Những luận án tập trung nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động ở góc độ là hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả kinh doanh điển hình như: luận án “Hoàn thiện chỉ tiêu đán
Trang 2HÀ NỘI - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hoàng Thị Ngà
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
4 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 10
6 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 11
7 Bố cục của luận án 17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 18
1.1 Bản chất, vai trò phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 18
1.1.1 Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 18
1.1.2 Vai trò phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 27
1.2 Nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 29
1.2.1 Nội dung phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 29
1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 47
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất 60
Tóm tắt chương 1 62
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 64
2.1 Tổng quan các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 64
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 64
2.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng ảnh hưởng tới phân tích hiệu quả hoạt động 66
2.2 Thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 79
Trang 52.2.2 Thực trạng về nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 84
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 104
2.3 Đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 106
2.3.1 Những kết quả đạt được 106
2.3.2 Những mặt tồn tại và nguyên nhân 108
Tóm tắt chương 2 112
Chương 3 HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.113 3.1 Định hướng, quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 113
3.1.1 Định hướng phát triển của các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 113
3.1.2 Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 117
3.2 Giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 121
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 121
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình và vai trò phân tích hiệu quả hoạt động 125
3.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động 131
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 161
3.3.1 Về phía Nhà nước 161
3.3.2 Về phía các đơn vị chủ quản 163
3.3.3 Về phía các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng 164
Tóm tắt chương 3 164
PHẦN KẾT LUẬN 165 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Phụ lục 02 Bảng mã hóa các câu hỏi khảo sát dùng thang đo Likert A1Phụ lục 03 Danh sách các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng A5Phụ lục 04 Danh sách các DN đóng tàu thuộc phạm vi nghiên cứu trọng tâm của luận án A11Phụ lục 05 Cơ cấu tổ chức của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng
(đại diện) A13
Phụ lục 06 Danh sách cán bộ tham gia phỏng vấn A16Phụ lục 07 Bảng câu hỏi phỏng vấn A17Phụ lục 08 Bảng tổng hợp kết quả trả lời phỏng vấn A20Phụ lục 09 Kiểm định về quy trình và vai trò phân tích hiệu quả hoạt động A25Phụ lục 10 Kiểm định về nội dung phân tích hiệu quả hoạt động A26Phụ lục 11 Kiểm định về chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động A27Phụ lục 12 Kiểm định về phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động A31Phụ lục 13 Báo cáo Kết quả thực hiện công tác tài chính năm 2017 của Công ty
ty TNHH MTV 189 A43Phụ lục 18 Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động đề xuất áp dụng cho các
DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng A46
Trang 7BHXH Bảo hiểm xã hội
DNSX Doanh nghiệp sản xuất
GTGT Giá trị gia tăng
KH&CN Khoa học và công nghệ
NSNN Ngân sách Nhà nước
QTDN Quản trị doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 801 Bảng 1.1 Triển khai thực hiện BSC trong DNSX 44
02 Bảng 1.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX 45
03 Bảng 2.1 Tương quan Pearson giữa quy mô DN và một số đặc điểm khác 71
04 Bảng 2.2 Mức độ quan tâm tới quy trình và vai trò phân tích hiệu quả
06 Bảng 2.4 Mức độ quan tâm tới nội dung phân tích hiệu quả hoạt động 85
07 Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nội dung phân tích hiệu quả hoạt động 86
08 Bảng 2.6 Mức độ quan tâm tới chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động 89
09 Bảng 2.7 Mức độ sử dụng chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động 91
10 Bảng 2.8 Mức độ quan tâm tới phương pháp phân tích hiệu quả hoạt
động
95
11 Bảng 2.9 Mức độ sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động 96
12 Bảng 2.10 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động 99
13 Bảng 3.1 Đề xuất BSC của DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải
Phòng
132
14 Bảng 3.2 Phân tích tổng quan Công ty TNHH MTV 189 năm 2017 140
15 Bảng 3.3 Hiệu quả hoạt động về mặt kinh tế ở phương diện tài chính của
Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn 2013-2017
18 Bảng 3.6 Kết quả tính năng suất tổng hợp Malmquist VRS O 160
Trang 926 Biểu 3.1 Lợi nhuận của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn 2013-2017 144
27 Biểu 3.2 Hiệu suất sử dụng vốn của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn
35 Hình 1.4a Đường PPF trong trường hợp tối đa hóa đầu ra 54
36 Hình 1.4b Đường PPF trong trường hợp tối thiểu hóa đầu vào 54
39 Sơ đồ 1.1 Tổng hợp các cách phân loại hiệu quả hoạt động của DNSX 21
40 Sơ đồ 1.2 Phân loại hiệu quả hoạt động của DNSX sử dụng trong luận án 22
41 Sơ đồ 1.3 Kết hợp nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp sản xuất
57
43 Sơ đồ 2.2a Quy trình đóng tàu khi hợp đồng chưa có hồ sơ thiết kế 75
44 Sơ đồ 2.2b Quy trình đóng tàu khi hợp đồng đã có hồ sơ thiết kế 76
45 Sơ đồ 3.1 Các cấp độ hoàn thiện bộ máy phân tích 121
46 Sơ đồ 3.2 Quy trình phân tích hiệu quả hoạt động 126
47 Sơ đồ 3.3 Phân tích ROE của công ty TNHH MTV 189 theo mô hình
Dupont 3 bước
151
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích hiệu quả hoạt động của DN là cần thiết vì nó cung cấp thông tin chongười sử dụng để ra quyết định nhằm mục tiêu phát triển bền vững Trong thời gianqua, hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu Việt Nam nói chung và trên địa bànthành phố Hải Phòng nói riêng có xu hướng sụt giảm mạnh Điển hình là sự tan rãcủa Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và hàng loạt các doanhnghiệp lớn, nhỏ khác trong ngành rơi vào tình trạng: phá sản, giải thể, ngừng hoạtđộng, hoạt động cầm chừng, sắp xếp lại,… Nguyên nhân cơ bản là do ảnh hưởngcủa suy thoái kinh tế, do khủng hoảng chu kỳ của ngành đóng tàu và biến động vềnhu cầu của ngành vận tải biển, do hệ quả phát triển quá nóng của ngành đóng tàuViệt Nam những năm trước đó
Mặc dù đang trải qua thời kỳ hết sức khó khăn nhưng công nghiệp đóng tàuvẫn được xác định là một ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia biển Việt Nam, làngành công nghiệp then chốt của thành phố cảng Hải Phòng Hiệu quả hoạt độngcủa các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng luôn là mối quan tâm hàngđầu của nhiều đối tượng sử dụng thông tin Song, thực tế cho thấy, phân tích hiệuquả hoạt động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay tồntại nhiều bất cập nên vai trò của công cụ này còn mờ nhạt Hệ thống lý thuyết vềphân tích hiệu quả hoạt động của DNSX cũng đã khá phổ biến, nhưng chưa đượckhảo sát và ứng dụng ở các DN đóng tàu tại địa phương này
Từ tính cấp thiết của đề tài, kết hợp với định hướng của tập thể cán bộ hướng
dẫn, tác giả đã đề xuất và nhận quyết định nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm
đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong thời gian qua, tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả nhậnthấy có nhiều công trình nghiên cứu về phân tích hiệu quả hoạt động của các DN,
song chưa có công trình nghiên cứu nào hoàn toàn trùng lặp với đề tài “Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng” Để làm rõ khoảng trống trong nghiên cứu, tác giả tiến hành đánh giá tổng
quan những nghiên cứu tiêu biểu và có một số nhận xét cơ bản như sau:
Trang 11Những nghiên cứu trước đây (gắn với nền kinh tế kế hoạch tập trung, tiếp đó
là giai đoạn đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường) chủ yếu xem xét đến hiệu quả kinh tế vĩ mô
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, hiệu quả hoạt động được đồng nhất với
việc hoàn thành kế hoạch Theo đó, Chính phủ quyết định hàng hóa và dịch vụ nào
sẽ được sản xuất, số lượng và giá cả mà hàng hóa, dịch vụ sẽ được bán Trong thời
kỳ này, vấn đề hiệu quả hoạt động đã là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu Điển
hình là nghiên cứu của tác giả Ngô Đình Giao trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế trong xí nghiệp công nghiệp” (1984) [18], hay nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Sĩ Thịnh, Lê Sĩ Thiệp, Nguyễn Kế Tuấn trong cuốn “Hiệu quả kinh tế trong xí nghiệp công nghiệp” (1985) [24], Những nghiên cứu này đã
đề cập khá chi tiết về hiệu quả hoạt động (ở góc độ là hiệu quả kinh tế) với tiêu
chuẩn để đánh giá là việc “hoàn thành kế hoạch”, còn vấn đề lợi nhuận và giá trị
kinh tế gia tăng không được đề cập đến; mặt khác, mặc dù đề cập đến hiệu quảtrong các xí nghiệp công nghiệp nhưng các xí nghiệp này đều được chỉ huy tậptrung từ Trung Ương, nên thực chất đó là hiệu quả kinh tế vĩ mô Những sản phẩmkhoa học này hoàn toàn phù hợp với thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, baocấp, nhưng không còn đầy đủ ý nghĩa thực tiễn trong cơ chế thị trường hiện nay
Tiếp đó, trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, các nghiên cứu liên quan thường xem xét về hiệu quả nền kinh tế Trong cuốn “Kinh tế học” (1997), Paul Anthony Samuelson và William D Nordhaus đã nêu rõ “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” [37] Hoặc trong nghiên cứu của A Allan Schmid “Economic Analysis and Efficiency in Public Expenditure” (2004), tác giả đã sử dụng phân tích chi phí – lợi ích (Cost-benefit analysis_CBA) để phân tích kinh tế và hiệu quả chi tiêu công [55]; theo đó, “hiệu quả nghĩa là làm sao để sản xuất được sản phẩm với chất lượng không đổi mà tiết kiệm chi phí”; tuy nhiên, đánh giá này đặt các công cụ phân tích chi phí - lợi ích
trong một khuôn khổ hiến pháp và thể chế, nó không phải là một phân tích tài chính
hay kinh tế độc lập với vấn đề chính trị Trong cuốn “Economic Efficiency in Transition : The Case of Ukraine” (2006) của Anatoliy G Goncharuk [56], tác giả
đã phân tích về hiệu quả kinh tế từ việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền
kinh tế thị trường tại Ukraine; theo đó, “Hiệu quả kinh tế là có được lợi ích tối đa
từ việc sử dụng tối thiểu các yếu tố sản xuất đầu vào”, bao gồm “hiệu quả kỹ thuật”
(phản ánh khả năng tạo ra một sản lượng tối đa từ một tập hợp các yếu tố đầu vào
giới hạn) và “hiệu quả phân bổ” (phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực trong
Trang 12sự kết hợp tối ưu giữa chúng và công nghệ sản xuất được ứng dụng); tuy nhiên,
nghiên cứu của ông cũng chủ yếu đề cập tới hiệu quả kinh tế vĩ mô “hiệu quả kinh
tế được xác định là khi nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội được thỏa mãn đầy đủ với nguồn lực hạn chế nhất định” Nhìn chung, những nghiên cứu này
có giá trị cao đối với quản lý vĩ mô, nhưng ít có giá trị tham khảo đối với từng DN Khi thực hiện những nghiên cứu của mình, các tác giả trước đây thường thiên
về việc sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống, như: phương pháp sosánh, phương pháp chi tiết, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ đối chiếu,phương pháp Dupont, Các phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện(có thể làm thủ công), ; nhưng đó là những phân tích tĩnh nên chất lượng thông tincung cấp bị hạn chế Về nội dung phân tích, các nghiên cứu trước đây tập trung giảiquyết vấn đề hiệu quả kinh tế vĩ mô được đưa ra trong điều kiện nền kinh tế kếhoạch tập trung hoặc nền kinh tế thị trường chưa phát triển toàn diện, kinh tế Nhànước là thành phần kinh tế chủ yếu nên điểm chung về hiệu quả ở các quan điểmtrên là hiệu quả chung của nền kinh tế khi sử dụng các nguồn lực xã hội để đáp ứngnhu cầu của xã hội loài người Hay nói cách khác, quan điểm này chú trọng đếnhiệu quả hoạt động của kinh tế vĩ mô, chưa chú trọng đến hiệu quả hoạt động củakinh tế vi mô, mà cụ thể là hoạt động của các DN, trong khi DN là chủ thể đóng vaitrò quan trọng trong nền kinh tế
Trong cơ chế thị trường, các nghiên cứu mới về hiệu quả hoạt động đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện Sản phẩm của các nghiên cứu này phần lớn được thể hiện dưới dạng giáo trình, tài liệu chuyên khảo, luận án, công trình nghiên cứu khoa học các cấp, bài báo khoa học,
Về giáo trình, phần lớn các nghiên cứu liên quan đến phân tích hiệu quả hoạt
động đều có điểm chung là đề cập đến ba vấn đề cơ bản của phân tích, đó là tổ chứcphân tích, phương pháp phân tích và nội dung phân tích Giữa các tài liệu này, về cơbản giải quyết khá giống nhau các vấn đề về tổ chức phân tích và phương pháp phântích, còn về nội dung phân tích có nhiều điểm riêng Hầu hết các tài liệu này xemxét về hiệu quả hoạt động ở góc độ là hiệu quả kinh tế của DN (hay là hiệu quả kinhdoanh) Do đó, các chỉ tiêu biểu hiện nội dung phân tích cũng chủ yếu là hiệu quảkinh tế, một số chỉ tiêu về hiệu quả xã hội cũng được đề cập đến nhưng khôngchuyên sâu, tất cả các chỉ tiêu hiệu quả được đề cập đến dù là hiệu quả kinh tế hayhiệu quả xã hội đều được xem xét ở góc độ là hiệu quả tài chính Điển hình là các
cuốn: “Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế của DN” (2002) của tác giả Nguyễn Thế Khải [26]; “Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế” (2012) của tác giả Nguyễn
Trang 13Ngọc Quang [21]; “Giáo trình Phân tích hoạt động DN” (2011) của tác giả Nguyễn Tấn Bình [25]; “Giáo trình Phân tích tài chính DN” (2015) của tác giả Ngô Thế Chi
và Nguyễn Trọng Cơ [19]; “Giáo trình Phân tích kinh doanh” (2015) của tác giả
Nguyễn Văn Công [35];
Về tài liệu chuyên khảo, cuốn “Financial statement analysis” (2008) thuộc
chương trình giảng dạy CFA của Viện CFA [57], đã trình bày cụ thể các vấn đềthuộc phân tích tài chính (trong đó có phân tích hiệu quả tài chính), tuy nhiên phântích hiệu quả phi tài chính không thuộc phạm vi nghiên cứu của cuốn sách này
Về luận án, có những luận án tập trung giải quyết một hoặc một số mặt thuộc
phân tích hiệu quả hoạt động, cũng có những luận án giải quyết các mặt thuộc phântích hiệu quả hoạt động nói chung Trong đó, xét về công tác phân tích, có những
luận án tập trung nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích; có những luận án tập trung nghiên cứu về phương pháp phân tích tương ứng với nội dung phân tích; có những luận án nghiên cứu về tổ chức phân tích, nội dung phân tích và phương pháp phân tích Xét về phạm vi hiệu quả hoạt động, có những luận án chỉ chú trọng vào
một hoặc một số mặt hiệu quả hoạt động (chủ yếu là hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quảkinh doanh), cũng có những luận án đề cập đến mọi mặt hiệu quả hoạt động (kể cảhiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội) Xét về tính chất hiệu quả hoạt động, phần lớncác luận án tập trung nghiên cứu về hiệu quả tài chính, bên cạnh đó cũng có nhữngluận án nghiên cứu về hiệu quả phi tài chính bên cạnh hiệu quả tài chính Xét vềkhông gian nghiên cứu, các luận án thường có không gian nghiên cứu là một nhóm
DN có những đặc trưng giống nhau (cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng quy mô, cùngđịa bàn hoạt động, )
Những luận án tập trung nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động ở góc độ là hiệu quả kinh tế (hoặc hiệu quả kinh doanh) điển hình như: luận án “Hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước” (1999) của tác giả Huỳnh Đức Lộng [15]; luận án “ Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam ” (năm 1999) của tác giả Nguyễn Trọng Cơ [33]; luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng của Việt Nam” (2002) của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [20]; luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp thương mại phục vụ quản trị kinh doanh” (2009) của tác giả Nguyễn Văn Hậu [36]; luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích của các công ty tài chính ở Việt Nam” (2011) của tác giả Hồ Thị Thu Hương [14]; luận
án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các Công ty cổ phần
Trang 14niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2012) của tác giả Nguyễn Thị
Quyên [28]; luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải ” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải [32]; Những nghiên cứu này chủ
yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính, còn các chỉ tiêu phi tài chính hầu như chưađược đề cập đến Gần đây, có những nghiên cứu mới về hệ thống chỉ tiêu phân tíchhiệu quả hoạt động của DN không chỉ ở góc độ tài chính, mà còn đưa ra những chỉtiêu phi tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động (cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội) Điển hình là luận án “Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định” (2015)
của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến [23],
Những luận án không chỉ tập trung vào việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phântích, mà còn tập trung giải quyết về phương pháp phân tích, điển hình như: luận án
“Vận dụng phương pháp phân tích hệ thống và mô hình hoá trong phân tích hoạt động kinh tế”(2000) của tác giả Phạm Đình Phùng [38]; luận án “Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng trong cơ chế thị trường” (1995) của tác giả Lê Quang Bính [16]; luận án “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở Việt Nam” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Thanh [29];
Các luận án này, phần nhiều chú trọng đến việc nghiên cứu và đề xuất sử dụng cácphương pháp phân tích truyền thống như phương pháp so sánh, phương pháp chitiết, phương pháp loại trừ, phương pháp Dupont,
Những luận án bao hàm cả tổ chức phân tích, chỉ tiêu phân tích và phương
pháp phân tích, điển hình như: luận án “Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Mai
Hương [27]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các Công ty
cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2012) của tác giả Trần Thị Thu Phong [45]; luận án “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Khu vực Nam Trung bộ” (2013) của tác giả Đỗ
Huyền Trang [13]; Song, các nghiên cứu đó giải quyết vấn đề nghiên cứu để ápdụng phù hợp với những đặc thù khác với phạm vi nghiên cứu của tác giả
Một số luận án, luận văn không cùng lĩnh vực chuyên môn nhưng có những liên quan nhất định tới đề tài luận án tiến sĩ của tác giả, cần được đánh giá Tác giả
chia những tài liệu này thành hai nhóm Một là, những luận án có giá trị tham khảo
Trang 15tốt về phương pháp phân tích, điển hình như: luận án “Phân tích đối thủ cạnh tranh tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” (2011) của tác giả Phạm Quốc
Khánh [39] đã nghiên cứu và đề xuất việc áp dụng phương pháp SWOT để phân
tích đối thủ cạnh tranh; luận án “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận của
mô hình thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược tại các DN Việt Nam” (2013)
của tác giả Trần Quốc Việt [44] đã nghiên cứu và đề xuất việc áp dụng phương
pháp BSC trong quản trị chiến lược tại các DN Việt Nam; luận án “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
(2009) của tác giả Vũ Hùng Phương [49] đã sử dụng phương pháp DEA để ướclượng và phân tích hiệu quả kỹ thuật của ngành giấy Việt Nam; Hai là, các luậnvăn, luận án có giá trị tham khảo cao về sự phát triển và đặc điểm ngành của các
DN đóng tàu, điển hình như: luận văn thạc sỹ “Research on sustainable development strategy of Korean shipping companies” (2010) của tác giả Duck Hee
Won B.S., Seoul National University [59], được trình bày tại viện Công nghệ
Massachusetts; luận án “Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập” (2016) của tác giả Lê Thị Kim Chi [17], Các nghiên cứu là công trình khoa học các cấp cũng đã phần nào giải quyết
vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án của tác giả ở những góc độ nhấtđịnh Chẳng hạn như, đề tài khoa học cấp thành phố “Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNSX tại Hà Nội sau khủng hoảng tài chính” (2014)
của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [22] đã nghiên cứu và đề xuất những giải pháp chủyếu nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNSX tại Hà Nội sau khủng hoảng tài
chính; một số đề tài cấp Học viện: “Phân tích tài chính tại Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam Thực trạng và giải pháp” (2012), “Phân tích tài chính trong các Công ty Tài chính thuộc Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp”
(2013) của tác giả Nguyễn Thị Thanh [30], [31] đã xem xét hiệu quả hoạt động của
tổ chức ở góc độ tài chính một cách khá cụ thể;
Các nghiên cứu là bài báo khoa học thường chú trọng làm rõ việc sử dụng
phương pháp nào để phân tích nội dung gì Nội dung phân tích được đề cập đến kháphong phú, đó có thể là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả của ngành, hiệu quả của
DN được đặt trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện hơn; tuynhiên, đa phần các nghiên cứu này vẫn tập trung vào hiệu quả kinh tế ở phương diệntài chính; bên cạnh đó, những nghiên cứu có đề cập đến hiệu quả xã hội thường chỉtập trung vào các khía cạnh như: hiệu quả môi trường, hiệu quả giải quyết việc làmcho lao động,… Các phương pháp phân tích truyền thống vẫn tiếp tục được sử dụngtrong các nghiên cứu gần đây Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng các phương pháp
Trang 16phân tích hiện đại, như: phương pháp SWOT, phương pháp DEA, phương phápBSC,… có xu hướng gia tăng mạnh mẽ
Trong bài viết “Balanced Scorecard: Myth And Reality” (2005) của GS.TS IM
Pandey, Ấn Độ [61], tác giả giới thiệu về phương pháp BSC và việc ứng dụng nó ởmột số công ty lớn trên thế giới, như: Philips Electronics, Tata Steel BSC khi đượckết nối với KPI1 giúp DN đẩy nhanh tốc độ phát triển bền vững bằng việc quản lý
và đo lường hiệu suất thông qua các chỉ tiêu định lượng, nhằm phản ảnh hiệu quảhoạt động của từng bộ phận, cá nhân trong DN Nghiên cứu này có thể tham khảotrong việc xây dựng, lượng hóa và phân tích các chỉ tiêu với những điều chỉnh phùhợp với ngành đóng tàu vào điều kiện cụ thể của các DN đóng tàu thuộc phạm vinghiên cứu của đề tài
Trong bài viết “Improving flow to achieve lean manufacturing in shipbuilding” (2010) của tác giả Richard Lee Storch & Sanggyu Lim đăng trên tạp chí “Production Planning & Control” [62], nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp
điều tra thực nghiệm để đánh giá hiệu quả môi trường trong công nghiệp đóng tàu.Tuy nhiên, các phương pháp phân tích khác không được đề cập đến, và hiệu quảđược xem xét chỉ riêng ở góc độ là hiệu quả môi trường
Trong bài viết “Selection of construction enterprises management strategy based on the SWOT and multi-criteria analysis” (2011), nhóm tác giả
E.K.Zavadskas, Z.Turskis, J.Tamosaitiene [60] đã sử dụng phương pháp SWOT đểphân tích nhằm xây dựng chiến lược quản lý trong các DN xây dựng, qua đó giúpcho các DN này hoạt động hiệu quả hơn DN xây dựng có những đặc điểm khátương đồng với DN đóng tàu nên nghiên cứu này cũng có giá trị tham khảo tốt, bêncạnh đó các DN đóng tàu còn có nhiều đặc trưng khác cần nghiên cứu bổ sung đểhoàn thiện
Trong bài viết “Analysis of Chinese Shipbuilding Industry: Strategic Lessons for India” (2011), tác giả SN Krishnan [64], đã phân tích công nghiệp đóng tàu
Trung Quốc và đưa ra những bài học chiến lược cho Ấn Độ Nghiên cứu này chủyếu sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu trong ngành côngnghiệp đóng tàu của Ấn Độ và Trung Quốc nhằm phát huy vai trò của Chính phủtrong hỗ trợ và cải cách các chính sách kinh tế Do đó, nghiên cứu này chủ yếu đónggóp về điều kiện thực hiện các giải pháp từ phía Nhà nước; mặt khác, các phươngpháp được sử dụng trong nghiên cứu này có hạn chế nhất định về chất lượng thôngtin cung cấp, vì vậy cần nghiên cứu bổ sung các phương pháp phân tích hiện đại
Trang 17Trong bài viết “Measurement and Evaluation Model of Shipbuilding Production Efficiency” (2017) của nhóm tác giả Shi Guofu, Liu Xiaobing, Xu Yizhuang, Yao Nailong, đăng trên tạp chí “International Journal of Economic Behavior and Organization” [63], nhóm tác giả phát biểu rằng, hiệu quả của nhà
máy đóng tàu bị ảnh hưởng toàn diện bởi việc quản lý, các hoạt động kỹ thuật vàsản phẩm cuối cùng; được đo bằng các chỉ tiêu hiệu quả tương ứng phản ánh mứchiệu quả hoặc năng suất thay đổi trên toàn hệ thống sản xuất Đây là một cách tiếpcận phù hợp để phân tích hiệu quả của hệ thống đóng tàu tổng thành trong việc tìm
ra nguyên nhân bên trong của sự kém hiệu quả và các biện pháp thích hợp để cảithiện Ưu điểm của nghiên cứu này là sử dụng phương pháp DEA, một phươngpháp phân tích động, cho phép dự đoán khá chính xác về hiệu quả hoạt động Tuynhiên, các thuật toán trong phương pháp DEA khá phức tạp để có thể hiểu và vậndụng ở những DN mà điều kiện thực hiện công tác phân tích chưa tốt
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã phát triển mở rộng mô hình
tích hợp nhiều công cụ phân tích khác nhau Chẳng hạn: trong bài viết “Evaluating and Managing Tramp Shipping Lines Performances: A New Methodology Combining Balanced Scorecard and Network DEA” (2014), của nhóm tác giả Ying-
Chen Hsu, Cheng-Chi Chung, Hsuan-Shih Lee, H David Sherman, đăng trênINFOR, Vol 51, No 3, ISSN 0315-5986| EISSN 1916-0615 [66] Bài viết sử dụngkết hợp DEA và BSC áp dụng cho một bộ dữ liệu hoạt động hoàn chỉnh có tiềmnăng hỗ trợ các công ty vận tải cải thiện và nâng cao hiệu suất hoạt động Việc tíchhợp các công cụ phân tích hiện đại làm tăng chất lượng thông tin phân tích, tuynhiên với điều kiện của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện naykhó vận dụng ngay những kết quả nghiên cứu đó
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy: Các nghiên cứu có
liên quan gần với đề tài luận án tiến sĩ của tác giả đã được các nhà khoa học giảiquyết ở nhiều góc độ khác nhau, mang lại những giá trị tham khảo nhất định cho
bản luận án này Những nghiên cứu chỉ tập trung vào chỉ tiêu phân tích hoặc nội dung phân tích hoặc phương pháp phân tích hoặc kết hợp một vài khía cạnh nêu trên thường xem xét hiệu quả hoạt động không chỉ ở phương diện kinh tế, mà cả
phương diện xã hội; không chỉ là hiệu quả tài chính mà cả hiệu quả phi tài chính.Giải quyết vấn đề theo hướng này một mặt làm rõ khía cạnh được đề cập đến, mặtkhác hiệu quả hoạt động được nhìn nhận ở nhiều phương diện nên đảm bảo tínhchỉnh thể hơn trong việc nhìn nhận về hiệu quả hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, dochỉ tập trung vào một hoặc một vài khía cạnh của phân tích hiệu quả hoạt động (như
Trang 18đã nêu trên), nên các khía cạnh khác không được đề cập đến hoặc có đề cập nhưng
không cụ thể, không được giải quyết triệt để Một số nghiên cứu khác tập trung phát hiện và giải quyết hầu hết, thậm chí toàn bộ các khía cạnh của phân tích
nhưng hiệu quả được đề cập tới chủ yếu là hiệu quả kinh doanh, hoặc hiệu quả tàichính Giải quyết vấn đề theo hướng này cho thấy tổng thể về mặt kỹ thuật của phântích hiệu quả kinh doanh, hiệu quả tài chính, nhưng chưa cho thấy hiệu quả hoạtđộng theo các phương diện phi kinh doanh, phi tài chính
Tóm lại, ở góc độ chuyên môn kế toán, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứunào về phân tích hiệu quả hoạt động để ứng dụng trong các DN đóng tàu trên địabàn thành phố Hải Phòng Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được hoàn thiện
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý thuyết về phân tích hiệu quả hoạt động của các DNSX;
- Khảo sát thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trênđịa bàn thành phố Hải Phòng (giai đoạn 2013-2017);
- Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bànthành phố Hải Phòng, giúp cho các DN này phát triển bền vững trong thời gian tới
4 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận án hướng tới việc tập trung nghiên cứu
và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong quá trình nghiên cứu như sau:
* Câu hỏi tổng quát
Các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng nên phân tích hiệu quảhoạt động như thế nào để phát triển bền vững trong thời gian tới?
* Các câu hỏi cụ thể
- Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX là gì? Nó có vai trò nhưthế nào đối với DNSX nhằm mục tiêu phát triển bền vững?
Trang 19- Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phù hợp với nội dung phân tích?
- Thực trạng công tác phân tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trênđịa bàn thành phố Hải Phòng đã và đang diễn ra như thế nào (có những ưu điểm vàhạn chế gì)?
- Định hướng, quan điểm và nguyên tắc nào cho việc đề xuất các giải pháphoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phốHải Phòng?
- Những giải pháp nào thích hợp để hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt độngtại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giúp cho các DN này pháttriển bền vững trong thời gian tới? Để thực hiện các giải pháp đó cần những điềukiện gì?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết được các câu hỏi nghiêncứu đặt ra, luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “Phân tích hiệu quả hoạt động của các
DN đóng tàu”.
* Phạm vi nghiên cứu
- Luận án chú trọng vào “nội dung phân tích hiệu quả hoạt động”, làm rõ vềchỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích phù hợp với chỉ tiêu ở mỗi nội dungphân tích; bộ máy, phương tiện, tài liệu, quy trình phân tích là một số vấn đề cầnxem xét thêm để đảm bảo tính toàn diện của công tác phân tích
- Luận án tập trung tới hiệu quả hoạt động về mặt kinh tế ở phương diện tàichính, đặt trong mối quan hệ chỉnh thể với các phương diện khác như phương diệnkhách hàng, phương diện quy trình nội bộ, phương diện học hỏi và phát triển; đồngthời xem xét hiệu quả hoạt động về mặt xã hội ở phương diện trách nhiệm xã hộicủa DN (cả góc độ tài chính và phi tài chính)
- Luận án thực hiện ở các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đây
là những DNSX có hoạt động “đóng tàu” là ngành nghề kinh doanh chính, trên cơ
sở khảo sát số liệu liên quan ở giai đoạn 2013-2017, hướng tới năm 2020, tầm nhìn
2030 nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của các DN này trong tương lai
Trang 206 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu
Từ mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, tác giả xây dựng khung lý thuyết của đềtài; đồng thời ước lượng không gian nghiên cứu tổng trên cơ sở các nguồn thông tinthực tiễn Thực hiện các bước sàng lọc để thu hẹp không gian nghiên cứu Tiếnhành khảo sát theo các cấp độ không gian nghiên cứu, tập trung vào không giannghiên cứu trọng tâm, tiến hành nghiên cứu trọng tâm và nghiên cứu điển hình để
đưa ra các đánh giá và giải pháp hoàn thiện vấn đề nghiên cứu (Sơ đồ M.1).
Sơ đồ M.1: Thiết kế nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Theo kết quả điều tra sơ bộ từ nhiều kênh thông tin [53], [54],… tính đến hếttháng 12/2017, toàn thành phố Hải Phòng có khoảng trên 80 DN có đăng ký hoạtđộng đóng tàu là ngành nghề chính thuộc diện người nộp thuế đang hoạt động, đây
là không gian nghiên cứu tổng của đề tài (Phụ lục 03) Tuy nhiên, thực tế có nhiều
DN đang tạm ngừng hoạt động, chỉ còn khoảng 60 DN đang hoạt động (trong đókhoảng 27 DN quy mô lớn và vừa, 33 DN quy mô nhỏ), đây là không gian nghiêncứu thực Theo kết quả khảo sát, trong số 43/60 phiếu đạt (71,67%), có 13 DN quy
Không gian nghiên cứu tổng
Không gian nghiên cứu ảo
Loạ
i
Loạ
i Không gian
nghiên cứu hợp lệ
Không gian nghiên cứu hợp lệ
Không gian nghiên cứu không hợp lệ
Không gian nghiên cứu không trọng tâm
Phát triển ở nghiên cứu sau
Phát triển ở nghiên cứu sau
Căn cứ xây dựng Khảo sát
chung
Cơ sở xác định
Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Không gian nghiên cứu thực
Sàng lọc bước 2
Sàng lọc bước 3
Nghiên cứu trọng tâm
Nghiên cứu trọng tâm
Nghiên cứu điển hình
Nghiên cứu điển hình
Hoàn thiện vấn đề nghiên cứu
Hoàn thiện vấn đề nghiên cứu
Không gian nghiên
cứu trọng tâmKhông gian nghiên
cứu trọng tâm
Trang 21mô lớn và 04 DN quy mô vừa đã quan tâm và thực hiện phân tích hiệu quả hoạtđộng (chiếm 62,96% nhóm DN cùng quy mô ở không gian nghiên cứu thực); các
DN còn lại đều chưa quan tâm và thực hiện công tác này; do vậy, để hoàn thiện vấn
đề nghiên cứu, 17 DN (Phụ lục 04) được chọn làm mẫu nghiên cứu trọng tâm của
luận án Đồng thời, từ mẫu nghiên cứu trọng tâm, tác giả chọn Công ty TNHHMTV 189 làm mẫu nghiên cứu điển hình
Công ty TNHH MTV 189 (phiên hiệu quân sự: “Nhà máy Z189”) là một DNquy mô lớn thuộc loại hình DN Quốc phòng an ninh 100% vốn Nhà nước, do BộQuốc phòng quyết định thành lập, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng quản lý trựctiếp Công ty có trụ sở chính tại Khu công nghiệp Đình Vũ, phường Đông Hải 2,quận Hải An, thành phố Hải Phòng Vốn điều lệ của Công ty2 là 1.191,214 tỷ đồng.Ngành nghề kinh doanh chính là “Đóng mới và sửa chữa tàu thủy” và một số ngànhnghề khác3 Tính đại diện của mẫu điển hình trong mẫu trọng tâm thể hiện như sau:
- Theo đặc điểm về quy mô: Nhìn chung các DN quy mô lớn đạt mức độ quantâm và thực hiện phân tích hiệu quả hoạt động cao hơn so với các DN quy mô vừa.Lựa chọn Công ty TNHH MTV 189 (là 1 DN quy mô lớn) để nghiên cứu điển hình
sẽ cho kết quả nghiên cứu rõ nét hơn
- Theo đặc điểm về loại hình DN: Đa số các DN thuộc phạm vi khảo sát củaluận án là công ty TNHH Do vậy, Công ty TNHH MTV 189 có tính đại diện theo
số đông về phương diện này
- Về tính chất sở hữu vốn: Trong số 17 DN được nghiên cứu tập trung, xét vềtính chất sở hữu vốn có 3 loại DN: DN nhà nước, DN có vốn Nhà nước và DN vốn
tư nhân Trong đó, số lượng DN Nhà nước ưu thế hầu như mọi mặt (số lượng DN,vốn, lao động, các điều kiện khác) Công ty TNHH MTV 189 là một DNNN nên cóthể là đại diện
- Về nhiệm vụ chính trị: Trong số 17 DN phần lớn là các DN đóng tàu dân sự,Công ty TNHH MTV 189 là một DN đóng tàu quân đội nhưng hoàn toàn có thể đạidiện tất cả các DN này, vì ngoài nhiệm vụ Quốc phòng an ninh, các DN đóng tàuquân đội có những nhiệm vụ tương tự như đối với các DN đóng tàu dân sự
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài trên cơ sở thiết kế nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp
nhiều phương pháp khác nhau, được mô tả như sau (Sơ đồ M.2):
2 Theo Quyết định số 1012/QĐ-BQP ngày 30/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
3 Sản xuất các cấu kiện kim loại; Kinh doanh vật tư kim khí; Xuất nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị tàu, xuồng các loại; Vận tải đường sông, đường bộ; Kho bãi và lưu giữ hàng hóa trong
Trang 22Sơ đồ M.2: Phương pháp nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Theo sơ đồ M.2, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vậtlịch sử được dùng làm phương pháp luận, chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp hệ.Phương pháp hệ là nhóm phương pháp bao gồm các phương pháp cụ thể, được sửdụng phối hợp để thực hiện quá trình nghiên cứu Trong bản luận án này, tác giả sử
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Duy vật lịch sử
Thu thập dữ liệu
Phương pháp điều tra
Mã hóa
dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Mô tả các biến số
Phân tích
sự khác biệt
Biến định tính (Tỷ lệ) Biến định lượng (Giá trị trung bình, phương
sai, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ
nhất)
Phương pháp luậnPhương pháp hệ
Xử lý và phân tích
dữ liệu
Nhập liệu chỉnhHiệu Phân tích mối liên hệ giữa các biến số
Nghiên cứu tổng quan
Nghiên cứu tổng quan
Nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp phân loại
và hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp toán thống kê
Duy vật biện chứng
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Phương pháp phân tích
và tổng hợp lý thuyết
Trang 23dụng hai phương pháp hệ: (1) phương pháp thu thập dữ liệu; (2) phương pháp xử lý
và phân tích dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Để thu thập dữ liệu thứ cấp, tác giả tiến hành nghiên cứu tài liệu từ nhiềunguồn khác nhau Nguồn dữ liệu thứ cấp được tác giả khai thác là các văn bản phápquy liên quan đến vấn đề nghiên cứu; các công trình nghiên cứu liên quan được lưutrữ ở thư viện quốc gia và thư viện của các cơ sở đào tạo; các thông tin công bố trênwebsite, các tài liệu nội bộ của DN;… Các dữ liệu này ngay từ đầu được sắp xếptheo mục đích sử dụng: dữ liệu nghiên cứu tổng quan, dữ liệu nghiên cứu lý luận,
dữ liệu nghiên cứu thực tiễn
+ Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả sử dụng “phương pháp điều tra” qua haicách thức là điều tra qua phiếu khảo sát và điều tra qua phỏng vấn Theo mục đích
sử dụng, các dữ liệu này dùng để nghiên cứu thực tiễn
Công cụ để thực hiện phương pháp khảo sát là “Phiếu khảo sát DN” (Phụ lục 01) xây dựng trên docs.google.com4 Phiếu khảo sát gồm 85 câu hỏi, được chia làm
3 phần: phần 1 (15 câu) dùng để tập hợp các thông tin chung về DN, phần 2 (59câu) dùng để khảo sát mức độ quan tâm và thực hiện phân tích hiệu quả hoạt độngcủa DN, phần 3 (11 câu) dùng để tập hợp các ý kiến đánh giá khác của DN Tác giả
sử dụng thang đo Likert 5 điểm cho toàn bộ câu hỏi ở phần 2 và một số câu hỏi ởphần 3 của phiếu khảo sát Trong đó, các câu hỏi ở phần 2 được đánh giá trên 2 khíacạnh là “Mức độ quan tâm” và “Mức độ thực hiện”, giá trị điểm số bằng nhau ở mỗinấc thang được hiểu là có sự tương đương giữa 2 khía cạnh này; một số câu hỏi ởphần 3 về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động được đánh giá trên khía cạnh
“mức độ ảnh hưởng” Các điểm (theo thứ tự từ 1 đến 5) thuộc mỗi thang đo lần lượtnhư sau: thang đo “Mức độ quan tâm” gồm “Hầu như không”, “Ít quan tâm”, “Bìnhthường”, “Khá quan tâm”, “Rất quan tâm”; thang đo “Mức độ thực hiện” gồm “Hầunhư không”, “Thấp”, “Trung bình”, “Khá tốt”, “Rất tốt”; thang đo “Mức độ ảnhhưởng” gồm “Không đáng kể”, “Thấp”, “Trung bình”, “Khá cao”, “Rất cao”
Đối tượng khảo sát là cán bộ phân tích kinh tế tại các đơn vị thuộc phạm vikhảo sát; mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả hoạt độngcủa các DN thuộc phạm vi khảo sát đang ở mức độ nào; cách thực hiện: liên hệtrước với người phụ trách trả lời để trao đổi về hình thức chuyển phiếu khảo sát, sau
đó chuyển phiếu khảo sát dưới hình thức phù hợp (gửi link qua email/facebook/zalo
Trang 24hoặc gửi bản in), cuối cùng là nhận kết quả khảo sát theo cách thức phù hợp nhất dohai bên thống nhất.
Bên cạnh đó, tác giả kết hợp phỏng vấn để làm rõ thêm về một số vấn đề liênquan đến đối tượng nghiên cứu Do đó, kết quả khảo sát còn được tổng hợp từ cáccâu trả lời của các đối tượng được phỏng vấn là các nhà quản trị (đại diện cho người
sử dụng thông tin phân tích) và các cán bộ kế toán kiêm phân tích (là người cung
cấp thông tin phân tích) ở một số DN điển hình thuộc phạm vi khảo sát (Phụ lục 06) Phỏng vấn được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn qua
điện thoại; mục tiêu phỏng vấn để thu thập thêm thông tin nhằm làm rõ hơn kết quảnghiên cứu bằng phiếu khảo sát; công cụ để thực hiện phỏng vấn là “Bảng câu hỏi
phỏng vấn” (Phụ lục 07) được chuẩn bị sẵn
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành xử lý và phân tích dữliệu bằng việc sử dụng các phương pháp phù hợp, cụ thể như sau:
Trong nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu lý luận, tác giả sử dụng kết hợp
“Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết” với “Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết” Ở nghiên cứu tổng quan, bằng việc sử dụng các phương pháp
nêu trên, tác giả đánh giá các nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài đã giảiquyết được vấn đề gì, chưa giải quyết được vấn đề gì, từ đó rút ra khoảng trốngnghiên cứu của đề tài Ở nghiên cứu lý luận, với với sử dụng các phương pháp đó,tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, từ đórút ra quan điểm cá nhân để làm rõ hơn lý luận vấn đề nghiên cứu
Trong nghiên cứu thực tiễn, với các dữ liệu thu thập được là các phiếu khảosát, bên cạnh những phiếu được trả lời online, có những phiếu trả lời ở bản in sẵn
Do vậy, để có thể thống kê kết quả một cách tự động, tác giả tiến hành nhập kết quảkhảo sát ở tất cả bản in sẵn vào phần mềm, sau đó dùng lệnh thống kê được tích hợpsẵn trên mẫu phiếu ở phần mềm để đọc kết quả tổng thể
Trong tổng số khoảng 60 DN thuộc không gian nghiên cứu thực được khảosát, có 43 DN trả lời hợp lệ (đạt 71,67%), các DN còn lại hoặc trả lời không hợp lệhoặc không trả lời Trích thống kê kết quả ở phần 1 của phiếu khảo sát tác giả cóđược thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh của 43 DN đó, tỷ lệ phiếu hợp lệđạt 71,67% có thể coi là đủ lớn để suy rộng đặc điểm của mẫu nghiên cứu thành đặcđiểm chung của tổng thể
Trang 25Trong số 43 phiếu hợp lệ (tương ứng với 43 DN), chỉ có 17 phiếu cho thấy DN
có quan tâm và thực hiện phân tích hiệu quả hoạt động; 26 DN còn lại đều chưa
quan tâm và thực hiện công tác này Với mục tiêu nghiên cứu nhằm “Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng”, chỉ những DN đã và đang thực hiện phân tích kinh tế là thuộc không gian
nghiên cứu trọng tâm của luận án
Trên cơ sở thống kê kết quả từ phần 2 và phần 3 của 17 phiếu (tương ứng với
17 DN thuộc không gian nghiên cứu trọng tâm), tác giả thu được những thông tinphản ánh thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các DN này trong giai đoạn2013-2017 Trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập được, tác giả sử dụng các tính năngthích hợp trên Excel và SPSS 20 để xử lý Trong đó, với những câu hỏi có sử dụng
thang đo Likert, tác giả tiến hành mã hóa câu hỏi (Phụ lục 02), nhập liệu kết quả vào phần mềm SPSS, dùng “Phương pháp toán thống kê” được tích hợp trên phần
mềm SPSS để chạy lệnh và đọc kết quả nghiên cứu5 Cụ thể như sau:
Việc mã hóa câu hỏi dựa trên nguyên tắc “đơn giản” và “gợi nhớ” (ví dụ: câuhỏi về mức độ quan tâm liên quan đến quy trình thì đầu mã sẽ là “QT”, liên quanđến vai trò thì đầu mã sẽ là “VT”,…; câu hỏi về mức độ thực hiện thì ký hiệu tương
tự như câu hỏi về mức độ quan tâm nhưng cuối mã có thêm ký tự “T”; câu hỏi vềmức độ ảnh hưởng của các nhân tố thì đầu mã sẽ là “NT”
Để thống kê “Mức độ quan tâm” đối tượng phân tích, tác giả sử dụng lệnh
“Phân tích thống kê mô tả” (Analyze > Descriptive Statistics > Descriptives); đểthống kê “Mức độ thực hiện” đối tượng phân tích, tác giả sử dụng lệnh “Phân tíchbảng tùy chỉnh” (Analyze > Tables > Custom Tables); để so sánh giá trị bình quân
về “Mức độ thực hiện” với “Mức độ quan tâm” của mỗi đối tượng phân tích, tác giả
sử dụng lệnh “Phân tích kiểm định một mẫu T” (Analyze > Compare Means > One
- Sample T Test); để thống kê “Mức độ ảnh hưởng” của các nhân tố tới hiệu quảhoạt động, tác giả cũng sử dụng lệnh “Phân tích thống kê mô tả” (Analyze >Descriptive Statistics > Descriptives) với các nhóm nhân tố này
Trên cơ sở những thông tin đã qua xử lý từ kết quả khảo sát, kết hợp với thông
tin trên “Bảng tổng hợp kết quả trả lời phỏng vấn” (Phụ lục 08), tác giả đánh giá về
thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phốHải Phòng Đồng thời, căn cứ vào các dữ liệu thứ cấp đã thu thập được từ DN được
lựa chọn nghiên cứu điển hình, tác giả sử dụng “Phương pháp phân tích tổng kết
phần nguyên với phần thập phân.
Trang 26kinh nghiệm”, nhằm xem xét thực tế đơn vị điển hình đó đã thực hiện phân tích hiệu
quả hoạt động như thế nào, mức độ đạt được đến đâu, có những ưu và nhược điểm
gì, qua đó làm rõ hơn những kết luận được rút ra từ nghiên cứu trọng tâm
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, các danh mục và phụ lục, nội dung chínhcủa luận án được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX.
Chương 2 Thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động của các DN đóng tàu trên
địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3 Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại các DN đóng tàu trên
địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 27Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Bản chất, vai trò phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất
Để hiểu về bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX, trước tiên cần
làm rõ “bản chất hiệu quả hoạt động của DNSX”.
DNSX là DN thực hiện việc chuyển hóa các yếu tố sản xuất để tạo ra kết quảsản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội Kết quả sản xuất là sản phẩmmới được tạo ra bằng cách kết hợp các yếu tố sản xuất theo cách thức nhất định củacông nghệ sản xuất Nhờ sự tích lũy kinh nghiệm và sáng tạo của con người, côngnghệ sản xuất không ngừng được cải thiện để thực hiện hoạt động sản xuất ngày
càng hiệu quả hơn
DNSX là thực thể hoạt động nhằm mục đích kinh doanh, nên hoạt động chính
là phương thức tồn tại của DNSX Hoạt động của DNSX gồm nhiều loại khác nhau,như: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động phúc lợi, hoạt động sựnghiệp, Trong đó, hoạt động kinh doanh là trọng tâm, các hoạt động khác suy đếncùng đều nhằm hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh để đạt mục đích kinh doanh Vì
thế, khi xét đến hiệu quả từ hoạt động của DNSX mang lại thì khái niệm “hiệu quả” đồng nhất với khái niệm “hiệu quả hoạt động”, trong đó “hiệu quả kinh doanh” là
bộ phận chính yếu, cốt lõi
Về khái niệm hiệu quả, cho đến nay có hai cách tiếp cận chính Một là, tiếp
cận theo cách truyền thống, hiệu quả được hiểu là phần kết quả đạt được sau khi đã loại trừ chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Cách hiểu đó giúp cho việc xác định hiệu quả rất đơn giản, nhưng có sự đồng nhất giữa “hiệu quả” với “kết quả” Trong từ điển Tiếng Việt [52] cũng đã giải nghĩa “hiệu quả là kết quả thực của việc làm mang lại” Theo tác giả, cách hiểu này là đúng nếu có sự đồng nhất về thời
gian, quy mô và điều kiện kinh doanh Nhưng, trên thực tế thì bộ ba đồng nhất ấyhiếm khi xảy ra, nên cách tiếp cận truyền thống ít có giá trị thực tiễn Hai là, tiếp
cận theo cách hiện đại, hiệu quả là sự so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra và các chi phí đã phát sinh trong quá trình hoạt động Tương quan so sánh có thể là
quan hệ tỷ lệ hoặc hiệu số giữa kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Ưuđiểm của quan điểm này so với các quan điểm trước đó là đã đề cập đến bản chất
của hiệu quả chính là trình độ sử dụng chi phí Với cách tiếp cận này, người ta hoàn
toàn có thể đánh giá được hoạt động là có hiệu quả hay không, dù có sự đồng nhất
Trang 28hay không đồng nhất về thời gian, quy mô và điều kiện kinh doanh Do đó, kháiniệm về hiệu quả theo cách hiểu hiện đại có phạm vi áp dụng rộng hơn và có tínhthực tiễn cao hơn
Trên cơ sở những phân tích, đánh giá nêu trên, tác giả luận án có quan điểm về
hiệu quả hoạt động của DNSX như sau: “Hiệu quả hoạt động của DNSX là một phạm trù kinh tế - xã hội, biểu thị trình độ khai thác, sử dụng các nguồn lực trong quá trình hoạt động của DNSX nhằm thu được lợi ích lớn nhất với mức tiêu hao nguồn lực thấp nhất”
Theo khái niệm này, “nguồn lực’ được hiểu là tất cả những gì mà DNSX có
thể huy động để phục vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình hoạt độngcủa nó Đó có thể là nguồn lực nội tại của DNSX hoặc được DNSX huy động từ bênngoài, có thể là nguồn lực phát huy giá trị trong hiện tại hoặc tương lai, trong ngắnhạn hoặc dài hạn, có thể là nguồn lực kinh tế hoặc nguồn lực xã hội, có thể là nguồnlực tài chính hoặc phi tài chính, có thể là nguồn lực riêng của DNSX hoặc chia sẻ
chung trong xã hội Và theo đó, “lợi ích” thu được từ việc tiêu hao các nguồn lực đó
cũng có thể là lợi ích trực tiếp hoặc lợi ích gián tiếp, lợi ích thuộc về nội bộ DNSXhoặc lợi ích đối với các đối tượng khác, có thể là lợi ích hiện tại hoặc lợi ích tươnglai, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, có thể là lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội,
có thể là lợi ích tài chính hoặc lợi ích phi tài chính,
Để hiểu rõ hơn về bản chất hiệu quả hoạt động của DNSX, cần tìm hiểu cácdạng biểu hiện khác nhau của phạm trù này [13], [56],
- Theo phương diện là hiệu quả sử dụng nguồn lực, hiệu quả hoạt động của DNSX được chia thành hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật
phản ánh trình độ, khả năng chuyên môn và tay nghề liên quan đến phương diện vậtchất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại baonhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng kết hợp các yếu tố đầuvào một cách hợp lý để tối thiểu hóa chi phí với một lượng đầu ra nhất định nhằmđạt được lợi nhuận tối đa
- Theo phạm vi đánh giá, hiệu quả hoạt động của DNSX được chia thành hiệu quả hoạt động từng bộ phận và hiệu quả hoạt động chung Hiệu quả hoạt động từng
bộ phận được hiểu là hiệu quả hoạt động riêng của mỗi bộ phận cụ thể trong DN;hiệu quả hoạt động chung được hiểu là hiệu quả hoạt động tổng thể của DN, trên cơ
sở có sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận để cùng thực hiện mục tiêu chung
Trang 29- Theo mục tiêu của chủ thể, hiệu quả hoạt động của DNSX được phân thành hiệu quả hoạt động về mặt kinh tế và hiệu quả hoạt động về mặt xã hội Về mặt
kinh tế, đó là hiệu quả mà bản thân DNSX với tư cách là chủ thể hoạt động thu
được khi sử dụng nguồn lực đầu vào để thực hiện các mục tiêu kinh doanh (gọi tắt
là hiệu quả kinh tế) Về mặt xã hội, đó là hiệu quả mà hoạt động của DNSX mang
lại cho xã hội như: tăng thu cho NSNN, giải quyết việc làm cho người lao động,
đảm bảo an toàn lao động và môi trường sinh thái, (gọi tắt là hiệu quả xã hội),
Trên thực tế, hai mặt hiệu quả này không phải luôn đồng thuận
- Căn cứ vào thời gian phát huy hiệu quả, hiệu quả hoạt động của DNSX được chia thành hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài Mục tiêu của DNSX suy đến
cùng (lâu dài) là tối đa hóa lợi nhuận, nhưng nếu xét tính hiệu quả trước mắt (hiệntại) thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại mà DNSX đang theo đuổi như nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của DN, mở rộngthị trường, Như vậy, các chỉ tiêu hiệu quả trước mắt có thể là trái với các chỉ tiêuhiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài
- Theo phạm vi tính toán, hiệu quả hoạt động của DNSX bao gồm: hiệu quả cá biệt và hiệu quả nền kinh tế Hiệu quả cá biệt là hiệu quả mà bản thân DNSX thu
được từ hoạt động của mình, hiệu quả nền kinh tế là hiệu quả thu được xét trênphạm vi toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả cá biệt và hiệu quả nền kinh tế có quan hệ tácđộng qua lại lẫn nhau Hiệu quả nền kinh tế chỉ có thể đạt được khi có hiệu quả cábiệt; khi đã đạt được hiệu quả nền kinh tế thì Nhà nước sẽ có những thay đổi trongchính sách nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNSX hoạt động nhờ đónâng cao hiệu quả hoạt động của mình
- Theo tính chất tác động, hiệu quả hoạt động của DNSX gồm có: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả có được từ chính tác
động của chủ thể đến kết quả hoạt động khi thực hiện các mục tiêu chủ thể đề ra.Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả có được do một đối tượng nào đó tác động làm thayđổi kết quả hoạt động của chủ thể
- Theo phương thức xác định, hiệu quả hoạt động của DNSX được phân thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính
bằng hiệu số giữa kết quả đầu ra so với nguồn lực (chi phí) đầu vào Hiệu quả tươngđối là hiệu quả được đo bằng tỷ số giữa kết quả đầu ra so với nguồn lực (chi phí)đầu vào hoặc ngược lại Hiệu quả hoạt động của DNSX phụ thuộc rất lớn vào tínhchất ngành, nghề kinh doanh, điều kiện kinh doanh, quy mô kinh doanh,… Hiệuquả tuyệt đối chỉ có ý nghĩa khi so sánh cùng lĩnh vực hoạt động, cùng quy mô và
Trang 30điều kiện kinh doanh nên chủ yếu nó mang tính lý thuyết, trên thực tế thường sửdụng hiệu quả tương đối.
- Theo khả năng lượng hóa, hiệu quả hoạt động của DNSX bao gồm hiệu quả định lượng và hiệu quả định tính Hiệu quả định lượng là hiệu quả có thể lượng hóa
(tức là có thể đo lường bằng con số cụ thể) Hiệu quả định tính là hiệu quả khôngthể lượng hóa (tức là không thể đo lường bằng con số cụ thể mà chỉ có thể ướclượng thông qua cảm nhận)
- Theo khả năng tiền tệ hóa, hiệu quả hoạt động của DNSX bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính Hiệu quả tài chính là hiệu quả có thể lượng hóa
bằng thước đo tiền tệ Hiệu quả phi tài chính là hiệu quả không thể lượng hóa bằngthước đo tiền tệ (bao gồm: hiệu quả định lượng phi tiền tệ và hiệu quả định tính).Tổng hợp các cách phân loại nêu trên được mô tả tại sơ đồ 1.1:
Sơ đồ 1.1 : Tổng hợp các cách phân loại hiệu quả hoạt động của DNSX
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Hiệu quả tài chính Hiệu quả phi tài chính
Hiệu quả trực tiếp Hiệu quả gián tiếp
Hiệu quả
cá biệt Hiệu quả nền kinh tế
Hiệu quả trước mắt Hiệu quả lâu dài
Hiệu quả kinh tế Hiệu quả
xã hội
Hiệu quả
bộ phận Hiệu quả chung
Hiệu quả
kỹ thuật Hiệu quả phân bổ
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
Trang 31Trong khuôn khổ luận án, để nghiên cứu có trọng tâm, trọng điểm, tác giả chủyếu lựa chọn tiêu thức phân loại hiệu quả hoạt động của DNSX căn cứ vào mục tiêucủa chủ thể kết hợp với khả năng tiền tệ hóa , khả năng lượng hóa và phương thức
xác định (Sơ đồ 1.2) Trong đó, luận án chú trọng vào nội dung hiệu quả hoạt động
về mặt kinh tế ở phương diện tài chính; bên cạnh đó kết hợp xem xét các phương diện hiệu quả phi tài chính về mặt kinh tế như: khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển; đồng thời xem xét hiệu quả hoạt động về mặt xã hội qua phương diện trách nhiệm xã hội của DN (gồm các khía cạnh tài chính và phi tài chính).
Sơ đồ 1.2 : Phân loại hiệu quả hoạt động của DNSX sử dụng trong luận án
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Vấn đề thứ hai cần làm rõ trước khi bàn đến bản chất phân tích hiệu quả hoạt
động của DNSX, chính là trả lời cho câu hỏi “phân tích là gì”.
Phân tích là sự phân chia (thật sự hay bằng tưởng tượng) một đối tượng nhận
thức ra thành các yếu tố [52], qua đó xem xét sự biến động của các yếu tố này dướitác động của những nguyên nhân gây nên sự thay đổi của đối tượng nhận thức Đối tượng của nhận thức rất đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, thuộc khuôn khổđối tượng nghiên cứu của luận án chỉ bao hàm các đối tượng nhận thức phản ánh về
hiệu quả hoạt động của DNSX Để phân tích, các đối tượng nhận thức này cần được
biểu hiện qua các chỉ tiêu phân tích Đó là sự xác định về nội dung và phạm vi củađối tượng phân tích
Hiệu quả hoạt động là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một tổ chức hoạtđộng nào Đó là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh, quyết địnhtới khả năng sống còn của mỗi đơn vị Với vị trí là công cụ của nhận thức, làm cơ
sở cho những quyết định và hành động đúng đắn, phân tích hiệu quả hoạt động của
DN từ lâu đã được các nhà khoa học kinh tế, các nhà quản lý kinh tế, các nhàQTDN, các đối tượng quan tâm khác tập trung nghiên cứu và ứng dụng nhằm mụctiêu phát triển bền vững
tế Hiệu quả xã hội
Hiệu quả tài chính
Hiệu quả phi tài chính
Hiệu quả định lượng
Hiệu quả định tính
Hiệu quả tương đối Hiệu quả tuyệt đối
Trang 32Như vậy, bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX là một phần quan
trọng trong phân tích hoạt động của DNSX Đối tượng phân tích hiệu quả hoạt độngcủa DNSX bao gồm “hiệu quả kinh tế” và “hiệu quả xã hội” Về phía DN, hiệu quảhoạt động đo lường trình độ sử dụng nguồn lực của DN, do đó nó có ảnh hưởng trựctiếp đến sự tồn tại và phát triển của DNSX DN hoạt động có hiệu quả không nhữnggiúp cho DN đảm bảo quá trình tái sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm sảnxuất…, mà còn nâng cao sức cạnh tranh của DNSX trên thương trường Đối với xãhội, hiệu quả hoạt động của DNSX có tác động đến nhiều mặt hoạt động của xã hội
Có thể thấy, với vai trò là một tế bào của xã hội, tham gia đóng góp vào sự tồn tại
và phát triển của xã hội thì những nỗ lực của DNSX nhằm gia tăng hiệu quả kinh tếcũng sẽ góp phần gia tăng sức mạnh của nền kinh tế quốc dân, như: tăng tổng sảnphẩm quốc dân, tăng nguồn thu cho ngân sách, tăng lực lượng lao động được sửdụng, cải thiện đời sống nhân dân,… Tuy nhiên, hai mặt hiệu quả này không phảilúc nào cũng thống nhất, có trường hợp chúng mâu thuẫn nhau Phân tích hiệu quảhoạt động của DNSX cần tìm ra giải pháp để kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tếvới hiệu quả xã hội sao cho hiệu quả kinh tế tăng sẽ kéo theo hiệu quả xã hội tănghoặc ít nhất là không suy giảm
Bản chất phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX được thể hiện rõ hơn quacác phương diện sau:
Về mặt kỹ thuật, phân tích hiệu quả hoạt động cần xuất phát từ mục tiêu phân
tích để xác định nội dung phân tích Ở mỗi nội dung đó, cần xây dựng chỉ tiêu phântích cụ thể và lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp để đánh giá chỉ tiêu Tuynhiên, phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX không chỉ dừng lại ở việc đánh giácác chỉ tiêu mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đó.Nhân tố ảnh hưởng là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, quá trình vàmỗi biến động của nó tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các chỉ tiêu phân tích Khiphân tích, xác định các chỉ tiêu phân tích dưới sự tác động của các nhân tố ảnhhưởng mới chỉ là quá trình “định tính”, cần phải lượng hoá các chỉ tiêu và nhân tố ở
những trị số xác định với độ biến động nhất định (nếu có thể) Sự biến động của các
nhân tố ảnh hưởng có thể do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhautác động tới, các nguyên nhân này có thể tác động đồng thời hoặc chỉ là riêng lẻ,theo chiều hướng thuận hoặc nghịch Trên cơ sở xác định đúng và đủ các nguyênnhân liên quan, nhà phân tích mới có cơ sở đề xuất những giải pháp hữu hiệu để cải
Trang 33thiện tình hình Điều này cho thấy mối quan hệ giữa đối tượng và phương phápphân tích hiệu quả hoạt động của DNSX.
Về mặt tổ chức, phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX có thể được thực
hiện bởi chính DN đó (phân tích nội bộ) hoặc thuê ngoài (phân tích độc lập) Luận
án chỉ đề cập tới trường hợp phân tích nội bộ Theo đó, công tác phân tích hiệu quảhoạt động được thực hiện bởi các cán bộ/bộ phận bên trong DNSX Việc tổ chứcphân tích nội bộ ở mỗi đơn vị phụ thuộc vào quy mô, địa bàn hoạt động, đặc điểmhoạt động, cơ cấu tổ chức, nhận thức và năng lực của nhà quản lý, năng lực củangười đảm nhiệm công việc phân tích,… Các điều kiện này có sự khác nhau giữacác đơn vị nên không có mô hình tổ chức cụ thể áp dụng chung cho mọi đơn vị.Thông thường, phân tích nội bộ có thể được thực hiện bởi một bộ phận chức năngriêng biệt chuyên làm công tác phân tích, hoặc do các cán bộ chức năng khác như
kế toán, thống kê, kinh doanh,… kiêm nhiệm, hoặc có thể kết hợp theo hướng:những phần hành quan trọng được thực hiện bởi cán bộ phân tích chuyên nghiệp,còn những phần hành ít quan trọng hơn được thực hiện bởi các cán bộ kiêm nhiệm
Về quy trình thực hiện, phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX cần được
thực hiện theo một quy trình khoa học, hợp lý, có thể bao gồm các khâu sau:
- Lập kế hoạch phân tích: Đây là giai đoạn đầu tiên, là một khâu quan trọng,
ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích hiệu quả hoạtđộng Lập kế hoạch phân tích bao gồm: Xác định mục tiêu, đối tượng và phạm viphân tích; Xác định thời gian thực hiện nhiệm vụ phân tích; Xác định nội dung phântích, chỉ tiêu và phương pháp phân tích; Lựa chọn tài liệu, thông tin cần thu thập;Lựa chọn nhân sự và phương tiện phân tích
- Sưu tầm và xử lý tài liệu: để đánh giá đúng đắn và đầy đủ về hiệu quả hoạt
động của DNSX, các nhà phân tích cần dựa vào các tài liệu đáng tin cậy có thể giúpđánh giá toàn diện kết hợp với cụ thể ở các khía cạnh trọng yếu, tránh sự đánh giáphiếm diện, chủ quan, cung cấp thông tin kém chất lượng tới chủ thể quản lý Chính
vì vậy, cần kết hợp hài hòa giữa phân tích khái quát với phân tích cụ thể nhằm đánhgiá đầy đủ, khách quan, trung thực, có hệ thống về hiệu quả hoạt động của DNSX.Tài liệu chủ yếu phục vụ công tác phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX gồm:
+ Hệ thống báo cáo kế toán: Báo cáo kế toán được sử dụng như nguồn dữ liệu
quan trọng nhất khi phân tích Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính chất tài
Trang 34chính của DNSX Báo cáo kế toán bao gồm báo cáo tài chính và báo cáo kế toánquản trị Báo cáo tài chính gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bản thuyết minh báo cáo tài chính; báo cáo
kế toán quản trị cung cấp các thông tin chi tiết, cụ thể phục vụ cho QTDN Đó lànhững báo cáo về tình hình tăng giảm tài sản cố định, tăng giảm hàng tồn kho, vềcác khoản đầu tư, về các khoản công nợ, về các khoản thu, chi; về cơ chế định giácác yếu tố đầu vào, đầu ra; dự toán và tình hình thực hiện dự toán tiền;… Bên cạnh
đó, cần kết hợp sử dụng các tài liệu khác để phân tích đầy đủ hơn về Phân tích cácchỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính chất tài chính, cũng như phân tích về Phân tích cácchỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính chất phi tài chính của DNSX và hiệu quả xã hội màhoạt động của DNSX mang lại
+ Các tài liệu kế hoạch: Trong phân tích hiệu quả hoạt động, các tài liệu kế
hoạch giúp cho nhà phân tích có cơ sở so sánh để đánh giá hiệu quả thực hiện mụctiêu, nhiệm vụ đã đặt ra; đồng thời, kế hoạch còn là cơ sở để định vị mức độ chệchhướng hay sự phát sinh của các yếu tố bất thường để các nhà quản lý ra quyết địnhkịp thời
+ Các tài liệu khác: Các thông tin khác của bản thân DN; Các thông tin theo
ngành kinh tế; Các thông tin chung liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơhội về kỹ thuật công nghệ…
Tài liệu, thông tin cần đảm bảo các tính chất: đầy đủ, thích hợp, có hệ thống
và đúng đắn Tính đầy đủ thể hiện thước đo số lượng của thông tin; tính thích hợpphản ánh chất lượng thông tin; tính hệ thống thể hiện việc sắp xếp, lưu trữ và tracứu tài liệu trong ngân hàng dữ liệu; tính đúng đắn thể hiện không có nhầm lẫn hoặcsai sót về tài liệu, thông tin Để đảm bảo tính hệ thống của thông tin cần tổ chức tốtngân hàng dữ liệu (sẽ hoàn thiện hơn nếu có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin) Đểđảm bảo tính đúng đắn cần kiểm tra, đối chiếu, “làm sạch” cơ sở dữ liệu gốc trêncác khía cạnh trọng yếu
- Tiến hành phân tích: Tiến hành phân tích là giai đoạn triển khai, thực hiện
các công việc đã ghi trong kế hoạch Giai đoạn này thường bao gồm các công việc
cụ thể sau: Tính toán chỉ tiêu, vận dụng phương pháp phân tích thích hợp với từngnội dung phân tích
- Kết thúc phân tích: Đây là giai đoạn cuối cùng của việc phân tích, cần lập
Trang 35báo cáo phân tích để trình bày kết quả phân tích và hoàn chỉnh hồ sơ phân tích Báocáo phân tích là sản phẩm cuối cùng của công tác phân tích để trình bày các đánhgiá, kiến nghị của các chuyên gia phân tích về từng nội dung phân tích Báo cáophân tích cần được công bố theo cách thức phù hợp cho những người có liên quan.
Hồ sơ phân tích (gồm tất cả các tài liệu liên quan tới quá trình phân tích, từ kếhoạch phân tích tới sản phẩm cuối cùng là báo cáo phân tích) cần được lưu trữ theoquy định, đảm bảo tính bảo mật và khoa học
Về nguyên tắc phân tích, khi thực hiện phân tích hiệu quả hoạt động của
DNSX cần tuân thủ nguyên tắc chung là “từ khái quát đến cụ thể” Trước tiên, trên
cơ sở các tài liệu tổng hợp, tiến hành phân tích các chỉ tiêu tổng quát về hiệu quảhoạt động để đưa ra những đánh giá tổng quát và xác định các nội dung phân tíchtrọng điểm cần tập trung xem xét Sau đó, tiến hành phân tích cụ thể về mỗi nộidung trọng điểm để thấy được sâu sắc hơn về từng mặt hoạt động của DNSX là cóhiệu quả hay không, ở tầm nào, có phù hợp với mục tiêu của chủ thể quản lý không;hiệu quả hoạt động về các mặt kinh tế và xã hội có đồng thuận không hay là mâuthuẫn, nếu có mâu thuẫn thì ở mức độ chấp nhận được không, cần làm gì để giảiquyết những xung đột lợi ích giữa các phương diện hiệu quả; có thể tác động vàođâu để thúc đẩy hoạt động của DNSX đạt hiệu quả cao hơn,
Từ những lý luận nêu trên, tác giả luận án có quan điểm về bản chất phân tíchhiệu quả hoạt động của DNSX như sau:
“Phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX thực chất là sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá hiệu quả hoạt động của DNSX trong quá khứ, hiện tại
và dự báo tương lai Qua đó, cung cấp thông tin cho việc ra quyết định kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững”.
Theo logic đã được đề cập ở trên, tác giả luận án xác định trọng tâm phân tích
hiệu quả hoạt động của DNSX là phân tích hiệu quả kinh tế, bằng việc thiết lập các chỉ tiêu phân tích dưới dạng chỉ tiêu tương đối có tính chất tài chính và sử dụng phương pháp phân tích phù hợp để đánh giá các chỉ tiêu đó, nhằm tìm ra giải pháp thích hợp với mục tiêu của người nhận thông tin (trong đó trọng tâm là nhà QTDN, nhà đầu tư dài hạn, nhà cho vay dài hạn) Nội dung chủ yếu này được xem xét
trong mối quan hệ chỉnh thể với các nội dung khác thuộc phân tích hiệu quả hoạtđộng của DNSX nhằm rút ra những kết luận đúng đắn và đầy đủ về phân tích hiệuquả hoạt động của DNSX
Trang 361.1.2 Vai trò phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất
Phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX đáp ứng nhu cầu thông tin cho việc raquyết định của các đối tượng liên quan Những thông tin này có thể hữu ích với cácloại quyết định ngắn hạn; nhưng quan trọng hơn, nó được dùng trong các quyết địnhdài hạn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Do vậy, phân tích hiệu quả hoạtđộng của DNSX tập trung chủ yếu vào việc phục vụ nhu cầu thông tin cho nhữngđối tượng chính sau đây:
- Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành DN; hướng các quyết địnhquản lý cho phù hợp với tình hình thực tế của DN, như ra các quyết định về tàichính DN; ra các quyết định về nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, mởrộng thị phần; ra các quyết định về mức thu nhập của người lao động, môi trườnglàm việc, tạo cơ hội được đào tạo và thăng tiến cho người lao động; các quyết định
về phúc lợi xã hội, đời sống của dân cư tại địa bàn hoạt động của DN; quyết định vềviệc thực hiện các trách nhiệm pháp lý với cơ quan Nhà nước và các bên liên quan,trách nhiệm của DNSX với xã hội;…
- Là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của DN: Trên cơ sở kết quảđánh giá hiệu quả hoạt động mọi mặt của DN: hiệu quả của từng bộ phận và hiệuquả chung của toàn DN; hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài; hiệu quả kinh tế vàhiệu quả xã hội; hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính;… nhà quản trị có cơ sở
để ra các quyết định quản lý, điều hành các mặt hoạt động của DNSX
- Định hướng tương lai phát triển của DN: trên cơ sở kết quả của phân tích dựđoán về Hiệu quả hoạt động của DNSX trong tương lai để nhà QTDN ra quyết định
về định hướng phát triển của DNSX trong tương lai
Phân tích hiệu quả hoạt động của DNSX là công cụ để đánh giá, dự đoán vàđiều chỉnh về hiệu quả hoạt động của DNSX đó Nó đưa ra những đánh giá xác
Trang 37đáng, cụ thể về hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu phân tích Hơn nữa, nógiúp xác định các nhân tố ảnh hưởng, tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến các nội dung đã đánh giá, đồng thời tìm ra các nguyên nhân (khách quan haychủ quan) gây nên các mức độ ảnh hưởng đó Phân tích hiệu quả hoạt động vừa làđiểm kết thúc một chu kỳ kinh doanh, vừa là sự khởi đầu một chu kỳ kinh doanhmới; giúp họ thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của DN, phát hiện những khảnăng tiềm tàng thuộc nội lực hoặc từ phía thị trường, để đề ra những biện phápphát huy mặt mạnh, tận dụng tối đa mọi tiềm năng, khắc phục điểm yếu để nâng caohiệu quả hoạt động của DNSX Kết quả phân tích hiện tại và phân tích dự đoántương lai về hiệu quả hoạt động của DNSX giúp các nhà quản trị trong việc hoạchđịnh chiến lược phát triển và đề ra các phương án hoạt động có hiệu quả, nhằm hạnchế những rủi ro bất định trong kinh doanh.
* Đối với các nhà đầu tư dài hạn
Các nhà đầu tư dài hạn là những người góp vốn lâu dài để DN hoạt động, lợiích mà họ thu được phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động và chính sách phân phối lợinhuận của DN Nếu DN hoạt động không hiệu quả, nhà đầu tư dài hạn phải đối mặtvới nguy cơ vốn không sinh lời, thậm chí mất vốn Do vậy, khả năng sinh lời trongdài hạn từ vốn đầu tư là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà đầu tư dàihạn.Thông tin về hiệu quả hoạt động hằng năm của DN giúp cho các nhà đầu tư dàihạn có thể dự đoán chính xác xu hướng phát triển và tiềm năng tăng trưởng của DN,qua đó nhận định về triển vọng thu lợi của họ từ việc đầu tư dài hạn vào DN Vềphía DN, để thu hút được vốn từ các nhà đầu tư này, DN phải hoạt động có hiệu quả
và tiến hành phân tích hiệu quả hoạt động của mình, cung cấp các thông tin đó chocác nhà đầu tư để thuyết phục họ bỏ vốn vào DN
* Đối với nhà cho vay dài hạn
Tác giả đề cập đến các nhà cho vay hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những nhàcho vay thuần túy và những nhà cho vay dưới hình thức bán hoặc cho thuê mà bênmua (hoặc thuê) trả tiền sau Lịch sử tín dụng và khả năng thanh toán nhanh củakhách hàng là những thông tin đủ để các nhà cho vay ngắn hạn ra quyết định có chokhách hàng vay hay không, phương án vay và trả nợ ra sao, Tuy nhiên, nhữngthông tin này chưa đủ với các nhà cho vay dài hạn Bởi lẽ, cho vay dài hạn tiềm ẩnnguy cơ rủi ro cao hơn, khả năng thanh toán phụ thuộc lớn vào hiệu quả hoạt độngcủa DN Do vậy, các nhà cho vay dài hạn chỉ quyết định cho vay khi có cơ sở chắcchắn về khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của DN mà việc hoàn trả vốn và lãi
sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này Phân tích hiệu quả hoạt động để làm rõ về
Trang 38khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của DN là nhiệm vụ của DN nếu muốnthuyết phục ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác và các nhà cung cấp yên tâmquyết định cho DN vay vốn dài hạn.
Phân tích hiệu quả hoạt động của DN còn có vai trò quan trọng đối với các đốitượng khác như: người lao động của DN, các cơ quan quản lý Nhà nước, cácchuyên gia phân tích kinh tế - xã hội, các đối thủ cạnh tranh;…
1.2 Nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất
Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của DNSX là kết quả mang lại sau quá trìnhhoạt động phải lớn hơn nguồn lực tiêu hao để tạo ra kết quả đó Trong quá trìnhhoạt động, DNSX không chỉ sử dụng các nguồn lực của bản thân DN, mà còn có sựtham gia bởi các nguồn lực chung của xã hội Chính sự liên kết đó đòi hỏi khi phântích hiệu quả hoạt động của DNSX không chỉ đơn thuần là phân tích hiệu quả do
hoạt động của DNSX mang lại cho bản thân nó (hiệu quả kinh tế), mà đó còn là phân tích hiệu quả do hoạt động của DNSX mang lại cho xã hội (hiệu quả xã hội).
Nếu DNSX đạt được hiệu quả kinh tế cao nhưng hiệu quả xã hội không đảm bảo thìcũng đồng nghĩa với việc DNSX đó hoạt động chưa thực sự có hiệu quả
Nội dung phân tích cần được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu phân tích Các chỉtiêu này nếu được định lượng bởi thước đo tiền tệ được gọi là “chỉ tiêu tài chính”,nếu được định lượng bởi các thước đo phi tiền tệ hoặc không thể định lượng thìđược gọi chung là “chỉ tiêu phi tài chính” Việc phân biệt giữa chỉ tiêu tài chính vàchỉ tiêu phi tài chính chỉ có tính chất tương đối, nhất là đối với hiệu quả xã hội Căn
cứ vào tình hình cụ thể của đơn vị về bộ máy phân tích, năng lực đội ngũ phân tích,quan điểm của nhà quản lý, nhu cầu sử dụng thông tin,… cán bộ được giao nhiệm
vụ phân tích sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và chỉ tiêu để thực hiệnphân tích nhằm đạt mục tiêu phân tích
1.2.1 Nội dung phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất
1.2.1.1 Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất về mặt kinh tế
Hiệu quả hoạt động của DNSX trước hết cần được xem xét về mặt kinh tế qua
những chỉ tiêu tài chính Đó là hiệu quả mà hoạt động của DNSX mang lại cho
chính bản thân DN, được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ Hiệu quả này có thể làhiệu quả tuyệt đối hoặc hiệu quả tương đối Bên cạnh đó, mặc dù mục tiêu cuốicùng của DNSX là tối đa hóa lợi nhuận, nên hiệu quả hoạt động của DNSX suy chocùng và quan trọng nhất được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của DNSX
Trang 39Song, hiệu suất sử dụng các nguồn lực (chi phí) đầu vào là điều kiện tiền đề để đảmbảo cho hoạt động của DNSX có hiệu quả Mặt khác, hiệu quả hoạt động về mặtkinh tế của DNSX cần được xem xét đầy đủ không chỉ ở phương diện tài mà cả cácphương diện khác như khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển Do vậy,
để phân tích đầy đủ về hiệu quả hoạt động của DNSX về mặt kinh tế, người tathường sử dụng các nhóm chỉ tiêu sau:
* Nhóm chỉ tiêu về phương diện tài chính
- Các chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận là hiệu số giữa kết quả (đầu ra) như doanh thu, thu nhập khác,…với chi phí (đầu vào) tạo ra kết quả đó Mỗi chỉ tiêu lợi nhuận có phạm vi xác địnhcác yếu tố đầu ra, đầu vào khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng chỉ tiêu Thực
chất, nhóm chỉ tiêu lợi nhuận chỉ được dùng để đánh giá về hiệu quả hoạt động khi
so sánh cùng lĩnh vực hoạt động, cùng quy mô và điều kiện kinh doanh; nếu bộ ba
đồng thuận này không đảm bảo thì nhóm chỉ tiêu này mới chỉ phản ánh về kết quả hoạt động, chưa được coi là hiệu quả hoạt động Các chỉ tiêu lợi nhuận thường được
sử dụng trong phân tích hiệu quả hoạt động của DN gồm:
+ Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT - Earning Before Interest and Taxes):Chỉ tiêu này được tổng hợp từ các chỉ tiêu: “Lợi nhuận kế toán trước thuế” và
“Chi phí lãi vay” trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Chỉ tiêu này cho biếtquy mô lãi DN tạo ra sau mỗi thời kỳ hoạt động kinh doanh nhất định chưa tính bất
kỳ khoản chi phí vốn nào hay không quan tâm tới nguồn hình thành vốn Chỉ tiêunày thường là mối quan tâm của các nhà QTDN, các nhà đầu tư, cho vay trước cácquyết định huy động vốn, đầu tư và cho vay vốn
Công thức xác định như sau:
Trong đó: EBT (Earning Before Taxes) là lợi nhuận kế toán trước thuế; I (Interest) là chi phí lãi vay.
+ Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN (NP – Net Profit): Chỉ tiêu này cho biết
quy mô lợi nhuận dành cho chủ sở hữu của DN qua mỗi thời kỳ nhất định Chỉ tiêunày cung cấp cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động của DN dưới tác động củacác chính sách kế toán của DN, trình độ quản lý chi phí, năng lực sinh lời và nguồngốc tăng trưởng bền vững về tài chính của DN Chỉ tiêu này có sẵn trên báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh của DN, hoặc được xác định theo công thức sau:
Trang 40NP = NR - C = EBIT - I - T (2) [19,tr118]
Trong đó: NR (Net Revenue) là tổng luân chuyển thuần, bao gồm: doanh thuthuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, thu nhậpkhác; C (Costs) là tổng chi phí, bao gồm toàn bộ chi phí tham gia xác định kết quảhoạt động kinh doanh; T (Taxes) là thuế (cụ thể là chi phí thuế thu nhập DN)
- Các chỉ tiêu hiệu suất hoạt động (hoặc suất hao phí):
Hiệu suất hoạt động cho biết bình quân một đơn vị yếu tố đầu vào (nguồn lực
hoặc chi phí) đem lại mấy đơn vị kết quả đầu ra Nếu trị số của chỉ tiêu này lớnchứng tỏ DN sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào, làm tăng hiệu quả kinh doanh.Ngược lại, nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ, sẽ phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố
đầu vào không tốt, dẫn đến làm giảm hiệu quả kinh doanh của DNSX Suất hao phí
là chỉ tiêu nghịch đảo của hiệu suất hoạt động Suất hao phí cho biết để có được mộtđơn vị đầu ra thì DN phải tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực (chi phí) đầu vào Trị sốcủa chỉ tiêu này càng thấp đồng nghĩa với việc DN sử dụng tiết kiệm các nguồn lực(chi phí) đầu vào, là tiền đề để nâng cao hiệu quả hoạt động; ngược lại, nếu trị sốcủa chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ DN sử dụng các nguồn lực (chi phí) đầu vàocàng kém hiệu quả, dẫn đến hiệu quả hoạt động càng thấp
Như vậy, “hiệu suất hoạt động” và “suất hao phí” có thể sử dụng thay thế chonhau khi phân tích hiệu suất hoạt động, qua đó cho phép đánh giá giống nhau vềhiệu quả sử dụng vốn, nhưng tùy thuộc vào mối quan tâm của người nhận tin để nhàphân tích lựa chọn chỉ tiêu phân tích phù hợp Hiệu suất hoạt động (hoặc suất haophí) quyết định đến khả năng sinh lời của DNSX Công thức chung:
(Nguồn: [23,tr46] và tổng hợp của tác giả trên cơ sở kết quả nghiên cứu)
Trong các công thức (3) và (4), “đầu vào” có thể là các “nguồn lực” (lao động,nguyên vật liệu, tài sản cố định,…), có thể là “chi phí” (biểu hiện sự tiêu dùng cácnguồn lực); “đầu ra” có thể là “giá trị sản xuất” (biểu hiện kết quả của khâu sảnxuất), có thể là “doanh thu” (doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ,doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh, tổng luân chuyển thuần) biểu hiện kết quảcủa khâu tiêu thụ, Cần lưu ý rằng, đầu ra là kết quả tạo ra cho một kỳ hoạt độngnên đầu vào cũng phải được xác định theo thời kỳ cho phù hợp với đầu ra, mặt khácnếu đầu vào chỉ lấy giá trị ở một thời điểm thì không phản ánh hết đặc điểm thườngxuyên biến động của các yếu tố này Trong phạm vi luận án, tác giả lựa chọn chỉ