Ảnh hưởng của chính sách, nền tảng CNTT ảnh hưởng tới ngành bán lẻ linh kiện máy tính: Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ KH&CNcùng với phát triển giáo d
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
……….………
Trang 2CHƯƠNG I THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA
dữ liệu thích hợp nó có thể tự động giải quyết vấn đề hay dự đoán trước sự thay đổi của
hệ thống Khoa học nghiên cứu về lý thuyết, thiết kế và ứng dụng của máy tính được gọi
là khoa học máy tính, hay khoa học điện toán.Từ "máy tính" (computers), đầu tiên, đượcdùng cho những người tính toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc,nhưng hiện nay nó có nghĩa là máy móc hoàn toàn Đầu tiên máy tính chỉ giải các bàitoán số học, nhưng các máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế Máy tính có thể mua ởAnh đầu tiên là máy Ferrani star
Vào giữa những năm 50 khi những thế hệ máy tính đầu tiên được đưa vào hoạtđộng thực tế với những bóng đèn điện tử thì chúng có kích thước rất cồng kềnh và tốnnhiều năng lượng Hồi đó việc nhập dữ liệu vào các máy tính được thông qua các tấm bìa
mà người viết chương trình đã đục lỗ sẵn Mỗi tấm bìa tương đương với một dòng lệnh
mà mỗi một cột của nó có chứa tất cả các ký tự cần thiết mà người viết chương trình phảiđục lỗ vào ký tự mình lựa chọn Các tấm bìa được đưa vào một "thiết bị" gọi là thiết bịđọc bìa mà qua đó các thông tin được đưa vào máy tính (hay còn gọi là trung tâm xử lý)
và sau khi tính toán kết quả sẽ được đưa ra máy in Như vậy các thiết bị đọc bìa và máy
in được thể hiện như các thiết bị vào ra (I/O) đối với máy tính Sau một thời gian các thế
hệ máy mới được đưa vào hoạt động trong đó một máy tính trung tâm có thể được nối vớinhiều thiết bị vào ra (I/O) mà qua đó nó có thể thực hiện liên tục hết chương trình nàyđến chương trình khác
Cùng với sự phát triển của những ứng dụng trên máy tính các phương pháp nângcao khả năng giao tiếp với máy tính trung tâm cũng đã được đầu tư nghiên cứu rất nhiều.Vào giữa những năm 60 một số nhà chế tạo máy tính đã nghiên cứu thành công nhữngthiết bị truy cập từ xa tới máy tính của họ Một trong những phương pháp thâm nhập từ
xa được thực hiện bằng việc cài đặt một thiết bị đầu cuối ở một vị trí cách xa trung tâm
Trang 3tính toán, thiết bị đầu cuối này được liên kết với trung tâm bằng việc sử dụng đường dâyđiện thoại và với hai thiết bị xử lý tín hiệu (thường gọi là Modem) gắn ở hai đầu và tínhiệu được truyền thay vì trực tiếp thì thông qua dây điện thoại.
Phân loại máy tính theo mức cải tiến công nghệ:
Một cách phân loại máy tính ít mơ hồ hơn là theo mức độ hoàn thiện của công nghệ
lạc viễn thông và trong thập niên 1940 những chiếc máy tính thuần túy điện tử đã được
bởi mạch tích hợp bán dẫn (chíp bán dẫn, hay IC) cho đến hiện nay
Đến nay thì máy tính hiện đại đã trở nên khá phổ biến và ứng dụng vào nhiều lĩnh vựckhác nhau của đời sống
Sự phát triển lũy thừa của công nghệ máy tính:
Các thiết bị tính toán tăng gấp đôi năng lực (được định nghĩa là số phép tính thực hiệntrong một giây cho mỗi 1.000 USD chi phí) sau mỗi 18 đến 24 tháng kể từ năm 1900.Gordon E Moore, người đồng sáng lập ra Intel, lần đầu tiên đã mô tả tính chất này của sựphát triển vào năm Cùng với việc tăng khả năng tính toán trên một đơn vị chi phí thì tốc
độ của sự thu nhỏ kích thước cũng tương tự Những chiếc máy tính điện tử đầu tiên nhưENIAC (ra đời năm 1946) là một thiết bị khổng lồ nặng hàng tấn, tiêu thụ nhiều điệnnăng, chiếm một diện tích lớn, thực hiện được ít phép tính và đòi hỏi nhiều người điềukhiển để có thể hoạt động được Chúng đắt đến mức chỉ có các chính phủ hay các việnnghiên cứu lớn mới có đủ điều kiện để duy trì hoạt động của chúng Ngược lại, các máytính ngày nay có nhiều sức mạnh hơn, rẻ tiền hơn, có kích thước nhỏ hơn, tiêu thụ ít điệnnăng hơn và phổ biến ở mọi nơi
II Ảnh hưởng của chính sách, nền tảng CNTT ảnh hưởng tới ngành bán lẻ linh kiện máy tính:
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN)cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lựcđẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước Mặc dù nước ta cònnghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự
nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả nước, tiềm lực KH&CN đã đượctăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh
Trang 4nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưađáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước KH&CN nước ta đang đứng trướcnguy cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của KH&CN và kinh tế trithức trên thế giới.
Thách thức lớn nhất trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay là sự yếukém về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp của nền kinh tế, dẫn đếnnguy cơ kéo dài tình trạng tụt hậu của nước ta so với các nước trong khu vực và khó cóthể thực hiện được mục tiêu CNH, HĐH Điều này đòi hỏi KH&CN phải góp phần quantrọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chiến lược phát triển KH & CN có nhiệm vụ chủ yếu sau: Xây dựng hệ thống KH &
CN nước ta có liên kết, có động lực có năng lực đủ mạnh và được quản lý theo những cơchế thích hợp; đẩy mạnh hội nhập quốc tế về KH & CN; góp phần quyết định nâng caochất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; phục vụ các hiệu quả cómục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã được Đại hội Đảng toànquốc lần thứ IX thông qua
Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ:
Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càngnhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo trước và cóảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người
Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu Sứcmạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN Lợi thế về nguồn tàinguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn Vai trò củanguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩaquyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế
Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ cấu kinh tếtheo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao,công nghệ thân môi trường; đẩy mạnh chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nhiềunguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước đang phát triển Nhiều nước đangphát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức đầu tưcho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất là một số hướng công nghệ cao chọn lọc; tăngcường cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹpkhoảng cách phát triển
Trang 5 Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế:
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Đây vừa là quátrình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốcgia
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêucầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm,đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý, đang đặt ra ngày càng gay gắthơn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành tựu to lớn của công nghệthông tin - truyền thông, xu hướng phổ cập Internet, phát triển thương mại điện tử, kinhdoanh điện tử, ngân hàng điện tử, Chính phủ điện tử, v.v đang tạo ra các lợi thế cạnhtranh mới của các quốc gia và từng doanh nghiệp
Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực,tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý, v.v thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là điều khótránh khỏi
III Bối cảnh trong nước:
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã xác định mụctiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệtđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lựckhoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăngcường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơbản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
IV Thách thức:
Trong bối cảnh phát triển năng động và khó dự báo cả về KH&CN và kinh tế củathế giới hiện đại, khả năng nắm bắt thời cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài tuỳthuộc nhiều vào trình độ và năng lực KH&CN của quốc gia Thách thức lớn nhất đối với
sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nâng cao nhanh chóng năng lực KH&CN
để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn, trong điều kiện nước ta còn nghèo, vốn đầu
tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn có khoảng cách khá xa so vớinhiều nước trên thế giới và trong khu vực
Trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiênnhiên, giá lao động rẻ dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên
Trang 6nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao động thì sẽ không có khảnăng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến
từ bên ngoài
Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng trướcnhững khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh tế, thương mại,tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v phù hợp với thông lệ quốc tế Tình trạng nàynếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội nhập khu vực và quốc
tế
Trước những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách độtphá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện phápmạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu kinh tế và KH&CNngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi
V Quan điểm và mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010:
Quan điểm chủ đạo về phát triển KH&CN đã được chỉ rõ trong các văn kiện của Đảng
và Nhà nước, như: Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Luật KH&CN, Văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ IX và Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX mới đây Những quanđiểm này cần được cụ thể hoá và phát triển phù hợp với bối cảnh mới trong nước và quốc
tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2010
1 Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lựcđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Phát triển kinh tế - xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoa học vàcông nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và anninh
3 Bảo đảm gắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo; giữa khoahọc và công nghệ; giữa khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kýthuật
4 Đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, đồng thời phát huynăng lực khoa học và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm lực khoahọc và công nghệ của đất nước
5 Tập trung đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, đồng thời đẩymạnh xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ
Trang 7 Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010:
Chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2010 tập trung thực hiện 3 nhóm mục tiêuchủ yếu:
a) Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình công nghiệp hoá rút ngắn,phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thành công vào nềnkinh tế thế giới
b) Góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và nănglực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, đảm bảo quốc phòng và an ninh
c) Xây dựng và phát triển năng lực khoa học và công nghệ đạt trình độ trung bìnhtiên tiến trong khu vực
VI Nhiệm vụ trọng tâm phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010:
Tập trung nghiên cứu và phát triển:
hệ thống chuyển mạch; các hệ thống truyền dẫn quang dung lượng lớn; các côngnghệ truy nhập; hệ thống thông tin di động, mạng Internet thế hệ mới; công nghệthông tin vệ tinh; công nghệ quản lý mạng; công nghệ phát thanh và truyền hìnhsố
tiện, hệ thống thông tin địa lý, đồ hoạ; phát triển phần mềm trên môi trường mạng;các giải pháp "quản lý nguồn lực của các tổ chức"; phần mềm nguồn mở; quy trìnhsản xuất phần mềm; quy trình đánh giá, kiểm chứng và nâng cao chất lượng phầnmềm; thiết kế, xây dựng các hệ thống tin học ứng dụng
dạng chữ Việt, xử lý ảnh, nhận dạng tiếng Việt; công nghệ tri thức; hệ chuyên gia;dịch tự động
của tin học; một số hướng liên ngành chọn lọc như công nghệ nano, linh kiện điện
tử thế hệ mới, làm cơ sở cho phát triển ứng dụng tin học cấp nano
tế, xã hội, đời sống, quốc phòng và an ninh:
dựng các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý nhà nước,xây dựng Chính phủ điện tử
Trang 8vực và quốc tế, như: bưu điện, ngân hàng, tài chính, du lịch, thương mại, đặc biệt
là thương mại điện tử; trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, quốcphòng, an ninh, v.v Thực hiện các dự án tin học hoá và dịch vụ CNTT - TT trongcác doanh nghiệp ứng dụng CNTT - TT trong khu vực nông thôn
trung học đến đại học; ứng dụng CNTT - TT trong nghiên cứu khoa học, trong cáchoạt động điều tra, thăm dò, khảo sát tài nguyên và theo dõi biến động môi trường,trong các lĩnh vực y tế, văn hoá, du lịch
công nghệ thông tin - truyền thông:
quốc tế Xây dựng công nghiệp nội dung, công nghiệp dịch vụ CNTT - TT, côngnghiệp phần mềm phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu; đồng thời tậndụng các khả năng chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết để phát triển cóchọn lọc các cơ sở lắp ráp, chế tạo linh kiện và thiết bị tin học hiện đại để dành lạithị phần phần cứng trong nước và xuất khẩu Đưa công nghiệp CNTT - TT trởthành một ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt kim ngạch xuấtkhẩu cao
Viện công nghệ thông tin quốc gia đã làm một cuộc khảo sát việc ứng dụng công nghệthông tin tại 217 doanh nghiệp và những con số có được đã khiến mọi người không khỏibất ngờ Hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đầu tư khoản chi phí rất nhỏ bé là0,05- 0,08% doanh thu cho công nghệ thông tin, trong khi ở Mỹ con số trung bình là1,5% Chính sách đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp còn nhiều bất cập Đaphần doanh nghiệp chỉ đầu tư một lần cho hệ thống thông tin và nâng cấp các ứng dụng,
do đó đầu tư đã thấp và hiệu quả của nó còn thấp hơn
Cuộc khảo sát còn cho thấy đến thời điểm này vẫn có những doanh nghiệp chưa cómột ứng dụng công nghệ thông tin nào Khối doanh nghiệp nhà nước còn 10%, trong khicác thành phần doanh nghiệp khác thì có đến 60% chưa đưa công nghệ thông tin vàocông việc của mình 40% doanh nghiệp chưa dám đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin
vì không đủ nhân viên có trình độ để quản lý và khai thác Các doanh nghiệp tuy đã cónhận thức bước đầu về tầm quan trọng của công nghệ thông tin nhưng số lượng cácdoanh nghiệp có thể khai thác được sâu khả năng của công nghệ thông tin mới chỉ dừnglại ở con số ít ỏi Một doanh nghiệp phát biểu: “Nhiều nơi đã dùng máy tính làm các loạivăn bản từ khá lâu, nhưng máy tính có thể ứng dụng được vào công việc gì nữa và làmnhư thế nào để thật sự hiệu quả, thì có lẽ đến 80% vẫn rất lúng túng” Không có gì đáng
Trang 9ngạc nhiên khi chương trình quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi nhất trong các doanhnghiệp là quản lý tài chính, kế toán Khoảng 88% số doanh nghiệp áp dụng công nghệthông tin có sử dụng phần mềm kế toán tài chính, nhưng ngay cả đối với những doanhnghiệp đã ứng dụng công nghệ thông tin, chỉ có khoảng 20% các phần mềm thoả mãnđược yêu cầu của họ
VII Một số thông tin, số liệu về thị trường, tình hình phân phối linh kiện máy tính ở Việt Nam:
Ở Việt Nam thị trường bán lẻ linh kiện máy tính mới hình thành, nhưng có sự pháttriển vượt bậc qua từng năm đi kèm với đó là những biến động tương đối thường xuyêncủa thị trường
Một số số liệu thông tin về bán lẻ linh kiện máy tính vào năm 2008 được pcwordcông bố đánh giá như sau:
Hầu hết các sản phẩm chỉ giảm giá tuần tự theo tháng vào nửa đầu năm 2008,nhưng 6 tháng cuối năm hầu như giá đã không giảm hoặc giảm rất nhẹ, đây là điểm khácbiệt so với nhiều năm trước
Suốt nhiều năm theo dõi thị trường bán lẻ sản phẩm CNTT, chúng tôi nhận thấynăm 2008 khá đặc biệt Hầu hết các sản phẩm chỉ giảm giá tuần tự theo tháng vào nửađầu năm 2008, nhưng 6 tháng cuối năm, hầu như giá đã không giảm hoặc giảm rất nhẹ,đây là điểm khác biệt so với nhiều năm trước Và có thể nó cũng phản ánh đúng thịtrường Việt Nam khi mà tỷ lệ "trượt giá” trong những tháng cuối năm ngày càng lớn.Năm 2008 cũng đánh dấu sự bùng nổ của thị trường máy tính xách tay tại Việt Nam với
sự tham gia của hầu hết các nhà sản xuất nổi tiếng của nước ngoài Trong khi đó, dù ởnhững mức độ khác nhau (xét về mô hình), HP, NEC, Acer đều đã công bố việc lắp rápmáy tính để bàn tại Việt Nam ĐTDĐ iPhone dù chưa được bán chính thức nhưng cũng
đã trở thành 1 trong những sản phẩm CNTT đang rất ăn khách tại Việt Nam
Cụ thể về các biến động về giá và lượng hàng với từng loại linh kiện tiêu biểu nhưsau:
trong năm 2008 trên thị trường bán lẻ có nhiều biến động nhất Bằng chứng chothấy là dù mới xuất hiện trên thị trường vào tháng 7/2008, sản phẩm "đình đám"Intel Core2 Quad - Q6600 (2,4GHz) có giá gần 600USD, nhưng đến tháng12/2008, giá của model này chỉ ở mức dưới 300USD Đây không phải là trườnghợp ngoại lệ mà hầu hết các model CPU khác của cả AMD lẫn Intel đều đã giảmgiá không nhiều thì ít trong năm qua Năm 2008 cũng đánh giá sự trỗi dậy củaAMD so với chính họ trong các năm trước Tháng 6/2008 cũng là thời điểm đánhdấu sự "tuyệt chủng" của các model CPU đình đám một thời như: AMD
Trang 10(326) (Xem sơ đồ bảng giá bán lẻ CPU).
Một vài sản phẩm cao cấp có giảm giá nhưng nếu so với tình hình thị trường củaloại sản phẩm này vào thời điểm năm ngoái thì sự giảm giá này không đáng kể Ví
dụ, sản phẩm được coi là cao cấp nhất trên thị trường bán lẻ dành cho máy tính đểbàn hiện nay là SEAGATE Sata2 750GB có giá 395USD vào thời điểm xuất hiệntrên thị trường (tháng 4/2008), và đến tháng 7/2008 giá của nó đã giảm xuống còn360USD, sau đó giữ cho đến nay Năm 2008 cũng chứng kiến sự kết thúc của cácsản phẩm ổ cứng có dung lượng từ 40GB trở xuống vào thời điểm tháng 7 Thịtrường ổ cứng năm 2008 là sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu Seagate, Samsung,Western Digital và Hitachi Tuy nhiên vào thời điểm cuối năm có vẻ như Hitachikhông được bán nhiều trong một số cửa hàng bán lẻ linh kiện lớn (Xem sơ đồbảng giá bán lẻ ổ cứng)
Trang 11 RAM: như 1 chú ngựa bất kham, sản phẩm RAM mới nhất vừa được bán ra thịtrường vào tháng 7/2008, DDRAM2 TWIN 2GB hiệu Corsair có giá là 345USD;nhưng sau đó đúng 1 tháng, model này chỉ còn 241USD Sang tháng 9, giá của nólại tăng lên 330USD, cứ thế, điệp khúc tăng giảm của loại RAM này diễn ra hàngtháng đến tận cuối năm Trong khi đó, hầu hết các loại RAM khác đều có giá khá
ổn định hoặc giảm không đáng kể Cũng như CPU và ổ cứng, năm 2008, thịtrường chứng kiến một số loại RAM đình đám một thời bị loại khỏi cuộc chơi.Điển hình trong đó có SDRAM 128MB, sản phẩm duy nhất còn sót lại của dòngSDRAM Có 1 điều khá lý thú là loại RAM này cho đến trước khi bị ngưng bántrên thị trường (tháng 8/2008) có giá khoảng 13,5USD trong suốt hơn 1 năm.Cũng tương tự như vậy, DDRAM 128MB đã nói lời chia tay với người dùng vàotháng 3/2008 (Xem sơ đồ bảng giá bán lẻ RAM)
Trang 12 VGA card: nếu ổ cứng là một trong những sản phẩm có giá ổn định trong năm
2008, thì VGA card là một trong những sản phẩm có giá ổn định nhất Suốt trong
12 tháng qua, gần như giá của các model VGA card không giảm nhiều Đây cũng
là một trong những sản phẩm được các chủ cửa hàng bán lẻ linh kiện cho biết làbán chạy nhất Điều đó cũng dễ hiểu khi mà thị trường game máy tính và giải trítrên máy tính ngày càng phát triển tại Việt Nam Tính đến tháng 12/2008, VGAcard có khoảng 117 model (một con số khổng lồ so với các sản phẩm linh kiệnmáy tính khác) Đa số các nhà sản xuất VGA card đều đến từ Đài Loan Giá củacác sản phẩm này đang ở khoảng từ 35-620USD, tuỳ tính năng và nhãn hiệu.(Xem sơ đồ bảng giá bán lẻ VGA card)
Trang 13 Mainboard: thường thì diễn tiến giá cả của VGA card và mainboard giống nhau,
có lẽ một phần là do hầu hết các nhà sản xuất mainboard hiện nay cũng là các nhàsản xuất VGA card Chính vì thế mà giá bán lẻ mainboard tại thị trường Việt Namtrong năm 2008 cũng ổn định như VGA card Năm nay đánh dấu việc Intel khôngcòn mặn mà lắm với thị trường mainboard, số lượng model sản phẩm của họ trênthị trường ngày càng ít đi và hiện chỉ còn đếm trên đầu ngón tay (Xem sơ đồ bảnggiá bán lẻ Mainboard)
Trên thị trường bán lẻ, dù giá của không ít sản phẩm có biến đổi thất thường nhưng nhìnchung là theo xu hướng giảm giá Cũng trong năm 2008, khá nhiều sản phẩm cũ của nhiềumặt hàng đã không còn được bán, trong khi nhiều công nghệ và sản phẩm mới đã đượccông bố Những điều này cho thấy, dù nền kinh tế có phần giảm sút nhưng thị trường
Trang 14phẩm mới và giá giảm
Tốc độ phát triển sản phẩm của ngành bán lẻ linh kiện máy tính cũng phát triển đáng kể Thật khó có thể đếm được trong năm 2008 thị trường bán lẻ linh kiện Việt Nam đã xuấthiện bao nhiêu chủng loại sản phẩm mới dc bày bán
Sự tham gia của hầu hết nhà sản xuất linh kiện tại Việt Nam cũng làm cho thị trường nàytrở nên phong phú và người dùng có nhiều lựa chọn hơn
VIII Phản ánh thị trường, nhu cầu và cơ hội của ngành bán lẻ linh kiện máy tính:
Kết quả của việc phát triển này được kết luận với số liệu dưới đây :
Kết quả nghiên cứu thị trường máy tính cá nhân hàng quí của IDC cho thấy thị trường tạiViệt Nam trong quí 3 năm 2008 tăng trưởng 8,5% so với quí trước và tăng 12,5% so vớicùng kỳ năm 2007, ước đạt 365.600 máy Mặc dù sức tiêu thụ vẫn còn bị ảnh hưởng xấu
từ các điều kiện bất lợi của kinh tế vĩ mô từ đầu tháng 7 như lạm phát, giá xăng dầu cao
và ảnh hưởng của vấn đề dao động tỷ giá nhưng thị trường máy tính bắt đầu sôi động trởlại với nhiều chương trình đặc biệt cho mùa tựu trường từ giữa tháng 8 Thêm vào đó, cácnhà phân phối cũng có sự chuẩn bị tốt hơn cho lượng hàng nhập để đáp ứng nhu cầu vàomùa cao điểm cho 2 quí cuối năm Các hãng sản xuất máy tính cũng nắm bắt thời điểmnày để giới thiệu các sản phẩm mới Tuy nhiên, IDC tin rằng tổng lượng hàng nhập có thểcao hơn nếu quí 3 không có những dấu hiệu cạnh tranh của một lượng lớn các máy tính đãqua sử dụng, máy tính tái chế và những máy tính được nhập về Việt Nam không thôngqua kênh phân phối chính thức với mức giá thấp hơn hẳn
Thị trường máy tính quí 3 cũng chứng kiến sự tham gia sôi nổi của các loại máy tính xáchtay mini từ hầu hết các hãng lớn như Asus, HP, Acer, Lenovo, CMS Tổng lượng nhậpkhẩu của mặt hàng này tăng 179% so với quí 2 năm nay Mặc dù giá cả cạnh tranh và thiết
kế bắt mắt nhưng các máy tính xách tay mini hiện vẫn chưa thu hút nhiều sự chú ý từ phíangười dùng hộ gia đình do tính tiện ích còn nhiều giới hạn và sự cạnh tranh gay gắt từ cácsản phẩm máy tính xách tay giá rẻ
Trên bảng xếp hạng dựa trên kết quả nghiên cứu PC hàng quí, IDC Asisa/Pacific, quí 3năm 2008, HP vẫn tiếp tục dẫn đầu thị trường nhờ vào những nỗ lực chiếm lĩnh thị trường
cả máy tính để bàn lẫn máy tính xách tay và các dự án trong phân khúc giáo dục, chínhphủ và lĩnh vực tài chính Acer vươn lên vị trí thứ hai nhờ vào mức tăng trưởng 54,5% sovới quí trước trong khi Lenovo lùi về vị trí thứ ba Các nhà sản xuất đa quốc gia khác vàcác nhà sản xuất trong nước giữ những vị trí còn lại trên thị trường, trong số đó có nhiềunhà sản xuất đã có sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước như Dell, Asus, và
Trang 15Quí 3 năm nay so với cùng kỳ năm 2007, phân khúc thị trường tiêu dùng nói chung pháttriển tương đối ổn định đạt tốc độ tăng trưởng 29,2% trong khi phân khúc thị trườngthương mại chỉ tăng 1,2% do nhu cầu từ phía chính phủ, các doanh nghiệp vừa và nhỏgiảm sút đáng kể
Tỉ lệ tăng trưởng của lượng máy tính nhập khẩu, theo loại hình, 2008-2012
Loại hình 2008 2009 2010 2011 2012
Nguồn: Nghiên cứu thị trường PC hàng quí, IDC Asia/Pacific, Q3/2008, tháng 12/08
Thị phần lượng máy tính nhập khẩu, theo phân khúc, Q3/2008
Loại hình Thị trường tiêu dùng Thị trường thương mại
Nguồn: Nghiên cứu thị trường PC hàng quí, IDC Asia/Pacific, quí 3/ 2008, tháng 12/08
IX Kết luận về thực trạng, các vấn đề đặt ra của ngành bán lẻ linh kiện máy tính tại Việt Nam:
Ý 1:
Trang 16phối bán lẻ có quy mô nhỏ
nhưng vẫn ở quy mô nhỏ
cửa hàng hoặc là doanh nghiệp ở tầm nhỏ đến trung bình nên thị trường bị chianhỏ cho nhiều đối tượng, doanh nghiệp
các phương tiện truyền thông…
vừa
Ý 2 :
ở nhiều nghiệp vụ
buôn bán phân phối linh kiện
hạn chế
doanh nghiệp chưa áp dụng hoặc thiếu công cụ để áp dụng
vụ
Ý 3 :
đứng trước việc phải liên tục cập nhật, quản lý việc tổ chức bán hàng
phải thay đổi nhanh, kịp thời đơn giá đối với từng loại sản phẩm để phục vụviệc kinh doanh của mình
đơn giản chưa giải quyết triệt để các yêu cầu cao
Ý 4 :
Trang 17 Ngành bán lẻ đã trở nên hiện đại và có những yêu cầu đặt thù riêng ví dụ như
hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, bảo trì, quản lý khách hàng,
đã trở thành 1 nghiệp vụ cần thiết với các doanh nghiệp
thiếu 1 công cụ hỗ trợ
hổ trợ nghiệp vụ này
muốn tối ưu hóa việc tổ chức của mình
thế
nâng cao khả năng quản lý
thế như thế nào cho phù hợp với yêu cầu đặt ra
Trang 18CHƯƠNG II PHÂN TÍCH NGHIỆP VỤ
I Sơ lược về nghiệp vụ bán hàng:
Trong thời đại giao thương như hiện nay, về nghiệp vụ bán hàng trong bất cứ mộtcông ty hay một doanh nghiệp nào thì cũng đòi hỏi về chuyên môn của người bán hàng,
họ phải thành thạo về hai thao tác đó là: quản lý điều hành và thực hiện công tác nghiệp
vụ của họ một cách chuyên nghiệp Hơn thế nữa họ phải tìm cách thúc đẩy doanh thu và
có chiến lược bán hàng đúng đắn sao cho số lượng mặt hàng bán vượt chỉ tiêu mà họ đặt
ra trong mục tiêu của tháng hoặc của quý Để đạt được những kết quả cao trong chiếnlược kinh doanh bán hàng thì đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực thật sự chuyên nghiệptrong tất cả các khâu về bán hàng, họ phải thể hiện tính chuyên nghiệp đó qua cung cáchbán hàng… Như thế họ cần phải có một đội ngủ nhân viên bán hàng chuẩn để thu hútnguồn doanh thu cho công ty hoặc doanh nghiệp
II Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của nhân viên trong bộ phận bán hàng:
1 Vị trí:
2 Vai trò:
đảm bảo được khả năng kinh doanh của công ty và luôn là người giám sát độingũ nhân viên trong bộ phận bán hàng
công ty, nguồn thu nhập của công ty có tăng hay không cũng do một phần của
bộ phận bán hàng quyết định
nguồn doanh thu đầu vào và quản lý các mặt hàng mà cửa hàng đang thu hút
Trang 19khách để có nhiều chiến lược bán hàng khác nhau nhằm cạnh tranh với nhiềucông ty khác trong thời buổi hiện nay
3 Nhiệm vụ:
ngày là bao nhiêu, mặt hàng nào là bán chạy nhất, xem xét các mặt hàng saocho thị trường cung và cầu không quá chênh nhau làm ảnh hưởng đến doanhthu của công ty
vì “Khách hàng là thượng đế”, đó là nhiệm vụ cơ bản mà người nhân viên bánhàng phải có được
III Quy trình bán hàng chuẩn:
Trang 20Một quy trình bán hàng chuẩn thông thường bắt đầu từ khi có đơn bán hàng hoặc hợpđồng bán hàng cho đến quá trình xuất kho, giao hàng, thu tiền của khách hàng Tuy vậy,bên cạnh những khả năng cơ bản của việc quản lý bán hàng, công ty cần chú ý đến nhữngtính năng sau:
Trang 211 Quản lý được quá trình thương thảo hợp đồng và hẹn giao hàng:
Quản lý bán hàng đầy đủ sẽ bao gồm việc quản lý quá trình thương thảo hợp đồng vàhẹn giao hàng Đây là một tính năng rất quan trọng giúp DN nâng cao được uy tín vớikhách hàng khi quản lý tốt vấn đề này Trên thực tế, khi ứng dụng chương trình bánhàng, DN thường bắt đầu nhập liệu vào hệ thống khi đơn hàng đã có, ít ai chú ý đếnphần “Tiền hợp đồng” trong khi phần này cũng không kém phần quan trọng Về bảnchất, phân hệ này bao gồm 2 phân hệ nhỏ hơn:
phép ghi nhận được diễn tiến của cuộc đàm phán với nhiều phiên bản khácnhau Đây là cơ sở để lãnh đạo xem xét, phê duyệt (trên hệ thống) và đồng thời
để đánh giá nguyên nhân thành công hay thất bại của quá trình đàm phán Khigiá, số lượng, ngày giao, điều kiện thanh toán…được thoả thuận, kết quả đàmphán này phải được hệ thống chuyển thành hợp đồng bán hàng chính thức(Sales Order - SO)
một tiêu chí không thể bỏ qua trong quá trình tiếp nhận SO Có hợp đồng tất
Trang 22hạn và ngày nào có thể giao được hàng Hệ thống ERP phải đảm bảo đượcchức năng này trong phân hệ bán hàng Nó phải kết nối được với phân hệ sảnxuất, tính toán nguồn lực về nhân công, máy móc, về tồn kho nguyên vật liệu,
về đơn hàng đã nhận trước đó…Tất cả những yếu tố đó sẽ hỗ trợ cho DN phảnhồi với khách hàng ngày giao và số lượng có thể giao Nếu đơn hàng nhận cótính chiến lược, DN có thể điều chỉnh hẹn giao hàng của các đơn hàng kháchoặc huy động thêm nguồn lực để đáp ứng… Chức năng này là phần khá quantrọng khi triển khai hệ thống ERP Nó giúp cho DN gia tăng thật sự giá trị củamình trên thương trường cũng như cân đối một cách tốt nhất nguồn lực hiệncó
2 Quản lý được giá bán:
Giá bán là một vấn đề nhạy cảm của công ty Thông thường nó được quyết định bởicác cấp lãnh đạo trong công ty Khi đưa hệ thống vào vận hành giá bán phải đượcđịnh nghĩa trước dựa vào loại khách hàng, nơi giao hàng, mặt hàng, số lượng bán…
Và hiển nhiên danh sách giá bán này phải phân quyền để đảm bảo chỉ có một sốngười có thể hiệu chỉnh được nó Điều này vừa đảm bảo tính chính xác về giá bán chongười nhập liệu vừa tạo sự an tâm cho lãnh đạo khi duyệt hoá đơn bán hàng
3 Quản lý chính sách khuyến mãi, chiết khấu:
Mở rộng thị phần là bài toán sống còn của DN trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầunhư hiện nay Và để đạt được điều đó DN cần phải đa dạng hoá các hình thức khuyếnmại, chiết khấu của mình: mua hàng tặng hàng, giảm giá, mua hàng được tích luỹđiểm… Hệ thống bán hàng ngoài việc đảm bảo khả năng quản lý đa dạng được cáchình thức khuyến mại trên đồng thời còn phải cung cấp cho DN đánh giá mức độ hiệu
Trang 23quả của các chương trình khuyến mại thông qua việc tính toán doanh số, chi phí bỏ rakhi áp dụng chương trình Hiệu quả đó đang tập trung ở mặt hàng nào, khách hàngnào, thị trường nào, vùng nào…
Trên thực tế thì chúng ta cần có thương hiệu mạnh và do đó chúng ta không cầnphải cạnh tranh bằng giá cả.Tuy nhiên, chúng ta phải có phương pháp chiến lượcmaketting để thu hút khách hàng từ các chương trình khuyến mãi,chiết khấu mặthàng,ưu đãi cho khách hàng bằng nhiều dịch vụ khác nhau trong kinh doanh nhằmnâng cao hiệu quả của công ty hơn là dùng chính sách hạ giá mặt hàng để cạnh tranhcùng các công ty khác
4 Kiểm tra hạn mức tín dụng chặt chẽ:
Việc khống chế số nợ tối đa của mỗi khách hàng là biện pháp giảm rủi ro về tàichính mà hầu hết các DN đều áp dụng Có một số nơi nhân viên kinh doanh bắt buộcphải gửi đơn bán hàng qua phòng kế toán kiểm tra công nợ trước rối mới được phépbán hàng Phân hệ bán hàng phải đáp ứng chức năng này ngay khi nhân viên kinhdoanh tiếp nhận đơn hàng Việc kiểm tra công nợ phải đảm bảo tính chính xác và linhhoạt: có thể tách và gộp hạn mức tín dụng của một khách hàng có nhiều chi nhánh,đơn hàng khi vi phạm hạn mức tín dụng vẫn có thể bán được nếu có sự phê duyệt vàđồng ý của BGĐ (Ban Giám Đốc)
5 Quản lý được tình hình thực hiện hợp đồng, đơn hàng:
Đây là qui trình chính của phân hệ bán hàng Tuy nhiên nó chỉ có ý nghĩa đối vớinhững đơn hàng dài hạn, nhiều đợt, đơn hàng xuất khẩu Theo dõi tình hình thực hiệnhợp đồng bao gồm: số lượng nhận, số lượng giao, số lượng đã xuất hoá đơn, tình hìnhsản xuất của đơn hàng…Việc theo dõi được tình trạng của SO giúp lãnh đạo có thểchủ động trong việc đôn đốc tiến độ và phản hồi một cách chính xác nhất với kháchhàng
Trang 24Thực tế mà nói trong suốt quá trình kinh doanh, hình thức bán hàng của một DN
sẽ biến đổi và phát sinh liên tục Đây là vấn đề cần chú ý khi triển khai phân hệ này.Nếu hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning) không đa dạng, không lường trướcđược các tình huống xảy ra sẽ dễ dàng dẫn đến phải quản lý ngoài hệ thống Sau đây
là một số hình thức bán hàng có thể phát sinh:
hóa từ nhà cung cấp sẽ chuyển thẳng cho khách hàng
ty con khác nhau Việc chuyển hàng hoá cho nhau phải thông qua việc xuất hoáđơn và tính doanh thu nội bộ Đầu ra của chi nhánh này (Bán hàng) phải là đầuvào của chi nhánh khác (Mua hàng) nhằm mục đích đảm bảo tính chính xáccủa số lượng các mặt hàng và sự cân bằng của thuế đầu vào, đầu ra
công ty con Tuy nhiên sự khác biệt nằm ở chỗ công ty thứ nhất bán hàng vàcông ty thứ hai giao hàng trực tiếp cho khách Đây là một hình thức bán hàngkết hợp giữa 2 hình thức vừa nêu trên
7 Sơ đồ quản lý bán hàng, mua hàng của công ty:
Trang 258 Đối chiếu số liệu: quá trình không thể sơ sài
Điều quan trọng nhất trong việc triển khai một hệ thống ERP nói chung và phân hệquản lý bán hàng nói riêng là phần đối chiếu số liệu Nó quyết định tính đúng sai cũngtừng phân hệ Đây là khoảng thời gian đòi hỏi cả nhân viên phụ trách bán hàng lẫncán bộ tư vấn triển khai phải thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm, đặc biệt tronggiai đoạn đầu sử dụng chương trình mới sẽ xảy ra nhiều sai sót Cần đặc biệt chú ýtrong hai phần sau:
đơn hàng đã xuất nhưng lại quên chưa phát hành hóa đơn (trong hệ thống) Cầnkiểm tra lại lần nữa xem có những đơn hàng nào đã xuất nhưng chưa phát hànhhoá đơn hay không
xuất cho khách hàng từ kho với số liệu trên hệ thống
IV Những yêu cầu về hệ thống cần có:
Trang 26Là một yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần thành công cho dự án Nếu kiến thứccủa đối tác triển khai tốt, có nhiều kinh nghiệm thì việc định hướng, lập giải phápcho phân hệ bán hàng sẽ mang tính tổng thể và ít sai sót Thông thường nếu đối táctriển khai đã qua nhiều dự án thì việc lường trước những tình huống đặc biệt sẽ giúp
DN rất nhiều trong vấn đề đối chiếu cũng như xử lý số liệu
2 Dữ liệu quản lý tập trung:
Ngày nay các công ty hầu như có chi nhánh, mạng lưới phân phối rộng khắp Việcquản lý số liệu tập trung có thể giúp lãnh đạo biết rõ tình hình kinh doanh từng nơi,
và điều quan trọng hơn có thể dễ dàng đưa ra các chính sách khuyến mại, giá bánmang tính đồng nhất và có kiểm soát trên toàn quốc, thậm chí là quyết định điềuchuyển hàng qua lại giữa các nơi để tối ưu hoá tồn kho và kinh doanh Đối với nhữngmặt hàng có sự thay đổi giá hàng giờ liền như: Bánh trung thu, Điện thoại di động…thì thông tin bán hàng gần như là yếu tố sống còn của DN để ra quyết định
3 Ứng dụng online:
Cuối cùng, làm sao có thể ứng dụng được những tính năng trên của phân hệ này làvấn đề của DN Phân hệ OM chỉ phát huy tác dụng khi DN sử online trên hệ thống.Thông thường khi triển khai phân hệ này, thời gian đầu DN phải nhập đuổi số liệunguyên nhân chính là do số tồn kho đầu kỳ có trễ nên không thể bán hàng được Đểkhắc phục được tình trạng này DN cần phải lưu ý các điểm sau đây:
ngắn nhất nhằm mục đích nhanh chóng đưa phân hệ OM vào vận hành chínhthức
V Nghiệp vụ bán hàng linh kiện máy tính:
1 Yêu cầu của nghiệp vụ bán hàng:
luôn đáp ứng đủ nhu cầu cho khách hàng, tránh tình trạng khách muốn muahàng mà kho đã hết hàng hoặc cách thức phục vụ không làm hài lòng kháchhàng làm mất uy tín công ty, dẫn đến giảm doanh thu
công ty một cách tiện lợi và nhanh chóng nhất ví dụ: bán hàng trực tuyến, triểnkhai nhiều chi nhánh bán lẻ, giao hàng tận nơi miễn phí cho khách hàng…
được mức doanh thu ổn định cho công ty
quy trình nghiệp vụ tốt sẽ giúp tối ưu hoạt động, giảm thiểu chi phí, vì thế sẽlàm tăng năng suất lao động bán hàng, quản lí tốt tài chính cho công ty
Trang 27 Thực hiện tốt chính sách, chiến lược bán hàng của công ty, quy trình nghiệp vụbán hàng cần đảm bảo thực hiện đúng, linh động theo chính sách, chiến lượckinh doanh của công ty
2 Phương thức và phương pháp bán hàng:
2.1 Phương thức bán hàng:
2.1.1 Căn cứ vào tính chất quá trình lưu thông của hàng hóa:
+ Hàng được bán trực tiếp tại cửa hàng bán lẻ hoặc giao tận nơi khi kháchhàng đặt hàng qua mạng hoặc điện thoại
+ Số lượng mua ít
+ Áp dụng chính sách giá bán lẻ
Ví dụ: Một sinh viên mua 1 thanh ram 1GB để nâng cấp desktop của mình
phục vụ nhu cầu học tập
+ Đơn đặt hàng với số lượng lớn
+ Có thể chỉ mua hàng một lần hoặc định kỳ
+ Giá cả hàng hóa là giá sỉ
+ Khách hàng có thể được chiết khẩu hoặc có tặng phẩm tùy theo chính sáchbán sỉ của công ty
Ví dụ: Một công ty mới thành lập cần mua 50 bộ máy tính để bàn, 10 bộ máy
in; khi đó công ty sẽ không bán trực tiếp như bán lẻ mà kí hợp đồng vớikhách hàng, với giá bán sỉ thấp hơn giá bán lẻ 2%, kèm theo tặng phẩm là 5hộp mực máy in Hoặc có công ty thường xuyên sử dụng máy in nên ký hợpđồng với công ty bán linh kiện định kì hằng tháng mua 20 hộp mực in, khi đócông ty bán linh kiện sẽ áp dụng giá bán sỉ
+ Đơn đặt hàng với số lượng lớn
+ Hạch toán theo định kỳ
+ Áp dụng chính sách cho đại lý
Ví dụ: Một các nhân mở cửa hàng bán linh kiện máy tính và nhận làm đại lý
cho công ty, khi có nhu cầu về nhập hàng, đại lý gửi yêu cầu cho công ty,công ty sẽ cung cấp hàng qua hệ thống phân phối của mình Giao dịch đượcghi vào sổ sách và cuối tháng hạch toán Chính sách giá cho đại lý có thể làcung cấp giá rẻ hơn giá bán sỉ 5%, thưởng hoa hồng 2% doanh thu nếu đại lýbán vượt chỉ tiêu
công ty theo hướng dẫn của tổng công ty
Ví dụ: Công ty B là công ty bán linh kiện máy tính, công ty C là công ty phần
mềm, cả 2 công ty này đều thuộc tổng công ty A công ty C có nhu cầu mởrộng kinh doanh, gửi đơn đề nghị tổng công ty cấp thêm 100 máy bàn Tổngcông ty sẽ yêu cầu mua 100 máy bàn tại công ty B, tất nhiên là với giá gốc, rẻ
Trang 28công ty, sau đó tổng công ty cung cấp lại lô hàng đó cho công ty C theo nhưyêu cầu ban đầu của công ty C Công ty B lập hóa đơn và nhận thanh toán từ
kế toán của tổng công ty nhưng việc giao hàng sẽ theo thỏa thuận với công tyC
2.1.2 Căn cứ vào quá trình vận động của hàng hóa:
Ví dụ: Công ty nhận đc yêu cầu mua hàng với số lượng lớn hơn số hàng có
tại kho Công ty sẽ đặt hàng với nhà cung cấp theo đơn hàng của khách hàng,sau đó nhà cung cấp chuyển thẳng cho khách hàng mà không qua kho củacông ty
2.1.3 Ưu nhược điểm của các phương thức bàn hàng:
o Tăng chi phí lưu thông
o Đảm bảo an toàn hơn,
o Điều hòa kịp thời lượng hàng
o Thích hợp với nhiều loại khách hàng
2.1.4 Để lựa chọn phương thức thích hợp, phải đảm bảo các yêu cầu sau:
2.2 Phương pháp bán hàng:
2.2.1 Căn cứ vào cách thu tiền:
o Bán trực tiếp cho khách hàng tại cửa hàng Khách hàng xem hàng
và giao dịch trực tiếp (có thể giao hàng trực tiếp hoặc giao hàngtận nhà)
o Áp dụng cho khách hàng mua hàng nhỏ lẻ
o Hóa đơn mua hàng được lập trước Nhân viên giao hàng cho kháchtheo hóa đơn
Trang 29o Áp dụng cho các mặt hàng có giá trị cao, số lượng đơn hàng lớn(bán sỉ)
2.2.4 Căn cứ vào phương pháp phục vụ:
o Hàng hóa được trưng bày tại cửa hàng, nhân viên hướng dẫn kháchhàng chọn hàng, thu tiền và giao hàng
o Có thể giao hàng trực tiếp hoặc giao tận nhà ( khi có yêu cầu)
o Bộ phận bán hàng tiếp nhận yêu cầu của khách hàng qua điện thoại
o Xuất phiếu mua hàng và giao hàng cho khách
o Khách hàng xem hàng trên trang web của công ty, đặt mua quatrang web, thanh toán hóa đơn qua thẻ ngân hàng
o Nhân viên căn cứ hóa đơn giao hàng cho khách
VI Phân tích mối liên hệ của nghiệp vụ bán hàng linh kiện máy tính với các nghiệp vụ khác:
Phân tích mối liên hệ của nghiệp vụ bán hàng linh kiện máy tính với các nghiệp vụ khácnhư: kiểm soát kho, kế toán phải thu và kiểm soát sản xuất như trong hình bên dưới chỉ rõmối quan hệ của ba bộ phận trên với nghiệp vụ bán hàng
bán hàng, các thủ tục phát hành hóa đơn, theo dõi xuất hàng, các báo cáo bánhàng
hàng, nhật ký thanh toán, các báo cáo phân tích
Mối quan hệ giữa kế toán phải thu và nghiệp vụ bán hàng: khi bộ phận bán hàng thựchiện giao dịch bán hàng xong thì giao hóa đơn cho kế toán, kế toán cung cấp thông tinkhách hàng cho bộ phận bán hàng để dễ dàng thu tiền từ khách hàng trong phần hạch
toán còn lại.
Ví dụ: khi nhận đơn đặt hàng của khách hàng và thỏa thuận giao dịch thì bộ phận kế
toán sẽ nhận 30% giá trị đơn đặt hàng, sau đó kế toán sẽ lập hóa đơn số tiền còn cho bộphận giao hàng khi giao hàng đầy đủ cho khách hàng
xuất kho,tồn kho,báo cáo phân tích
Mối quan hệ giữa kiểm soát kho và nghiệp vụ bán hàng: quản trị bán hàng là cho ngườiquản lý kho biết được mặt hàng nào cần phải xuất kho,còn bộ phận quản lý kho thì có
Trang 30lý kho biết được và cần phân phối như thế nào cho lưu đông các mặt hàng, tránh tìnhtrạng mặt hàng không còn hạn sử dụng, nếu với một khối lương hàng lớn thì sẽ làm ảnhhưởng đến chi phí của công ty, làm giảm doanh thu.
hoạch sản xuất chi tiết theo đơn đặt hàng, theo dõi điều độ sản xuất hàng ngày, báocáo phân tích sản xuất, giá thành
Mối quan hệ giữa kiểm soát sản xuất và nghiệp vụ bán hàng: đáp ứng nhu cầu đặt hàng
và đảm bảo chất lượng về mặt hàng mà công ty bán cho khách hàng
Trang 31VII Những quy định về luật nhà nước và nguyên tắc của doanh nghiệp về việc bán hàng:
1.Luật kinh doanh hàng hóa do nhà nước qui định:
Quy định mới về khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị: Cơ hội và thử thách đối với DN [08/12/2009]:
Từ kỳ tính thuế năm 2009, những khống chế đối với việc khấu trừ chi phí quảng cáo,tiếp thị được nới lỏng hơn thông qua việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 (sau đây gọi tắt là Thông tư 130) Nhìn chung,Thông tư 130 tạo điều kiện cho các DN, nhất là DN vừa và nhỏ đầu tư thâm nhập thịtrường trong giai đoạn đầu và mở ra cơ hội cho những DN đã có một chỗ đứng nhấtđịnh củng cố thương hiệu và nâng cao thị phần
Mua, bán hàng hoá giữa doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa:
a) Việc mua bán hàng hoá giữa doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa đượcthực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 củaChính phủ Hàng hoá do doanh nghiệp chế xuất mua hoặc bán với thị trường nội địaphải không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tạiNghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 Hàng hoá thuộc diện quản lý theo giấyphép hoặc quản lý chuyên ngành phải được Bộ Thương mại hoặc cơ quan quản lýchuyên ngành chấp thuận bằng văn bản mới được mua hoặc bán vào thị trường nộiđịa
b) Quan hệ mua, bán hàng hoá giữa doanh nghiệp chế xuất và thị trường nội địa làquan hệ xuất nhập khẩu Doanh nghiệp chế xuất được trực tiếp làm thủ tục xuấtkhẩu, nhập khẩu tại cơ quan hải quan, không phải làm thủ tục phê duyệt kế hoạchnhập khẩu tại các Ban quản lý Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao,Khu kinh tế, Khu thương mại
c) Việc nhượng bán phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình sản xuất được thựchiện theo hướng dẫn của cơ quan quản lý môi trường
d) Việc mua văn phòng phẩm, hàng hoá từ thị trường nội địa phục vụ sinh hoạt hàngngày của doanh nghiệp chế xuất không phải làm thủ tục hải quan mà chỉ cần đăng
ký với các Ban quản lý Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khukinh tế, Khu thương mại
Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa - hành lang pháp lý để quản lý chất
lượng:
Ngày 20.11.2007, Quốc hội đã thông qua Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (CLSPHH) - nền tảng pháp lý quan trọng cho việc quản lý CLSPHH (từ khâu sản xuất đến tiêu dùng ) phù hợp vơi thông lệ quốc tế, thúc đẩy, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thuận lợi hóa thương mại, nâng cao chất lượng và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của các bên có liên quan (lợi ích quốc gia, người tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh).
Hoạt động quản lý nhà nước về CLSPHH được đổi mới theo hướng : Đảm bảo tối
đa tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; giảm thiểu sự can thiệp trực
Trang 32hoạt động đánh giá CLSPHH trong sản xuất và cung ứng dịch vụ được xã hội hóatối đa có thể và Nhà nước thực hiện chính sách hậu kiểm đối với công tác kiểm tra,kiểm soát CLSPHH lưu thông trên thị trường Hoạt động quản lý Nhà nước vềchất lượng ở đây được hiểu là các biện pháp quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp củaNhà nước nhằm gây ảnh hưởng đến các yếu tố về chất lượng của sản phẩm, hànghóa và dịch vụ Thông qua đó, Nhà nước có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp củangười tiêu dùng, phòng tránh rủi ro, xác định rõ trách nhiệm của người sản xuất,kinh doanh (về chất lượng) và duy trì trật tự kinh tế - xã hội Hoạt động quản lýNhà nước về CLSPHH trong luật được thực hiện theo các nguyên tắc:
Nguyên tắc hậu kiểm: Doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ và tự chịu trách nhiệm về
chất lượng sản phẩm do mình làm ra Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quátrình sản xuất của doanh nghiêp Tuy nhiên, Nhà nước vẫn đạt được mục tiêu quản
lý, kinh tế, xã hội thông qua các hoạt động gián tiếp như: Đưa ra các tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu khác để doanh nghiệp áp dụng; đưa ra các điềukiện, nội dung, thủ tục xã hội hóa hoạt động đánh giá chất lượng (do các tổ chứcđánh giá sự phù hợp như phong thử nghiệm, tổ chức chứng nhận thực hiện); Nhànước kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đánh giá sự phù hợp và việcthực thi pháp luật của doanh nghiệp và tổ chức đánh giá sự phù hợp và việc kiểmtra chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường và trong quá trình sử dụng.Trên thị trường, sản phẩm sau khi thực hiện các yêu cầu quy định của Nhà nướcđược tự do lưu thông Nhà nước chỉ kiểm tra ngẫu nhiên các yêu cầu về chấtlượng, đặc biệt các đặc tính về an toàn của sản phẩm, hàng hóa hoặc khi có sựkhiếu nại của khách hàng, người tiêu dùng về chất lượng Khi phát hiện thấy sailỗi Khi phát hiện thấy sai lỗi, doanh nghiệp sẽ vị Nhà nước xử lý như bồi thường,bồi hoàn, thu hồi, sửa chữa lại hoặc bị kiểm tra trực tiếp tại nơi sản xuất Đây làbiện pháp hậu kiểm nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ, tự chịu tráchnhiệm và thúc đẩy thông thương Tổ chức đánh giá sự phù hợp vi phạm nguyêntắc hoặc làm sai kết quả đánh giá sự phù hợp sẽ bị xử lý hành chính, bồi thườngthiệt hại phát sinh, truy cứu trách nhiệm hình sự, đình chỉ hoặc loại bỏ, khôngđược hoạt động tiếp
Nguyên tắc thị trường: Mức chỉ tiêu chất lượng do thị trường quyết định, hay nói
cách khác do thỏa thuận giữa người mua và người bán Người mua có ít tiền sẽchọn những sản phẩm, hàng hóa có chỉ tiêu chất lượng thấp; người mua có nhiềutiền sẽ lựa chọn những sản phẩm, hàng hóa có chất lượng cao; chất lượng quá kémthì sản phẩm, hàng hóa sẽ bị thị trường đào thải vì không ai mua Người sản xuấttùy thuộc vào đối tượng của thị trường tiêu thụ mà quyết định mức chất lượng chosản phẩm, hàng hóa của mình
Tuy vậy, mức độ an toàn của sản phẩm, hàng hóa nhất quyết phải tuân thủ theoyêu cầu của Nhà nước đặt ra Nhà nước tiếp cận và quản lý CLSPHH từ thị trườngthay vì từ cơ sở sản xuất như trước đây Đây cũng là nguyên tắc để thực thi chínhsách hậu kiểm Nhà nước chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra, còn hoạt động nội bộ,quá trình sản xuất do người sản xuất hoàn toàn chịu trách nhiệm Nếu nguy cơ mất
Trang 33an toàn sản phẩm có thể phát sinh trong quá trính sản xuất thì Nhà nước sẽ đưa racác quá trình đặc biệt mà người sản xuất phải áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 hayHACCP.
Mặt khác, chất lượng không đảm bảo theo tiêu chuẩn công bố áp dụng, gây thiệthại cho người tiêu dùng hoặc nhằm mịc đích trốn thuế, cạnh tranh không lànhmạnh thì tùy mức độ có thể bi xử phạt hành chính, quy trách nhiệm vi phạmpháp luật về quảng cáo hoặc làm hàng giả
Nguyên tắc hội nhập: Nguyên tắc quản lý chất lượng, nội dung và thủ tục đánh giá
sự phù hợp phải tương đồn và phù hợp với thông lệ quốc tế Các yêu cầu của Hiệpđịnh Hàng rào kỹ thuật trong thương mại và các hiệp định khác mà Việt Nam thamgia đều phải được thỏa mãn nhằm tránh gây ra các rào cản Thừa nhận kết quảđánh giá sự phù hợp là một việc làm đặc biệt quan trọng trong quản lý chất lượngtại mỗi quốc gia Hàng rào Việt Nam khi xuất ra nước ngoài sẽ gặp phải rào cản kỹthuật khác nhau, nếu không có cơ chế thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp sẽgây mất thời gian và tốn kém cho doanh nghiệp Muốn kết quả đánh giá sự phùhợp được thừa nhận và vượt qua các rào cản kỹ thuật, các thủ tục đánh giá sự phùhợp tại Việt Nam phải tuân thủ các thông lệ quốc tế và thừa nhận Nguyên tắc này
sẽ đồng thời mang lại lợi ích cho đối tượng được quản lý, đó là thúc đẩy thươngmại và nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóatrên thị trường trong nước và quốc tế
Minh bạch, công khai, không phân biệt đối xử: Mọi biện pháp quản lý của Nhà
nước đều phải rõ ràng, minh bạch và công khai Cơ chế quản lý CLSPHH phảicông bằng, không có sự khác biệt nhằm gây ra các rào cản đối với đối tượng nàyhoặc tạo điều kiện cho đối tượng khác tương ứng Ví dụ như phân biệt nguồn gốcxuất xứ, phân biệt giữa hàng nội với hàng nhập khẩu
Nguyên tắc xã hội hóa: Các hoạt động kỹ thuật như chứng nhận, thử nghiệm, giámđịnh CLSPHH được Nhà nước xã hội hóa triệt để nhằm: Giảm thiểu sự đầu tư củaNhà nước, đồng thời tạo điều kiện đầu tư cho các tổ chức, doanh nghiệp có nănglực và điều kiện; đảm bảo tính minh bạch của hoạt động chứng nhận, thử nghiệm,giám định CLSPHH; tạo ra một lực lượng đánh giá chứng nhận, thử nghiệm, giámđịnh đông đảo phục vụ, đáp ứng các nhu cầu của doanh nghiệp và thúc đẩy thươngmại; mở rộng đối tượng cần được đánh giá chứng nhận, thử nghiệm, giám định;Nhà nước không tham gia trực tiếp để giám sát các hoạt động của các tổ chức đánhgiá sự phù hợp, tạo ra sân chơi bình đẳng và thừa nhận kết quả đánh giá sự phùhợp từ các quốc gia khác
Từ ngày 1.7.2008, Luật CLSPHH sẽ chính thức có hiệu lực Để Luật đi vào đờisống, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường sẽ xây dựng dự thảo Nghị định và các Thông
tư hướng dẫn áp dụng các cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành; triển khai côngtác tuyên truyền, phổ biến, tập huấn các nội dung của Luật, Nghị định và cácThông tư hướng dẫn Bên cạnh đó, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở các
cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về CLSPHH là việc làm không kém phầnquan trọng, khẳng định vai trò quản lý nhà nước về CLSPHH trong thời kỳ mới,
Trang 34 Các nguyên tắc quản lý chất lượng:
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu những nhu cầu hiệntại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn vượt cao hơn sự mong đợicủa họ
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh nghiệp.Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôicuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Cong người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủvới những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quảkhi các nguồn và các hoạt động cóliên quan được quản lý như một quá trình
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đốivới mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp.Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải liên tụccải tiến
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệuquả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh ngiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ tương hỗ cùng có lợi
sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị
Một số phương pháp quản lý chất lượng:
Kiểm tra chất lượng
Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quy định
là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ bộphận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật
Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách hàngyêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất về chấtlượng càng ngày càng mãnh liệt Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra rằng kiểm trakhông phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất
Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡmột hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự
Trang 35phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã đượcchế tạo.
Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn làđợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Khái niệm kiểm soát chấtlượng (Quality Control - QC) ra đời
Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng đểđáp ứng các yêu cầu chất lượng
Để kiểm soát được chất lượng công ty phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sảnphẩm khuyết tật
Kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố sau đây:
Kiểm soát chất lượng toàn diện
Các kỹ thuật kiểm soát chất lượng chỉ được áp dụng hạn chế trong khu vực sản xuất vàkiểm tra Để đạt được mục tiêu chính của quản lý chất lượng là thỏa mãn người tiêu dùngthì đó chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ áp dụng các phương pháp này vàocác quá trình xảy ra trước quá trình sản xuất và kiểm tra như khảo sát thị trường, nghiêncứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng, mà còn phải áp dụng cho các quátrình xảy ra sau đó như đóng gói, lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụsau khi bán hàng Phương thức quản lý này được gọi là Kiểm soát chất lượng Toàn diện Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control - TQC) đượcFeigenbaum định nghĩa như sau:
Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nổ lựcphát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chứcsao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một chákinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng
Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nổ lực của mọi đơn vị trong công ty vào cácquá trình có liên quan đến duy trì và cải tiến chất lượng Điều này sẽ giúp tiết kiệm tối đatrong sản xuất, dịch vụ đồng thời thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Quản lý chất lượng toàn diện
Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp phần nâng cao