kháng sinh này được thể hiện tại bảng 1.3
Bảng 1.3 Các KS hết hạn bảo hộ bằng sáng chế giai đoạn 2000-2010 STT Tên thuốc Nhà sản xuất Năm hết hạn bảo hộ
1 Augmentin Glaxo Smith Kline (GSK) 2002 (Pháp)
Nguồn [37],[38],[39],[40],[41]
Sau khi hết hạn bảo hộ, số lượng SĐK thuốc trong nước và thuốc nước ngoài của các thuốc này liên tục tăng (bảng 1.4 và bảng 1.5) Số lượng SĐK thuốc trong nước của hoạt chất amoxicillin và acid clavulanic tăng từ 30 SĐK năm 2006 lên 85 SĐK năm 2010, của levofloxacin tăng từ 6 SĐK lên 44 SĐK, ngay cả các hoạt chất mới hết hạn trong năm 2009 và 2010; công ty Pymepharco cũng sản xuất được hai thuốc Pythinam (imipenem & cilastatin)
và Pinemem (meropenem) Số lượng SĐK thuốc nước ngoải của các thuốc hết hạn bảo hộ tăng với tốc độ nhanh, số lượng SĐK thuốc nước ngoài của hoạt chất amoxicillin và acid clavulanic từ 42 SĐK lên 183 SĐK; của imipenem & cilastatin tăng từ 7 SĐK (2006) lên 32 SĐK (2010); của meropenem tăng từ 2 SĐK (2006) lên 33 SĐK (2010)
Trang 186
Bảng 1.4 Số lượng SĐK một số hoạt chất trong nước được cấp mỗi năm giai đoạn 2006 – 2010
SL SĐK
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK
Tổng SL còn hiệu lực
SL SĐK
Tổng SL còn hiệu lực
Trang 197
SL SĐK SL còn Tổng
lực
SL SĐK Tổng SL còn hiệu
Ghi chú: SL S ĐK( thể hiện số đăng ký được cấp năm khảo sát)
Trang 208
Bảng 1.5 Số lượng SĐK một số hoạt chất nước ngoài được cấp mỗi năm giai đoạn 2006 – 2010
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
Trang 219
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
SL SĐK được cấp
Tổng
SL còn hiệu lực
Trang 2210
Trái ngược với xu thế tiêu thụ thuốc bảo hộ, giá trị và tỷ trọng của nhóm thuốc generic tăng trong giai đoạn 2005 – 2008 và dự báo sẽ tiếp tục
tăng trong những năm tiếp theo (bảng 1.6)
Bảng 1.6 Giá trị và tỷ trọng nhóm thuốc generic tại Việt Nam
2005 2006 2007 2008 2009f 2010f 2011f 2012f Giá trị (triệu
USD)
394 451 520 675 751 834 961 1127
Tỷ trọng (%) 46,9 47,2 47,5 48,2 48,8 49,4 50,0 50,6
Nguồn [30]
Tỷ trọng các thuốc generic tăng từ 46,9% năm 2005 lên 48,2% năm
2008 Theo dự báo, tỷ trọng các thuốc generic tại thị trường Việt Nam sẽ tăng
từ 48,8% năm 2009 lên 55% năm 2019 với giá trị khoảng 3,09 tỷ USD
Trong giai đoạn 2006 – 2008, tỷ trọng KNNK thuốc thành phẩm nhập khẩu theo tên thương mại gấp từ 12 - 15 lần tỷ trọng KNNK thuốc thành phẩm nhập khẩu theo tên gốc Có thể nói đây dường như là thực trạng chung của các nước có thị trường dược phẩm phụ thuộc vào nhập khẩu Ví dụ, Philippine – một quốc gia có quy mô thị trường dược phẩm tương tự Việt Nam, sự chênh lệch giữa tỷ trọng thuốc biệt dược và thuốc mang tên gốc lên tới 24 lần năm 2006 (tỷ lệ thuốc mang tên gốc chỉ chiếm 4% thị trường dược phẩm) [33] Đối với các nước có nền công nghiệp dược phát triển, tỷ trọng thuốc thành phẩm mang tên gốc rất cao: theo kết quả nghiên cứu Patricia M
Danzon, Michael F Furukawa & cs (2003), tỷ trọng thuốc mang tên gốc năm
1999 của Pháp (28 %), Ý (34%), Nhật Bản (40%), Mỹ (58%), Anh (49%), Canada(59%) và cao nhất là Đức (61%) [35] Cũng theo số liệu thống của IMS Health, cho thấy tỷ trọng thuốc mang tên gốc tại thị trường Mỹ đã tăng lên đến 63,7% (năm 2008) và 72% (năm 2009) tổng giá trị thị trường dược phẩm Mỹ [31], [32]
Trang 23Các bệnh nhiễm khuẩn có tỷ lệ mắc cao nhất trong giai đoạn 2003-2008 bao gồm: các bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm amidan, viêm tiểu phế quản
và viêm phế quản, ỉa chảy-viêm dạ dày-ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, viêm dạ dày-tá tràng, viêm đường hô hấp trên Năm 2003 các bệnh nhiễm khuấn chiếm tỷ lệ 4/10 bệnh mắc cao nhất, năm 2004 tỷ lệ này là 5/10, năm
2005 chiếm tỷ lệ 5/10, năm 2006 chiếm tỷ lệ 4/10, năm 2007 và năm 2008 chiếm tỷ lệ 6/10 Do các bệnh nhiễm khuẩn vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong 10 bệnh mắc cao nhất một số năm gần đây, nên việc sử dụng kháng sinh trong điều trị vẫn là nhu cầu cần thiết
Trang 2412
Bảng 1.7 Các bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất giai đoạn 2003-2008
1 Sỏi tiết niệu Các bệnh viêm phổi Các bệnh viêm
phổi Các bệnh viêm phổi Các bệnh viêm phổi Các bệnh viêm phổi
2 Các bệnh viêm phổi Viêm họng và viêm
Amidan cấp
Viêm họng và viêm Amidan cấp
Viêm họng và viêm Amidan cấp
Viêm họng và viêm Amidan cấp
Viêm họng và viêm Amidan cấp
3 Viêm phế quản và
viêm tiểu phế quản
cấp
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
Viêm phế quản
và viêm tiểu phế quản cấp
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
4 Ỉa chảy, viêm dạ dày,
ruột non có nguồn
gốc nhiễm khuẩn
Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn
Cúm Tăng huyết áp
nguyên phát Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn
5 Cúm Tai nạn giao thong Tai nạn giao thong Tai nạn giao
thong
Tăng huyết áp nguyên phát
Tăng huyết áp nguyên phát
6 Tai nạn giao thong Tăng huyết áp
nguyên phát Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
Viêm dạ dày và
tá tràng sốt virus khác do tiết túc truyền và sốt
virus xuất huyết
sốt virus khác do tiết túc truyền và sốt virus xuất huyết
7 Tăng huyết áp
nguyên phát
Viêm dạ dày và tá tràng
Tăng huyết áp nguyên phát
Cúm Viêm dạ dày và tá
tràng
Viêm dạ dày và tá tràng
8 Bệnh của ruột thừa Cúm Viêm dạ dày và tá
tràng Bệnh ruột thừa Tai nạn giao thong viêm cấp đường hô hấp trên khác
9 Viêm dạ dày và tá
tràng
Lao bộ máy hô hấp Bệnh ruột thừa Thương tổn do
chấn thương trong sọ
viêm cấp đường hô hấp trên khác
Tai nạn giao thông
Trang 2513
1.1.2.2 Tính kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam
Theo báo cáo của chương trình hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh (GARP) tại Việt Nam, nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh ngày càng trở nên kháng thuốc kháng sinh Các kháng sinh thế hệ một của các nhóm kháng sinh nói chung gần như không được lựa chọn trong nhiều trường hợp Các kháng sinh thế hệ mới, đắt tiền thậm chí một số kháng sinh thuộc lựa chọn cuối cùng đang mất dần hiệu lực Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam ở mức
độ cao Có 42% vi khuẩn Gr(-) kháng ceftazidim, 63% kháng gentamicin trong các bệnh viện và cộng đồng Theo một nghiên cứu khác về nhiễm khuẩn trong bệnh viện, tỷ lệ kháng các cephalosporin thế hệ III, IV khá cao, trong đó ceftizoxim có tỷ lệ kháng cao nhất 83,2%; cefoperazone là 76% và thấp nhất
là cefepim 66% Tỷ lệ kháng gentamycin, tobramycin là 70%, Ciprofloxacin, Levofloxacin là 50% Tỷ lệ kháng Vancomycin và Carbapenem thấp hơn
khoảng 15-40% [19]
1.1.3 Cơ cấu thuốc kháng sinh sản xuất trong nước
Với việc hoàn thiện cơ sở cơ sở pháp lý quản lý sản xuất và kinh doanh dược phẩm và triển khai quản lý chất lượng toàn diện với việc triển khai các tiêu chuẩn thực hành tốt (GPs) đã góp một phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp dược trong nước, ngày càng có nhiều nhà máy đạt đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc theo khuyến cáo của WHO (GMP-WHO) Tính đến tháng 6/2011, Việt Nam có 103 nhà máy sản xuất thuốc trong nước đạt GMP, tuy nhiên cơ cấu các các dây truyền khá trùng lắp
Trang 2614
Dây chuyền thuốc viên, bột non-β lactam
Dây chuyền thuốc nư-ớc
Dây chuyền kem mỡ non-β lactam
Dây chuyền nang mềm Dây chuyền thuốc viên Cephalosporin
Dây chuyền nhỏ mắt Dây chuyền thuốc viên Penicillin
Dây chuyền thuốc tiêm n-ước
Dây chuyền tiêm bột Cephalosporin
Dây chuyền dị ch truyền
Dây chuyền tiêm bột Penicillin
Tiêm bột đông khô
Hình 1.2 Cơ cấu dây chuyền sản xuất thuốc trong nước đạt GMP Bảng 1.8 Cơ cấu dây chuyền sản xuất thuốc KS trong nước đạt GMP
1 Dây chuyền thuốc viên, bột non-β lactam 79
8 Dây chuyền thuốc tiêm bột non-β lactam 1
Nguồn [10]
Trang 2715
Các dây chuyền sản xuất thuốc viên, bột non-betalactam nhiều nhất với
79 dây chuyền, đứng sau đó là các số lượng các dây chuyền thuốc nước, kem
mỡ non-betalactam Các dây chuyền sản xuất thuốc tiêm kháng sinh có số lượng khá khiêm tốn (1 dây chuyền thuốc tiêm bột non-betalactam; 4 dây chuyền tiêm bột penicillin và 8 dây chuyền tiêm bột Cephalosporin)
Do công nghiệp hóa dược trong nước chưa phát triển nên phần lớn nguyên liệu làm thuốc phải nhập ngoại Hiện nay, mới có 01 nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh nhóm Penicillin (bán tổng hợp Ampicillin và Amoxicillin từ 6.A.P.A) đã triển khai qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Công suất
200 tấn/năm, Giai đoạn 2: Công suất 400 tấn/năm đáp ứng hàng trăm tấn nguyên liệu kháng sinh cho công nghiệp bào chế thuốc Nhà máy sản xuất kháng sinh nhóm Penicillin về cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu kháng sinh phục
vụ sản xuất thuốc thành phẩm Các nguyên liệu kháng sinh được nhập khẩu với tỷ trọng cao là các kháng sinh nhóm Cephalosporin - chủ yếu là các hoạt chất: Cefuroxim, Cefaclor, Cephalexin, Cephadroxin, Cefixim [10]
Các thuốc kháng sinh được sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ số đăng ký (SĐK) cao nhất trong tổng số SĐK thuốc trong nước (có 869 SĐK, chiếm tỷ
lệ 20.76% tổng số đăng ký thuốc năm 2010) [9] Các kháng sinh có nhiều SĐK là các kháng sinh nhóm betaclatam (Amoxicillin, các Cephalosporin thế
hệ 1 như Cephalexin, Cefadroxil , thế hệ 2 như Cefuroxime và thế hệ 3 như Cefixime), các kháng sinh nhóm macrolid như erythromycin, azithromycin, roxithromycin, và các kháng sinh nhóm quinolon Danh sách các kháng sinh
có nhiều SĐK được thể hiện tại bảng 1.9
Trang 28và ciprofloxacin Danh sách các kháng sinh này được thể hiện tại bảng 1.10 Các kháng sinh Cephalosporin có nhiều SĐK trong nước nhất cũng là các kháng sinh mà các doanh nghiệp dược trong nước vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu
Trang 3018
1.1.4 Cơ cấu thuốc kháng sinh nhập khẩu
Tính đến hết năm 2010, có tổng số 13.253 SĐK thuốc nước ngoài được cấp phép còn hiệu lực tại Việt Nam, trong đó các thuốc kháng sinh chiếm tỷ
lệ khá cao (Năm 2010 có 885 SĐK thuốc kháng sinh được cấp phép chiếm tỷ
lệ 48,18% tổng SĐK thuốc nước ngoài vào Việt Nam) [9]
Các nước có nhiều SĐK thuốc nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện tại bảng 1.11
Bảng 1.11 20 nước có SĐK nhiều nhất vào Việt Nam năm 2010
Nguồn: Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế [9]
Hai nước có số lượng SĐK thuốc nước ngoài nhiều nhất tại Viêt Nam
là Ấn Độ và Hàn Quốc với tỷ lệ SĐK lần lượt là 32,28% và 16,11% Các nước có công nghiệp dược phát triển như Đức, Pháp, Anh chiếm tỷ lệ SĐK thấp hơn
Trang 3119
Trong số 20 hoạt chất nước ngoài có SĐK nhiều nhất vào Việt Nam giai đoạn từ năm 2005 đến 2010 có tới 12 hoạt chất là các kháng sinh, trong đó: có 7 thuốc kháng sinh nhóm cephalosporin (5 hoạt chất cephalosporin thế
hệ 3 là cefixime, ceftazidime, cefpodoxime, ceftriaxone, cefotaxime; 2 hoạt chất cephalosporin thế hệ 1 là cefadoxil, cefaclor), 3 hoạt chất thuộc nhóm quinolone (levofloxacin, ciprofloxacin, ofloxacin) và 2 kháng sinh nhóm
macrolid (azithromycin, clarithromycin) [8]
Bảng 1.12 20 hoạt chất nước ngoài đăng kí nhiều nhất giai đoạn
Nguồn: Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế [10]
Số lượng SĐK một số hoạt chất trong giai đoạn 2006 – 2010 được thể hiện tại bảng 1.5 Trong giai đoạn 2006 – 2010, số lượng SĐK các thuốc kháng sinh nước ngoài cũng tăng dần Các kháng sinh có số lượng lớn SĐK là các kháng sinh nhóm cephalosporin như: cefuroxime, cefixime, cefadroxil… Các kháng sinh mới hết hạn bảo hộ độc quyền cũng có số lượng SĐK tăng dần
Trang 3220
Từ năm 2005 đến nay, tình hình vi phạm chất lượng thuốc nhập khẩu
có xu hướng tăng lên Hai nước Ấn Độ và Hàn Quốc có số lượng thuốc vi phạm chất lượng nhiều nhất (tỷ lệ thuốc vi phạm chất lượng của cả hai nước
Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2007 và năm 2008 lần lượt tương ứng là 73,08% và 90,70% tổng số thuốc nhập khẩu vi phạm chất lượng), trong đó các thuốc kháng sinh có tỷ lệ vi phạm chất lượng nhiều nhất Năm 2008, trong số 20 kháng sinh nhập khẩu vi phạm chất lượng thì 16 kháng sinh là của Ấn Độ, 3 kháng sinh của Hàn Quốc và 1 kháng sinh của Mỹ Các kháng sinh bị phát hiện vi phạm chất lượng là Cefixime, Cefaclor, Rifampicin, Ofloxacin [5],[6],[7],[11] Năm 2010, Ấn Độ và Hàn Quốc vẫn là hai quốc gia có tỷ lệ vi phạm chất lượng thuốc cao nhất Trong số 15 thuốc vi phạm của Ấn Độ có 6 thuốc kháng sinh và có 3 thuốc kháng sinh vi phạm chất lượng trong số 5 thuốc vi phạm của Hàn Quốc [9]
1.2.Sự biến động giá thuốc kháng sinh một số năm gần đây
1.2.1 Sự biến động của nhóm hàng dược phẩm, y tế
Bảng 1.13 Các chỉ số giá qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009 và 2010
Trang 3321
Hình 1.3 Sự biến động chỉ số giá qua các năm giai đoạn 2006 -2010
Chỉ số giá tiêu dung chung của xã hội (CPI) có xu hướng tăng trong giai đoạn 2006 – 2008 , giảm trong năm 2008 – 2009 và tăng trong giai đoạn
2009 -2010 Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao năm 2007, 2008 và năm 2010 vượt hai con số Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế có xu hướng tăng trong giai đoạn 2006 – 2008 và giảm trong giai đoạn 2008 – 2010 Tuy nhiên so với mức độ tăng giá hàng hóa tiêu dùng chung của xã hội, mức độ tăng giá nhóm hàng dược phẩm, y tế thấp hơn nhiều và có xu hướng giảm hơn so với mức tăng CPI (tỷ lệ chỉ số giá dược phẩm, y tế/CPI giảm từ 65,15% năm 2006 xuống còn 35,40% năm 2010)
Theo ngân hàng nhà nước Việt Nam, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng trong giai đoạn 2007-2010 Năm 2007 tỷ giá bình quân liên ngân hàng (USD : VNĐ) là 1 : 16.127; năm 2008 tỷ giá này là 1 : 16.328; năm 2009 là
Trang 3422
Theo một nghiên cứu năm 2004, giá nhập khẩu của thuốc – thông thường là giá CIF chiếm tỷ lệ 90% cấu thành nên giá thuốc [20] Giá CIF thường được tính bằng ngoại tệ (USD) Như vậy, trước bối cảnh nền kinh tế
có nhiều biến động, yếu tố đầu vào phục vụ việc nhập khẩu như tỷ giá ngoại
tệ tăng cao…tạo sức ép tăng giá mặt hàng thuốc nhập khẩu Để đạt được kết quả như vậy là nỗ lực rất lớn của Bộ Y tế phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong việc bình ổn thị trường thuốc chữa bệnh
1.2.2 Sự biến động về giá của thuốc nhập khẩu một số năm gần đây
1.2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành giá thuốc nhập khẩu
Thuốc là một loại hàng hóa được sản xuất, trao đổi & mua bán trên thị trường nên thuốc chịu sự chi phối của các yếu tố trên thị trường như: yếu
tố giá cả, yếu tố cạnh tranh, yếu tố lợi nhuận Tuy nhiên, khác với các loại hàng hóa khác, thuốc ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng & sức khỏe con người đồng thời bệnh nhân không phải là người quyết định sử dụng thuốc; do đó thuốc & giá thuốc có những đặc thù riêng biệt
Hình 1.4 Cơ cấu giá thuốc nhập khẩu
Giá hàng hóa nhập khẩu được tính bắt đầu bằng giá nhập khẩu dựa vào thỏa thuận về điều kiện giao hàng của bên bán và bên mua, giá này thường là giá CIF hoặc giá FOB, cộng thêm các chi phí mà người phân phối phải trả để
Giá nhập khẩu Thuế nhập khẩu Các chi phí khác Lợi nhuận
Trang 3523
đưa hàng về đến công ty nhập khẩu, sau đó cộng với tất cả các chi phí mà người phân phối phải chi trả để có thể phân phối hàng ra thị trường, cộng với một tỉ lệ lợi nhuận của người phân phối [13], [16]
Giá CIF là một trong 5 loại giá nhập khẩu dùng trong ngoại thương Theo điều kiện CIF, người bán phải chịu các phí tổn, cước phí cần thiết và mua bảo hiểm hàng hóa để đưa hàng đến cảng quy định nhưng rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa cũng như mọi như chi phí do những sự cố xảy
ra sau khi giao hàng được chuyển từ người bán sang người mua Người bán hoàn thành nghĩa vụ khi hàng đã qua lan can tàu tại cảng quy định này Tuy nhiên người bán còn phải mua bao hiểm những rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa mà người mua phải chịu trong quá trình vận chuyển hàng bằng đường biển và bảo hiểm mà người bán phải mua chỉ cần ở mức tối thiểu, mức này theo quy định là 10% giá CIF Nếu người mua muốn mua bảo hiểm ở mức cao hơn, thì người mua cần thỏa thuận rõ ràng với người bán hoặc tự mua bảo hiểm bổ sung Ngoài ra, điều kiện CIF đòi hỏi người bán phải thông
quan hàng xuất khẩu [15], [23], [28]
Thông thường giá CIF chiếm 90% sự cấu thành giá nhập khẩu và có ảnh hưởng tới sự hình thành giá nhập khẩu Ngoài ra, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng tới giá thuốc nhập khẩu đó là ảnh hưởng của biến động tỷ giá ngoại tệ, sự tăng giá của nguyên liệu, tình trạng qua nhiều nhà phân phối trung gian của thuốc, hoạt động tiếp thị thuốc và công tác quản lý của nhà nước [20]
Các nhà nhập khẩu phải thanh toán bằng các ngoại tệ khác nhau khi nhập khẩu thuốc do đó mà giá thuốc còn chịu ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ Vài năm gần đây sự biến động của ngoại tệ có diễn biến phức tạp, do đó mà giá CIF của thuốc nhập khẩu cũng có những ảnh hưởng nhất định tới giá thuốc nhập khẩu, [14], [27]
Trang 3624
1.2.2.2 Sự biến động giá thuốc kháng sinh nhập khẩu
Giai đoạn từ 2001-2004, hầu hết các thuốc kháng sinh generic có mức
độ tăng giá trung bình (5-20%), các thuốc tim mạch có mức độ tăng giá cao từ 50-300% so với thời điểm trước khi tăng giá [15], [20],[27]
Trong khoảng thời gian từ 5/2005 đến 3/2007, giá thuốc nhập khẩu tương đối ổn định Tuy nhiên từ tháng 3/2007 giá thuốc nhập khẩu có sự biến động theo chiều hướng gia tăng với biên độ 4% so với thời điểm trước đó & duy trì đến 5/2008, trong đó các thuốc kháng sinh có giá biến động ít nhất so với thuốc tiêu hóa, tim mạch & hô hấp [14],[26]
Hình 1.5 Sự biến động giá một số nhóm thuốc nhập khẩu
Trang 37và các yếu tố khác Theo Tổ chức y tế thế giới, mức chênh lệch giữa giá bán
lẻ và giá CIF không nên vượt quá 35% [35],[36]
Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả thanh tra giá thuốc (từ ngày 25/03 đến 06/04/2003) của Thanh tra Bộ Y tế cho thấy, giá thuốc nhập khẩu tăng lên tới 50% so với giá CIF, một số mặt hàng thuốc còn tăng lên đến 300-400% [1] Kết quả khảo sát 42 mặt hàng thuốc nhập khẩu được tiêu thụ tại các bệnh viện giai đoạn 2006-2007 cho thấy giá trúng thầu tăng lên so với giá CIF từ 1,02% đến 85,21% [1]
Bảng 1.15 Mức chênh lệch giữa giá trúng thầu và giá CIF của 42 mặt
hàng thuốc được khảo sát
Trung bình (%)
Chênh lệch nhỏ nhất (%)
Chênh lệch lớn nhất (%)
Trung bình (%)
Trang 3826
Hiện tại ở nước ta có nhiều văn bản pháp quy quy định quản lý giá thuốc, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về mức chênh lệch cho phép giữa giá thuốc tiêu thụ và giá thuốc nhập khẩu Do đó, việc đặt ra một mức chênh lệch nhất định, phù hợp là một yêu cầu cấp thiết để tránh tình trạng giá thuốc nhập khẩu tăng lên quá cao [29]
Các thuốc trong nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện Bạch Mai có mức chênh lệch dao động từ 2% đến 534%, có 53 trong tổng số 118 mặt hàng thuốc nhập khẩu trong nhóm có mức chênh lệch lớn hơn 35% Các thuốc có mức độ chênh lệch lớn hơn 200% trong nhóm được thể hiện trong bảng 1.16
Bảng 1.16 Các thuốc tại bệnh viện Bạch Mai có mức chênh lệch gia trúng
thầu và giá CIF lớn hơn 200%
lệch (%)
Lydocef 1g Cefoperazon + Sulbactam Cephalosporin III 534
Yucezone 1g Cefoperazone Cephalosporin III 259
Flotaxim 100mg Cefpodoxime Cephalosporin III 203
Nguồn [29]
Như vậy, cần có thêm những nghiên cứu theo dõi mức khác biệt giữa giá trúng thầu và giá CIF tại một số bệnh viện trong một giai đoạn nhất định
Trang 39
27
để cung cấp thêm thông tin cho các nhà quản lý trong quản lý giá thuốc đấu thầu
1.3 Đề tài đã nghiên cứu liên quan
Hai nghiên cứu năm 2005 về sự biến động giá một số loại thuốc nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2004, nhóm tác giả đã chỉ ra được giá thuốc kháng sinh nhập khẩu có xu hướng tăng trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn từ 2001-T3/2004 [26], [27].Trong hai nghiên cứu khác năm 2008 về sự biến động giá thuốc nhập khẩu tại một số nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội, hai nhóm tác giả
đã tiếp tục đưa ra được sự biến động giá một số nhóm thuốc trong giai đoạn
từ 2005 đến 2008 [21], [26] Tuy nhiên cả bốn nghiên cứu trên chưa chỉ rõ ra được sự tăng giá của các thuốc nghiên cứu có phải do tăng giá nhập khẩu thuốc (CIF) hay không và sự tăng giá CIF ảnh hưởng như thế nào tới sự tăng giá các thuốc này
Nghiên cứu năm 2008 về tình hình nhập khẩu thuốc thành phẩm năm
2007 thông qua số liệu nhập khẩu thực tế do Tổng cục Hải quan cung cấp, nhóm tác giả đã phân tích tình hình nhập khẩu thuốc theo doanh nghiệp nhập khẩu, tình hình nhập khẩu thuốc quản lý đặc biệt (thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần& tiền chất), theo mã ATC Tuy nhiên, do hạn chế thời gian, nhóm nghiên cứu chưa khảo sát hết toàn bộ các thuốc thành phẩm nhập khẩu lưu hành trên thị trường năm 2007 và chưa đi sâu vào phân tích tình hình nhập khẩu thuốc kháng sinh Mặt khác, phương pháp xử lý số liệu chủ yếu trên cơ sở phần mềm Mirosoft Excel nên việc việc phân tích, tra cứu số liệu gặp nhiều khó khăn [18]
Năm 2009, nhóm tác giả đã tiếp tục tiến hành hành khảo sát tình hình nhập khẩu năm 2008 thông qua số liệu nhập khẩu thực tế do Tổng cục Hải quan cung cấp Bên cạnh những kết quả thu được như nghiên cứu trên,
Trang 40Năm 2010, nhóm đã tiếp tục tiến hành hành phân tích cơ cấu nhập khẩu thuốc thành phẩm giai đoạn 2006-2008 thông qua số liệu nhập khẩu thực tế
do Tổng cục Hải quan cung cấp Nghiên cứu đã phân tích cơ cấu thuốc nhập khẩu theo doanh nghiệp nhập khẩu, thuốc quản lý đặc biệt (thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần& tiền chất), theo mã ATC, theo hoạt chất, theo thuốc generic và biệt dược, theo danh mục thuốc CBCY theo giai đoạn góp phần đánh giá xu hướng nhập khẩu thuốc và hỗ trợ trong công tác quản
lý nhập khẩu thuốc [24]
Theo nghiên cứu này, từ năm 2006 đến 2008, các thuốc kháng sinh nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất là các kháng sinh thuộc nhóm beta lactam Trong đó 10 hoạt chất đứng đầu về KNNK trong 3 năm là amoxicillin & kali clavulanate, các hoạt chất còn lại chủ yếu là các kháng sinh cephalosporrin thế hệ cao như cefuroxim, ceftriaxone, cefotaxime, cefixime, ceftazidime, cefaclor, cefoperazone, cefadroxil, cefoperazone & sulbactam Tiếp đến là các kháng sinh thuộc nhóm quinolon (ciprofloxacin, levofloxacin) Ngoài ra, còn
có một số kháng sinh nhóm macrolid như clarithromycin, spiramycin [24]