1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI THUỐC LÁ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI CÁC NHÀ HÀNG THUỘC QUẬN HAI BÀ TRƯNG, HÀ NỘI NĂM 2018

95 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 01 tháng 08 năm 2013 - ATLANTA - Một nghiên cứu của RTI International tiến hành trong 09 bang Alabama, Indiana, Kentucky, Mississippi, Missouri, Bắc Carolina, Nam Carolina, Texas và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-

Ngô Lan Hương

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI THUỐC LÁ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI CÁC NHÀ HÀNG THUỘC QUẬN HAI BÀ TRƯNG,

HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội - Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-

Ngô Lan Hương – C00797

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI THUỐC LÁ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI CÁC NHÀ HÀNG THUỘC QUẬN HAI BÀ TRƯNG,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học cùng toàn thể các Thầy, Cô trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Bộ môn Y tế Công cộng, trường Đại học Thăng Long đã trang bị cho tôi kiến thức, đạo đức nghề nghiệp, phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc, người Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi từ xác định vấn đề nghiên cứu, đến thực hiện

và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Y tế quận Hai Bà Trưng, UBND quận Hai Bà Trưng và nhân dân trên địa bàn quận đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại địa phương

Xin cảm ơn các anh, chị và các bạn học viên sau đại học chuyên ngành Y tế Công cộng trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập

số liệu tại thực địa

Đặc biệt, từ tận đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan

đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm chăm sóc quý báu để tôi hoàn tất luận văn này./

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

Học viên

Ngô Lan Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

- Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Thăng Long;

- Bộ môn Y tế Công cộng trường Đại học Thăng Long;

- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Tên tôi là: Ngô Lan Hương – Học viên lớp cao học YTCC5, chuyên ngành

Y tế Công cộng, trường Đại học Thăng Long

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

Học viên

Ngô Lan Hương

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ĐTV Điều tra viên

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

HTLTĐ Hút thuốc lá thụ động

PCTHTL Phòng chống tác hại của thuốc lá

GATS Global Adult Tobacco Survey

(Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành) UBND Ủy ban nhân dân

WHO World Health Organization

(Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Nhà hàng ăn uống 3

1.1.2 Địa điểm công cộng, trong nhà 3

1.1.3 Kinh doanh thuốc lá 4

1.1.4 Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và các văn bản liên quan 4

1.2 Tác hại của hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá thụ động 6

1.2.1.Tác hại của hút thuốc lá chủ động 6

1.2.2 Tác hại của hút thuốc lá thụ động 8

1.3 Các quy định hạn chế hút thuốc lá 9

1.3.1 Công ước khung về kiểm soát thuốc lá 9

1.3.2 Quy định của Việt Nam về phòng chống tác hại của thuốc lá 9

1.4 Tình hình thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trong các nhà hàng trên Thế giới và tại Việt Nam 12

1.4.1 Tình hình thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trong các nhà hàng trên Thế giới 12

1.4.2 Tình hình thực thi Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá trong các nhà hàng tại Việt Nam 14

1.5 Một số nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 16

1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

Trang 7

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 25

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 26

2.2.3.1 Nghiên cứu định lượng 26

2.2.3.2 Nghiên cứu định tính 26

2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 31

2.5 Phương pháp phân tích số liệu 32

2.5.1 Số liệu định lượng 32

2.5.2 Số liệu định tính 32

2.6 Hạn chế của nghiên cứu 33

2.7 Sai số và cách khắc phục 33

2.7.1 Sai số 33

2.7.2 Các biện pháp khắc phục sai số 33

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thông tin chung về đối tượng và nhà hàng nghiên cứu 35

3.2 Thực trạng thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 37

3.2.1 Thực trạng thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại các nhà hàng đã tham gia thực hiện 38

3.2.2 Thực trạng thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại các nhà hàng chưa tham gia thực hiện 42

3.2.3 Thực trạng khách hàng sử dụng thuốc lá tại các nhà hàng nghiên cứu……… ………44

3.3 Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại các địa điểm nghiên cứu 46

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 49

4.1 Thực trạng thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại các nhà hàng thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2018 49

Trang 8

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của

thuốc lá tại các nhà hàng tham gia nghiên cứu 53

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung về chủ/quản lý nhà hàng tham gia nghiên cứu 35

Bảng 3.2 Thông tin chung về nhà hàng nghiên cứu 36

Bảng 3.3 Hiểu biết của chủ/người quản lý nhà hàng về Luật PCTHTL 37

trong nhà hàng 37

Bảng 3.4 Việc thực hiện Luật PCTHTL trong nhà hàng 37

Bảng 3.5 Hiểu biết của chủ nhà hàng về các quy định của Luật PCTHTL 38

Bảng 3.6 Lý do thực hiện Luật PCTHTL của ĐTNC 40

Bảng 3.7 Thực trạng thực hiện các tiêu chí trong cam kết nhà hàng không khói thuốc của các nhà hàng 41

Bảng 3.8 Biện pháp đảm bảo việc thực hiện Luật PCTHTL tại nhà hàng 41

Bảng 3.9 Đơn vị/đối tượng nhắc nhở các nhà hàng về Luật PCTHTL 43

Bảng 3.10 Tình trạng các nhà hàng thực hiện Luật PCTHTL nếu có quy định bắt buộc 43

Bảng 3.11 Tình trạng hút thuốc của khách hàng 45

Bảng 3.12 Địa điểm hút thuốc của khách hàng tại các nhà hàng 45

Bảng 3.13 Lợi ích của việc thực hiện Luật PCTHTL của các nhà hàng 46

Bảng 3.14 Tác động của việc thực hiện Luật PCTHTL tới các nhà hàng tham gia thực hiện Luật PCTHTL 46

Bảng 3.15 Những thuận lợi của nhà hàng khi thực hiện luật PCTHTL 47

Bảng 3.16 Những khó khăn của nhà hàng khi thực hiện Luật PCTHTL 47

Bảng 3.17 Lý do các nhà hàng chưa thực hiện Luật PCTHTL 48

Bảng 3.18 Lý do khách hàng tiếp tục hút thuốc tại các nhà hàng đang thực hiện Luật PCTHTL 48

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Thời gian thực hiện luật PCTHTL của các nhà hàng 38

Biểu đồ 3.2 Nguồn thông tin cho biết các quy định của Luật PCTHTL 39

Biểu đồ 3.3 Mức độ ủng hộ thực hiện Luật PCTHTL của ĐTNC 40

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhà hàng kinh doanh mặt hàng thuốc lá 42

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nhà hàng được nhắc nhở thực hiện luật PCTHTL 42

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ khách hàng từng nghe về Luật PCTHTL 44

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ khách hàng từng nghe về quy định cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà hàng ăn uống 44

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hút thuốc lá là một trong những mối đe dọa đến sức khỏe cộng đồng lớn nhất

mà Thế giới đang phải đối mặt Hơn 05 triệu trường hợp tử vong là hậu quả của việc hút thuốc lá chủ động, hơn 600.000 trường hợp là hút thuốc lá thụ động (HTLTĐ) Gần 80% trong số hơn 01 tỷ người hút thuốc lá trên toàn Thế giới sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình Người hút thuốc lá làm ảnh hưởng đến thu nhập, nâng cao chi phí chăm sóc y tế và cản trở sự phát triển kinh tế [25] Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong thế kỉ 20, trên Thế giới

đã có 100 triệu người chết do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá và mỗi năm thuốc lá gây ra gần 06 triệu trường hợp tử vong [25], con số này sẽ đạt hơn

08 triệu mỗi năm vào năm 2020, trong đó 70% số trường hợp tử vong sẽ xảy ở các nước đang phát triển [25], [40]

Sử dụng thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam Theo điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam năm 2010 (GATS) đã xây dựng một mô hình mô phỏng và ước tính hút thuốc gây ra 40.000 trường hợp tử vong trong năm 2008 và sẽ tăng lên đến 50.000 mỗi năm vào năm 2023 [23] Ngoài việc gây hại về sức khỏe, hút thuốc lá cũng là gánh

nặng đối với nền kinh tế quốc gia [25]

Theo WHO, khói thuốc lá không những ảnh hưởng đến người hút mà còn làm ô nhiễm môi trường xung quanh khiến những người không hút thuốc cũng hít phải khói thuốc lá Những người thường xuyên hít phải khói thuốc lá cũng sẽ mắc các bệnh như người hút thuốc lá [25]

Theo điều tra toàn cầu về tình hình sử dụng thuốc lá trong học sinh từ

13-15 tuổi năm 2014 cho thấy 47,7% học sinh phơi nhiễm với khói thuốc tại nhà; 66,5% học sinh phơi nhiễm với khói thuốc tại địa điểm công cộng trong nhà Theo GATS, năm 2015, có tới 80,7% người trên 15 tuổi đã từng tiếp xúc khói thuốc thụ động ở nhà hàng và 89,1% người trưởng thành đã từng tiếp xúc với khói thuốc thụ động tại quán bar và quán cafe Tỷ lệ hút thuốc thụ động tại các

Trang 12

nhà hàng là 84,9% Qua đó cho thấy nhà hàng là một trong những địa điểm công cộng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của khói thuốc lá [23]

Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013, trong đó có quy định cấm hút thuốc lá hoàn toàn tại khu vực trong nhà của các nhà hàng [8] Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

y tế cũng quy định rõ, hút thuốc lá ở khu vực trong nhà tại các nhà hàng (tại địa điểm có quy định cấm) sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 - 300.000 đồng Nhà hàng ăn uống không treo biển “cấm hút thuốc lá”; không yêu cầu người

vi phạm chấm dứt việc hút thuốc lá; không hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại nhà hàng sẽ bị phạt tiền từ 03- 05 triệu đồng [9] Dù Luật PCTHTL đã quy định rõ ràng nhưng theo điều tra gần đây của tổ chức HealthBridge Canada tại 195 nhà hàng trên địa bàn Hà Nội, chỉ có 44% nhà hàng có thực thi quy định của Luật PCTHTL [15]

Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của dịch vụ và sự đa dạng thể loại khách hàng, việc triển khai trong các nhà hàng còn chưa được chính quyền các cấp kiểm tra, xử lý nghiêm như các địa điểm công cộng khác Hơn nữa, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào ở quận Hai Bà Trưng về việc thực hiện Luật PCTHTL tại các nhà hàng

Để Luật PCTHTL được thực thi có hiệu quả trên địa bàn quận, tôi tiến hành

đề tài nghiên cứu “Thực trạng thực hiện luật phòng chống tác hại thuốc lá

và một số yếu tố ảnh hưởng tại các nhà hàng thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2018” với 02 mục tiêu chính:

1 Mô tả thực trạng thực hiện luật phòng chống tác hại thuốc lá tại các nhà hàng ăn uống thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2018

2 Phân tích một số yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện luật phòng chống tác hại thuốc lá tại các nhà hàng được nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Nhà hàng ăn uống

Theo định nghĩa trước đây của Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 của Bộ Y tế về ban hành quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống, “Nhà hàng ăn uống” là các

cơ sở ăn uống, thường có từ 50 người ăn đồng thời một lúc

Tuy nhiên Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố đã bãi bỏ Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT từ ngày 20/01/2013 nhưng không định nghĩa rõ từng loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống

Theo Hướng dẫn số 2248/HD-SYT ngày 27/6/2017 của Sở Y tế Hà Nội

về tiêu chí an toàn thực phẩm đối với kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố trên địa bàn thành phố Hà Nội, tiêu chí nhà hàng ăn uống là cơ sở có quy mô ≥ 30 suất ăn/lần phục vụ, có diện tích tối thiểu 35 m2

Như vậy, trong nghiên cứu này có thể định nghĩa, nhà hàng ăn uống là cơ sở dịch vụ ăn uống cố định tại chỗ và có quy mô ≥ 30 suất ăn/lần phục vụ, có diện tích tối thiểu 35 m2

1.1.2 Địa điểm công cộng, trong nhà

Theo Điều 2, chương I của Luật PCTHTL, địa điểm công cộng là nơi phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người Theo định nghĩa này, nhà hàng là một địa điểm công cộng [20]

Luật PCTHTL định nghĩa “trong nhà” là nơi có mái che và có một hay nhiều bức tường chắn hoặc vách ngăn xung quanh [20]

Theo Khoản 2 Điều 11 của Luật PCTHTL, nhà hàng thuộc địa điểm công cộng, do đó cấm hoàn toàn hút thuốc lá trong nhà

Trang 14

1.1.3 Kinh doanh thuốc lá

Kinh doanh thuốc lá là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ sản xuất, nhập khẩu đến tiêu thụ thuốc lá trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [20]

1.1.4 Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và các văn bản liên quan

Luật PCTHTL được Quốc hội thông qua năm 2012 và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/5/2013, gồm 05 chương và 35 điều với nhiều quy định về các biện pháp làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá

và điều kiện bảo đảm để PCTHTL nhằm đẩy mạnh các hoạt động PCTHTL tại

Việt Nam:

Chương I Những quy định chung gồm có 09 điều quy định: Phạm vi

điều chỉnh (Điều 1); giải thích từ ngữ (Điều 2); nguyên tắc PCTHTL (Điều 3); chính sách của Nhà nước về PCTHTL (Điều 4); trách nhiệm quản lý nhà nước

về PCTHTL (Điều 5); trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trong PCTHTL (Điều 6); quyền và nghĩa vụ công dân trong PCTHTL (Điều 7); hợp tác quốc tế trong PCTHTL (Điều 8) và các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9)

Chương II Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá gồm có 09 điều

quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về PCTHTL (Điều 10); địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11); địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 12); nghĩa vụ của người hút thuốc lá (Điều 13); quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá (Điều 14); ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá (Điều 15); hoạt động tài trợ (Điều 16); cai nghiện thuốc lá (Điều 17); trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá (Điều 18)

Chương III Các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá gồm có 09

điều quy định về quản lý kinh doanh thuốc lá (Điều 19); quy hoạch kinh doanh thuốc lá (Điều 20); kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá (Điều 21); kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (Điều 22); quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá (Điều 23); số lượng điếu thuốc látrong bao, gói (Điều 24); bán thuốc lá

Trang 15

(Điều 25); các biện pháp phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 26); trách nhiệm phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 27)

Chương IV Các điều kiện bảo đảm để PCTHTL gồm có 05 điều quy định

về thành lập Quỹ PCTHTL (Điều 28); mục đích và nhiệm vụ của Quỹ (Điều 29); nguồn hình thành và nguyên tắc sử dụng Quỹ (Điều 30); xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 31); trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 32)

Chương V Điều khoản thi hành bao gồm 03 điều quy định về hiệu lực

thi hành (Điều 33); điều khoản chuyển tiếp (Điều 34); quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (Điều 35)

Các văn bản liên quan đến thực thi Luật PCTHTL

Hiện có nhiều văn bản về xử lý vi phạm hành chính liên quan đến việc chấp hành Luật PCTHTL

Điều 32 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không treo biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi tại điểm bán theo quy định; phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về trưng bày thuốc lá tại điểm bán hàng; phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động hoặc bán thuốc lá tại các địa điểm có quy định cấm [8]

Theo Điều 23, Nghị định số 176/2013/NĐ/CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm như nhà hàng, trường học, cơ sở y tế bị cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng Việc vi phạm một trong những hành vi: Không treo biển có chữ hoặc biểu tượng “cấm hút thuốc lá” tại địa điểm cấm hút thuốc lá; không yêu cầu người vi phạm chấm dứt việc hút thuốc lá trong cơ sở của mình; không tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra,

Trang 16

đôn đốc thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm thuộc quyền quản lý, điều hành sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng Việc

vi phạm một trong các hành vi: Không có phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá; không có dụng cụ chứa mẩu, tàn thuốc lá; không có biển báo tại vị trí phù hợp, dễ quan sát; không có thiết bị phòng cháy, chữa cháy sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng [9]

1.2 Tác hại của hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá thụ động

1.2.1 Tác hại của hút thuốc lá chủ động

Thành phần khói thuốc lá có chứa trên 4000 chất hóa học, trong đó có hơn

200 loại có hại cho sức khoẻ, bao gồm chất gây nghiện và các chất gây độc (khí

CO và 43 chất gây ung thư) Sử dụng thuốc lá sẽ gây ra 25 căn bệnh nguy hiểm như: Ung thư phổi, các bệnh tim mạch, các bệnh đường hô hấp, [2], [10]

Hút thuốc lá làm tim đập nhanh hơn, làm giảm lượng oxy trong máu và làm tổn hại các tế bào cơ tim Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch của những người hút thuốc lá cao gấp ba lần so với những người không hút thuốc lá Khi hít thuốc, nhựa thuốc lá sẽ bám vào phối như bồ hóng vào ống khói Nếu hút 20 điếu thuốc lá một ngày, cơ thể sẽ phải hít vào khoảng 210g nhựa mỗi năm (tương đương một tách đầy nhựa) Cứ 3 người hút thuốc lả thường xuyên, mỗi người hút trung bình 20 điếu thuốc một ngày, thì một trong ba người sẽ chết sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá, đặc biệt là do ung thư phổi [18], [19]

Nguy cơ phát sinh bệnh ung thư phổi của một người phụ thuộc chủ yếu vào thời gian hút thuốc, chứ không phụ thuộc nhiều vào số điếu thuốc người đó hút trong một ngày Các nghiên cứu cho thấy, tăng ba lần thời gian hút thuốc tương đương với tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư 100 lần Trong khi đó, tăng số điếu thuốc hút gấp ba lần trong một ngày chỉ tương đương với tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư gấp ba lần Do vậy, những người bắt đầu hút thuốc lá ở tuổi thanh thiếu niên là những người tiếp tục gặp phải những nguy cơ cao nhất về mắc bệnh ung thư Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân hàng đầu của các căn bệnh viêm phế quản, bệnh khí thũng phế mãn [3], [27]

Trang 17

Theo kết quả nghiên cứu của Hội Ung thư qua theo dõi hơn một triệu người tại Mỹ cho thấy những người hút thuốc lá có nguy cơ tử vong do mắc bệnh ung thư phổi ở tuổi trung niên gấp 20 lần so với người không hút thuốc, và gấp ba lần nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, gồm cả suy tim, đột quỵ và các bệnh khác về động mạch, tĩnh mạch [30]

Ở Việt Nam, thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch và các bệnh về hệ hô hấp Theo số liệu điều tra năm 1997, ở Việt Nam tỷ lệ nam giới hút thuốc là 50%, nữ giới là 3,4%; ước tính 10% dân số hiện nay (khoảng trên 7 triệu người) sẽ chết sớm do các bệnh có liên quan đến thuốc lá, trong đó 3,7 triệu người sẽ chết ở độ tuổi trung niên Theo dự báo của WHO, đến năm 2020, số người chết vì thuốc lá

sẽ nhiều hơn tổng số người chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường bộ

Ngoài những tác hại đối với sức khỏe, hút thuốc lá còn gây ra những tổn thất lớn về kinh tế của từng gia đình và toàn xã hội Ở Việt Nam, ước tính phần đóng góp của ngành công nghiệp thuốc lá cho ngân sách nhà nước chỉ chiếm 1/3

số tiền (khoảng 6.000 tỷ đồng) mà người dân dùng để hút thuốc lá [10]

Hút thuốc lá lâu ngày còn gây viêm mũi - viêm họng mạn tính, viêm thanh quản mạn tính Đặc biệt, nếu hút thuốc từ khi còn nhỏ tuổi sẽ làm tăng nguy cơ bị các chứng ho, đờm, thở khò khè, khạc đờm, thở không sâu, giảm chức năng phổi và giảm phát triển thế chất, tăng nguy cơ hen xuyễn,… Theo một nghiên cứu mới đây, tỷ lệ tử vong vì bệnh hen ở người đang hoặc từng hút thuốc cao gấp đôi so với người không hút thuốc [18]

Hút thuốc lá cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh lý tim mạch

và đột tử Theo WHO, 35% trong tổng số người chết vì các bệnh tim mạch đều

có liên quan đến hút thuốc lá Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học

Mỹ báo cáo tỷ lệ chết do xơ cứng động mạch vành ở người hút thuốc lá so với người không hút thuốc lá là 1,61 Nghiên cứu ở Anbani và Birmingham cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim ở người hút thuốc lá cao gấp 2,5 lần so với người không hút thuốc lá Nói chung, người hút thuốc có nguy cơ mắc các bệnh về tim

Trang 18

cao hơn người không hút từ 2 đến 4 lần và số người chết vì bệnh này cao hơn 70% so với người không hút thuốc lá [22]

Ngoài ra việc hút thuốc lá là nguy cơ gây ra các bệnh liên quan đến tâm thần kinh như rối loạn giấc ngủ [29], bệnh tâm thần; là yếu tố chủ yếu gây nên các bệnh nha chu, các bệnh răng miệng và chúng cũng được coi như là một trong những bệnh hệ thống trong cùng một cách bệnh như bệnh tim hoặc bệnh phổi [32], [34]

1.2.2 Tác hại của hút thuốc lá thụ động

Hút thuốc lá không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người hút mà còn gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của những người xung quanh Vì khói thuốc thụ động là khói từ những sản phẩm thuốc lá đang chảy, toả ra từ người đang hút làm cho những người xung quanh phải HTLTĐ [24] Ngành công nghiệp thuốc lá cũng gọi đây là khói thuốc lá môi trường Khi khói thuốc lá lan toả trong không khí, đặc biệt là ở những nơi đông người, kín, khói thuốc sẽ được nhiều người hít vào, như vậy cả những người hút thuốc và không hút thuốc đều phơi nhiễm với tác hại của khói thuốc Do khói thuốc hấp thụ bởi những người không chủ động hút thuốc, nó thường được nhắc đến như hút thuốc không chủ động hoặc HTLTĐ HTLTĐ cũng được coi là nguyên nhân làm tăng thêm bệnh tật, tử vong và đặc biệt làm tăng thêm đáng kể các chi phí cho cả người không hút thuốc lá và cho cả xã hội Nghiên cứu của Takeshi Hirayama chỉ ra: Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở người không hút thuốc lập gia đình với người nghiện thuốc nặng cao hơn 24% so với gia đình không có người hút thuốc Theo

cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, HTLTĐ là nguyên nhân của 3.000 trường hợp

tử vong do ung thư phổi mỗi năm Ngoài ra rất nhiều các tác giả đã chứng minh rằng thuốc lá là nguy cơ cao gây bệnh ung thư các loại [12], [26], [39], [42]

Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy tình trạng tiếp xúc bị động với khói thuốc cũng là một vấn đề cần quan tâm đặc biệt Nghiên cứu ở hai phường nội thành Hà Nội cho thấy, tỷ lệ những người hút thuốc có thói quen hút thuốc lá tại nhà là 90%, tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc là 50% Tỷ lệ tiếp

Trang 19

xúc với khói thuốc của bà mẹ và trẻ em là 56% Hàm lượng Nicotin trong nhà khá cao: Trung bình 0,687%/m3 Theo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001 -

2002 cho thấy có 63% các hộ gia đình có người hút thuốc lá và có tới 71% trẻ

em dưới 5 tuổi sống trong các hộ gia đình có người hút thuốc [13], [18]

1.3 Các quy định hạn chế hút thuốc lá

1.3.1 Công ước khung về kiểm soát thuốc lá

Để giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh liên quan đến sử dụng các sản phẩm thuốc lá, WHO đã khởi xướng xây dụng Công ước khung về kiểm soát thuốc lá Công ước khung được 192 thành viên WHO thông qua ngày 21/5/2003 Ngày 27/2/2005, Công ước khung về kiểm soát thuốc là chính thức

có hiệu lực và trở thành Luật Quốc tế Đây là hiệp ước Quốc tế đầu tiên trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quy định một khuôn khổ toàn diện về những nỗ lực kiểm soát thuốc lá trên toàn Thế giới Công ước bao hàm tất cả các khía cạnh của việc kiểm soát thuốc lá gồm có: Quảng cáo thuốc lá, nhãn cảnh báo về sức khỏe, các vấn đề giá cả và thuế, buôn bán trái phép (buôn lậu)

và các chương trình cai thuốc lá Với nội dung gồm 11 chương, 38 điều Công ước Khung được coi là chuẩn cơ bản để các quốc gia làm căn cứ phát triển và thực thi các chính sách kiếm soát thuốc lá Mục tiêu của Công ước: Nhằm bảo vệ các thế hệ hiện nay và tương lai khỏi các hậu quả tàn phá về sức khoẻ, xã hội, môi trường và kinh tế của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc [6]

Tính đến ngày 30/7/2009, đã có 168 quốc gia ký Công ước, trong đó có

166 quốc gia đã phê chuẩn Công ước khung Việt Nam là nước thứ 47 trên Thế giới phê chuẩn Công ước Khung và có hiệu lực tại nước ta từ ngày 17/03/2005 [6], [7]

1.3.2 Quy định của Việt Nam về phòng chống tác hại của thuốc lá

Từ năm 1989, Việt Nam đã có phong trào tuyên truyền vận động PCTHTL, Ban PCTHTL đã được thành lập, bước đầu hoạt động có hiệu quả, đã

có tác dụng làm giảm số người hút thuốc lá

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống tác hại và kiểm

Trang 20

soát thuốc lá đã từng bước được xây dựng tạo nên một khung pháp lý chung để điều chỉnh hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc lá, cũng như hướng đến công tác PCTHTL tại Việt Nam

Với những tác hại của thuốc là rất lớn về sức khỏe cũng như kinh tế và

sự cam kết của Chính phủ về PCTHTL, các chính sách của Nhà nước Việt Nam

ra đời nhằm làm giảm việc cung cấp các sản phẩm thuốc lá trên toàn lãnh thổ Ngày 14/8/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP của Chính phủ về “Chính sách quốc gia về PCTHTL giai đoạn 2001-2010” [10] Chính sách Quốc gia về PCTHTL đề cập đến cả phương diện giảm cung và phương diện giảm cầu thuốc lá Theo tinh thần Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP thì công tác PCTHTL mang tính liên ngành và đang dần dần được xã hội hóa Hiện nay, đây là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định riêng về phòng và chống tác hại thuốc lá [5], [10]

Việc ký kết Công ước khung, về kiểm soát thuốc lá và ban hành Chính sách quốc gia PCTHTL, là biểu thị cam kết cũng như quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc PCTHTL, làm giảm các ảnh hưởng có hại cho gia đình và xã hội Tuy nhiên, để thực thi Công ước khung và huy động sự tham gia liên ngành, Việt Nam cần có khung pháp luật về kiểm soát thuốc lá có hiệu lực pháp lý cao

và tiến tới xây dựng Luật kiểm soát thuốc lá Ngoài các văn bản trên, để tăng cường công tác PCTHTL, Chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản như:

Chỉ thị số 13/1999/CT-TTg ngày 22/2/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh sắp xếp sản xuất kinh doanh ngành nghề thuốc lá [4]

Chỉ thị số 08/2001/CT-BYT ngày 03/8/2001 của Bộ Y tế về việc đẩy mạnh hoạt động PCTHTL trong Ngành Y tế [2]

Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg ngày 10/5/2007 của Chính phủ về tăng cường hoạt động PCTHTL [6]

Nghị định số 45/2005/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Trong đó quy định các hình thức xử phạt hành vi vi phạm quy định về PCTHTL

Trang 21

Thông tư số 19/2005/TT-VHTT ngày 12/5/2005 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh quảng cáo và Nghị quyết 12/2000/NQ-CP về cấm quảng cáo các sản phẩm thuốc lá

Thông tư của Bộ Thương mại số 30/1999/TT-BTM ngày 9/9/1999 về hướng dẫn kinh doanh mặt hàng thuốc lá điếu sản xuất trong nước

Nghị định số 119/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 của Chính phủ về hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc lá

Ngày 21/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định l315/QĐ -TTg về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá Theo đó, sẽ nghiêm cấm hút thuốc lá từ 01/01/2010 ở lớp học, nhà trẻ, các cơ sở y tế, thư viện, rạp chiếu phim, nhà hát, nhà văn hóa, các khu vực sản xuất và nơi làm việc trong nhà, nơi có nguy cơ cháy nổ cao và trên các phương tiện giao thông công cộng [7]

Hiện nay, các chính sách đang tập trung vào vấn đề giảm tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá nhằm bảo vệ sức khỏe cho những người không hút thuốc, phụ nữ và trẻ em; vận động cho việc ban hành Luật PCTHTL Bên cạnh đó, một số biện pháp khác đang được sử dụng bao gồm: Tuyên truyền về tác hại của thuốc lá trong trường học và nơi công cộng, tăng hiểu biết của cơ sở

y tế để hỗ trợ người muốn bỏ thuốc và tăng thuế để tạo ra một rào cản kinh tế tài chính để khuyến khích người không hút hoặc bỏ thuốc

Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nhiều quy định để kiểm soát thuốc lá nhằm giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ nhân dân như: Cấm nhập khẩu thuốc lá (1990); cấm hút thuốc ở các nơi công cộng, nhà trẻ, bệnh viện (1991); cấm quảng cáo thuốc lá trên phương tiện thông đại chúng (1994) Năm 2000 Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và ban hành Nghị quyết 12 “Chính sách quốc gia về PCTHTL” cho giai đoạn 2000 - 2010 với mục tiêu chung là giảm nhu cầu

sử dụng, tiến tới kiểm soát và giảm mức cung cấp các sản phẩm thuốc lá nhằm giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh có liên quan đến thuốc lá Ngày 3 tháng 9 năm 2003 Việt Nam đã ký vào Công ước khung của WHO về “Kiểm soát

Trang 22

thuốc lá” trong khuôn khổ cam kết cấp quốc gia về các biện pháp kiểm soát và bảo vệ thế hệ tương lai không bị tàn phá về sức khỏe, môi trường và kinh tế do thuốc lá [2], [4], [5] Quốc hội đã ban hành Luật PCTHTL số 09/2012/QH13 (Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ hợp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012) và chính thức có hiệu lực

Nghiên cứu của Cowling DW và Bond P sử dụng dữ liệu thuế từ năm

1990 đến năm 2002 tại California phân tích sự ảnh hưởng của quy định không khói thuốc đến nguồn thu của các nhà hàng tại bang này Kết quả cho thấy: Quy định không hút thuốc lá trong nhà hàng ban hành năm 1995 không những không ảnh hưởng đến doanh thu của các nhà hàng mà còn ngược lại, chỉ ra sự liên quan có ý nghĩa thống kê với sự gia tăng doanh thu nhà hàng [38]

Trong Tạp chí Quản lý Y tế Công cộng và Thực hành, nhiều bài viết về tác động của thực thi Luật PCTHTL trong nhà hàng đã được kiểm chứng tại Thành phố New York và bang Massachusetts Năm 1999, Bartosch and Pope tiến hành nghiên cứu cho kết quả rằng, nhà hàng thực thi tốt Luật PCTHTL có rất ít hoặc không có tác động tới kinh tế của đơn vị [48]

Năm 2010, dữ liệu từ 10 thành phố Minnesota cũng cho thấy rằng, thực hiện Luật PCTHTL tại địa phương không hề có tác động tiêu cực đến doanh thu của

Trang 23

các quán bar và nhà hàng, thậm chí còn có tác động tích cực Trong nghiên cứu này, những quán bar và nhà hàng áp dụng một phần hoặc toàn diện Luật đã có doanh thu cao hơn so với những quán bar hay nhà hàng không áp dụng [28]

Ngày 01 tháng 08 năm 2013 - ATLANTA - Một nghiên cứu của RTI International tiến hành trong 09 bang Alabama, Indiana, Kentucky, Mississippi, Missouri, Bắc Carolina, Nam Carolina, Texas và Tây Virginia của tác giả Brett Loomis cho kết luận rằng quy định không khói thuốc trên toàn tiểu bang sẽ không có tác động tiêu cực đến kinh tế, việc làm và thu nhập của nhà hàng, việc thực hiện Luật PCTHTL được xác định có mối liên quan với 01% gia tăng việc làm trong các nhà hàng ở các Thành phố thực thi quy định này so sánh với các Thành phố không thực hiện Luật PCTHTL tại Tây Virginia Hơn thế, nghiên cứu

đã chỉ ra rằng chính sách cấm hút thuốc lá tại nhà hàng có một số lợi ích sức khỏe

rõ ràng: Làm giảm sự tiếp xúc của người không hút thuốc với khói thuốc lá, khuyến khích người hút thuốc bỏ thuốc lá, cải thiện sức khỏe của nhân viên nhà hàng và làm giảm cơn đau tim phải nhập viện trong dân số nói chung Tuy nhiên, chủ một số nhà hàng lo ngại rằng các chính sách có thể ảnh hưởng tiêu cực (giảm doanh thu hoặc mất khách ) tại các nhà hàng và quán bar kinh doanh,những lo ngại đó có thể đặt ra một rào cản đối với việc giới thiệu rộng hơn về môi trường không khói thuốc [35]

Tại Bắc Carolina, trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu xung quanh việc áp dụng quy định của Luật PCTHTL trong nhà hàng và quán bar Kết quả một nghiên cứu công bố trên Tạp chí Phòng ngừa bệnh mãn tính cho thấy, tại Bắc Carolina không có sự tác động nào từ quy định của Luật PCTHTL ở nhà hàng

và quán bar lên việc kinh doanh, doanh thu của những nhà hàng hay quán bar trong khu vực này [44] Năm 2011, nghiên cứu của Chenoweth and Associates Inc về chi phí hiệu quả của quy định của Luật PCTHTL trong nhà hàng, quán bar tại Bắc Carolina chỉ ra rằng, quy định không khói thuốc trong nhà hàng, quán bar tại đây giúp tiết kiệm gần 4,7 triệu USD cho chi phí chăm sóc điều trị

và chi trả nhân công cho y tế mỗi năm [50]

Trang 24

Tại Mỹ, California là bang có các quy định liên quan đến PCTHTL khắt khe nhất, đây là bang đầu tiên thực hiện Luật nhà hàng không khói thuốc (năm 1995) và quán bar không khói thuốc (năm 1998) [25] Ở Bắc Carolina, kể từ tháng 01 năm 2010, gần như tất cả nhà hàng và quán bar đã thực hiện nghiêm túc quy định [23] Tại New York, năm 2003, Luật PCTHTL đã gây ra một cuộc tranh luận mạnh ở Mỹ [49] Một số chủ quán bar nói quyền lợi của họ bị xâm phạm, trong khi người không hút thuốc nói họ được hưởng môi trường không khói thuốc Trong những năm gần đây, làn sóng thúc đẩy triển khai quy định không khói thuốc trong các nhà hàng và quán bar đã lan rộng tới nhiều bang trên toàn nước Mỹ Tính đến năm 2014, khoảng 65% dân số Mỹ (gần 200 triệu người) được sống trong khu vực áp dụng mạnh mẽ quy định không thuốc lá tại nhà hàng và quán bar [36]

Estonia gia nhập các quốc gia Châu Âu cấm hút thuốc lá trong các nhà hàng

và quán bar từ tháng 06 năm 2007 Những người vi phạm quy định cấm hút thuốc lá trong nhà hàng tại nước này sẽ phải chịu phạt 80 Euro, trong khi chủ

sở hữu của các nhà hàng và quán cafe có khách vi phạm sẽ bị phạt lên đến 2.000 Euro [51]

Nhiều quốc gia khác cũng đã áp dụng quy định “Nhà hàng không khói thuốc” như nước Pháp (năm 2008), Cộng hòa Ireland (năm 2004, phạt 3.000 euro nếu bất kỳ ai hút tại nơi cấm), Ba Lan (tháng 10 năm 2010), Tây Ban Nha (tháng 01 năm 2011) [41]

1.4.2 Tình hình thực thi Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá trong các

nhà hàng tại Việt Nam

Theo khảo sát của Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe Thành phố

Hồ Chí Minh: Khoảng 40% trong số 219 khách sạn, nhà hàng tại Thành phố

Hồ Chí Minh cho phép hút thuốc tự do, hơn 30% cấm hoàn toàn và hơn 20% có nơi dành riêng cho người hút thuốc [21]

Với sự hỗ trợ của Liên minh phòng ngừa và kiểm soát thuốc lá Châu Á (SEATCA), Hội Y tế công cộng cùng tổ chức Health Bridge Canada năm 2009

Trang 25

đã thực hiện một nghiên cứu về thực trạng triển khai chính sách không hút thuốc trong nhà hàng tại Hà Nội Nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình triển khai nhà hàng không khói thuốc tại Hà Nội; tìm hiểu quan điểm và thái độ của chủ cửa hàng, nhân viên các nhà hàng tại Hà Nội về chính sách quy định của Luật PCTHTL trong nhà hàng, những khó khăn thuận lợi trong việc thực thi Luật PCTHTL trong nhà hàng Nghiên cứu trên 200 đối tượng khách hàng ngẫu nhiên tại 20 nhà hàng trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2009 cho thấy, 71% khách hàng cảm thấy khó chịu khi ngửi mùi khói thuốc khi dùng bữa, 91% khách hàng ủng hộ mô hình nhà hàng không khói thuốc [16]

Về quan điểm của khách hàng, có 89,4% người không hút thuốc cho biết

họ cảm thấy không thoải mái khi ăn nếu hít phải khói thuốc hay nhìn thấy người hút thuốc trong nhà hàng; 10,6% cảm thấy việc hút thuốc và ngửi thấy mùi khói thuốc là không bình thường; tỉ lệ khách hàng từng yêu cầu được ngồi ở những nơi không khói thuốc trong nhà hàng là 40% và có khoảng 80,2 % trong số đó đã được đáp ứng Có 93% khách hàng (cả những người hút thuốc và không hút thuốc) cho rằng nhà hàng nên sắp xếp riêng khu vực dành cho người hút thuốc hoặc có sự ngăn cách giữa khu vực hút thuốc và khu vực không hút [16]

Về sự ủng hộ và cam kết thực thi Luật PCTHTL của quản lý nhà hàng và nhân viên phục vụ, phần lớn đều cho rằng hút thuốc lá, tiếp xúc với khói thuốc

có hại cho sức khỏe, môi trường và thể hiện mong muốn được làm việc trong một môi trường không khói thuốc lá; e ngại những ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh và sự hài lòng của khách hàng Tại những nhà hàng có khu vực dành riêng cho người hút thuốc, quản lý và chủ nhà hàng đánh giá rằng không có sự ảnh hưởng tiêu cực nào đến lợi nhuận cũng như sự hài lòng của khách hàng, đồng thời, nhận thấy bản thân họ và các nhân viên phục vụ còn thiếu kỹ năng thuyết phục khách hàng trong việc hút thuốc đúng khu vực đã được quy định dành riêng cho người hút thuốc Một số nhân viên, quản lý cho biết

đã nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng không thể kiểm soát được khách hàng Chủ nhà hàng, quản lý, nhân viên cũng đều nhận thấy sự hữu ích và thể hiện cam kết ủng hộ,

Trang 26

chấp hành quy định của Luật PCTHTL và mong muốn sự linh hoạt của quy định chính sách sao cho phù hợp với đặc thù làm dịch vụ của họ Quản lý và chủ nhà hàng mong muốn có các phương tiện truyền thông cho cửa hàng mình như bảng biểu, tờ rơi, sách mỏng, poster về quy định nhà hàng không khói thuốc [17]

Tại Hà Nội, theo “Thông tin thường kỳ về PCTHTL - nhóm hoạt động PCTHTL Hội Y tế Công cộng” cho kết quả đánh giá nhanh về nhu cầu của người dân và khả năng thiết lập mô hình nhà hàng không khói thuốc trên 200 khách hàng tại 20 nhà hàng trên địa bàn Hà Nội trong năm 2009 cho thấy, 82,4% khách hàng cho rằng nên xây dựng khu vực dành riêng cho người không hút thuốc trong các nhà hàng nhằm phòng tránh tác hại của HTLTĐ và đảm bảo quyền lợi của những người không hút thuốc được hít thở bầu không khí không khói thuốc [15]

Một nghiên cứu khác của Hội Y tế Công cộng Việt Nam tiến hành năm

2014 cho thấy có đến 55,6% đối tượng quan sát thấy có hành vi hút thuốc tại các đám cưới, lễ hội; 52,9% các nhà hàng, quán bar-cafe, karaoke, vũ trường quan sát thấy hành vi hút thuốc, trong khi đó, tỷ lệ nhắc nhở lại rất thấp, chỉ chiếm 2,9% Nghiên cứu đồng thời cùng chỉ ra tỷ lệ ủng hộ cấm hút thuốc của các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là rất cao, có 64,7% đối tượng phỏng vấn ủng hộ việc cấm hút thuốc lá tại nhà hàng và 63,9% đối tượng ủng hộ việc cấm hút thuốc lá tại khách sạn [16]

1.5 Một số nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Nghiên cứu về thực thi Luật PCTHTL tại nhà hàng trên Thế giới đã chỉ ra mối liên quan giữa quy định Luật PCTHTL tại nhà hàng với kinh tế của nhà hàng, hành vi và sức khỏe của khách hàng

Tác động đến kinh tế nhà hàng:

Các nhà phân tích kinh tế cho rằng hút thuốc chỉ là một công cụ quầy bar

và chủ nhà hàng sử dụng để tối đa hóa lợi nhuận Do đó lệnh cấm hút thuốc lá sẽ làm giảm lợi nhuận và các hoạt động kinh tế chung trong một cộng đồng và hạn

Trang 27

chế khả năng tối ưu hóa thị trường của họ [52] Tuy nhiên, hầu như tất cả các nghiên cứu được báo cáo, Luật PCTHTL không hề gây ảnh hưởng xấu đến doanh số bán hàng [44], [50], việc làm của các nhà hàngvà ở một số nơi còn tăng doanh thu cửa hàng sau khi quy định cấm hút thuốc lá có hiệu lực như California [36], [50], Minnesota [37], [40], Washington [53], Florida [49] Kết quả của một nghiên cứu tại Mỹ (2004) cho thấy có sự gia tăng trung bình 16% trong doanh thu của nhà hàng áp dụng quy định không khói thuốc so với nhà hàng không áp dụng quy định này [31] Tại New Zealand, sau khi áp dụng quy định, doanh thu theo các quý trong năm tại các quán bar và câu lạc bộ thay đổi chút ít (tăng 0,6%); trong khi đó tại quán cà phê và nhà hàng bán hàng tăng 9,3% trong cùng thời kỳ [43]

Tại Tây Virginia, việc thực hiện Luật PCTHTL xác định có mối liên quan với 01% gia tăng việc làm trong các nhà hàng ở các Thành phố thực thi quy định này so sánh với các Thành phố không có quy định về không hút thuốc [36] Một nghiên cứu khác tại New Zealand cũng ghi nhận gia tăng việc làm cho 24% cho quán rượu và quán bar, 09% cho quán cà phê/nhà hàng và giảm 08% cho các câu lạc bộ (mặc dù việc làm trong quán rượu và quán bar có thể bị ảnh hưởng bởi sự tăng cao bất thường khi diễn ra một sự kiện thể thao lớn nào đó) chỉ sau một năm thực hiện quy định không hút thuốc lá tại nơi công cộng [43]

Tác động sức khỏe:

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây nên các bệnh lý nguy hiểm và tử vong cho con người Có bằng chứng khoa học mạnh mẽ chứng minh rằng khói thuốc lá gây ra bệnh nghiêm trọng như ung thư phổi và bệnh tim ở những người không hút thuốc [25] Tỷ lệ người HTLTĐ cao nhất là tại các quán rượu/cà phê/trà (92,6%) và các nhà hàng (89,7%) [47], [54]

Nhiều nghiên cứu cho thấy những lợi ích sức khỏe tích cực từ việc áp dụng quy định của Luật PCTHTL trong quán bar và nhà hàng Nơi làm việc không khói thuốc làm giảm việc hút thuốc lá của cá nhân và HTLTĐ đối với khách hàng, nhân viên nhà hàng, quán bar [47] Tại Châu Âu, sau khi nhiều quốc gia áp dụng

Trang 28

Luật PCTHTLở những nơi công cộng, thống kê cho thấy từ 2009-2012, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá thực tế của giảm, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá tại quán bar và quán rượu giảm từ 46% đến 28% [35] Thêm vào đó, thực thi Luật PCTHTL tại nhà hàng khuyến khích người hút thuốc bỏ thuốc lá, cải thiện sức khỏe của nhân viên nhà hàng và làm giảm cơn đau tim phải nhập viện trong dân số nói chung [36]

Năm 2011, nghiên cứu của Chenoweth and Associates, Inc về chi phí hiệu quả quy định của Luật PCTHTL trong nhà hàng và quán bar tại Bắc Carolina chỉ ra rằng, quy định không khói thuốc trong nhà hàng và quán bar tại đây giúp tiết kiệm gần 4,7 triệu USD cho chi phí chăm sóc điều trị và chi trả nhân công cho y tế mỗi năm [28]

Tác động lên hành vi của người hút thuốc lá:

Luật PCTHTL đã giúp 07 trong số 10 người hút thuốc muốn bỏ hút thuốc lá bằng cách cung cấp cho họ môi trường công cộng không phải chịu bất kỳ áp lực hay sự cám dỗ hút thuốc [51] Tại New Zealand, nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ người hút thuốc hút nhiều hơn bình thường tại các quán bar, câu lạc bộ đêm, sòng bạc, quán cà phê và giảm một nửa chỉ sau một năm áp dụng quy định cấm hút thuốc lá tại nhà hàng, quán bar (từ 58% đến 29%) [43]

Một nghiên cứu trên nhóm người hút thuốc lá tại 04 nước Anh, Úc, Mỹ và Canada (2006) về quy định cấm hút thuốc lá tại nhà hàng và quán bar chỉ ra rằng

sự ủng hộ cho môi trường không khói thuốc sẽ mạnh hơn khi quy định được

áp dụng hoặc người hút thuốc đã từng có trải nghiệm với quy định Hơn nữa, khi người hút thuốc đã có kinh nghiệm so sánh được (các lệnh cấm hút thuốc lá tại nhà hàng và các lệnh cấm tại các khu vực khác) Nhận thức hoặc khả năng thích ứng cũng rất quan trọng, những người hút thuốc tự nguyện không hút thuốc lá ở những nơi không có hạn chế và ủng hộ việc thực thi các lệnh cấm cũng liên quan mật thiết đến sự tuân thủ Luật PCTHTL [51]

Quan điểm của khách hàng

Đa số khách hàng ủng hộ quy định việc thực thi quy định Luật PCTHTL

Trang 29

tại nhà hàng Tại California (Mỹ), 70% số khách hàng quen ủng hộ lệnh cấm hoàn toàn [50] Tại Việt Nam, tỉ lệ khách hàng có thái độ ủng hộ tích cực đối với việc thực hiện Luật PCTHTL tại nhà hàng khá cao chiếm 81,7% (trong đó 54,9% đối tượng rất ủng hộ quy định này), chỉ có 5,3% khách hàng không ủng hộ, 12,9% không có ý kiến [17] Dù hút thuốc hay không hút thuốc, tỉ lệ ủng hộ đối với quy định của Luật PCTHTL tại nhà hàng cao hơn Tuy nhiên, nhóm khách hàng không hút thuốc có tỉ lệ ủng hộ quy định này cao hơn đáng kể so với nhóm khách hàng có hút thuốc [17] Một nghiên cứu trên nhóm khách hàng hút thuốc lá tại 04 quốc gia Úc, Mỹ, Canada và Anh (2006) cho thấy những người hút thuốc lá nhận thức rằng có quy định cấm hút thuốc tại các nhà hàng đều ủng hộ Luật PCTHTL nhiều hơn so với những người không biết đến Luật PCTHTL[28]

Một khảo sát cho thấy 78% cử tri bang Pennsylvania tin rằng khách hàng

và người lao động có quyền được sống, không khí không khói thuốc bên trong tất cả các nhà hàng, quán bar và sòng bạc [27] Nghiên cứu khác chứng kiến sự gia tăng từ 81% đến 91% mức độ ủng hộ quyền lợi của người lao động có khu vực làm việc không khói thuốc lá sau khi thực thi quy định này [43]

Tại New Zealand, sau một năm thực hiện quy định, chỉ có 196 đơn khiếu nại đến các cơ quan về hút thuốc trong hơn 9.900 cơ sở được cấp phép, mức độ ủng hộ cộng đồng cho quán bar một số khu vực đã tăng từ 56% đến 69% [43]

Về quan điểm của khách hàng, nghiên cứu tại Việt Nam (2009) cho thấy

có 89,4% người không hút thuốc cảm thấy không thoải mái khi ăn nếu hít phải khói thuốc hay nhìn thấy người hút thuốc trong nhà hàng; 10,6% cảm thấy việc hút thuốc và ngửi thấy mùi khói thuốc là không bình thường Tỷ lệ khách hàng từng yêu cầu được ngồi ở những nơi không khói thuốc trong nhà hàng là 40% và khoảng 80,2 % trong số đó đã được đáp ứng Có 93% khách hàng (cả những người hút thuốc và không hút thuốc) cho rằng nhà hàng nên sắp xếp riêng khu vực dành cho người hút thuốc hoặc có sự ngăn cách giữa khu vực hút thuốc và khu vực không hút [46] Đa số các đối tượng cho rằng quy định cấm hút thuốc trong nhà hàng

là có ích, chiếm 75,6% Tỉ lệ này trong nhóm đối tượng có hút thuốc là 50,2%

Trang 30

thấp hơn so với nhóm đối tượng không hút thuốc lá 86,3% (p<0,001) Trong nghiên cứu, tỉ lệ đối tượng cho rằng quy định này vừa có ích, vừa bất lợi là 8,4%; 7,1% cho rằng quy định này bất lợi và 8,9% đối tượng cho rằng quy định này không gây ảnh hưởng gì [15]

Trên toàn nước Mỹ, gần 72% số khách hàng quen nhà hàng nói rằng họ sẽ

đi ra ngoài để ăn thường xuyên hơn nếu nhà hàng thực hiện Luật PCTHTL [27] Kết quả này tương đồng với một khảo sát tại Việt Nam, có 89,1% khách hàng trả lời vẫn tiếp tục sử dụng dịch vụ nếu nhà hàng thực thi quy định cấm hút thuốc lá trong nhà Ở nhóm khách hàng hiện đang sử dụng thuốc lá, tỷ lệ đồng ý chiếm tới 68,2% Việc sử dụng dịch vụ của nhà hàng phụ thuộc nhiều vào chất lượng phục vụ, giá cả và độ tiện lợi chứ không phụ thuộc vào vấn đề có cho hút thuốc hay không [46]

Quan điểm của chủ nhà hàng và nhân viên phục vụ

Về sự ủng hộ và cam kết thực thi của quản lý nhà hàng và nhân viên phục vụ,

đa số ủng hộ việc thực thi Luật PCTHTL Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hội Y tế Công cộng (2009) cho thấy phần lớn, quản lý nhà hàng và nhân viên phục vụ đều cho rằng hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc có hại cho sức khỏe và môi trường Nhóm đối tượng này thể hiện mong muốn được làm việc trong một môi trường không khói thuốc lá và không e ngại những ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh và sự hài lòng của khách hàng [41] Năm 2015, sau khi Luật PCTHTL bắt đầu có hiệu lực, một khảo sát khác của Hội Y tế Công cộng trên quận Hai Bà Trưng và Ba Đình cho thấy có tới 50,8% chủ cửa hàng cho biết họ rất ủng hộ quy định cấm, 29,2% chủ cửa hàng có thái độ ủng hộ [16] Lý do chủ yếu các chủ cửa hàng đưa ra là “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” chiếm 80,2% [15] Tại những nhà hàng có khu vực dành riêng cho người hút thuốc, quản lý/ chủ nhà hàng đánh giá rằng không có sự ảnh hưởng tiêu cực nào đến lợi nhuận

và sự hài lòng của khách hàng [41] Quản lý/chủ nhà hàng, nhân viên đều nhận thấy sự hữu ích và thể hiện cam kết ủng hộ, chấp hành chính sách, điều luật về không hút thuốc lá trong nhà hàng và mong muốn sự linh hoạt của quy định

Trang 31

chính sách sao cho phù hợp với đặc thù làm dịch vụ của họ Quản lý/chủ nhà hàng mong muốn có các phương tiện truyền thông cho cửa hàng mình như bảng biểu, tờ rơi, sách mỏng, poster về quy định nhà hàng không khói thuốc [16], [17]

Tuy nhiên, chủ một số nhà hàng lo ngại rằng các chính sách có thể ảnh hưởng tiêu cực (như giảm doanh thu hoặc mất khách) tại các nhà hàng và quán bar kinh doanh và những lo ngại đó có thể đặt ra một rào cản đối với việc thực thi Luật PCTHTL [36] Kết quả này cũng tương tự với một số nghiên cứu tại Việt Nam [16] Tìm hiểu về các khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện Luật PCTHTL trong các nhà hàng, kết quả nghiên cứu tổng hợp các ý kiến của các quản lý/chủ nhà hàng cho thấy khó khăn được đề cập đến nhiều nhất là sợ mất lòng khách (85,2%); tiếp đến là họ sợ mất khách hàng (70,5%); 17,2% cho rằng nhân viên ngại không dám can thiệp với khách hút thuốc; 13,1% nghĩ rằng phụ thuộc vào

ý thức của khách; 10,7% sợ giảm doanh thu [16] Trong tổng số 20 chủ nhà hàng không ủng hộ quy định, lý do được nhắc đến nhiều nhất là do nhu cầu của khách [16]

Nghiên cứu này cũng cho thấy đa phần chủ cửa hàng (68,2%) cho biết sẽ thực hiện quy định của Luật PCTHTL trong nhà hàng nếu bị bắt buộc Một số chủ nhà hàng cho biết họ cần sự hỗ trợ để thực hiện quy định cấm hút thuốc lá trong khu vực nhà hàng, có 40,5% đối tượng cần có quy định hướng dẫn rõ ràng; 31% cho rằng cần tăng cường hoạt động truyền thông; 14,3% cần Luật quy định giám sát chặt chẽ việc thực thi quy định cấm; 11,9% cho rằng cần cấm bán thuốc lá [16]

Một nghiên cứu tại New Zealand cho thấy sau một năm áp dụng quy định,

tỷ lệ quản lý quán bar tán thành quy định không khói thuốc tăng từ 44% đến 60% Tỷ lệ các nhà quản lý đồng ý rằng nhân viên có quyền làm việc trong một môi trường không khói thuốc đã tăng từ 55% đến 62%, chỉ có 15% không đồng ý

Và tỷ lệ các nhà quản lý đồng ý rằng khách hàng có quyền được hưởng một môi trường không khói thuốc tại một số khu vực tăng từ 53% lên 65% [43]

Trang 32

1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Hai Bà Trưng là quận ở phía Đông Nam nội thành Hà Nội với diện tích trên

10 km2, dân số 340.000 người Hiện có 20 phường: Nguyễn Du, Lê Đại Hành, Bùi Thị Xuân, Phố Huế, Ngô Thì Nhậm, Phạm Đình Hổ, Đồng Nhân, Đống Mác, Bạch Đằng, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Cầu Dền, Bách Khoa, Quỳnh Lôi, Bạch Mai, Quỳnh Mai, Vĩnh Tuy, Minh Khai, Trương Định, Đồng Tâm và trên

300 nhà hàng ăn uống đang hoạt động

Trang 33

Việc thực hiện Luật PCTHTL trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Báo cáo của Ban chỉ đạo PCTHTL Quận Hai Bà Trưng cho hay, năm

2018, quận vẫn tiếp tục triển khai thực hiện mô hình “Môi trường không khói thuốc lá”, “Nhà hàng không khói thuốc lá” tại các cơ quan, nhà hàng, khách sạn, trường học, bệnh viện trên địa bàn quận.Theo đó, các đơn vị này đã ký cam kết với quận về việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật PCTHTL

Đáng chú ý, quận đã duy trì triển khai mô hình điểm “Môi trường công sở

và nhà trường không khói thuốc lá” tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn quận; mô hình điểm “Nhà hàng không khói thuốc lá” tại phường Bùi Thị Xuân

và Lê Đại Hành; triển khai nhân rộng tại 18 phường còn lại Đặc biệt, phường

Lê Đại Hành đăng ký sáng kiến sáng tạo cấp Thành phố về triển khai mô hình điểm về “Nhà hàng không khói thuốc lá” trên địa bàn phường

Năm 2018, quận Hai Bà Trưng đã ban hành kế hoạch số 231/KH-UBND

về công tác PCTHTL năm 2018 Theo đó, kế hoạch đặt ra mục tiêu nâng cao nhận thức về tác hại thuốc lá cho thành viên Ban chỉ đạo quận, phường và nhân dân trên địa bàn quận Xây dựng mô hình môi trường không khói thuốc trên địa bàn quận và tăng cường hoạt động thanh kiểm tra việc thực thi Luật PCTHTL

Cụ thể, quận sẽ kiện toàn Ban chỉ đạo PCTHTL quận, phường, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn quận Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về tác hại của việc sử dụng thuốc lá, lợi ích của việc thực hiện môi trường không khói thuốc, các quy định của Luật PCTHTL và các văn bản hướng dẫn liên quan

Đồng thời, duy trì, nhân rộng việc triển khai thực hiện mô hình “Môi trường không thuốc lá” tại các nhà hàng, khách sạn, cơ sở giáo dục, bệnh viện, nơi công cộng và nơi làm việc tại cơ quan, đơn vị; nhân rộng mô hình điểm “Nhà hàng không khói thuốc lá” tại các phường trên địa bàn quận

Để triển khai kế hoạch, quận Hai Bà Trưng sẽ đẩy mạnh công tác truyền thông về tác hại thuốc lá và thực thi Luật PCTHTL Tổ chức tập huấn về Luật PCTHTL và các văn bản liên quan trong việc xây dựng, triển khai chính sách

Trang 34

không hút thuốc lá nơi công cộng và nơi làm việc tại cơ quan, đơn vị, thực hiện môi trường không khói thuốc lá trên địa bàn quận [1]

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ nhà hàng/người quản lý nhà hàng đang hoạt động trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

- Khách hàng đang sử dụng dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

- Thành viên Ban chỉ đạo PCTHTL quận Hai Bà Trưng hoặc phường

- Người không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Người dưới 18 tuổi

- Người có các vấn đề về tâm thần

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 đến tháng 12/2018

- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 08 đến tháng10 năm 2018

- Địa điểm nghiên cứu: 20 phường thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng, định tính và quan sát

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Chọn mẫu có chủ đích toàn bộ 326 nhà hàng trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

- Chọn ngẫu nhiên mỗi nhà hàng 01 khách hàng đang sử dụng dịch vụ

ăn uống tại thời điểm tiến hành phỏng vấn trong nhà hàng Tổng số khách hàng tham gia nghiên cứu là 326 khách hàng

Trang 36

- Chọn có chủ đích: Đại diện 01 thành viên Ban chỉ đạo PCTHTL quận và

01 thành viên Ban chỉ đạo PCTHTL phường

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

2.2.3.1 Nghiên cứu định lượng

- Phỏng vấn chủ/quản lý nhà hàng (phụ lục 1): Lập danh sách toàn bộ nhà hàng trên địa bàn quận (dựa theo bảng tổng hợp điều tra của 20 phường vào tháng 03/2018) Bắt đầu phỏng vấn chủ/quản lý nhà hàng theo bảng hỏi từ nhà hàng đầu tiên trong danh sách Nếu đối tượng không đáp ứng đủ các tiêu chí lựa chọn thì chuyển sang đối tượng tiếp theo trong danh sách Điều tra viên (ĐTV) thu thập cho đến khi đủ hết các nhà hàng theo danh sách Thực tế điều tra 326 chủ/quản lý nhà hàng

- Phỏng vấn khách hàng (phụ lục 2): Mỗi nhà hàng chọn ngẫu nhiên 01 khách hàng để phỏng vấn Nếu khách hàng thứ nhất không đồng ý tham gia nghiên cứu, thì chọn người thứ 2 và tiếp theo cho đến khi có khách hàng đồng ý tham gia nghiên cứu Chỉ phỏng vấn với những khách đã ăn uống xong, đang nghỉ ngơi tại nhà hàng Nếu chủ/người quản lý nhà hàng không đồng ý cho phỏng vấn khách hàng vì sợ gây ảnh hưởng tới khách thì đợi khách ăn xong ra ngoài và xin hỏi để phỏng vấn

2.2.3.2 Nghiên cứu định tính

Phỏng vấn sâu cán bộ là thành viên Ban chỉ đạo PCTHTL quận và phường gồm: 01 lãnh đạo Phòng Y tế; 01 lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) phường có nhà hàng tham gia nghiên cứu để tìm hiểu vai trò của các ban, ngành địa phương trong thực thi Luật PCTHTL và đề xuất giải pháp thực thi Luật hiệu quả (phụ lục 3)

Phỏng vấn sâu một số chủ/quản lý nhà hàng (Phụ lục 1) và khách hàng có

sử dụng thuốc lá (Phụ lục 2) đang sử dụng dịch vụ tại nhà hàng dưới dạng câu hỏi mở để làm rõ hơn về thực trạng thực hiện Luật PCTHTL tại các nhà hàng Các chủ nhà hàng và khách hàng tham gia phỏng vấn sâu được chọn theo cách thuận tiện

Trang 37

2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

NHÓM

PHƯƠNG PHÁP THU THẬP

50 tuổi; từ 50 tuổi trở lên

Phỏng vấn

Giới tính Tỉ lệ % chủ nhà hàng theo

giới tính: Nam, nữ Quan sát

Trình độ học vấn

Tỉ lệ % chủ nhà hàng theo các nhóm trình độ học vấn:

Không biết chữ; tiểu học;

trung học cơ sở; phổ thông trung học; trung cấp, cao đẳng; đại học trở lên

Tỉ lệ % nhà hàng theo số năm kinh doanh nhà hàng: Dưới

01 năm; từ 01 đến dưới 02 năm; từ 02 năm trở lên

Phỏng vấn

Lượng nhân viên

Tỉ lệ % nhà hàng theo số lượng nhân viên của nhà hàng Phỏng vấn

Quy mô nhà hàng

Tỉ lệ % nhà hàng theo quy mô: Từ 30 đến dưới 50 suất ăn/lần; từ 50 đến dưới 100 suất ăn/lần; từ 100 suất ăn trở lên/lần phục vụ

Phỏng vấn

Thời gian hoạt động

Tỉ lệ % nhà hàng theo 04 nhóm thời gian hoạt động:

Buổi sáng, chiều, tối, cả ngày

Phỏng vấn

Trang 38

Tỉ lệ % chủ nhà hàng biết về Luật PCTHTL theo 02 nhóm:

Có; không

Phỏng vấn

Biết về quy định PCTHTL trong nhà hàng

Tỉ lệ % chủ nhà hàng biết về quy định PCTHTL trong nhà hàng theo 02 nhóm: Có; không

Phỏng vấn

Biết những tiêu chí nhà hàng phải thực hiện theo Luật PCTHTL

Tỉ lệ % chủ nhà hàng biết những tiêu chí nhà hàng phải thực hiện theo Luật PCTHTL (đối với những nhà hàng đã thực hiện)

Phỏng vấn

Nguồn thông tin ĐTNC biết đến quy định

về thực hiện Luật PCTHTL trong nhà hàng

Tỉ lệ % chủ nhà hàng biết được các quy định về PCTHTL trong nhà hàng theo từng nguồn thông tin (đối với những nhà hàng đã thực hiện)

Phỏng vấn

2 Thực thi Luật PCTHTL tại các nhà hàng

Nhà hàng thực hiện quy định Luật PCTHTL

Tỉ lệ % nhà hàng nghiên cứu thực hiện Luật PCTHTL: Có;

không

Phỏng vấn

Thời gian nhà hàng bắt đầu thực hiện quy định của Luật PCTHTL

Tỉ lệ nhà hàng thực hiện quy định của Luật PCTHTL theo từng nhóm năm: dưới 1 năm;

1 đến dưới 2 năm; từ 2 đến năm trở lên

Phỏng vấn

Trang 39

Tỉ lệ % nhà hàng thực hiện Luật PCTHTL theo từng nhóm lý do

Phỏng vấn

Thực hiện các tiêu chí trong cam kết nhà hàng không khói thuốc

Tỉ lệ % chủ nhà hàng thực hiện từng tiêu chí trong cam kết nhà hàng không khói thuốc lá

Phỏng vấn

Tình trạng hút thuốc của khách hành

Tỷ lệ % khách hàng còn sử dụng thuốc khi đến nhà hàng Phỏng vấn

Vị trí hút thuốc của khách hàng

Tỷ lệ % các vị trí khách hàng thường hút thuốc khi đến nhà hàng

Tỉ lệ % chủ nhà hàng ủng hộ thực hiện Luật PCTHTL theo

03 mức độ: Không ủng hộ, ủng hộ, không có ý kiến

Phỏng vấn

Biện pháp đảm bảo khách hàng và nhân viên tuân thủ Luật PCTHTL trong nhà hàng

Tỉ lệ % nhà hàng thực hiện biện pháp để đảm bảo khách hàng và nhân viên tuân thủ Luật PCTHTL trong nhà hàng theo 02 nhóm: Có, không và theo từng biện pháp

Phỏng vấn và Quan sát

Lợi ích sau thời gian thực hiện Luật PCTHTL

Tỉ lệ % nhà hàng biết về lợi ích sau thời gian thực hiện Luật PCTHTL

Phỏng vấn

Thuận lợi sau thời gian thực hiện Luật PCTHTL

Tỉ lệ % nhà hàng thấy được từng thuận lợi sau thời gian thực hiện Luật PCTHTL

Phỏng vấn

Trang 40

Tỉ lệ % nhà hàng gặp từng khó khăn khi thực hiện Luật PCTHTL; khó khăn khó có thể khắc phục

Phỏng vấn

Thay đổi doanh thu nhà hàng

Tỉ lệ % nhà hàng có doanh thu thay đổi: Tăng lên;

Không thay đổi; Giảm đi

Phỏng vấn

Lượng khách hàng thay đổi

Tỉ lệ % nhà hàng có lượng khách hàng thay đổi sau thời gian thực hiện Luật PCTHTL:

Tăng; Thay đổi không đáng kể; Giảm

Phỏng vấn

Kinh doanh thuốc lá

Tỉ lệ % nhà hàng có kinh doanh thuốc lá: Có; Không Phỏng vấn Được nhắc

nhở về thực hiện Luật PCTHTL

Tỉ lệ % nhà hàng được nhắc nhở về thực hiện Luật PCTHTL:

Có; không

Phỏng vấn

Đơn vị nhắc nhở

Tỉ lệ % nhà hàng được từng người/đơn vị nhắc nhở Phỏng vấn

Lý do không thực hiện Luật PCTHTL

Tỉ lệ % nhà hàng không thực hiện Luật PCTHTL theo từng

lý do

Phỏng vấn

Thực hiện quy định Luật PCTHTL nếu bắt buộc

Tỉ lệ % nhà hàng chưa thực hiện Luật PCTHTL sẽ thực hiện nếu bắt buộc theo từng

03 nhóm: Có; không; không biết/không chắc chắn

Phỏng vấn

Ngày đăng: 10/04/2019, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w