Cũng như những khó khăn, thiếu sót trong công tác bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị cải thiện pháp luật về không khí khả thi giúp nâng cao chất lượng k
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 2
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
6 ĐÓNG GÓP KHOA HỌC, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 5
1.1 MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM 5
1.2 CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ HIỆN NAY 8
1.3 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 11
1.4 QUAN ĐIỂM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI CÁC NƯỚC 12
1.4.1 Nhật Bản 12
1.4.2 Singapore 15
1.4.3 Anh 19
1.3.4 Hàn Quốc 22
CHƯƠNG 2-SO SÁNH NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM VÀ ĐẠO LUẬT KHÔNG KHÍ SẠCH HOA KỲ 29
2.1 GIỚI THIỆU PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM VÀ HOA KỲ 29
2.1.1 Hình thức luật 29
2.1.2 Phạm vi áp dụng của luật pháp 33
2.2 SO SÁNH NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở HAI NƯỚC 33
2.2.1 Quy định về chất lượng không khí và kiểm soát phát thải 33
Trang 22.2.2 Quy chuẩn phát thải đối với nguồn di động 55
2.2.3 Quy định phát thải từ những nguồn khác 69
2.2.4 Bảo vệ ozon ở tầng bình lưu 75
2.2.5 Các quy định khác tại Hoa Kỳ 84
2.2.6 So sánh khái quát nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam và Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ 98
2.3 THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG ĐẠO LUẬT KHÔNG KHÍ SẠCH TẠI HOA KỲ 99
CHƯƠNG 3-ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM 106
3.1 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM 106
3.2 ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 110
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường không khí tại Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 110
3.2.2 Xây dựng Đạo luật không khí sạch Việt Nam 112
3.3 PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THỰC THI HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 123
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 3QCVN Quy chuẩn Việt Nam
SIP State implementation plan (Kế hoạch thi hành tiểu bang)
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách các chất xác định chỉ số gây suy giảm tầng ozon phù hợp với
nghị định thư Montreal 75
Bảng 2.2 Lịch trình từng bước xóa bỏ các chất loại I 77
Bảng 2.3 Lịch trình từng bước xóa bỏ các chất loại II 79
Bảng 2.4 Phân loại và thời hạn đạt chuẩn cho khu vực không đạt về ozon 87
Bảng 2.5 Phân loại cho khu vực không đạt CO 89
Bảng 2.6 Số lượng trợ cấp bán tại 1500USD/tấn 95
Bảng 2.7 So sánh khái quát nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam và Đạo luật không khí sạch Hoa Kỳ 97
Bảng 2.8 Thống kê số trường hợp suy giảm sức khỏe được ngăn ngừa bởi CAA và năm 2010 và dự đoán năm 2020 101
Bảng 3.1 So sánh giới hạn nồng độ các chất ONKK trong QCVN 05:2013/BTNMT và WHO 113
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Nhà máy điện hạt nhân Fukushima 15 Hình 1.2 Phương tiện đề xuất sử dụng Sulphur-Free Diesel tại Singapore 16 Hình 1.3 So sánh phát thải CO2 tại Anh so với các mục tiêu đến năm 2050 22 Hình 1.4 Biểu đồ định hướng tỉ lệ giảm phát thải khí nhà kính các ngành tại Hàn Quốc 25 Hình 2.1 Chương trình khuyến khích sử dụng nhiên liệu mới tại Hoa Kỳ 60 Hình 2.2 Vị trí tầng ozon trong khí quyển trái đất 75 Hình 2.3 Thống kê các tiểu bang có các vùng không đạt quy chuẩn NAAQS cho các chất ô nhiễm 85 Hình 2.4 Chu trình đơn giản hình thành mưa axit 92 Hình 3.1 Tỉ lệ phát thải của các chất gây ô nhiễm từ các phương tiện giao thông toàn quốc năm 2011 106 Hình 3.2 Diễn biến nồng độ TSP trung bình năm trong không khí xung quanh tại một số tuyến đường giao thông 108 Hình 3.3 Biểu đồ diễn biến nồng độ NO2 trung bình năm một số khu dân cư giai đoạn 2011 – 2015 108 Hình 3.4 Phát thải khí nhà kính cho năm 2000 ở 3 lĩnh vực chính và dự tính phát thải cho các năm 2010, 2020 và 2030 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động của con người đang dần biến cuộc sống trở nên hiện đại hơn nhưng bên cạnh đó lại làm môi trường mất dần bản chất ban đầu của nó Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người cũng như sinh vật và sự phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội Nhưng với sự phát triển nâng cao chất lượng sống hiện nay, con người đang dần quên mất bản chất sống cơ bản nguyên thủy ban đầu, đó là tồn tại cùng môi trường Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem là mũi nhọn quan trọng đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia, song xu hướng đó đã đi vào quên lãng, thay thế nó là xu hướng phát triển bền vững thể hiện rõ trong quan hệ cộng sinh giữa môi trường và phát triển cả về công nghiệp lẫn chất lượng cuộc sống Các vấn đề môi trường phát sinh ngày càng nhiều: ô nhiễm môi trường nước, đất, thiếu nước sạch, ONKK… đặc biệt hệ lụy từ vấn đề ONKK đang tác động trực tiếp lẫn gián tiếp lên sức khỏe, chất lượng cuộc sống con người và ngày càng nhiều vấn đề liên quan phát sinh Trước những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các quốc gia trong bảo vệ môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng cần có sự kết hợp giữa nhiều biện pháp như: chính trị, kinh tế, khoa học-công nghệ, giáo dục và pháp lý Tuy nhiên, các biện pháp được thực hiện phải dưới sự giám sát, điều phối của pháp luật Sở dĩ pháp luật có nhiệm vụ này là do nó có tính đặc thù riêng, có ý nghĩa to lớn trong điều chỉnh hành vi tác động đến môi trường thông qua những quy tắc xử sự chung được quy định nhằm điều chỉnh hành vi con người bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Vì vậy, Việt Nam cần phải có hệ thống pháp luật đầy đủ, chặt chẽ nhằm hạn chế và giải quyết các vấn đề ô nhiễm do nhiều hoạt động gây ra, đặc biệt là đối với môi trường không khí Nhưng pháp luật về bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam chưa được quan tâm nhiều, chỉ có thể tìm thấy một số quy phạm pháp luật trong các văn bản liên quan Bên cạnh đó, hiện tại Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật riêng để bảo vệ môi trường không khí sạch hơn Điều đó cho thấy, trước tình hình ONKK hiện nay tại nước ta, nhất là ở các đô thị, hiện trạng văn bản pháp luật nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu giải quyết vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường không khí hiện nay Trong khi tại các nước trên thế giới như Anh, Hoa Kỳ, Singapo, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc…đều có văn bản luật không khí sạch riêng nhằm bảo vệ môi trường không khí tại nước mình Điển hình và đây đủ nhất trong các văn bản pháp quy bảo vệ môi trường không khí tại các nước là Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ, trãi qua nhiều giai đoạn sửa đổi, CAA năm 1990 được Hoa Kỳ sử dụng đến tận ngày nay và nội dung các điều khoản thay đổi tùy thuộc vào xu thế biến đổi không khí, phát triển kinh tế đất nước
Trang 7Vì vậy, đề tài “So sánh nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo
vệ môi trường Việt Nam và Đạo luật không khí sạch Hoa Kỳ” được thực hiện tạo
tiền đề cho việc ban hành văn bản pháp luật riêng về môi trường không khí tại Việt Nam thông qua các so sánh, phân tích cụ thể và đề xuất hoàn thiện pháp luật trong tương lai
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là so sánh nội dung bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam và CAA Hoa Kỳ nhằm đưa ra những thiếu sót trong nội dung pháp luật hiện hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất hoàn thiện trong ban hành văn bản pháp luật riêng cho môi trường không khí Qua đó, pháp luật sẽ giải quyết các vấn đề ONKK trong hiện tại cũng như thiết lập chính sách bảo vệ môi trường không khí dài hạn trong tương lai nhằm cải thiện chất lượng sống cho người dân, đặc biệt là ở các đô thị lớn
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu hiện trạng ONKK trên thế giới và hoạt động bảo vệ môi trường không khí tại các nước phát triển
Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng và hiện trạng môi trường không khí tại Việt Nam Thu thập tài liệu về pháp luật bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam và Hoa
Kỳ, xem xét những thành tựu mà Hoa Kỳ đạt được trong những năm qua khi áp dụng đạo luật
Hiểu rõ cơ cấu, nội dung Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ
So sánh những nội dung giống và khác nhau trong pháp luật bảo vệ môi trường không khí giữa Việt Nam với Hoa Kỳ
Xem xét nội dung Việt Nam có thể học hỏi, ứng dụng trong hoàn thiện pháp luật về môi trường không khí, từ đó đề ra các kiến nghị cụ thể khả thi trong nội dung đối với văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở nước ta
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu liên quan
Thu thập tài liệu liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường không khí tại các nước trên thế giới, tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả từ quá trình ONKK hiện nay
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam trước đó và những nghiên cứu đánh giá về Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ
Phương pháp xử lý thông tin
Trang 8Lựa chọn thông tin về chất lượng môi trường không khí trên thế giới, hoạt động bảo
vệ môi trường không khí tại một số quốc gia nhằm tiến hành sắp xếp, chọn lọc những thông tin liên quan và hữu ích giúp hiểu rõ hơn vấn đề đang nghiên cứu
Chọn lọc các điều quy định trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam có liên quan đến bảo vệ môi trường không khí
Hiểu rõ các điều chương, mục đưa ra trong Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ về cách thức thi hành pháp luật cũng như quá trình hình thành, sửa đổi đạo luật
Xác định các vấn đề cần quan tâm nhất khi thực hiện công tác bảo vệ môi trường không khí hiện nay, đặc biệt là về mặt pháp luật và tìm hiểu chi tiết hơn về những vấn
đề đó
Phương pháp so sánh
Dựa vào các tài liệu nghiên cứu, phân tích, chọn lọc, tiến hành so sánh sự khác nhau
và giống nhau giữa nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam và Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ
So sánh chất lượng môi trường không khí tại Việt Nam và Hoa Kỳ, những thành tựu
mà Hoa Kỳ đạt được về nhiều mặt kinh tế, tài chính, phúc lợi và chất lượng cuộc sống người dân
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tiến hành trao đổi lấy ý kiến trực tiếp với chuyên gia về vấn đề không khí hiện nay
và tính khả thi trong đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí riêng cho Việt Nam
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Từ những thông tin có được sau khi so sánh, phân tích giữa quan điểm bảo vệ môi trường không khí tại 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ, những thành tựu đạt được tại hai nước Cũng như những khó khăn, thiếu sót trong công tác bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị cải thiện pháp luật về không khí khả thi giúp nâng cao chất lượng không khí như hiện nay ở nước ta
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam và Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ, cùng với các kiến nghị khả thi áp dụng trong hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí tại Việt Nam
Trang 9Phạm vi nghiên cứu: Luật bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam và Đạo luật không khí sạch sửa đổi năm 1990 của Hoa Kỳ
6 ĐÓNG GÓP KHOA HỌC, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGHIÊN CỨU
Ý nghĩa thực tiễn
Quá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những thiếu sót tồn tại trong nội dung bảo
vệ môi trường không khí tại Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 dựa vào nội dung
từ Đạo luật không khí sạch nổi tiếng của Hoa Kỳ Từ đó đưa ra những đề xuất góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường không khí Việt Nam, giúp cải thiện chất lượng không khí nước ta hiện nay trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 1.1 MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM
Không khí là hỗn hợp 78.9% nitơ, 20.59% oxy, 0.93% Acgong, 0.32% cacbon đioxit và một số khí hiếm khác (neon, hêli, …) Ở điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nước chiếm 1.3% thể tích không khí [11]
Sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra toả mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa được coi là ONKK Cụ thể hơn, ONKK tạo ra do sự giải phóng của các hạt, các phân tử sinh học, hoặc các vật liệu độc hại khác vào khí quyển Trái đất, gây ra bệnh tật, tử vong cho con người, thiệt hại cho các sinh vật khác như các loại cây lương thực, môi trường
và tự nhiên ONKK có thể đến từ nguồn nhân tạo hay tự nhiên.[11]
Thuật ngữ ONKK không còn lạ lẫm với con người như trước kia nữa Tùy thuộc vào nhu cầu trong cuộc sống mà con người đang tạo ra những chất ô nhiễm phá hủy môi trường sống khác nhau, không như đất và nước, không khí không có giới hạn của
nó và không thể phân chia theo lãnh thổ quốc gia Hoạt động của con người dù ở bất
cứ đâu trên thế giới đều trực tiếp hay gián tiếp đe dọa bầu không khí chung trên Trái Đất, ta có thể ngưng uống, ngưng ăn nhưng không thể ngưng thở được, chỉ điều đó thôi cũng giúp con người biết được tầm quan trọng của không khí đối với sự tồn tại và phát triển chung Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chất gây ONKK và đe dọa sức khỏe con người theo các tác hại khác nhau
Các chất gây ONKK chủ yếu cho con người tạo ra, bao gồm [11]:
- Oxit lưu huỳnh (SOx) - đặc biệt là sulfur dioxide (SO2) SO2 được tạo ra bởi quá trình hoạt động của núi lửa và trong quá trình công nghiệp khác nhau Than và xăng dầu thường chứa các hợp chất lưu huỳnh và quá trình đốt tạo ra sulfur dioxide Oxy hóa hơn nữa của SO2, có sự hiện diện của chất xúc tác NO2, tạo thành H2SO4 gây mưa axit là một trong những nguyên nhân cho mối quan ngại về tác động môi trường Nước tinh khiết độ pH 7.0,trung tính Nước mưa bình thường
có một chút ít tính axit hơn với nồng độ axit khoảng pH 5.5, nhưng nếu mưa rơi qua ô nhiễm sulfur dioxide, có thể tạo ra nhiều axit hơn (với độ pH 4.5 hoặc thấp hơn, đó giống như tính axit của cam hoặc nước chanh) Khi mưa axit tích tụ trong
hồ, sông, nó dần dần biến toàn bộ nước chua Đó là một vấn đề thực sự vì cá phát triển mạnh chỉ trong nước mà là trung tính hoặc hơi chua (thường có độ pH 6,5-7,0) Một khi nồng độ axit giảm xuống dưới khoảng pH 6.0, cá sớm bắt đầu chết
và nếu pH giảm xuống khoảng 4,0 hoặc ít hơn, tất cả các loài cá sẽ bị chết
Trang 11- Oxit nitơ (NOx), đặc biệt là nitơ dioxide (NO2), được thải ra trong quá trình đốt ở nhiệt độ cao hay tạo ra trong giông bão của phóng điện Một trong những chất gây ONKK nổi bật nhất, khí độc màu nâu đỏ, mùi xốc đặc trưng Năm 2011, một nghiên cứu dịch tễ học lớn của Đan Mạch đã tìm thấy ngy cơ gia ung thư phổi cho những người sống trong khu vực có nồng độ ôxit nitơ cao Trong nghiên cứu này,
tỉ lệ ở người không hút thuốc so với người hút thuốc lá Một nghiên cứu của Đan Mạch bổ sung, bằng chứng cũng trong năm 2011, tương tự như vậy ghi nhận của hiệp hội có thể có giữa ONKK và các hình thức khác của bệnh ung thư, bao gồm ung thư cổ tử cung và ung thư não
- Chôn lấp chất thải tại các bãi chôn lấp lâu ngày sẽ tạo ra khí metan (CH4) Mêtan
là rất dễ cháy và có thể tạo thành hỗn hợp nổ với không khí Methane cũng là một ngạt và có thể thay thế oxy trong một không gian khép kín Ngạt hoặc ngạt thở có thể dẫn nếu nồng độ oxy giảm xuống dưới 19,5%
- Carbon monoxide (CO) - CO là một khí không màu, không mùi, chất độc hại nào không gây kích ứng Nó là một sản phẩm của quá trình đốt cháy không hoàn toàn của nhiên liệu như khí tự nhiên, than đá hoặc gỗ Khí thải xe cộ là một nguồn chính của carbon monoxide Ngoài ra, CO2 còn gây ngộ độc và tử vong, chủ yếu
do bởi lỗ thông hơi và ống khói bị lỗi hoặc từ việc đốt than trong nhà trong một không gian hạn hẹp
- Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) - VOC là một chất gây ONKK ngoài trời nổi tiếng Chúng được phân loại thành mêtan (CH4) hoặc phi-mê-tan (NMVOCs) Mêtan là một loại khí nhà kính và góp phần tăng cường sự ấm lên toàn cầu VOCs hydrocarbon khác cũng là khí nhà kính đáng kể bởi vì vai trò của nó trong việc tạo
ra ozone và kéo dài sự tồn tại của mêtan trong khí quyển Các NMVOCs thơm như benzen, toluen, xylen bị nghi ngờ gây ung thư và có thể dẫn đến bệnh bạch cầu khi tiếp xúc kéo dài 1,3-butadien là một hợp chất nguy hiểm thường gắn liền với hoạt động công nghiệp
- Hạt, hay còn gọi là bụi (PM), vấn đề đặt ra ở đây là các hạt trong khí quyển, hạt mịn, là những hạt rất nhỏ dạng rắn hoặc lỏng lơ lửng trong môi trường không khí, thường thì ở dạng rắn Một số hạt có trong tự nhiên, có nguồn gốc từ núi lửa, bão bụi, rừng, cháy đồng cỏ, thảm thực vật sống và bụi nước biển Các hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong xe, nhà máy điện và các quá trình công nghiệp khác nhau cũng tạo ra một lượng đáng kể các hạt bụi khí Trung bình trên toàn thế giới, hoạt động con người chủ yếu tạo ra bụi, hiện chiếm khoảng 10 phần trăm trong bầu khí quyển của chúng ta Khi mức độ của các hạt mịn trong không khí tăng lên sẽ liên quan đến nguy cơ sức khỏe con người như bệnh tim, chức năng thay đổi thư phổi và ung thư phổi Các hạt được tạo ra từ
Trang 12các chất ô nhiễm chính khí và các hợp chất quang hóa và khói Smog là một loại ONKK Kết quả khói cổ điển từ một lượng lớn đốt than trong một khu vực gây ra bởi một hỗn hợp của khói và sulfur dioxide Sương khói hiện đại thường không đến từ than nhưng từ khí thải xe cộ và công nghiệp đang được hoạt động trên trong khí quyển bởi tia cực tím ánh sáng từ mặt trời để tạo thành chất gây ô nhiễm thứ cấp mà còn kết hợp với các khí thải chính để tạo thành sương khói quang hóa.[9]
- Ngoài ra, chất độc kim loại như chì và thủy ngân, đặc biệt là hợp chất của chúng gây tác hại rất mạnh đến sức khỏe
- Chlorofluorocarbons (CFCs) là chất có hại cho lớp ozone, phát ra từ các sản phẩm hiện đang bị cấm sử dụng Đây là những loại khí được phát hành từ điều hòa không khí, tủ lạnh, thuốc xịt dạng hơi… CFC trên được thả vào không khí tăng lên đến tầng bình lưu, tại đây CFC tiếp xúc với các khí khác, làm tổn hại tầng ozone
và cho phép các tia cực tím có hại đến bề mặt trái đất Điều này có thể dẫn đến ung thư da, bệnh đến mắt và thậm chí có thể gây thiệt hại cho cây trồng.[9]
- Amoniac được thải ra từ quá trình nông nghiệp Amoniac là một hợp chất có công thức NH3, có mùi hăng đặc trưng Amoniac góp phần đáng kể vào nhu cầu dinh dưỡng của các sinh vật trên cạn, nhưng cũng gây ăn da và nguy hiểm Trong không khí, amoniac phản ứng với các oxit nitơ và lưu huỳnh để tạo thành các hạt
sơ cấp
- Mùi hôi như từ rác thải, nước thải, và các quá trình công nghiệp hay các chất ô nhiễm phóng xạ được sản xuất bởi các vụ nổ hạt nhân, sự kiện hạt nhân, chiến tranh hạt nhân và các quá trình tự nhiên như sự phân rã phóng xạ
- Thảm thực vật, ở một số vùng, phát ra một lượng đáng kể vào môi trường các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) vào những ngày ấm áp Bạch dương, gỗ sồi và cây liễu là một số ví dụ về các thảm thực vật mà có thể sản xuất VOCs dồi dào
- Ozone (O3) hình thành từ NOx và VOC Ozone là một thành phần quan trọng của tầng bình lưu và cũng là một thành phần quan trọng của tầng bình lưu nên thường được gọi là tầng ozone Quang hóa và các phản ứng hóa học liên quan đến O3 tạo
ra các quá trình hóa học xảy ra trong khí quyển ngày và đêm O3 là một chất gây ô nhiễm, thường gây ra bởi hoạt động của con người (phần lớn là quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch)
- Peroxyacetyl nitrate (PAN) tương tự cũng được hình thành từ NOx và VOC
- Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) là những hợp chất hữu cơ có khả năng chống lại thay đổi môi trường thông qua các quá trình hóa học, sinh học và photolytic Vì vậy, POPs tồn tại lâu dài trong môi trường, có khả năng vận chuyển tầm xa, tích lũy trong các mô của con người và động vật, trong chuỗi thức ăn và có những tác động tiềm tàng đáng kể đến sức khỏe con người và môi trường
Trang 13- Khi sự thông gió trong nhà kém sẽ gây ô nhiễm cho con người khi họ sống ngay chính ngôi nhà của mình Radon (Rn) là một chất khí, không mùi, tự nhiên, phóng
xạ không màu được hình thành từ sự phân hủy của radium và gây ung thư, được tạo ra từ trái đất ở những vị trí nhất định và bị giữ lại bên trong nhà Vật liệu xây dựng bao gồm cả thảm và ván ép phát ra khí formaldehyde Sơn và dung môi tạo
ra các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) khi chúng khô, chì trong sơn có thể thoái hóa thành bụi và được hít vào Sử dụng gỗ đốt cháy trong các bếp lò và lò sưởi có thể thêm một lượng đáng kể các hạt bụi, khói vào không khí, từ trong thóat ra ngoài chưa kể đến ảnh hưởng con người sống bên trong, nguyên nhân gây chết do
ô nhiễm trong nhà cũng có thể được gây ra bởi việc sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc xịt các hóa chất Nguồn sinh học của ONKK cũng được tìm thấy trong nhà, như các loại khí và các hạt bụi trong không khí
- Khí thải động cơ diesel (DE) là một trong góp phần lớn đến ONKK, các bụi có nguồn gốc từ quá trình đốt cháy Trong một số nghiên cứu thực nghiệm của con người, bằng cách sử dụng một thiết lập buồng tiếp xúc, DE có liên quan đến rối loạn chức năng mạch máu cấp tính và tăng sự hình thành huyết khối
Trong một nghiên cứu tiến hành tháng 6 năm 2014 bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Rochester Medical Center, được công bố trên tạp chí Environmental Health Perspectives, đã phát hiện ra rằng tiếp xúc sớm với ONKK gây ra những thay đổi có hại trong não như bệnh tự kỷ và tâm thần phân liệt Nghiên cứu cũng cho thấy rằng ONKK cũng gây ảnh hưởng đến trí nhớ làm cho khả năng học tập kém và cảm xúc bốc đồng phát sinh và cũng có nghiên cứu đã tìm ra rằng ONKK có thể đóng một vai trò gây ra bệnh tự kỷ và các rối loạn phát triển thần kinh khác
1.2 CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ HIỆN NAY
Nhân loại đang thua dần trong trận chiến với không khí sạch Với nhiều thập kỷ nỗ lực để chống lại, nhưng ONKK ngày càng tăng làm giảm sức khỏe con người, môi trường, kinh tế Khi ONKK không còn riêng ở những nước công nghiệp, mà nay còn lan rộng trên toàn thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn một tỷ người trên thế giới sống trong cộng động không đáp ứng các yêu cầu về CLKK Trên thế giới từng quan niệm rằng “ ô nhiễm là cái giá của sự tiến bộ” đã trở nên lỗi thời, đối mặt với các chi phí dành cho sức khỏe con người, thiệt hại kinh tế trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quốc gia đã hiểu ra rằng phòng ngừa ô nhiễm là một đầu tư tốt
Hiện nay, mặc dù đã có những chính sách bảo vệ không khí, nhưng tình trạng ONKK vẫn diễn ra Trong đó, mức độ ONKK ở Trung Quốc gần đây đã đạt ở mức chóng mặt Màn hình giám sát CLKK của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc đã phát hiện mức độ ô nhiễm trầm trọng tại Bắc Kinh vào tháng 1 và phát chúng trên mạng xã
Trang 14hội Các phương tiện truyền thông đã buộc các nhà lãnh đạo nơi đây cam kết thực hiện các bước làm sạch môi trường không khí bằng mọi cách Không chỉ có duy nhất không khí tại Trung Quóc ô nhiễm trầm trọng, theo tờ New York Times, ONKK tại Delhi thuộc Ấn Độ nhiều gấp hai lần Bắc Kinh Có 46 thành phố, tại các nước như Ả Rập Saudi, Arabia, Ai Cập, Mexico và Nigeria mức độ ô nhiễm trung bình đều vượt qua Bắc Kinh Trong đó, Ấn Độ xếp hạng cuối cùng trong danh sách 132 quốc gia được khảo sát về CLKK sạch Hầu hết các chất ô nhiễm tại Delhi đến từ xe tải sử dụng nhiên liệu dầu đốt và xe buýt do xăng dầu đốt cháy không hoàn toàn, ngoài ra nguyên nhân còn từ các nhà máy sản xuất điện đốt than ONKK đã trở thành mọt trong năm
“kẻ giết người” tại Ấn Độ Tại Bombay, lượng khí mỗi nười hít thở trong một ngày tương đương với hút nửa gói thuốc lá Các cơ quan tại Ấn Độ đang nỗ lực cắt giảm ô nhiễm từ xe ôtô băng cách chuyển đổi nhiên liệu sang sử dụng khí tự nhiên và yêu cầu kiểm tra xe hàng năm Sự giàu có của thành phố cùng với sự bùng nổ phát triển đã đẩy nhanh lượng xe ôtô và các loại xe khác đã đẩy mức độ ô nhiễm trở lại.[21]
Theo dữ liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2013, trung tâm Valley thuộc bang California là một trong những nơi ô nhiễm tại Hoa Kỳ do địa hình hình bát làm cho khí thải từ công nghiệp nặng, trang trại chăn nuôi bị kẹt lại ảnh hưởng đến rất nhiều người tại đây Ngoài ra, thung lũng Bakersfield, California là một trong những nơi ô nhiễm nhất, xếp hạng 276 CLKK trong danh sách của WHO, với nồng độ PM10
là 38ppm ONKK đi dọc từ châu Á đến Bắc Mỹ, theo nghiên cứu cho thấy hơn một phần ba lượng bồ hóng từ San Francisco thổi từ châu Á qua Ước tính mỗi năm Hoa
Kỳ bị tổn thất 5 tỷ USD do thiệt hại cây trồng gây ra bởi khí thải độc hại ước tính 10% lượng nông sản.[21]
5-Năm 2014 theo WHO báo cáo, ONKK đã giết chết 7 triệu người vào năm 2012, hơn
1000 thành phố trên 91 quốc qua đang đối mặt với tình trạng ONKK Một trong những chỉ số đo mức độ ONKK nghiêm trọng là PM10 [21]
Trong tháng 11/2013, WHO công bố một nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến sức khỏe và bệnh tật của con người Kết quả thật bất ngờ khi số lượng người tử vong
vì ô nhiễm không khí mỗi năm là 6,8 triệu, trong khi số người chết vì bệnh AIDS mới
có 1,7 triệu người và có khoảng 3,5 triệu người chết mỗi năm là do ONKK trong nhà, khoảng 3,3 triệu người chết là do ONKK ngoài trời, khoảng nửa triệu người tử vong
do sự kết hợp của cả hai.[21]
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới có hơn 1000 thành phố thuộc 91 quốc gia bị ONKK Một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởnng nghiêm trọng đến CLKK là nồng độ phần triệu của các bụi phản phất có kích thước nhỏ hơn 10 micromet hay còn gọi là chỉ số PM10 Theo khảo sát, hiện nay dân cư tại Bắc Kinh
Trang 15phải hứng chịu không khí có nồng độ PM10 trung bình 121 Từ dữ liệu quan sát vào năm 2003 và 2010, ONKK tồi tệ nhất ở Ahwaz, một thành phố thuộc tây nam Iran với mức PM10 trung bình khoảng 372, tại Mông Cổ đứng thứ hai có PM10 là 279, đều cao hơn mức trung bình toàn cầu 71 Thành phố Delhi tại Ấn Độ xuất hiện tại vị trí thứ hai với chỉ số PM10 trung bình ở mức 198 [21]
Người ta ước tính rằng trong 7.000.000 người chết sớm mỗi năm trong đó có một phần do ONKK Ấn Độ là đất nước có tỷ lệ tử vong cao nhất do ONKK Ấn Độ cũng
có trường hợp tử vong ở bệnh hen suyễn nhiều hơn so với bất kỳ quốc gia nào theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới Trong tháng 12 năm 2013, ONKK đã được ước tính để giết 500.000 người ở Trung Quốc mỗi năm Theo nghiên cứu, tồn tại mối tương quan giữa viêm phổi và ONKK từ các phương tiện cơ giới ONKK được ước tính giảm tuổi thọ gần chín tháng trên toàn Liên minh châu Âu Nguyên nhân của cái chết bao gồm đột quỵ, bệnh tim, COPD, ung thư phổi và viêm phổi [21]
Một nghiên cứu kinh tế mới của các tác động sức khỏe và chi phí liên quan của ONKK ở Los Angeles Basin và San Joaquin Valley phía nam California cho thấy hơn 3.800 người chết sớm mỗi năm (sớm hơn khoảng 14 năm so với bình thường) vì mức
độ ONKK ở tiểu bang vi phạm quy chuẩn Số trẻ sơ sinh chết non hàng năm là cao hơn đáng kể hơn so với các trường hợp tử vong Năm 2011, một nghiên cứu dịch tễ học lớn của Đan Mạch đã phát hiện ra nguy cơ ung thư phổi tăng cao cho những bệnh nhân sống trong khu vực có nồng độ ôxit nitơ cao Một nghiên cứu của Đan Mạch bổ sung, bằng chứng cũng trong năm 2011, có liên hệ giữa ONKK và các hình thức khác của bệnh ung thư, bao gồm ung thư cổ tử cung và ung thư não.[21]
Hiện nay, khí quyển của trái đất được bao phủ bởi môt lớp khí đặc biệt, tạo nên “lớp kính” thành phần bởi các phân tử khí CO2 hay các loại khí khác do con người phát thải ra: CFC, CH4, O3, NO2…và hơi nước, được xếp theo thứ tự giảm dần tác động gây nên hiệu ứng nhà kính “Lớp kính” đặc biệt này không cản trở ánh sáng Mặt Trời (thành phần chủ yếu là các tia bức xạ sóng ngắn hay tia cực tím) xuyên qua và chiếu vào bề mặt trái đất, nhưng lại ngăn chặn ánh sáng phản xạ với thành phần chủ yếu là các tia bức xạ sóng dài hay tia hồng ngoại thoát vào bầu khí quyển sau khi ánh sáng mặt trời chiếu vào trái đất Khí CO2 và các thứ khí nhà kính nói trên có tác dụng giữ lại nhiệt của Mặt Trời, không cho nó phản xạ vào không gian vũ trụ Nếu các khí nhà kính tồn tại với nồng độ vừa phải thì chúng giúp cho nhiệt độ trái đất không quá lạnh nhưng nếu nồng độ cao như hiện nay thì hậu quả là bầu khí quyển và bề mặt đất sẽ nóng lên Trong thực tế, nồng độ hiện nay của khí đioxit cacbon CO2 vào khoảng 0,036% làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên đến khoảng 30°C Nhưng nếu không có các loại khí nhà kính nói trên nhiệt độ sẽ rơi xuống vào khoảng - 15°C Trước mắt, còn có các ảnh
Trang 16hưởng của sự biến đổi khí hậu đã và đang thể hiện ở nhiều mặt Chẳng hạn, ảnh hưởng đến các nguồn nước dẫn đến sự thiếu hụt nước uống, nước cho các ngành nông nghiệp (để tưới tiêu, nuôi thủy hải sản…), cho công nghiệp (cung cấp cho thủy điện…), cho ngành lâm nghiệp (nạn cháy rừng …) Đối với hệ sinh vật, sự nóng lên của Quả Đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật (nhiều loài bị thu hẹp về diện tích sống hoặc bị tiêu diệt…) và đe dọa sức khỏe con người (sức khoẻ của con người
bị suy giảm, nhiều loại bệnh mới xuất hiện, các loại dịch bệnh dễ dàng lan tràn…) Đặc biệt, đến một lúc nào đó, nếu nhiệt độ của Quả Đất đủ cao có thể làm tan nhanh băng tuyết ở Bắc Cực và Nam Cực, làm cho mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến đại nạn hồng thủy Có thể đưa ra một dẫn liệu ở Hoa Kỳ, mực nước biển dự đoán tăng 50 cm vào năm 2100 và như vậy có thể làm biến mất 9000 km2 đất [21]
Tại Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu năm 2015 ở New York đã chứng tỏ trái đất thật sự bước vào thời kỳ lâm nguy cùng với sự gia tăng phát thải khí nhà kính, chủ yếu khí CO2 Mục tiêu trước mắt là giữ nhiệt độ toàn cầu không tăng không quá
2oC và khẳng định đây là điều quan trọng của các chương trình hành động chống biến đổi khí hậu Ở Hội nghị Thượng đỉnh New York, các chính phủ đã thống nhất nguyên tắc với nhau trong việc mở rộng sử dụng năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và tăng cường hỗ trợ các quốc gia đang phát triển trong nỗ lực thực hiện mục tiêu làm chậm sự
ấm lên toàn cầu Trong thực tế, một số nước, chẳng hạn, các quốc gia Bắc Âu, Đức, Tây Ban Nha… đã chuyển hướng đầu tư vào điện gió và điện mặt trời, dù giá thành còn cao Các nước như Pháp, Mỹ, Hàn Quốc duy trì hay bổ sung mới các nhà máy điện hạt nhân Không ít nước như Ấn Độ, Ba Lan, Trung Quốc, các nước mới phát triển ở Trung Đông, Đông Nam Á, thậm chí châu Phi chọn con đường phát triển điện hạt nhân và giảm dần điện than Tinh hình ONKK hiện nay đang là vấn đề đặt ra cho hầu hết các nước, làm cách nào vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường bền vững lâu dài.[16]
1.3 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
Ngày nay, nhu cầu của cộng đồng là được sống trong môi trường trong lành và mong muốn ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống, theo đó, không khí là nguồn cung cấp oxi cần thiết cho mọi hoạt động bình thường của các sinh vật trên trái đất Do
sự tác động tới môi trường không khí của các hoạt động pháp triẻn của con người, đặc biệt từ sau cuộc cácch mạng bùng nổ tiến bộ về công nghệ và khóa học kỹ thuật cùng với sự phát triển về kinh té đã kéo theo nhiều tác động to lớn đến môi trường không khí: khí thải công nghiệp, khí thải giao thông, khí thải từ rác phát sinh
Trong các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường không khí, pháp luật về môi trường không khí đã ra đời, đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý
Trang 17điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong qua trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến môi trường không khí, hoặc các chủ thể trên cơ sở kết hợp các biện pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi trường không khí vì lợi ích của thế hệ hôm nay và mai sau
Vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí thể hiện qua các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường không khí điều chỉnh bao gồm: [10]
- Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác sử dụng hay tác động dến môi trường không khí
- Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường không khí
- Nhóm quan hệ các biện pháp khắc phục suy thoái, ô nhiễm, phòng chống sự cố môi trường không khí
- Nhóm quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trường không khí, xử lý vi phạm pháp luật môi trường không khí
Các nhóm quan hệ hợp tác với nhau trong quá trình bảo vệ môi trường không khí
1.4 QUAN ĐIỂM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI CÁC NƯỚC
1.4.1 Nhật Bản
Việc thành lập và sửa đổi các luật,quy định về không khí được tiến hành tại Nhật kể
từ năm 1960 Có 3 luật liên quan đến quy định phát thải của nguồn cố định là “Luật kiểm soát ô nhiễm không khí”, “Luật liên quan đến biện pháp đặc biệt đối với đioxin”
và “Luật kiểm soát tấn công của mùi” "Luật kiểm soát ô nhiễm không khí" được thành lập vào năm 1968 để thúc đẩy các biện pháp kiểm soát ONKKtoàn diện Sau đó, nhà nước đưa vào luật này những bản sửa đổi về luật lệ, quy định cho các đối tượng, quy chế và quy chuẩn bắt buộc toàn quốc vào năm 1970, về bụi năm 1989, nhiên liệu
xe năm 1995, ONKKđộc hại năm 1996, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) năm 2004 "Luật liên quan đến biện pháp đặc biệt đối với đioxin" được ban hành vào năm
1999 nhằm thiết lập một quy chuẩn liên quan đến chất độc đioxin, các quy định và các biện pháp cần thiết Các đối tượng quy định bao gồm thiết bị chẳng hạn như tạo và xả chất độc đioxin, hoặc xả nước thải hoặc chất thải có chứa chất lỏng đioxin “Luật kiểm soát tấn công của mùi” được thành lập vào năm 1971 với mục đích bảo vệ môi trường sống ô nhiễm bởi mùi tạo ra từ các nhà máy và các địa điểm kinh doanh,có 22 loại chất đã được chỉ định trong mục này vào năm 1989.[17]
Đối với các nguồn cố định phát thải có 4 vấn đề được quan tâm Thứ nhất, giới hạn nồng độ của thành phần chứa trong khí thải (quy chuẩn thải) được sử dụng cho hầu như tất cả các loại khí phát thải Ưu điểm của quy chuẩn này là sự dễ dàng phân tích
Trang 18nồng độ, đo lường và giám sát có thể được thực hiện cho từng thành phần, và bắt đầu làm việc một cách nhanh chóng thực hiện các quy định Thứ hai, hạn chế lượng khí thải, lượng xả thải cho phép của các oxit lưu huỳnh được giới hạn Thứ ba, giới hạn nồng độ của các thành phần khí quyển (quy chuẩn môi trường) là một quá trình quản
lý dài hạn, có mục tiêu chính sách nhưng mang tính thách nhằm đạt được, và thiết lập một chỉ số về nhận thức môi trường trong hoạt động xã hội Ưu điểm của quy chuẩn này là để giúp ngăn chặn sự ô nhiễm lây lan trên diện rộng Thứ tư, Hạn chế các thành phần chứa trong khí thải (kiểm soát tổng số) do các ngành công nghiệp và các khu dân
cư tập trung cao, rất khó để đáp ứng các yêu cầu đặt ra, 24 địa điểm được chỉ định trên
cơ sở của "Luật kiểm soát ô nhiễm không khí" như các khu vực kiểm soát oxit lưu huỳnh trên toàn quốc và hơn 3 nơi như các khu vực kiểm soát oxit nitơ Lợi thế của việc kiểm soát tổng số lượng cho phép các nguồn gây ô nhiễm phải được giới hạn trong một cách định lượng.[17]
Có ba luật liên quan đến quy định phát thải của nguồn di động: "Luật kiểm soát ô nhiễm không khí", "Luật về xe tạo ra NOx/PM " và “Luật cho thiết bị không lưu thông trên đường " Đối với các quy định khí thải xe sử dụng dầu diesel, các yêu cầu đã được siết chặt nhiều lần dựa trên đề xuất của Hội đồng Môi trường trung ương Ngoài các luật này, tám thành phố, bao gồm cả thủ đô Tokyo và các tỉnh, thành phố khác, Osaka
và quận Hyogo, đã thành lập pháp lệnh cho các mục đích quy định riêng của họ Ở đây có 3 vấn đề được quan tâm, thứ nhất là hạn chế lượng khí thải, đây là quy định của
"Luật kiểm soát ô nhiễm không khí" Thứ hai, hạn chế lượng khí thải theo loại xe (loại
xe quyết định), các quy định có hiệu lực đối với các chất dạng hạt trong vùng thủ đô, dựa vào pháp lệnh thành lập bởi tám tỉnh, thành phố, bao gồm cả Chính phủ thủ đô Tokyo, quy định nitơ oxit và các chất dạng hạt trong các lĩnh vực cải thiện được chỉ định dựa trên "Luật về xe tạo ra NOx / PM " Ưu điểm về quy định loại xe là nó có thể ngăn chặn xe không phù hợp vào các vùng quy định áp dụng và thúc đẩy chuyển đổi
từ trong sử dụng xe để xe phù hợp quy định và có lượng khí thải thấp [17]
Nhìn chung, luật môi trường về không khí tại Nhật Bản quan tâm đến nguồn phát thải khí di động hay cố định để đưa ra những quy định, chế tài phù hợp
Ngoài các chính sách về pháp luật, sự nỗ lực của công nghệ cũng góp phần đáng kể vào kiểm soát ONKK, Mitsubishi Heavy Industries và Mitsubishi Kakoki Kaisha (MKK) đã cùng công bố sự phát triển của một chất được gọi là “Hệ thống lọc lại SOx”
để loại bỏ SOx động cơ hàng hải sử dụng dầu diesel Hệ thống đầu tiên này được coi là thực hiện được các quy định của ECA về khí thải có chứa SOx ban hành năm 2015 và đảm bảo các quy chuẩn khí thải ngày càng khắt khe biển Đồng thời, hệ thống này cho phép tàu đốt cháy với chi phí thấp hơn nhiều thay vì phải chuyển sang nhiên liệu
Trang 19chưng cất tốn kém hơn nhiều và việc thiết kế theo kiểu mođun cho phép dễ dàng trang
bị cho tàu Trong nhiều năm, MKK được cung cấp hệ thống loại loại bỏ lưu huỳnh và nitrat trong khí thải công nghiệp ở Nhật Bản Hiện nay, Nhật Bản đã phát triển các sản phẩm như nhiên liệu, ly tâm tách dầu bôi trơn, hệ thống lọc điều áp tốt.[22]
Tại hội nghị của Liên Hiệp Quốc vào năm 2015, thủ tướng Chính phủ Shinzo Abe
đã đưa ra lời hứa cho Nhật Bản là sẽ cam kết cắt giảm lượng khí nhà kính 26% vào năm 2030 dựa trên đường cơ sở vào năm 2013, đây được coi như một phần của thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn phần Bên cạnh đó, những bên tham gia vào cuộc hợp e rằng nỗ lực cắt giảm trên không thực tiễn đối với một nước có công nghệ tiên tiến Vào năm 2013, Nhật Bản ghi nhận là năm có lượng khí nhà kính thải ra cao nhất Mục tiêu cắt giảm của Nhật Bản đã được đưa vào dự thảo báo cáo trình bày cho một nhóm các chuyên gia được thành lập bởi các Bộ thương mại và môi trường Báo cáo tư vấn về giảm phát thải thông qua các biện pháp hiệu quả, sử dụng xe ô tô thế hệ mới có động cơ điện thay cho hệ thống động cơ thông thường.[23]
Phát thải khí nhà kính đã tăng 1,2% trong năm 2013 trong bối cảnh gia tăng trong tiêu thụ than cho sản xuất điện Một dự thảo báo cáo từ Bộ thương mại và công nghiệp của Nhật Bản đã đề nghị rằng điện nguyên tử cung cấp khoảng 22% tổng sản lượng điện của quốc gia vào năm 2030 và năng lượng sạch nên chiếm nhiều khoảng 24% Hạt nhân chiếm hơn 1/4 lượng cung cấp điện của Nhật Bản trước khi thảm họa Fukushima, nên nước này hiện đang không có điện hạt nhân Ngành năng lượng của Nhật Bản và các khí nhà kính trong tương lai đang ở trong một thời điểm quan trọng Sau năm 2011 Fukushima Daiichi thảm họa hạt nhân, Nhật Bản tạm dừng tất cả các hoạt động hạt nhân hiện có và thu nhỏ đáng kể trở lại mục tiêu giảm thiểu khí thải Khi Nhật Bản xét lại chính sách năng lượng trong vài năm tới, các quan chức sẽ quyết định tương lai năng lượng của đất nước kết hợp với hành động khí hậu của nó [23]
Trang 20Thuế về nóng lên toàn cầu được ban hành vào tháng 10 năm 2012, bao gồm khoảng 80% lượng khí thải CO2 liên quan đến năng lượng, tính phí khoảng 3 USD mỗi tấn carbon dioxide vào nhiên liệu hóa thạch tại các điểm sản xuất hoặc nhập khẩu Doanh thu hàng năm từ thuế dự kiến được khoảng 2.6 triệu USD sau năm 2016, sẽ được sử dụng để thúc đẩy bảo tồn năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ tiên tiến (như thu giữ cácbon và pin tiên tiến) Điều quan trọng là chi tiêu thu thuế này có hiệu quả,
vì nó sẽ làm giảm lượng khí thải nhiều hơn so với nhu cầu năng lượng giảm do giá nhiên liệu hóa thạch tăng Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch để giải quyết hiệu quả năng lượng bằng cách tăng cường cách nhiệt trong các hộ gia đình và các tòa nhà Ví dụ: Trong năm 2013, vật liệu xây dựng giúp hạn chế điện, bao gồm cả cửa sổ và vật liệu cách nhiệt được đưa vào chương trình tiết kiệm năng lượng công nghiệp quy chuẩn quốc gia của Nhật Bản lần đầu tiên Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản có kế hoạch
để bắt buộc các hộ gia đình thực hiện theo quy chuẩn 1999 cách nhiệt vào năm 2020.[23]
1.4.2 Singapore
Giống như nhiều nước khác, khí thải từ các ngành công nghiệp và các loại xe ô tô là hai nguồn chính phát thải trong nước Khói mây mù xuyên biên giời, từ đất và cháy rừng trong khu vực cũng là những vấn đề có ảnh hưởng đến CLKK của Singapore Quy hoạch đô thị và công nghiệp tích hợp, cũng như kiểm soát phát triển đã cho phép các chính phủ để đưa ra các biện pháp kiểm soát ONKK dự phòng trong giai đoạn lập
kế hoạch Ngoài ra, pháp luật, các chương trình thực thi nghiêm ngặt và giám sát CLKK đã giúp đảm bảo rằng CLKK vẫn tốt mặc dù phát triển đô thị dày đặc và cơ sở
Hình 1.1 Nhà máy điện hạt nhân Fukushima
(Nguồn: Internet)
Trang 21công nghiệp lớn Như vậy, Singapore được hưởng một CLKK tốt hơn so với nhiều thành phố ở châu Á và có thể so sánh với CLKK của Mỹ và các thành phố châu Âu Quy chuẩn CLKK quốc tế như Tổ chức Y tế Hướng dẫn CLKK Thế giới (WHO AQGs) đang được liên tục xem xét, Cơ quan Môi trường Quốc gia đã thành lập Ủy ban Tư vấn về CLKK xung quanh trong tháng 7 năm 2010 để tư vấn về một tập hợp các chỉ tiêu CLKK cho Singapore để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.[20]
Cơ quan môi trường quốc gia xem xét các khuyến nghị của ủy ban tư vấn và kế hoạch chi tết bền vững Singapore (SSB) cam kết đưa ra trong năm 2009 để đạt được một bình hàng năm là 15μg/m3 của SO2 và 12μg/m3 của PM2.5 vào năm 2020 và có làm việc với các cơ quan chính phủ có liên quan và các bên liên quan khác nhau để đi đến một bộ điều chỉnh chỉ tiêu CLKK quốc gia theo quy chuẩn AQGs của WHO Cơ quan môi trường quốc gia sẽ làm việc với nhà máy lọc dầu để cải thiện các quy trình của họ và giảm lượng SO2 phát thải Các nhà máy điện cũng đang làm việc hướng tới
sử dụng nhiên liệu sạch hơn cho nhu cầu năng lượng để giảm lượng SO2 Khi các nhà máy điện và các ngành công nghiệp chuyển sang sử dụng nhiên liệu sạch hơn để giảm
SO2, có cũng sẽ được giảm đồng thời của các chất ô nhiễm khác bao gồm PM2.5 Với hiệu lực từ tháng 7 năm 2013, cơ quan môi trường quốc gia quy định việc cung cấp Sulphur-Free Diesel (NSFD) có hàm lượng lưu huỳnh 0,001% để mở đường cho các quy chuẩn khí thải Euro V cho xe diesel và tiếp tục giảm SO2 phát thải từ xe diesel và các ngành công nghiệp [20]
Ngày 01 tháng 10 năm 2013, cơ quan môi trường quốc gia sẽ uỷ quyền xăng sạch hơn cho xe với hàm lượng lưu huỳnh thấp hơn so với 0,005% Từ tháng 7 năm 2013,
Hình 1.2 Phương tiện đề xuất sử dụng Sulphur-Free Diesel tại Singapore
(Nguồn: Internet)
Trang 22quy định hàm lượng lưu huỳnh thấp hơn 0,001% lưu huỳnh là bắt buộc đối với xe ô tô
và các ngành công nghiệp Từ ngày 01 tháng 4 năm 2014, xe sử dụng xăng mới sẽ phải tuân thủ các quy chuẩn khí thải về ozon [20]
Ngành công nghiệp chiếm phần lớn phát thải các chất ONKK tại Singapore, nhưng trong thực tế, khí thải từ xe được coi là đóng góp chính đối với ô nhiễm trong không khí ở đây Từ năm 1990, chính sách của chính phủ cho phép tăng 3% số xe cho tổng dân số mỗi năm Hiện nay, tổng số lượng xe không đạt quy chuẩn trong những năm qua đã giảm 8.865 so với năm 2005 Cơ quan môi trường quốc gia hiện có hai trạm giám sát CLKK ven đường giúp đưa ra các biện pháp kiểm soát khí thải xe, thắt chặt các quy chuẩn nhiên liệu, xe và thực thi các quy định về khói xe chặt chẽ hơn Trong khi cắt giảm số xe, chuyển sang các loại nhiên liệu tái tạo và thúc đẩy vận tải công cộng giúp giảm ONKK và quan trọng hơn là xem xét các quy chuẩn nhiên liệu và khí thải xe Singapore ban hành quy chuẩn Euro II về khí thải đối với xe sử dụng xăng và các quy chuẩn Euro IV nghiêm ngặt hơn đối với xe sử dụng nhiên liệu diesel Hiện tại,
cơ quan môi trường quốc gia đang đàm phán với các ngành công nghiệp dầu để giới thiệu xăng Euro IV có một hàm lượng lưu huỳnh tối đa 50 ppm và Euro V diesel với lưu huỳnh ở mức 10 ppm trong vài năm tới, đây được coi hành động ban đầu cho Kế hoạch phát triển bền vững tại Singapore Quy chuẩn khí thải VI cho xe xăng và diesel mới sẽ đề ra văn bản vào ngày 01 tháng 9 năm 2017 và áp dụng thực hiện vào ngày 1 tháng 1 năm 2018 để giảm lượng khí thải từ các phương tiện mới Những quy định mới cũng sẽ giúp tiếp tục giảm các chất ô nhiễm như ozon ở mặt đất và hạt mịn phát thải khí thải từ xe và cải thiện CLKK xung quanh.[20]
Cơ quan môi trường quốc gia đánh giá các tác động nguy hiểm về ô nhiễm của các ngành công nghiệp được đề xuất để đảm bảo không gây ô nhiễm, sau đó là ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Một nhà máy được phép thành lập chỉ khi nó có vị trí trong một khu công nghiệp phù hợp và có thể thực hiện theo các yêu cầu kiểm soát ô nhiễm
Cơ quan môi trường quốc gia cũng kiểm tra các mẫu thiết kế của các nhà máy công nghiệp và thiết bị kiểm soát ô nhiễm tại các giai đoạn xây dựng kế hoạch phải phù hợp với yêu cầu kiểm soát ô nhiễm
Cơ quan môi trường quốc gia tiến hành kiểm tra thường xuyên sự cố ô nhiễm để đảm bảo rằng các thiết bị kiểm soát ô nhiễm được duy trì và hoạt động đúng, đồng thời kiểm tra lượng khí thải, phân tích nhiên liệu và quan sát khói của ống khói Singapore
đã công bố các quy chuẩn Singapore SS 593: 2013 về Quy chế thi hành cho kiểm soát
ô nhiễm, trong đó gồm các thông tin về các yêu cầu kiểm soát ONKK và quy chuẩn khí thải Từ ngày 01 tháng 10 năm 2014, tất cả các loại xe phải thực hiện theo các quy chuẩn khí thải theo quy định tại Chỉ thị Châu Âu 2002/51/EC trước khi chúng có thể
Trang 23được đăng ký sử dụng tại Singapore và tất cả các xe đều phải trãi qua kiểm tra bắt buộc định kỳ.[20]
Ngoài ra, Singapore đã vạch ra hai mục tiêu môi trường mới cho đất nước cho đến năm 2030, phù hợp với kế hoạch toàn cầu để hạn chế biến đổi khí hậu và tác động của
nó trên thế giới Chính phủ đã cam kết rằng lượng khí thải khí nhà kính của Singapore
sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 2030 tương đương khoảng 65 triệu tấn carbon dioxide, ngay cả khi nền kinh tế tiếp tục phát triển sau đó Quốc gia này cũng sẽ trở nên hiệu quả hơn trong hoạt động kinh tế và làm giảm lượng khí nhà kính thải ra để đạt được từng đồng đô la của tổng sản phẩm trong nước (GDP) Năm 2005, theo tính toán Singapore tạo ra tương đương khoảng 0.176kg carbon dioxide cho mỗi đô la GDP Mục đích hạ thấp chỉ còn 0.113kg CO2 trên một đô la vào năm 2030, giảm khoảng 36 phần trăm Singapore hiện chỉ chiếm 0,11% lượng khí thải toàn cầu, mặc dù đóng góp đến 2,2% thương mại của toàn cầu Phó Thủ tướng Teo Chee Hean, hiện là Chủ tịch của Ủy ban liên bộ về biến đổi khí hậu cho biết: "Đối với một đất nước rất nhỏ với các nguồn năng lượng thay thế hạn chế, sự ổn định lượng khí thải của chúng tôi với mục tiêu đạt đỉnh vào khoảng năm 2030 đòi hỏi những nỗ lực nghiêm túc từ tất cả mọi người”.[25]
Hiện nay, cường độ phát thải của Singapore được xếp hạng thứ 113 trên 140 quốc gia toàn cầu, tức là nằm trong số 20% tốt nhất của các quốc gia Để đạt mục tiêu giảm 36% lượng khí thải vào năm 2030, Singapore sẽ xây dựng trên quá khứ của mình và
nỗ lực không ngừng một cách hiệu quả lượng carbon sinh ra nhưng vẫn đảm bảo đạt được tăng trưởng kinh tế Singapore đã cam kết vào năm 2009 để giảm lượng khí thải 16% với mức kinh doanh như bình thường vào năm 2020 Ngày nay, Singapore đã dần dần chuyển từ dầu nhiên liệu sang khí tự nhiên, đây là hình thức nhiên liệu hóa thạch sạch với mục tiêu lâu dài và bền vững cho thế hệ tương lai, theo thống kê quốc gia này
đã có hơn 90% lượng điện được tạo ra từ khí tự nhiên.[25]
Cam kết của Singapore là một mục tiêu lâu dài, với hành động sớm để phát triển một cách bền vững và tạo nên động lực phát triển các nguồn năng lượng sạch thay thế Nhưng điều này sẽ đòi hỏi những nỗ lực lớn từ hoạch định chính sách của chính phủ, tuân thủ nghiêm ngặt của các doanh nghiệp, đặc biệt là những hoạt động tốn nhiều năng lượng của người dân, đảm bảo nhiều năng lượng và carbon thải ra phải hiệu quả
Hộ gia đình, cá nhân cũng cần phải có những lựa chọn thân thiện với môi hơn trong các hoạt động hàng ngày của họ Cam kết này giúp tạo nên động lực mạnh mẽ hơn để khai thác các cơ hội tăng trưởng xanh từ tiếp tục đầu tư nghiên cứu và phát triển trong quá trình đổi mới hiệu quả năng lượng, cũng như thu hút và phát triển các hoạt động công nghệ sạch Chính phủ sẽ áp dụng phương pháp tiếp cận đa hướng giảm phát thải
Trang 24khí nhà kính của Singapore trên tất cả các lĩnh vực Các biện pháp khuyến khích các công ty và hộ gia đình đầu tư, sử dụng thiết bị hay công nghệ hiệu quả năng lượng bao gồm các tài trợ cho công nghệ năng lượng hiệu quả hoặc đề án hỗ trợ cải thiện năng lượng, quy định tính bền vững môi trường theo quy định kiểm soát các tòa nhà, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp giấy chứng nhận cho các tòa nhà, bắt buộc dán nhãn năng lượng và quy chuẩn năng lượng tối thiểu cho các thiết bị gia dụng và các xe
Sản xuất điện chiếm khoảng một nửa lượng khí thải của Singapore (48% năm 2005) Theo các chiến lược biến đổi khí hậu quốc gia cung cấp dữ liệu cho thấy tỷ lệ ngày càng tăng của điện của Singapore đã được tạo ra bởi khí đốt tự nhiên, khoảng 40% ít gây ô nhiễm về carbon dioxide trên mỗi đơn vị điện năng sản xuất so với nhiên liệu dầu Từ chiếm 19% lượng điện tạo ra vào năm 2000, thế hệ khí thiên nhiên chiếm 79% lượng điện tạo ra vào năm 2007, việc hạn chế carbon dioxide từ việc chuyển đổi này rất có ý nghĩa Một nguồn chính của khí thải ở Singapore là vận tải chiếm 19% tổng lượng phát thải.[25]
1.4.3 Anh
Anh là một nước có nền kinh tế phát triển lâu đời và thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU) nên việc kiểm soát ONKK luôn được Chính phủ đặt mối quan tâm hàng đầu Chính phủ và chính quyền phân cấp đã lồng ghép nội dung môi trường trong các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội
Cuối tháng 4 vừa qua, các thẩm phán của Tòa án tối cao nước Anh đã ra phán quyết yêu cầu Bộ trưởng Môi trường tiếp theo nước này phải lập một kế hoạch để đáp ứng các quy chuẩn của EU về CLKK vào cuối năm 2015 Theo đó, London và nhiều thành phố khác của Anh đã thất bại trong việc đáp ứng các quy chuẩn của EU về nồng độ nitrogen dioxide (NO2) trong không khí từ năm 2010 Khoảng 29.000 người chết sớm mỗi năm ở Anh vì ONKK, số liệu từ cơ quan Y tế công cộng nước Anh, thuộc Bộ Y tế
và con số này dự kiến có thể gia tăng vào cuối năm nay khi xem xét tác động của NO2
đến sức khỏe.[27]
Nhiều năm trước, Đạo luật không khí sạch đã được giới thiệu vào năm 1956 đáp ứng với các vấn đề sương mù vào năm 1950 khiến hàng ngàn người tử vong, đây là một trong những phần tự cam kết Chính phủ mong muốn giúp chính quyền địa phương đáp ứng những thách thức CLKK nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp Luật Môi trường năm 1995 của Anh đã yêu cầu chính quyền các địa phương đánh giá CLKK trong khu vực Chính sách kiểm soát ONKK thể hiện chi tiết, rõ ràng trong Chiến lược quốc gia về không khí lần đầu tiên vào năm 1997, trong đó quy định rõ nồng độ cho một số chất độc hại gồm benzen, 1,3-butadien, carbon monoxide, chì, nitơ
Trang 25dioxide, bụi, sulfur dioxide, nồng độ ozone mặt đất, và polyaromatic hydrocarbon (PAH) Nếu cơ sở nào vượt quá hoặc không đáp ứng các quy chuẩn môi trường thì sẽ phải ngừng hoạt động và thực hiện kế hoạch hành động nhằm làm giảm hàm lượng chất gây ô nhiễm Đây là một chính sách tích cực được cộng đồng Anh hưởng ứng và đem lại kết quả cao trong quản lý CLKK Ngoài ra, Chính phủ đã có cơ chế khuyến khích chính quyền địa phương cùng với các nước láng giềng cải thiện CLKK trong khu vực, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân đóng góp các sáng kiến
và công nghệ giảm phát thải khí nhà kính.[19]
CLKK là vấn đề mang tính phân cấp, chính phủ Anh theo luật pháp quốc tế và châu
Âu, ngoài ra chính quyền ở Scotland, Wales và Bắc Ireland chịu trách nhiệm về chính sách và pháp luật về CLKK của riêng mình Phần IV của Luật Môi trường năm 1995 đặt ra các quy định để bảo vệ CLKK tại Anh và quản lý CLKK tại địa phương Quy định CLKK (quy chuẩn) 2010 được chuyển vào luật pháp Anh theo yêu cầu của Chỉ thị 2008/50/EC và 2004/107/EC về CLKK xung quanh Quy định tương đương đã được thực hiện bởi chính quyền phân cấp ở Scotland, Wales và Bắc Ireland.[19]
Cơ quan môi trường quy định việc phát thải các chất ô nhiễm vào khí quyển từ các quá trình công nghiệp lớn và phức tạp Họ cũng điều chỉnh lượng khí thải từ một số nhà máy chế biến thực phẩm quy mô lớn và các hoạt động chăn nuôi lợn và gia cầm
Cơ quan môi trường đã làm việc với chính quyền địa phương, Cơ quan đường cao tốc quản lý chiến lược CLKK của chính phủ ở Anh và xứ Wales Chiến lược này đặt ra các quy chuẩn ONKK để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường
Các luật biến đổi khí hậu năm 2008 thành lập trên thế giới lần đầu tiên mang tính ràng buộc về pháp lý nhằm thay đổi khí hậu, hướng tới việc giảm phát thải khí nhà kính của Anh ít nhất là 80% (từ đường cơ sở năm 1990) vào năm 2050 Anh đang cố gắng để đạt được mục tiêu này thông qua hành động trong và ngoài nước nhằm đi đến một nền kinh tế hiệu quả về năng lượng hơn, lượng cacbon phát thải thấp Điều này đồng thời giúp Vương quốc Anh trở nên ít phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu và ít bị tăng giá năng lượng cao hơn trong tương lai Anh đã đề ra những biện pháp giúp giảm thiểu đáng kể lượng khí thải khí nhà kính từ các doanh nghiệp, các khu vực công và các hộ gia đình giảm bớt nhu cầu của họ về năng lượng từ nhúng hành động: giảm nhu cầu về năng lượng với công tơ thông minh và các biện pháp tiết kiệm năng lượng khác cho ngành công nghiệp, các doanh nghiệp và khu vực công, cung cấp
ưu đãi cho người dân và các tổ chức khu vực tư nhân để ứng dụng công nghệ, thực hành tiết kiệm năng lượng, giảm khí nhà kính và khí thải từ phương tiện giao thông, giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp Không những chú trọng vào khuyến khích
sử dụng công nghệ cacbon thấp, mà Anh còn đầu tư vào công nghệ, đây được coi là
Trang 26mấu chốt quan trọng đối với mục tiêu cắt giảm khí nhà kính của chúng tôi Việc tạo ra một ngành công nghiệp cho việc thu và lưu trữ carbon đang được kỳ vọng, giảm phát thải từ ngành năng lượng và khuyến khích đầu tư công nghệ cacbon thấp của cải cách thị trường điện, theo thống kê Anh cung cấp kinh phí hơn 200 triệu đô cho sự đổi mới trong công nghệ cacbon thấp từ 2011 đến năm 2015 Ngoài ra, ở Anh công khai cả những báo cáo về lượng phát thải cacbon của các doanh nghiệp, giúp gián tiếp khuyến khích sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Tháng 12 năm 2011, Anh đã công cố kế hoạch cacbon, sự thành lập Ủy ban về biến đổi khí hậu là cơ quan nhà nước làm việc theo luật định tạo ra bởi Đạo luật biến đổi khí hậu năm 2008 để đánh giá khi nào Anh đạt được các mục tiêu giảm khí thải của mình cho năm 2020 và 2050, theo dõi sự tiến
bộ của Anh về việc đáp ứng ngân sách cacbon theo luật định [26]
Theo thống kê, nông nghiệp gây ra 9% phát thải khí nhà kính của Anh Số liệu này được tạo thành từ NO2 chiếm khoảng 55%, được sản xuất bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ tổng hợp, CH4 khoảng 36% tạo ra thông qua các quá trình tiêu hóa ở động vật chăn nuôi, sản xuất và sử dụng phân, bùn, CO2 chiếm khoảng 9% từ nguồn năng lượng
sử dụng cho nhiên liệu và sưởi ấm Trong năm 2012, Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn đã xem xét sự tiến bộ trong việc giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp
và phát triển một quy định cho chỉ số phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp từ một phần kết quả của các nghiên cứu Cơ quan môi trường cung cấp hướng dẫn cho các doanh nghiệp, tổ chức về làm thế nào để đo lường và báo cáo khí nhà kính (GHG), hướng dẫn này dành cho tất cả các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khu vực công, hướng cách các tổ chức có thể đo lường và báo cáo phát thải khí nhà kính của họ cũng như thiết lập các mục tiêu để giảm thiểu chúng Các tổ chức có thể tính toán lượng khí thải CO2 từ các thông tin như các hóa đơn tiện ích, tiêu thụ nhiên liệu và số quãng đường xe chở hàng hóa di chuyển.[26]
Cơ quan bảo vệ môi trường tại Anh đã thiết lập 4 ngân sách cacbon đầu tiên trong pháp luật, bao gồm giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2027 và cam kết giảm một nửa lượng khí thải của Anh so với năm 1990 từ thời kỳ ngân sách carbon thứ tư (2023-2027) Mỗi ngân sách carbon được chia thành: khu vực giao dịch dựa trên chia sẻ của
hệ thống phát thải Thương mại EU của Anh (EU ETS) bao gồm năng lượng và công nghiệp nặng, khu vực phi ngoại thương bao gồm đường giao thông, nông nghiệp và tòa nhà Cụ thể, ngân sách cacbon hạn chế phát thải khí nhà kính nhằm: giảm 3.018 triệu tấn carbon dioxide tương đương (MtCO2e) trong giai đoạn ngân sách cacbon đầu tiên (2008-2012), 2.782 MtCO2e trong giai đoạn ngân sách carbon thứ hai (2013-2017), 2.544 MtCO2e trong giai đoạn ngân sách carbon thứ ba (2018-2022), 1.950
Trang 27MtCO2e trong giai đoạn ngân sách carbon thứ tư (2023-2027) Các mức cacbon này dựa vào ngân sách Carbon 2011, Đạo luật biến đổi khí hậu năm 2008.[26]
Chính phủ xuất bản một bài báo về phạm vi luật đầu tháng 3 năm 2012 và tiến hành một báo cáo đánh giá tác động của những thay đổi trong luật không khí sạch trong tháng 7 năm 2012, tổ chức một sự kiện liên quan vào tháng 2 năm 2013 Mục đích nhằm bắt đầu một tham vấn chính thức vào mùa hè 2013 và theo dõi, tư vấn về các đề xuất chi tiết trong năm 2014 đối với đạo luật này Chính phủ đang làm việc trên nhiều mặt để cải thiện CLKK, kể cả bằng cách giảm lượng khí thải từ các phương tiện giao thông, công nghiệp và sản xuất năng lượng và dự báo hàng ngày về ONKK và tư vấn sức khỏe để cho những người có tiền sử sức khỏe như bệnh tim, phổi hoặc hen suyễn
có thể bảo vệ sức khỏe của họ Ngoài ra, chính phủ còn có một chương trình khoa học
và bằng chứng CLKK Chương trình này tập trung vào việc đáp ứng các nghĩa vụ pháp
lý để theo dõi và đánh giá kế hoạch, CLKK, đồng thời cũng hỗ trợ nghiên cứu khoa học về CLKK
1.3.4 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vấn đề CLKK đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bộ Môi trường Hàng năm, trong “Sách trắng về môi trường” đều có một chương báo cáo đặc biệt về tình hình CLKK của năm trước đó Để kiểm soát CLKK, Hàn Quốc đã ban hành các Luật như: “Luật Bảo vệ không khí trong lành”, “Luật Kiểm soát chất lượng không khí tại các khu vực có hạ tầng công cộng”, “Luật Phòng chống mùi hôi”, “Luật quản lý xe
Hình 1.3 So sánh phát thải CO 2 tại Anh so với các mục tiêu đến năm 2050
(Nguồn: Internet)
Trang 28ô tô”, “Luật Năng lượng nguyên tử”, “Luật sử dụng nguồn năng lượng tái tạo hợp lý”,
“Luật quản lý máy móc xây dựng”, “Luật cung cấp năng lượng”, “Luật thúc đẩy phát triển nguồn năng lượng thay thế”… Tất cả những chính sách trên đã hình thành nên một khung pháp lý cơ bản về quản lý chất lượng không khí tại Hàn Quốc.[18]
Cùng với tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa của Hàn Quốc phát triển nhanh chóng, người dân đã có nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề ô nhiễm môi trường, nhu cầu của công chúng về một môi trường trong lành, thoải mái cũng ngày một tăng, điều này đồng nghĩa với việc chính sách kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng ngày càng hoàn thiện và nghiêm ngặt hơn Để cải thiện CLKK, Chính phủ Hàn Quốc đã thông qua một loạt các biện pháp như: Khuyến khích sử dụng khí tự nhiên và nhiên liệu có độ lưu huỳnh thấp, di dời các nhà máy ra xa thành phố… và nhiều biện pháp khác để cải thiện CLKK ở các đô thị Ngoài ra, Chính phủ còn nỗ lực kiểm soát nguồn ô nhiễm đang gia tăng, theo dõi và phân tích mức độ ô nhiễm, đây là những việc làm cần thiết để giúp cho người dân được tiếp cận với một môi trường có chất lượng tốt, đồng thời cũng là biện pháp thiết yếu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Căn cứ vào những yêu cầu chính sách và pháp luật đã nêu ở trên, trước mắt Hàn Quốc thực hiện theo dõi đối với 5 loại chất ONKK là: Bụi PM10, nitơ điôxít, sulfur điôxít, ôzôn và carbon monoxide Hơn nữa, Chính phủ Hàn Quốc còn xây dựng quy chuẩn về chất lượng môi trường tương ứng cho 5 loại vật chất này Lấy PM10 làm ví dụ, quy chuẩn môi trường được bắt đầu thực hiện từ năm 1996 đề ra mức trung bình hàng năm là 70 microgram/m3 hoặc trung bình là 150 microgram/m3 trong vòng 24 giờ Tuy nhiên, theo “Sách trắng về môi trường” của Bộ Môi trường Hàn Quốc, quy chuẩn cho PM10
đã được nâng lên trung bình hàng năm là 50 microgram/m3 hoặc trung bình là 100 microgram/m3 trong vòng 24 giờ.[18]
Hàn Quốc bắt đầu thực hiện công tác báo cáo về tình hình giám sát CLKK rất sớm
từ tháng 4/2002 Tại thời điểm đó, Bộ Môi trường Hàn Quốc đã thiết lập 16 điểm quan trắc tại sân vận động World Cup, đồng thời báo cáo dữ liệu Sau đó, cùng với việc công chúng ngày càng quan tâm hơn về CLKK, cũng như nhận thức sâu rộng của công chúng về dữ liệu ONKK trong đô thị, để đảm bảo công chúng được tiếp cận với thông tin về môi trường, tháng 12/2005, Bộ Môi trường Hàn Quốc đã thiết lập trang web không khí Hàn Quốc (AirKorea), trang web này luôn cập nhật dữ liệu về môi trường, các dữ liệu được công bố chủ yếu là quy chuẩn CLKK của 5 loại vật chất nêu trên Đồng thời, trong quá trình giám sát CLKK, người ta còn sử dụng chỉ số CLKK để làm
cơ sở đánh giá toàn bộ tình hình không khí tại khu vực đó tốt hay xấu
Chính sách môi trường của Hàn Quốc chủ yếu tập trung vào quy chuẩn môi trường
PM10 Trong “Luật Cải thiện đặc biệt đối với chất lượng không khí đô thị” có hiệu lực
Trang 29từ ngày 01/01/2005, mục tiêu chính của Luật này là bụi PM10 tại khu vực thủ đô Seoul sẽ từ 60 microgram/m3 trong năm 2005 giảm còn 40 microgram/m3 Nhưng có thể thấy, trong mục tiêu của chính sách này không bao gồm các yêu cầu quy chuẩn đối với bụi PM2.5 Việc không bao gồm quy chuẩn môi trường và giám sát đối với bụi
PM2.5 trong chính sách chỉ mang tính chất tạm thời Hiện chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu hành động, các nhà nghiên cứu của Hàn Quốc cho rằng do chưa hoàn toàn nắm rõ tính chất vật lý và thành phần hóa học trong hạt bụi PM2.5, nên chưa thể thiết lập hệ thống giám sát để cung cấp những cơ sở khoa học có giá trị và hiệu quả.[18]
Không khí bị ô nhiễm là do nhiều bụi khác nhau cấu thành, chúng được sản sinh từ hoạt động của con người và của tự nhiên, khi những hạt bụi bay lơ lửng này hay hạt bụi PM10 đạt tới mức độ nhất định, chúng sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe của con người Việc giám sát bụi PM10 chỉ là bước đầu tiên trong việc loại bỏ chất ONKK Cho đến năm 2001, quy chuẩn môi trường đối với những bụi trong không khí Hàn Quốc mới chuyển đổi từ bụi bay lơ lửng sang thành PM10 Trong thực tế, từ năm 1995, Hàn Quốc đã bắt đầu theo dõi dữ liệu về bụi PM10 Hiện nay, mặc dù bụi PM2.5 tạm thời chưa có số liệu chính thức, nhưng trong hoạt động giám sát khoa học đã được thực hiện từ nhiều năm qua
Chính sách giám sát các bụi trong không khí xuất phát từ triết lý cơ bản là khi bụi càng nhỏ thì mức nguy hại đối với sức khỏe con người càng lớn Dựa trên lý thuyết này, việc nghiên cứu bụi PM2.5 có thể cung cấp một cơ sở giám sát có quy mô lớn trong tương lai Bộ Môi trường Hàn Quốc đã hỗ trợ nhiều dự án nghiên cứu cho PM2.5, nội dung nghiên cứu chủ yếu là nhằm vào PM10 và PM2.5, tiến hành giám sát và nghiên cứu đặc tính của PM2.5 Ngoài ra, căn cứ vào báo cáo nghiên cứu đã đăng trên tạp chí
“Sức khỏe môi trường và độc chất” năm 2010, trị số bụi PM10 tại Hàn Quốc có sự thay đổi theo mùa Vào tháng 4 hàng năm, khi cơn bão bụi tại khu vực Đông Nam Á tràn tới, trị số bụi PM10 sẽ tăng lên đáng kể, riêng bụi PM2.5 lại không bị ảnh hưởng, luôn giữ trạng thái ổn định, về cơ bản trị số của PM10 dao động ở cấp độ từ 35% - 70% Hiện nay, nguyên nhân chính khiến khu vực thủ đô Seoul - Hàn Quốc bị nhiễm bụi
PM2.5 là do nguồn ô nhiễm trong khu vực, đặc biệt là khí thải từ xe hơi, trong đó, kim loại nặng là thành phần chủ yếu của bụi PM2.5 Theo nghiên cứu khoa học, thông qua việc đo lường bụi và thành phần của bụi PM2.5 còn phát hiện nguy cơ gây ung thư cao bởi kim loại nặng crom chứa trong vật chất này.[18]
Những năm gần đây, dưới sự hỗ trợ của Bộ Môi trường Hàn Quốc, các cơ quan chuyên môn có liên quan đã triển khai nhiều phương pháp nghiên cứu đo hàm lượng bụi PM2.5, những phương pháp đo này có vai trò quan trọng trong việc triển khai giám sát PM2.5 Việc lựa chọn địa điểm và thời gian đo PM2.5 mang tính quyết định đến số
Trang 30liệu chuẩn xác và kết quả cuối cùng Vì vậy, lựa chọn phương pháp đo lường khoa học chính là tiền đề của việc thiết lập một mạng lưới giám sát Từ tháng 4/2011, Hàn Quốc
đã bắt đầu thí điểm giám sát PM2.5, đến tháng 1/2015 đã chính thức thực hiện theo Quy chuẩn Quốc gia cho PM2.5, trung bình hàng năm là 25 microgram/m3 hoặc trung bình
là 50 microgram/m3 trong vòng 24 giờ.[18]
Chính phủ Hàn Quốc ngày 30 tháng 6 năm 2015 đã thông báo nước này đặt ra mục tiêu đến năm 2030 sẽ cắt giảm 37% lượng khí thải nhà kính Theo kế hoạch tới năm
2030, tổng lượng khí thải nhà kính của Hàn Quốc sẽ chỉ ở mức tương đương 535 triệu tấn carbon dioxide (CO2) chứ không phải là 850,6 triệu tấn, mức mà Hàn Quốc sẽ thải
ra nếu nước này không áp dụng các biện pháp cắt giảm khí thải hay các nhà máy của
họ vẫn hoạt động bình thường Trong tỷ lệ 37% cắt giảm này, Hàn Quốc sẽ giảm 25,7% lượng khí thải từ các hoạt động sản xuất và mua 11,3% còn lại từ hạn ngạch khí thải của các nước khác.[24]
Thủ tướng Hwang Kyo-ahn cho biết nước này đặt ra mục tiêu cao hơn dự định trước đây để sử dụng việc cắt giảm này làm cơ hội tạo ra một thị trường năng lượng mới, đồng thời nhấn mạnh Hàn Quốc đóng một vai trò hàng đầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, bên cạnh việc nỗ lực phát triển công nghệ giảm khí thải nhà kính, Hàn Quốc cũng đang xem xét xây dựng thêm các nhà máy điện hạt nhân Mức cắt giảm khí thải trên được công bố sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đề nghị Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye đưa ra một mục tiêu cho việc cắt giảm lượng
Trang 31khí thải nhà kính nhằm góp phần đảm bảo cho sự thành công của Hội nghị về chống biến đổi khí hậu
Nhóm kế hoạch cải thiện CLKK thủ đô Seoul đã được đưa ra vào năm 2002: "Đạo luật đặc biệt về Cải thiện chất lượng không khí ở khu vực thủ đô Seoul " được ban hành vào năm 2003, tín hành thực thi vào năm 2005), "Kế hoạch kiểm soát chất lượng không khí lần một cho Seoul (2005-2014)" đã được xây dựng vào năm 2005 và kế hoạch thực hiện đã được thiết lập cho mỗi chính quyền địa phương trong năm 2006 để thực hiện quy hoạch Các biện pháp đặc biệt khác nhau liên quan đến các khu vực thủ
đô Seoul đã được thực hiện dựa trên các kế hoạch này Trong năm 2013, kế hoạch tổng thể thứ hai được xây dựng cho 2015-2024 Các hành động đặc biệt có ý nghĩa ở chỗ nó được ban hành thông qua ý kiến thu thập từ các nhóm khác nhau, tranh luận, và thỏa thuận xã hội Hơn 190 cuộc tranh luận đã diễn ra thông qua các ủy ban khác nhau, điều trần công khai, hội thảo, họp, và các vấn đề đã được giải quyết bởi một lực lượng đặc nhiệm gồm các Bộ có liên quan của chính phủ, các nhóm công nghiệp, và các tổ chức dân sự Kế hoạch ở thủ đô Seoul kiểm soát CLKK tổng thể nhằm cải thiện PM10
và nồng độ NOx đạt ở mức Tokyo, Paris và các thành phố lớn khác Các biện pháp kiểm soát để đạt được những mục tiêu này bao gồm quản lý ô tô, cả các dự án để giảm khí thải từ các phương tiện hoạt động, các cơ sở phát thải, bao gồm toàn bộ hệ thống quản lý phụ tải cho các cơ sở lớn, quản lý năng lượng và các thành phố sinh thái thân thiện Các dự án đồng thời giảm ONKK và các khí nhà kính sẽ được thực hiện để cải thiện CLKK và có những đóng góp tích cực cho sự thay đổi khí hậu như trang bị xe có dừng và đi một cách hệ thống, mở rộng không gian xanh ở khu vực đô thị… Việc quản
lý phát thải gây ONKK Seoul thủ đô đã được thi hành kể từ tháng Giêng năm 2008.[18]
Theo quy định tại Điều 38 của Luật khung về chính sách môi trường, Bộ trưởng Bộ Môi trường có thể chỉ định bất kỳ khu vực bị ảnh hưởng hoặc có khả năng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường đáng kể như là một khu vực đặc biệt, hạn chế sử dụng đất, cài đặt cơ sở giám sát trong khu vực này Có hai khu vực được đưa ra những biện pháp bảo vệ không khí, đó là tổ hợp công nghiệp quốc gia tại Ulsan và Yeosu, nơi có mật độ dày đặc với các cơ sở phát thải lớn, đặc biệt là mức độ phát thải cho phép nghiêm ngặt có thể được áp dụng cho các cơ sở phát thải Trước đó, các quy định cho ngành công nghiệp tập trung đã có những hạn chế trong việc giải quyết tình trạng ONKK ở các thành phố lớn, do sự gia tăng lượng khí thải từ các nguồn khu vực và các nguồn di động do đô thị hóa, sự gia tăng xe và sử dụng các chất hóa học thêm Chất ô nhiễm thứ cấp như ozone đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thời tiết và điều kiện địa
lý
Trang 32Theo "Đạo luật Bảo tồn không khí sạch" đã được sửa đổi vào tháng năm 1995 quy định những vùng đã vượt hoặc có thể vượt quá giới hạn môi trường được yêu cầu cải thiện khẩn cấp về CLKK được chỉ định là "khu vực kiểm soát chất lượng không khí." Khu vực thủ đô Seoul, khu vực Busan, khu vực Daegu và khu vực Gwangyangman được do chỉ định là khu vực kiểm soát CLKK Các khu vực này được yêu cầu phải xây dựng một kế hoạch thực hiện sau đó được phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Môi trường và báo cáo tình hình thực hiện mỗi năm Các biện pháp kiểm soát quan trọng cho khu vực kiểm soát CLKK bắt buộc ức chế VOC và ngăn ngừa các cơ sở, kiểm tra chặt chẽ các chất khí thải từ các phương tiện hoạt động và giới thiệu các loại xe ít ô nhiễm Ban hành quy định yêu cầu làm giảm nồng độ SO2 tại khu vực thành phố Seoul và các thành phố lớn đã đảm bảo chỉ có dầu nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh thấp có thể được cung cấp và sử dụng, quy chuẩn hàm lượng lưu huỳnh khác nhau sẽ tùy thuộc vào khu vực hoặc loại công trình Quy định này bắt đầu vào năm 1981 bằng việc cung cấp nhiên liệu diesel và nhiên liệu nặng với hàm lượng lưu huỳnh 0,4% hoặc ít hơn, từ
đó nội dung các quy chuẩn ngày càng được thắt chặt và số lượng khu vực áp dụng ngày càng tăng lên Đến năm 2012, chỉ có nhiên liệu diesel có hàm lượng lưu huỳnh 0,1% hoặc ít hơn phải được cung cấp và sử dụng trên toàn quốc Nhiên liệu nặng phải
có một hàm lượng lưu huỳnh 0,3% hoặc ít hơn tại hơn 58 địa phương, bao gồm cả Seoul, Jejudo,sáu thành phố đặc biệt và các đô thị khác Từ năm 1985, ngăn cấm sử dụng than đá, than cốc, củi, than và nhiên liệu rắn khác trong khu vực vượt quá hoặc
có thể vượt quá quy chuẩn môi trường đang được áp dụng càng ở nhiều khu vực và kể
từ năm 1999, việc sử dụng nhiên liệu rắn đã bị cấm trong tại 20 khu vực, trong đó bao gồm Seoul và sáu thành phố đô thị và 13 khu vực si Gyeonggido Yêu cầu sử dụng nhiên liệu sạch không có chất gây ô nhiễm tùy thuộc vào từng khu vực bắt buộc giảm ONKK là sự ra đời của hệ thống cung cấp nhiên liệu lưu huỳnh thấp và nghiêm cấm việc sử dụng nhiên liệu rắn Sự thay thế bắt buộc của các loại nhiên liệu sử dụng trong
lò hơi thương mại ở thủ đô Seoul và các nhà máy nhiệt điện Incheon Từ năm 2000, việc sử dụng nhiên liệu sạch đã trở thành bắt buộc đối với nhiều đơn vị, cơ sở sưởi ấm
và làm mát trong khu vực và các cơ sở sản xuất điện trong một tổng số 37 khu vực, bao gồm bảy thành phố đặc biệt và đô thị.[18]
Mức phá thải đối với xe quy định sản xuất các loại xe có lượng khí thải thấp ít gây ô nhiễm từ giai đoạn sản xuất để giảm ô nhiễm môi trường gây ra bởi xe ô tô tại nguồn Mức độ phát thải cho phép đối với xe ô tô chế tạo đã được siết chặt, nhiều lần trong những năm qua và các quy chuẩn hiện hành là tương đương với Hoa Kỳ và Châu Âu Quy chuẩn xe phát thải cực thấp (ULEV) được áp dụng đối với xe chạy xăng bằng việc áp dụng quy chuẩn Mỹ vào năm 2006, mức phát thải cho phép tương đương với quy chuẩn Euro V áp dụng cho các loại xe sử dụng diesel từ năm 2009 và Euro VI sẽ
Trang 33được áp dụng từ năm 2014 là các quy chuẩn từ châu Âu Về dự án cắt giảm khí thải từ phương tiện giao thông, để đạt được điều này cần giảm các bụi phát ra từ xe sử dụng diesel hoạt động Theo đó, một chiếc xe đó không đáp ứng các yêu cầu phải trang bị các thiết bị thải giảm, lắp đặt động cơ ô nhiễm thấp nếu không sẽ bị loại bỏ Sau một
dự án thí điểm trong năm 2004 các xe thuộc sở hữu của các tổ chức công cộng, tổng cộng có 770 000 xe sử dụng diesel được giải quyết để đảm bảo ô nhiễm thấp, với chi phí 1876 tỷ won từ kho bạc nhà nước từ năm 2005 đến năm 2013 Trong năm 2013,
tổng cộng 54000 xe đã được giải quyết bằng cách đầu tư 6590 tỷ won
Nhu cầu tiêu dùng đang hướng tới ô nhiễm thấp, hiệu quả cao, xe động cơ thân thiện, nhưng các yếu tố như gánh nặng chi phí nhiên liệu, nâng cao nhận thức về môi trường gây ra bởi các vấn đề biến đổi khí hậu gần đây và giá dầu cao Hàn Quốc cũng
đã công nhận tầm quan trọng của việc phát triển và phân phối công nghệ động cơ xe sinh thái thân thiện, hướng tăng phân phối các loại xe điện, tế bào nhiên liệu xe điện (FCEV) và đáp ứng các quy chuẩn ô nhiễm thấp Vấn đề này được bao phủ bởi các
"chiến lược và dự án phát triển xe xanh" do Uỷ ban về tăng trưởng Xanh công bố vào tháng 12 năm 2010 Xe điện không có khí thải ô nhiễm đã được phân phối từ năm
2011 và FCEV đã ở trong phân phối thử nghiệm kể từ năm 2013 và ứng dụng FCEV hoạt động bằng cách lấy điện từ phản ứng hydro và oxy nhiên liệu tạo ra tế bào nhiên liệu trong xe, sau đó sử dụng điện được sản xuất để cấp năng lượng cho động cơ, khí thải không phản ứng oxy, nitơ và hơi nước, vì vậy không gây ô nhiễm từ xe Từ năm
2006 đến năm 2013, Hàn Quốc đã đầu tư tổng cộng 69 tỷ won để thực hiện một dự án phát triển FCEV và thiết lập một hệ thống sản xuất hàng loạt cho FCEVs Để xác minh công nghệ và tạo ra nhu cầu ban đầu, Bộ Môi trường đưa ra một trạm thu phí trên cơ
sở thử nghiệm vào năm 2013 Chiến lược phân phối xe thân thiện môi trường cơ giới
đã được xây dựng từ năm 2014 đến 2020, nhằm mục đích phân phối 2,2 triệu xe sinh thái thân thiện (10% xe ô tô đăng ký) vào năm 2020 [18]
Trang 34CHƯƠNG 2
SO SÁNH NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM VÀ ĐẠO LUẬT KHÔNG
KHÍ SẠCH HOA KỲ 2.1 GIỚI THIỆU PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
2.1.1 Hình thức luật
a Nội dung bảo vệ môi trường không khí trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam
Theo bảng thống kê của EPI vào đầu năm 2016, Việt Nam có CLKK xếp thứ 170/180 nước với chỉ số EPI là 54,76 điểm và nằm trong tốp 11 quốc gia có CLKK thấp nhất thế giới Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với luật pháp bảo vệ môi trường không khí ngày càng cao hơn
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 được coi là một dấu mốc lịch sử, một bước ngoặt trong nhận thức, tổ chức và hoạt động bảo
vệ môi trường, đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở Việt Nam Sự phát triển kinh tế xã hội, những tác động mới đối với môi trường, những nhận thức mới về môi trường đã đặt ra những yêu cầu mới về tổ chức và hoạt động bảo
vệ môi trường Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường được định nghĩa một cách chuẩn tắc, quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể và rõ ràng.[10]
Qua nhiều năm thực hiện luật từ 1993-2005, hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện và ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội được nâng lên Mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế Công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đạt được nhiều tiến bộ Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động, toàn diện của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Bảo vệ môi trường đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được sửa đổi Vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã được Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 8 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thông qua và ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 Việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đóng góp hết sức quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường thời gian qua Tuy nhiên, sau thời gian áp dụng Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, một số quy định trong pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu
Trang 35phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế Chính vì vậy, việc ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014 là rất cần thiết Luật bảo vệ môi trường 2014 là kế thừa và khắc phục yếu điểm ở Luật bảo vệ môi trường 2005
Nội dung bảo vệ môi trường không khí Việt Nam được quy định một số điều tại Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 mà hoàn toàn không tạo thành một đạo luật thành văn Các nội dung quy chuẩn quy định được ban hành văn bản riêng không thuộc trong luật, bao gồm các Quy chuẩn Việt Nam, Thông tư, Nghị Định đính kèm Ngoài ra, còn có sự kiểm soát từ các ban ngành khác như Bộ Giao thông vận tải về quy chuẩn đối với các phương tiện lưu thông đường bộ ảnh hưởng đến hạn chế phát thải chất ô nhiễm vào môi trường không khí
Về ngôn ngữ, nội dung bảo vệ môi trường không khí trong luật sử dụng ngôn ngữ chưa rõ ràng, cụ thể, tính áp dụng thực tế và trực tiếp chưa cao
Cụ thể, trong mục 4 về bảo vệ môi trường không khí, tại điều 63 quản lý chất lượng môi trường không khí xung quanh có nêu “ Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm theo dõi, đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh
và công cố công khai thông tin; trường hợp môi trừơng không khí xung quanh bị ô nhiễm thì phải cảnh báo, xử lý kịp thời.”.Qua đó thấy rõ trong luật quy định không rõ ràng, cụ thể, cũng chưa có Thông tư, Nghị định nào quy định về cơ quan nào liên quan chịu trách nhiệm thi hành, thời gian quan trắc, báo cáo đệ trình về CLKK theo tháng, theo quý hay năm chưa được nêu lên
b) Đạo luật không khí sạch Hoa Kỳ
CAA là một luật liên bang Hoa Kỳ được thiết kế để kiểm soát ONKK cấp quốc gia Đây là một trong những luật về môi trường hiện đại đầu tiên có ảnh hưởng nhất nước
Mỹ và một trong những luật quy định về CLKK hoàn thiện nhất trên thế giới Cũng như nhiều luật khác của Mỹ về quy chế môi trường liên bang, nó được quản lý bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), phối hợp với chính quyền tiểu bang, địa phương và bộ tộc
Đạo luật kiểm soát ONKK 1955 là luật liên bang Mỹ đầu tiên mà gắn liền với ONKK, chính phủ liên bang cung cấp kinh phí cho nghiên cứu về ONKK khoảng 3 triệu đô mỗi năm cho các dịch vụ y tế công cộng của Mỹ trong 5 năm và tài trợ cho nghiên cứu cấp liên bang vê ONKK, nghiên cứu kiểm soát ONKK, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các tiểu bang Các luật liên bang đầu tiên để thực sự liên quan đến "kiểm soát" ONKK là CAA của năm 1963 Các hành động năm 1963 thực hiện bằng cách thiết lập một chương trình của liên bang trong các dịch vụ y tế công cộng Hoa Kỳ và nghiên cứu các kỹ thuật để giám sát và kiểm soát ONKK, đạo luật cho phép phát triển
Trang 36các quy chuẩn khí thải đối với các nguồn cố định, nhưng không phải là nguồn di động gây ONKK Năm 1967, Luật Chất lượng không khí cho phép chính phủ liên bang tăng cường hoạt động của mình để điều tra thực thi giao thông gây ONKK giữa các tiểu bang, và lần đầu tiên, thực hiện sâu rộng nghiên cứu giám sát môi trường xung quanh
và kiểm tra nguồn cố định Các hành động năm 1967 cũng có thẩm quyền nghiên cứu
mở rộng về hàng tồn kho phát thải chất gây ONKK, kỹ thuật giám sát môi trường xung quanh và kỹ thuật điều khiển Sửa đổi lớn đối với pháp luật, đòi hỏi phải kiểm soát điều tiết cho ONKK thông qua vào năm 1970, 1977 và 1990 [16]
Năm 1970 sửa đổi, mở rộng đáng kể các nhiệm vụ liên bang, yêu cầu quy định toàn diện bang và liên bang cho cả nguồn cố định (công nghiệp) ô nhiễm và nguồn di động
Nó cũng mở rộng đáng kể thực thi liên bang, ngoài ra, Cơ quan Bảo vệ Môi trường được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1970 với mục đích củng cố nghiên cứu, giám sát, thiết lập quy chuẩn và thực thi các hoạt động liên bang thích hợp
Việc sửa đổi năm 1990 đề cập mưa axit, suy giảm tầng ôzôn, và ONKK độc hại, thành lập một chương trình cho phép quốc gia đối với các nguồn cố định, và tăng cơ quan thực thi Những sửa đổi này cũng thiết lập các yêu cầu xăng dầu, thiết lập áp suất hơi Reid (RVP), quy chuẩn để kiểm soát lượng khí thải bay hơi từ xăng dầu bắt buộc đối với các công thức xăng mới được bán ra từ tháng 5 đến tháng 9 tại nhiều bang CAA là quan trọng đầu tiên của pháp luật về môi trường tại Hoa Kỳ để có một điều khoản cho phù hợp với công dân [16]
Kể từ khi thành lập ban đầu của sáu tiêu chí bắt buộc gây ô nhiễm (ozone, bụi, carbon monoxide, nitrogen oxide, sulfur dioxide và chì), những tiến bộ trong việc kiểm tra và giám sát đã dẫn đến việc phát hiện ra nhiều chất gây ONKK quan trọng khác Với hành động tại chỗ và nhiều cải tiến của mình, Mỹ đã nhìn thấy rất nhiều mức độ ô nhiễm và các trường hợp liên quan đến các biến chứng giảm sức khỏe Năm
1997 EPA thắt chặt các NAAQS (các quy chuẩn CLKK quốc gia) về mức độ cho phép của ozon ở tầng thấp tạo nên sương khói và không khí tốt bụi tạo nên muội Các quyết định được đưa ra sau nhiều tháng xem xét công khai các quy chuẩn mới được đề xuất, cũng như thảo luận nội bộ dài và khốc liệt trong chính quyền Clinton, dẫn đến các cuộc tranh luận về môi trường gây chia rẽ nhất trong thập kỷ đó.[13]
CAA năm 1990 là một luật liên bang bao gồm toàn bộ đất nước, các quốc gia làm nhiều công việc để thực hiện Đạo luật Cơ quan môi trương quốc gia của Hoa Kỳ (EPA) chịu trách nhiệm thực thi, điều phối, sửa đổi luật và các chính sách liên quan đến môi trường, thông qua đạo luật mà giám sát môi trường không khí chặt chẽ nhằm giữ đúng mục tiêu phát triển bền vững quốc gia EPA đã cho phép các cá nhân tiểu bang đề ra cơ quan trách nhiệm xử phạt trong biên giới của mình để đổi lấy tài trợ Ví
Trang 37dụ, một cơ quan nhà nước xét xử ONKK phải có một buổi điều trần hoặc xư phạt một công ty vì vi phạm giới hạn ONKK Tuy nhiên, cuộc bầu cử là không bắt buộc Chính phủ Hoa Kỳ, qua EPA, giúp các tiểu bang bằng cách cung cấp nghiên cứu khoa học, nghiên cứu chuyên sâu, kỹ thuật thiết kế và kinh phí để hỗ trợ các chương trình phát triển không khí sạch
Trong năm 2010, EPA trực tiếp phạt Thung lũng San Joaquin gây ONKK 29 triệu USD cho việc không đáp ứng các quy chuẩn ozone, dẫn đến tiêu tốn chi phí cho các trình khắc phục của quận và các doanh nghiệp Đây là kết quả của một vụ án liên bang tòa phúc thẩm mà yêu cầu EPA tiếp tục thực thi các quy chuẩn cũ hơn, mạnh mẽ hơn
và tranh luận tại Quốc hội thúc đẩy qua việc sửa đổi Đạo luật tốt hơn.[13]
Đạo luật yêu cầu các cơ sở công nghiệp để thực hiện một phát hiện rò rỉ và sửa chữa chương trình (LDAR) để giám sát và kiểm toán phát thải bền của một cơ sở của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) Chương trình này được thiết kế để xác định và sửa chữa các thành phần như van, máy bơm, máy nén khí, đầu nối và các thành phần khác
có thể bị rò rỉ Các thành phần này là nguồn chính của khí thải VOC Ngoài ra, EPA
đã bắt đầu điều tiết khí nhà kính (GHGs) từ nguồn di động và cố định gây ONKK theo CAA lần đầu tiên vào tháng 2 năm 2011.[13]
CAA bước quan trọng đầu tiên của pháp luật về môi trường tại Hoa Kỳ nhăm tạo ra một điều khoản cho phù hợp với công dân Nhiều chính quyền tiểu bang và địa phương đã ban hành luật tương tự nhưng kiểm soát ở mức độ cao hơn Đây là đạo luật thành văn, trong đó, các chương, mục, điều chia làm nhiều phần gồm kiểm soát ONKK, quy định đối với những vùng CLKK chưa đạt,quy chuẩn phát thải đối với nguồn di động, kiểm soát axit lắng đọng và bảo vệ ozon tầng bình lưu Mỗi phần sắp xếp theo định nghĩa, nguyên nhân, quy định đối với từng vấn đê Tuy nhiên, hoạt động của con người luôn tác động qua lại tạo ra sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các phần CAA đã tạo thành một đạo luật thành văn, các quy định, hướng dẫn đối với quy chuẩn đưa ra với các tiểu bang được trình bày cụ thể trong luật, không như Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam chỉ đề cập tên gọi của bộ quy chuẩn Mọi quy định ban hành, mặc dù có sự phối hợp giữa các ban ngành khác nhau thông qua thảo luận ý kiến nhưng vẫn chịu trách nhiệm kiểm soát bởi Cơ quan bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ (USEPA)
Về ngôn ngữ, CAA sử dụng từ ngữ rõ ràng, cụ thể, chính xác, nên tính áp dụng trực tiếp rất cao, giúp phát huy tính công bằng trong luật
Cụ thể, tại điểm (d) (2) (A) và (B) , mục 109, thuộc phần A, chương 1 có quy định :
“(A) Cơ quan quản lý sẽ chỉ định một ủy ban xem xét khoa học độc lập gồm bảy
Trang 38thành viên ít nhất một thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học, một bác sĩ, và một người đại diện cho các cơ quan kiểm soát ONKK Nhà nước
(B) Không muộn hơn ngày 01 tháng 1 năm 1980, và trong khoảng thời gian 5 năm sau đó, ủy ban nêu tại tiểu đoạn (A) phải hoàn thành rà soát các quy chuẩn được công
bố theo mục 108 về quy chuẩn CLKK và các quy chuẩn quốc gia CLKK xung quanh
sơ cấp, thứ cấp ban hành dưới phần này, sẽ giới thiệu đến cơ quan quản trị bất cứ quy chuẩn CLKK xung quanh quốc gia mới và điều chỉnh các tiêu chí và quy chuẩn hiện hành là có thể thích hợp theo mục 108 và tiểu mục (b) của phần này.” (The US clean air act amendments of 1990, trang 30-31)
Quy định được đưa ra rất rõ ràng, cụ thể cả về số lượng thành viên trong ủy ban xem xét khoa học và trách nhiệm thực hiện quy định có thời gian, nội dung thực hiện
cụ thể, hoàn toàn không có sai lầm, chồng chéo, mơ hồ về trách nhiệm
2.1.2 Phạm vi áp dụng của luật pháp
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đất liên, hải đảo, vùng biển và vùng trời khác với Viẹt Nam, CAA áp dụng cho các tiểu bang thuộc Hoa Kỳ, ngoài ra, các tiểu bang còn có thể tạo quy định riêng và khắt khe hơn những yêu cầu từ đạo luật đưa ra Hàng năm, quy chuẩn quy định được kiểm tra, khảo sát và thay đổi nhằm phù hợp với tình hình môi trường quốc gia, nhằm đảm bảo đạo luật phù hợp và sử dụng lâu dài
2.2 SO SÁNH NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở HAI NƯỚC
2.2.1 Quy định về chất lượng không khí và kiểm soát phát thải
a Nội dung cơ bản trong pháp luật
Đạo luật không khí sạch của Hoa Kỳ
Hoạt động quản lý chất lượng môi trường hiện nay được xem như tiêu chí cạnh tranh giữa các nước thể hiện qua chất lượng sống của người dân Ngày nay, phát triển bền vững là cam kết khẳng định vị thế các nước tại các tổ chức quốc tế, theo dự đoán của các nhà khoa học môi trường tình hình thế giới sẽ biến đổi trong tương lai, tồn tại
rõ nét nhất thông qua cuộc chiến nước sạch và không khí sạch Trước tình hình khan hiếm nước sạch thì không khí sạch trở thành một đề tài được quan tâm gần đây, thống
kê vào tháng 9 năm 2015 từ một báo cáo của Viện Max Planck được đăng trên tạp chí Nature đã thống kê được rằng ONKK đã cướp đi sinh mạng của 3,3 triệu người mỗi năm Tại Việt Nam và một cường quốc như Hoa Kỳ, luật pháp về bảo vệ môi trường
Trang 39không khí được ban hành, mặc dù khác nhau về hình thức cơ bản nhưng đều hướng đến mục tiêu chung về quản lý chất lượng môi trường không khí Nội dung làm tiền đề
cơ bản và quan trọng ở pháp luật là quy định chất lượng và kiểm soát phát thải
Mở đầu cho chương I, phần A, CAA có nêu rõ tại mục 101: “(b) Mục đích là
(1) để bảo vệ, nâng cao CLKK của quốc gia để thúc đẩy sức khỏe cộng động, phúc lợi xã hội và năng lực sản xuất của dân số;
(2) khởi xướng, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển Chương trình quốc gia đạt được công tác phòng chống và kiểm soát ô nhiễm không khí
(3) cung cấp, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho bang, chính quyền địa phương liên quan đến việc phát triển, thực hiện phòng chống và kiểm soát ô nhiễm không khí
(4) để khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển hoạt động các chương trình phòng chống
ô nhiễm không khí và kiểm soát khu vực
Mục tiêu chính của luật này là để khuyến khích, thúc đẩy hành động hợp lý phòng ngừa ô nhiễm của liên bang, Nhà nước, và chính quyền địa phương phù hợp với các quy định của Đạo luật này” (The US clean air act amendments of 1990, trang 7) Từ những phát hiện ban đầu qua khảo sát, kinh nghiệm của cơ quan quản lý môi trường đưa ra những mục tiêu hướng đến khi quản lý CLKK tại Hoa Kỳ
Tương tự như mục 101 trong CAA, đối với mục 102 về hoạt động hợp tác và thống nhất pháp luật giúp làm rõ vai trò thúc đẩy của nhà nước trong bảo vệ môi trường không khí Theo đó, CAA nêu rõ ở điểm:
“(c) Quốc hội định hướng cho hai hoặc nhiều tiểu bang đồng ý đàm phán, ký thoả thuận hoặc qui ước, không mâu thuẫn với bất kỳ luật hoặc điều ước quốc tế của Hoa Kỳ, cho:
(1) nỗ lực hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau để ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm không khí và thực thi pháp luật tương ứng của họ liên quan hơn nữa
(2) việc thiết lập các cơ quan, cách khác có thể coi như mong muốn để thỏa thuận hay qui ước trở nên hiệu quả Không có thỏa thuận hoặc qui ước ràng buộc, bắt buộc đối với bất kỳ một đảng thuộc bang, trừ khi và cho đến khi được quốc hội phê duyệt.” (The US clean air act amendments of 1990, trang 8 )
Đây được coi là định hướng quan trọng giúp hạn chế chồng chéo, tạo nên sự liên kết giữa các cơ quan cấp trên và chính quyền từ các bang, quy định trình bày rất rõ ràng sẽ không ràng buộc hay quy ước bắt buộc đối với một đảng nào, mọi hoạt động kiên kết đều dựa trên tính công bằng pháp luật
Trang 40Trong CAA, mục 103 là một trong những điểm cụ thể hóa công tác chuẩn bị trong quản lý CLKK, qua đó hướng dẫn các nhà quản lý phải thiết lập một chương trình phát triển nghiên cứu quốc gia để phòng ngừa, kiểm soát ONKK và một chương trình giúp ích trong:
“(1) tiến hành, thúc đẩy sự phối hợp, tăng tốc các nghiên cứu, điều tra, thí nghiệm, mô hình, khảo sát và nghiên cứu liên quan đến các nguyên nhân, tác động (bao gồm cả sức khỏe và tác động phúc lợi), mức độ, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí;
(2) khuyến khích, hợp tác và đưa ra các dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính cho các
cơ quan kiểm soát ô nhiễm không khí, các cơ quan cộng đồng hay tư nhân khác, các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện các hoạt động này;
(3) tiến hành điều tra, nghiên cứu, thực hiện các cuộc điều tra liên quan đến bất
kỳ vấn đề cụ thể của ô nhiễm không khí trong hợp tác với bất kỳ cơ quan kiểm soát ô nhiễm không khí nhằm đề xuất một giải pháp về vấn đề đó Nếu được yêu cầu bởi cơ quan đó hoặc nếu, trong bản án, vấn đề đó có thể ảnh hưởng đến bất
kỳ cộng đồng hoặc các cộng đồng nước ngoài mà trong đó các vấn đề gây ra hoặc góp phần thuộc vấn đề ô nhiễm không khí
(4) thiết lập các ủy ban cố vấn gồm các chuyên gia kỹ thuật được công nhận ở nhiều lĩnh vực của ô nhiễm không khí để hỗ trợ trong việc kiểm tra, đánh giá tiến
độ nghiên cứu và kiến nghị để tránh trùng lặp của các nghiên cứu; và
(5) thực hiện và thúc đẩy sự phối hợp và tăng tốc đào tạo cho các cá nhân liên quan đến những nguyên nhân, tác động, mức độ, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí” (The US clean air act amendments of 1990, trang 8)
Trong mục này, nội dung đưa ra các điểm cụ thể về hướng dẫn, định hướng cơ bản
về chương trình phòng ngừa và kiểm soát ONKK Ngoài ra, tại mục này còn đề cập về các hoạt động: quan trắc, phân tích, dự đoán, nghiên cứu ONKK, nghiên cứu về những ảnh hưởng đến sức khỏe, nghiên cứu ảnh hưởng đối với hệ sinh thái, quy định đối với
cơ sở kiểm tra nhiên liệu khí hóa lỏng, nghiên cứu của viện nghiên cứu quốc gia về khoa học sức khỏe môi trường, đề cập sơ lược chương trình quốc gia kiểm soát axit lắng đọng
Đặc biệt tại tiểu mục (g) nêu “Ngăn ngừa ô nhiễm và kiểm soát khí thải - Trong khi thực hiện tiểu mục (a), cơ quan quản lý sẽ tiến hành một chương trình nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ cơ bản để phát triển về đánh giá, chứng minh chiến lược pháp lý và công nghệ phòng chống ONKK.” (The US clean air act amendments of 1990, trang 13)